DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Bảng thống kê thực trạng đội ngũ công chức về số lượng, cơ cấu dân tộc, giới tính, cơ cấu vùng, lãnh thổ của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa đến hết năm 2013 4141
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH KHÔI
X¢Y DùNG §éI NGò C¤NG CHøC H¶I QUAN
§¸P øNG Y£U CÇU C¶I C¸CH HµNH CHÝNH QUA THùC TIÔN CôC H¶I QUAN TØNH THANH HO¸
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công
bố trong bất kỳ công trình khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo về Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn/
Người cam đoan
Nguyễn Quỳnh Khôi
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH HẢI QUAN 7
1.1 Khái niệm công chức hành chính nhà nước và công chức Hải quan 7
1.1.1 Khái niệm công chức hành chính nhà nước 7
1.1.2 Công chức Hải quan và đặăc điểm công chức Hải quan 131313
1.2 Nội dung xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan 191919
1.3 Yêu cầu của cải cách hành chính đôi với việc xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan 272727
Kết luận chương 1 323232
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CỤC HẢI QUAN TỈNH THANH HOÁ 333333
2.1 Giới thiệu tổng quan về Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 333333
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 333333 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 353535
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 393939
2.1.4 Thực trạng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa 404040
Formatted: Not Highlight
Trang 42.2 Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh
Thanh Hoá trong thời gian gần đây 424242
2.2.1 Công tác tuyển dụng 424242
2.2.2 Công tác, sắp xếp và sử dụng đội ngũ công chức 444444
2.2.3 Công tác đào tạo đội ngũ công chức 474747
2.2.4 Công tác phát triển đội ngũ công chức 494949
2.3 Đánh giá công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá trong thời gian gần đây 525252
2.3.1 Những mặt đạt được, tồn tại, nguyên nhân của công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 525252
2.3.2 Tổng hợp đánh giá công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá bằng mô hình SWOT 595959
Kết luận chương 2 616161
Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HẢI QUAN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 626262
3.1 Quan điểm xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan 626262
3.2 Phương hướng xây dựng đội ngũ công chức Hải quan 656565
3.2.1 Xây dựng đội ngũ công chức hải quan phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đặc điểm của ngành hải quan 656565
3.2.2 Xây dựng đội ngũ công chức hải quan phải xuất phát từ yêu cầu mục tiêu cải cách hiện đại hóa hải quan đó là tạo thuận lợi thương mại; bảo vệ cộng đồng và an ninh quốc gia; bảo đảm thu ngân sách 666666
3.2.3 Xây dựng đội ngũ công chức hải quan theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng hoạt động trong thực tiễn 676767
Trang 53.3 Giải pháp xây dựng đội ngũ công chức Hải quan 686868
3.3.1 Giải pháp chung 686868
3.3.2 Giải pháp cụ thể đối với ngành Hải quan 707070
3.3.3 Giải pháp cụ thể đối với Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa 808080
Kết luận chương 3 808080
KẾT LUẬN 818181
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 828282
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên viết đầy đủ
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam á
VNACCS/VCIS Hệ thống thông quan tự động
Formatted Table Formatted: Condensed by 0.2 pt
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê thực trạng đội ngũ công chức về số
lượng, cơ cấu dân tộc, giới tính, cơ cấu vùng, lãnh thổ của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa đến hết năm 2013 414141
Bảng 2.2: Bảng thống kê cơ cấu, trình độ, độ tuổi, lĩnh vực
đào tạo (khoa học, tự nhiên - kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn) của công chức Cục Hải quan tỉnh
Bảng 2.3: Số lượng công chức tuyển dụng qua các năm 424242
Bảng 2.4: Tình hình chuyển đổi vị trí công tác, luân chuyển
cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo và công chức 454545
Bảng 2.5: Số lượt người được đào tạo, bồi dưỡng qua các năm 484848
Bảng 2.6: Bảng thống kê chất lượng, số lượng công chức, viên
chức trong quy hoạch số liệu tính đến hết ngày
0.2 pt
Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Right
Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Right Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Right Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Right Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Right Formatted: No underline, Font color: Auto Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Centered Field Code Changed Formatted: Right Formatted: No underline, Font color: Auto Formatted: Centered
Field Code Changed Field Code Changed
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Số hiệu bi ềể u
Biểu đồ 2.1: Số lượng công chức qua các năm 434343
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng công chức giữ chức vụ lãnh đạo và thừa hành 464646
Biểu đồ 2.3: Số lượt người được đào tạo, bồi dưỡng qua các năm 494949
Sơ đồ 1.1.: Tổ chức bộ máy của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa 393939
Formatted: Not Highlight
Field Code Changed Field Code Changed Field Code Changed Formatted: Not Highlight Field Code Changed
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 của Chính phủ nêu rõ:
Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hoà đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng CNTT, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết
bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ
chức, cá nhân [20]
Trong chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 vấn đề xây dựng bộ máy và nguồn nhân lực trình độ cao ngày càng trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự phát triển ngành Hải quan Vì vậy, trong những năm qua, công tác xây dựng, đào tạo công chức ngành Hải quan đã được Tổng cục Hải quan xúc tiến mạnh mẽ, công tác quản lý, xây dựng đội ngũ cũng ngày một được hoàn thiện, đã góp phần tích cực vào việc tăng cường khả năng thích ứng của công chức Hải quan từ việc triển khai Hệ thống thủ tục Hải quan thủ công,
Hệ thống thủ tục Hải quan điện tử sang việc triển khai Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS Tuy vậy, công tác xây dựng đội ngũ công chức trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng yêu cầu vẫn còn nhiều bất cập, đội ngũ công chức hình thành từ nhiều nguồn, trình độ khá chênh lệch, chưa có tính chuyên sâu, hiệu quả công việc của công chức mang lại chưa cao
Trang 13Thực trạng trên gây ảnh hưởng lớn đến việc thực thi công vụ, nhiệm
vụ, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Với vị trí công tác là công chức trong khối xây dựng lực lượng tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa thuộc Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính Đơn vị được giao quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn bốn tỉnh: Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam Tôi nhận thấy, hiện nay việc xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan Thanh Hóa là yếu tố quan trọng để đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 Những vấn đề nói trên đặt ra yêu cầu cấp bách và thường xuyên trong việc xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan nói chung và công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa nói riêng để đáp ứng
giai đoạn hiện nay Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ công chức Hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính qua thực tiễn Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mong
muốn thông qua việc nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị góp phần xây dựng đội ngũ công chức Hải quan ngày một chính quy, chuyên nghiệp đáp ứng cải cách hành chính hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức
Trong những năm qua ở nước ta đề tài về công vụ, công chức đã được các nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu, tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu như:
- Đề tài khoa học cấp bộ “Xây dựng đạo đức cán bộ công chức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của TS Nguyễn Ngọc Hiến - Học viện hành chính quốc gia, chủ nhiệm đề tài Trong đó chủ yếu luận giải những vấn đề về sự cần thiết xây dựng đội ngũ công chức, đạo đức công chức trong thực thi công vụ, trách nhiệm công chức
Trang 14- Tìm hiểu về nền hành chính nhà nước của tác giả Nguyễn Hữu Khiển,
năm 2003 Cuốn sách chủ yếu phân tích các yếu tố cấu thành của nền hành
chính, trong đó có những nội dung đề cập đến công chức nhà nước
- Đạo đức trong nền công vụ của nhóm tác giả Tô Tử Hạ, Trần Anh
Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo biên soạn năm 2002
- Công vụ, công chức nhà nước của tác giả Phạm Hồng Thái, ấn hành
năm 2004 Công trình này tập trung làm rõ những khía cạnh lý luận, pháp lý
về công vụ, công chức nhà nước, sự hình thành và phát triển của pháp luật
Việt Nam về công vụ, công chức
- Xây dựng đạo đức cán bộ công chức Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, của tác giả Bùi Thế Vĩnh,
ấn hành năm 2003
- Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp của tác
giảgải Nguyễn Duy Quý, ấn hành năm 2006
- Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
của hai tác giải Nguyễn Trọng Chẩn và Nguyễn Văn Phúc, ấn hành năm 2003
- Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức công vụ (Đề tài cấp bộ 2006 –
2007) do tác giải Phạm Hồng Thái làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã có những
luận bàn về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, pháp luật về công vụ và
đạo đức công vụ, đồng thời đã phân tích sự điều chỉnh của pháp luật về đạo
đức công vụ
- Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và xu hướng biến động (Đề tài cấp
bộ năm 2002-2003 do Nguyễn Thế Kiệt - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh làm chủ nhiệm đề tài)
- Bài viết Trách nhiệm pháp lý của công chức trong Nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của tác giả Ngô Hải Phan đăng trên tạp
chí Luật học
Formatted: Not Highlight
Trang 15- Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Hằng - Viện triết học năm 2008
- Bài viết Đạo đức công vụ và vấn đề nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ công chức ở nước ta hiện nay; Tạp chí triết học số 10/2003
- Nghiên cứu so sánh qui định về đạo đức công vụ của một số quốc gia
và Việt Nam của tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan, ấn hành năm 2012 Ngoài ra có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về công vụ, công chức, đạo đức công vụ Như vậy, cho tới nay chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan qua thực tiễn Cục Hải quan Thanh Hóa Nhưng các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho học viên thực hiện luận văn này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục tiêu của luận văn
Làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ công chức Hải quan; đánh giá công tác xây dựng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa; đưa ra những giải pháp xây dựng đội ngũ công chức hải quan
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ những khái niệm công cụ: công chức Hải quan; nội dung xây dựng đội ngũ công chức Hải quan, phân tích, đánh giá thực tiễn các nội dung xây dựng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại; đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xây dựng đội ngũ công
Trang 16chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa, dựa trên các số liệu thu thập và tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau trong quá trình công tác có liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề về xây dựng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010-2020 Luận văn sẽ tập trung phân tích để làm rõ và chỉ ra những mặt được và chưa được, nguyên nhân công tác xây dựng đội ngũ công chức trong thời gian qua và đưa ra giải pháp cho công tác xây dựng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả
5 Phương pháp và địa điểm nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trong
đó vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét, đánh giá từng vấn đề cụ thể Đồng thời dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề liên quan
Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống
kê so sánh, sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, khảo sát điều tra tìm hiểu cụ thể, phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, hệ thống các thông tin điều tra thực tế
5.2 Địa điểm nghiên cứu
Cục Hải quan thanh Hóa – Cục Hải quan liên tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đưa ra khái niệm công chức Hải quan và chỉ ra những đặc điểm của
Trang 17công chức Hải quan; nội dung xây dựng đội ngũ công chức Hải quan; đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan Tỉnh Thanh Hóa; đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức Hải quan đáp ứng các yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả của nền hành chính
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ công chức ngành hải quan
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ công chức và công tác xây dựng đội ngũ
công chức hải quan của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá
- Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ
công chức hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH HẢI QUAN
1.1 Khái niệm công chức hành chính nhà nước và công chức Hải quan
1.1.1 Khái niệm công chức hành chính nhà nước
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào tính chất đặc thù của mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn lịch sử cụ thể của từng nước
Công chức là một bộ phận quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước,
là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ cán
bộ, công chức
Công chức là danh từ dùng để chỉ những người thừa hành quyền lực nhà nước, thực hiện các công vụ của nhà nước Sự ra đời của chế độ công chức là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử phát triển và hoàn thiện của các tổ chức nhà nước, nó đánh dấu của sự văn minh trong hoạt động quản
lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế-xã hội Xã hội càng phát triển hiện đại, càng cần một chế độ công chức tiên tiến để bảo đảm quản lý và thúc đẩy xã hội phát triển một cách đồng bộ
Từ nửa cuối thế kỷ 18 chế độ công chức đã ra đời ở các nước tư bản phương Tây, nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển kinh tế,
Trang 19chính trị, văn hoá, xã hội ở các nước tư bản là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển chế độ công chức Vậy công chức là gì? Mỗi một quốc gia
có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức, sau đây là một số quan niệm và định nghĩa công chức có tính đặc trưng
Theo luật Công chức của Cộng hoà Pháp, công chức nhà nước được định nghĩa như sau:
Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền
và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý [14]
Luật công chức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho rằng: “Những nhân viên trong ngành hành chính của chính phủ được gọi chung là công chức” [14]
Theo luật công chức của Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính gồm công chức nhà nước và công chức địa phương quy định như sau:
Công chức nhà nước gồm những người được nhậm chức trong bộ máy của chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, được lĩnh lương của ngân sách nhà nước Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương [14]
Theo Luật công chức của Trung Quốc: “Công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ” [14] Công chức nhà nước gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là
những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước Các công chức này
bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều
lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp Công chức nghiệp vụ,
Trang 20là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp
bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật
Qua tìm hiểu những quan niệm, định nghĩa về công chức của một số quốc gia nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng công chức thường được hiểu một cách chung nhất là những công dân, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của luật công chức
Ở Việt nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Khái niệm công chức ở Việt Nam lần đầu tiên được nêu một cách tương đối đầy đủ tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức, trong đó công
chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”[6] Sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để
hình thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam
Trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt một thời gian khá dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân
Vào đầu những năm 90 thế kỷ 20, đứng trước yêu cầu của cải cách nền hành chính Quốc gia, để xây dựng đội ngũ công chức ngày một chính quy, chuyên nghiệp, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 về công chức Nhà nước, tại Điều
Trang 211 quy định “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công
vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương, hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; được xếp vào ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước” [11]
Do đặc thù của đời sống chính trị ở Việt Nam, để bảo đảm sự thống nhất về sự điều chỉnh của pháp luật đối với những người làm việc trong các
cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Với quan điểm đó Pháp lệnh Cán bộ, công chức đã ra đời ngày 26/2/1998 và có hiệu lực từ ngày 01/5/1998 qui định tại điều 1:
Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
và tại điều 2: Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao [25]
Sự ra đời của Pháp lệnh cán bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho chế
độ công chức Nhà nước Việt Nam từng bước được xây dựng, hoàn thiện và phát triển đáp ứng yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền XHCN Việc không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy vậy, một điều đáng được lưu ý là trong pháp lệnh không có sự phân biệt giữa cán bộ và công chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước, cơ quan, tổ chức của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội Trước yêu cầu của cải cách hành chính, năm 2003 Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh tuy không đưa ra định nghĩa riêng về cán bộ, công chức, mà đi theo hướng liệt kê các đối tượng được gọi là cán bộ, công chức, nhưng cũng đã phân biệt giữa các đối tượng những người được bầu của để đảm nhiệm các
Trang 22chức vụ và những người được tuyển dụng bổ nhiệm, giao giữ công vụ, nhiệm
vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội
Qua quá trình thực hiện, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã bộc lộ những
hạn chế của nó, để khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh, ngày 13/11/2008
Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức, tại Điều 1 qui định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [17]
Như vậy, công chức theo qui định của pháp luật Việt Nam bao gồm:
Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; Công chức trong
Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước;
Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ thành lập; Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp
tỉnh, cấp huyện; Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân; Công chức
trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; Công chức trong cơ quan của tổ
chức chính trị - xã hội; Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân
Formatted: Not Highlight
Trang 23dân và Công an nhân dân; Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn
vị sự nghiệp công lập
Theo các qui định nêu trên có thể thấy trong số các công chức nhà nước
có công chức hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm, hay phục vụ cho việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, vì vậy trong khoa học thường gọi đối tượng này là công chức hành chính nhà nước
Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được xác định trên cơ sở Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ và các
cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân các cấp, các tổng cục, các cục,
vụ, sở, phòng, ban, chi cục… Như vậy, công chức hành chính nhà nước là những công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước nói trên
Trên cơ sở những quy định nói trên, so sánh tính chất hoạt động của công chức hành chính với các đối tượng công chức khác, có thể thấy công chức hành chính nhà nước có một số đặc điểm:
Một là, công chức hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng của đội ngũ công chức nhà nước, được đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ thống riêng
và mang tính ổn định Đặc điểm này của công chức hành chính, khác với công chức ngành Tòa án, kiểm sát
Thứ hai, công chức hành chính nhà nước, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm thực thi quyền lực hành chính nhà nước đối với xã hội Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan khác của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Thứ ba, công chức hành chính nhà nước có vai trò quyết định trong tổ chức quá trình ra quyết định, quản lý và hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật, các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 24Thứ tư, công chức hành chính nhà nước trực tiếp, hay phục vụ cho việc
thực hiện các dịch vụ hành chính công, trực tiếp, hay phục vụ cho việc giải
quyết các yêu cầu, đòi hỏi các công việc của cá nhân, tổ chức thuộc thẩm
quyền của các cơ quan hành chính
Thứ năm, công chức hành chính trực tiếp bảo đảm, bảo vệ các quyền,
tự do, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực của quản lý hành chính
nhà nước
Thứ sáu, công chức hành chính nhà nước được phân chia thành các
ngạch, bậc cao thấp khác nhau (nhân viên, cán sự, chuyên viên, chuyên viên
chính, chuyên viên cao cấp và tương đương) mỗi ngạch công chức có yêu cầu
về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, trình độ chuyên môn khác nhau
Từ những vấn đề phân tích nêu trên, có thể hiểu: công chức hành chính
nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện, giao giữ một công vụ thường xuyên, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước
1.1.2 Công chức Hải quan và đ ặă c điểm công chức Hải quan
1.1.2.1 Quan niệm về công chức Hải quan
Công chức Hải quan là một loại công chức hành chính nhà nước trong
bộ máy hành chính nhà nước, nhưng khác với các các công chức khác: công
chức ngạch hành chính, công chức kế toán bởi ngạch công chức, tính chất
công việc đảm nhiệm
Công chức Hải quan là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước
trong bộ máy của Bộ Tài chính, được phân loại theo vị trí công tác bao gồm:
Công chức giữ các chức danh lãnh đạo trong ngành Hải quan gồm có:
+ Tổng cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng
+ Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng và các Phó Cục trưởng, Phó vụ
Formatted: Not Highlight
Trang 25trưởng, Phó viện trưởng và chức vụ tương đương tại cơ quan Tổng cục Hải quan; Cục trưởng, Phó Cục trưởng cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và chức vụ tương đương
+ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng nghiệp vụ thuộc các vụ, cục đơn vị trực thuộc Tổng cục, hoặc thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Trưởng Hải quan cửa khẩu và chức vụ tương đương; Đội trưởng, Phó đội trưởng đội kiểm soát thuộc Cục điều tra chống buôn lậu
+ Đội trưởng, Phó đội trưởng đội nghiệp vụ thuộc phòng hoặc cửa khẩu Công chức không giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo, được phân loại theo ngạch công chức bao gồm:
- Kiểm tra viên cao cấp hải quan (mã số 08.049):
Kiểm tra viên cao cấp hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành Hải quan, giúp lãnh đạo Tổng cục Hải quan chỉ đạo, tổ chức triển khai và trực tiếp thực thi pháp luật về hải quan theo quy định của Luật Hải quan với quy mô lớn, độ phức tạp cao, tiến hành trong phạm vi nhiều tỉnh hoặc toàn quốc
- Kiểm tra viên chính hải quan (mã số 08.050):
Kiểm tra viên chính hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, giúp lãnh đạo chủ trì, tổ chức và thực thi pháp luật về hải quan theo quy định của Luật Hải quan tại các đơn vị trong ngành Hải quan
- Kiểm tra viên hải quan (mã số 08.051):
Kiểm tra viên hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong các quy chế quản lý, trong các quy trình nghiệp vụ hải quan theo sự phân công của lãnh đạo
- Kiểm tra viên cao đẳng hải quan (mã số 08a.051):
Kiểm tra viên cao đẳng hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, trực tiếp thực hiện các công việc được quy định trong
Trang 26quy chế quản lý, trong các quy trình nghiệp vụ hải quan theo sự phân công của lãnh đạo
- Kiểm tra viên trung cấp hải quan (mã số 08.052):
Kiểm tra viên trung cấp hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ của ngành hải quan, được lãnh đạo giao trực tiếp thực hiện một số công việc thuộc lĩnh vực nghiệp vụ công tác hải quan
- Nhân viên hải quan (mã số 08.053):
Nhân viên hải quan là công chức thừa hành ở các đơn vị hải quan cơ sở
và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể thuộc chuyên môn nghiệp vụ hải quan do lãnh đạo phân công
Theo các qui định của pháp luật Việt Nam, công chức Hải quan nằm trong nhóm công chức hành chính nhà nước Công chức Hải quan ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung của công chức còn phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành hải quan
Trên cơ sở quan niệm chung về công chức, phân loại công chức ngành
Hải quan, có thể định nghĩa: Công chức Hải quan là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh ngành Hải quan, được giao giữ một công vụ thường xuyên, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.2.2 Đặc điểm của công chức Hải quan
Để xác định được những đặc điểm, đặc thù của công chức Hải quan, cần xuất phát từ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quan
Về cơ cấu tổ chức, ngành Hải quan được tổ chức theo chế độ tản quyền, được tổ chức theo hệ thống dọc, không trực thuộc chính quyền địa phương Các cơ quan Hải quan được tổ chức thành một hệ thống thống nhất gồm: Tổng cục Hải quan; Hải quan tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung
Trang 27ương và cấp tương đương; Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát Hải quan Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Bộ Tài chính tổ chức thực hiện chế độ quản lý nhà nước về hải quan trên phạm vi cả nước
Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Hải quan là cơ quan nhà nước đặc thù là công cụ hành chính nhà nước,
mà bất cứ một nhà nước có chủ quyền nào cũng đều phải tổ chức ra để bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại
Hải quan là “Binh chủng đặc biệt gác cửa đất nước về kinh tế, gắn liền với hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia” [21] Tổng bí
thư Lê Khả Phiêu 7/1998
Ở Việt Nam chỉ tám ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam, Bộ trưởng Bộ nội vụ Võ Nguyên Giáp ngày 10/9/1945, ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và Thuế
Gián thu “Để đảm nhiệm công việc của Sở Tổng thanh tra độc quyền muối và thuốc phiện và các Sở Thương chính Bắc, Trung và Nam bộ” [6]; thiết lập
chủ quyền quan thuế trên toàn lãnh thổ Việt nam Đây là tổ chức tiền thân của ngành Hải quan Việt Nam ngày nay Sự kiện này khẳng định Hải quan là một công cụ không thể thiếu của một quốc gia độc lập có chủ quyền
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, cơ sở pháp lý về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quan luôn có sự thay đổi phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn lịch sử
Ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 547/HĐNN phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng Ngày 20-10-1984, theo Nghị định 139/HĐBT, Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được thành lập Theo nghị
Trang 28định đó và sau này là Pháp lệnh Hải quan công bố 24-2-1990, Pháp lệnh Hải
quan được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 20/02/1990 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/5/1990 thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng và sự kế thừa
kinh nghiệm hoạtọat động, xây dựng Hải quan Việt Nam tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạtọat động xuất nhập khẩu, tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố tổ
chức và hoạtọat động của Hải quan theo nguyên tắc tập trung, thống nhất,
hoạtọat động có thực quyền, phù hợp với tính chất và đặc điểm hoạt động của
Hải quan
Ngày 29/6/2001, Luật hải quan được Quốc hội Khóa X - Kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 29/6/2001 có hiệu lực ngày 01/01/2002 nhằm công khai hóa,
minh bạch hóa các văn bản trong hệ thống pháp luật hải quan, đáp ứng yêu
cầu điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật ngày càng phong phú, đa dạng,
chuyên sâu trong lĩnh vực Hải quan Ngày 14/6/2005, Quốc hội khóa XI đã
thông qua Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với các Điều ước,
Công ước, Hiệp định mà Việt Nam tham gia ký kết và phù hợp với các quy
định của WTO, cũng như thực hiện cải cách thủ tục hải quan bằng thực hiện
Hải quan điện tử và chuyển đổi phương pháp quản lý hải quan từ tiền kiểm
sang hậu kiểm, bằng phương pháp quản lý rủi ro
Nhiệm vụ của hải quan Việt Nam được qui định tại điều 11 Luật hải
quan hiện hành:
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương,
biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu [16]
Formatted: Not Highlight Formatted: Not Highlight Formatted: Not Highlight Formatted: Not Highlight
Trang 29Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trong khu vực
và thế giới, Quốc hội đã thông qua Luật Hải quan năm 2014 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015
Hải quan có chức năng “Đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới”[16] là việc cơ
quan Hải quan sử dụng quyền lực nhà nước, được xác định tại các Bộ luật hình
sự (Điều 153, Điều 154), Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 111), Luật Hải quan (Điều 63 đến Điều 66), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (Điều 20)… về khởi
tố, điều tra ban đầu đối với hai tội xâm phạm an ninh đối nội và đối ngoại của Việt Nam là tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới Để thực hiện chức năng này, Hải quan Việt Nam được tiến hành những biện pháp nghiệp vụ công khai và bí mật nhằm phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý các hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới, hành vi vi phạm quy định khác của Nhà nước về hải quan trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định và những điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Do đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của của cơ quan Hải quan so với các cơ quan khác trong bộ máy của Bộ Tài chính, theo quan điểm của chúng tôi, công chức ngành Hải quan những đặc điểm sau đây:
- Công chức ngành Hải quan, trừ công chức văn phòng, còn lại các công chức ngạch Hải quan có môi trường làm việc khác với công chức khác, thường làm việc ở những nơi như nhà ga, biến cảng, sân bay, vùng biên giới, Hải đảo trực tiếp tiếp xúc với cá nhân, tổ chức có hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam xuất, nhập cảnh;
- Công chức Hải quan trực tiếp, hay phục vụ cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu,
Trang 30phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam;
- Công chức Hải quan là lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển hàng hóa qua biên giới (cảng biển, nhà ga, biên giới )
- Công chức Hải quan được ví như lực lượng “bán vũ trang” trong bộ máy hành chính nhà nước, có chế độ hoạt động đặc biệt, trong những trường hợp cần thiết do pháp luật quy định được áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính; điều tra đối với các vụ án hình sự trong lĩnh vực Hải quan
- Công chức Hải quan có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ rất đa dạng, nhưng tất cả mọi công chức Hải quan đều phải có tri thức, am hiểu pháp luật quốc gia và quốc tế nhất định liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Vì vậy, ngoài những yêu cầu chung đối với công chức, công chức Hải quan còn phải đáp ứng yêu cầu riêng của ngành có tính đặc thù
1.2 Nội dung xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một Nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là một Nhà nước làm cho mọi người biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, Nhà nước đó phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự kiểm soát của nhân dân Một trong những vấn đề quan trọng là xây dựng được một đội ngũ cán bộ chính quyền phù hợp với bản chất Nhà nước ta, thấm nhuần tinh thần “dân là chủ, cán bộ là đầy tớ trung thành của nhân dân” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khi đã có
đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định Người viết: “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [12] Cán bộ là những người đem đường lối, chính sách
của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ hiểu
rõ để đặt chính sách cho đúng
Trang 31Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 được thông
qua tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất tốt, tận tuỵ phục vụ nhân dân, có tính chuyên nghiệp cao”[9] là một giải pháp quan trọng nhằm hoàn
thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển biến mạnh về cải cách hành chính Trong giai đoạn hiện nay việc xây dựng, phát triển đội ngũ công chức ở nước ta trước hết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh chuyên nghiệp, từng bước hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả là khâu trung tâm trong việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trong đó, việc xây dựng, phát triển đội ngũ công chức
là yêu cầu khách quan, trực tiếp đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cải cách nền hành chính nhà nước
Xây dựng, phát triển đội ngũ công chức để đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Để đạt mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất thiết phải xây dựng nền hành chính nhà nước vững mạnh, ổn định Xây dựng, phát triển đội ngũ công chức vững mạnh, góp phần quan trọng phát huy nội lực của mọi thành phần và khu vực kinh tế vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế gắn với ổn định xã hội và công bằng xã hội
Đội ngũ công chức hải quan được hình thành phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công chức hành chính nhà nước Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia,
an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ
Trang 32chức, cá nhân là một nhu cầu cấp thiết, gồm các nội dung:
* Tuyển dụng công chức hải quan: Tuyển dụng công chức hải quan là
một quá trình nhằm tìm kiếm, bổ sung nguồn nhân lực cho ngành Vì vậy, khi tuyển dụng cán bộ, công chức cần phải làm sao tuyển dụng được những người
có khả năng đảm trách được các công việc trong hiện tại và tương lai, chứ không chỉ thuần tuý là đáp ứng ngay các công việc mà họ đảm nhiệm trước mắt Để làm được điều đó phải có những tiêu chuẩn, điều kiện, tiêu chí thật khoa học, cụ thể để tuyển dụng công chức, được thực hiện thông qua các hình thức: thi tuyển, xét tuyển Theo đó, Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 đã quy định: Việc tuyển dụng công chức phải thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
- Thi tuyển là hình thức phổ biến đóng vai trò rất quan trọng để thiết lập đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay Các môn thi và hình thức thi: Môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành, môn ngoại ngữ, môn tin học văn phòng Hình thức thi gồm thi viết, thi vấn đáp, thi trắc nghiệm, thi thực hành để tuyển chọn công chức
- Xét tuyển để tuyển dụng công chức đối với người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật công chức nếu cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Công chức ngành hải quan trong thời gian gần đây được tuyển dụng chủ yếu thông qua hình thức thi tuyển, việc xét tuyển chỉ áp dụng cho một số đối tượng cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,5 trở lên
* Sử dụng công chức
Việc sử dụng công chức cần chú trọng tới việc dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, đúng chuyên môn được đào tạo, đối với công
Trang 33chức là lãnh đạo cần bố trí đúng khả năng, đúng vị trí mà công chức có thể đảm nhiệm để đạt được hiệu quả cao Sự bố trí, sắp xếp, phân công công tác cho cán bộ, công chức đúng đắn sẽ đảm bảo cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, giúp họ tự rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt và giúp tập thể giải quyết những vấn đề vướng mắc
Công chức giữ chức vụ phải vạch ra cho người thừa hành phương hướng, kế hoạch, tạo điều kiện cho người được giao nhiệm vụ thi thố tài năng, dám nghĩ, dám làm, kiểm tra kịp thời uốn nắn những khuyết điểm được bộc lộ
có thẩm quyền trong công tác này
Việc quản lý công chức hải quan được thực hiện theo quy định phân cấp của Bộ Tài chính tại Quyết định số 2981/QĐ/BTC ngày 15/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức hành chính sự nghiệp Bộ Tài chính; Theo đó công chức được phân cấp quản
lý theo chức danh lãnh đạo và ngạch công chức
* Quy hoạch công chức
Quy hoạch cán bộ, công chức là kế hoạch tổng thể, dài hạn để tạo nguồn cán bộ, công chức nhằm đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho
Trang 34công tác cán bộ Hiến pháp nước ta quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [18] Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo thống nhất công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn bộ hệ thống chính trị Đường lối, chủ trương và Điều lệ của Đảng từ trước đến nay cũng quy định như vậy Theo đó, quy hoạch cán bộ, công chức
là một khâu cơ bản trong công tác cán bộ, nhằm chủ động tạo nguồn nhân sự trẻ, tập hợp được nhiều nhân tài; làm cơ sở cho việc đào tạo, bố trí, sử dụng
và phát triển đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị bảo đảm về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý và sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ hợp lý về thẩm quyền quy hoạch cán bộ, phù hợp với phân cấp quản lý, sử dụng cán bộ; quy hoạch phải sát với thực tiễn trên cơ sở nắm chắc đội ngũ hiện có, nguồn cán bộ và dự báo trước yêu cầu phát triển đồng thời phải gắn với các khâu trong công tác cán bộ một cách đồng bộ từ trên xuống dưới, đảm bảo nguyên tắc “mở” và “động”
Việc quy hoạch trong ngành hải quan được thực hiện căn cứ Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hướng dẫn số 22/HD-BTCTW ngày 21/10/2008, hướng dẫn số 15/HD-BTCTW ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương; Căn cứ Chỉ thị số 04 CT/BCSĐ ngày 30/01/2012 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2011-2015; Căn cứ Chỉ thị số 05 CT/BCSĐ ngày 30/8/2013 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính về công tác bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2011-2015 và quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2021; Căn cứ Quyết định số 1512/QĐ-BTC ngày 22/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế quy hoạch lãnh đạo của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính; Đối tượng trong quy hoạch của ngành hải quan là đội ngũ công chức,
Trang 35gồm công chức giữ chức vụ lãnh đạo và công chức thừa hành
* Đào tạo, bồi dưỡng công chức hải quan
Đào tạo, bồi dưỡng công chức là một khâu của công tác tổ chức cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng giúp công chức cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới kiến thức, kỹ năng thực thi công vụ Trong đào tạo và bồi dưỡng công chức cần có những tính toán cân nhắc, đào tạo bồi dưỡng có trọng tâm trọng điểm Đào tạo, bồi dưỡng công chức nhà nước thực chất là việc cung cấp các tri thức, huấn luyện một cách có kế hoạch, có tổ chức theo nhiều hình thức nhằm xây dựng đội ngũ công chức có năng lực, giỏi về chuyên môn, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, ổn định và hiệu quả trong hoạt động công vụ
Đào tạo công chức ngành hải quan nhằm chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức theo vị trí, chức danh công việc Thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại đối với đội ngũ công chức theo yêu cầu tiêu chuẩn hoá cán bộ, yêu cầu chuyên môn sâu, yêu cầu quy hoạch, yêu cầu cải cách, phát triển, hiện đại hoá ngành Hải quan và yêu cầu của quy trình nghiệp vụ thông quan tự động Tiến hành rà soát, đánh giá sát thực lại đội ngũ công chức theo các tiêu chí: bằng cấp đào tạo, khả năng, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, phẩm chất, đạo đức xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đạo tạo và triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược đào tạo của ngành Hải quan
Tổ chức đào tạo lại để có đội ngũ công chức được chuẩn hoá theo chức danh và hoàn chỉnh theo hướng chuyên sâu theo phương thức:
+ Chọn công chức gửi các trường chính quy trong nước, tham gia các khoá học nâng cao, các lớp tập huấn chuyên đề của ngành hải quan tổ chức + Chủ động tự tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức tại Cục Hải quan tỉnh và tại các đơn vị cơ sở Xây dựng phương án đào tạo tại chỗ, tổ chức các lớp tự kèm cặp bồi dưỡng tại các đơn vị cơ sở để cập nhật chế độ chính sách mới, đáp ứng nhu cầu giải quyết
Trang 36công việc hàng ngày
+ Động viên khuyến khích công chức tự nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ
- Đào tạo đội ngũ công chức thừa hành có kỹ năng chuyên sâu về lĩnh vực nghiệp vụ được phân công về nghiệp vụ hải quan, kiểm tra sau thông quan, trị giá tính thuế, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hoá, thu thập xử lý thông tin, kiểm soát chống buôn lậu, công nghệ thông tin được đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng kiến thức, tập huấn các kỹ năng liên quan đến lĩnh vực chuyên sâu nâng cao để hình thành đội ngũ chuyên gia
- Thường xuyên tổ chức rà soát, đánh giá nghiêm túc hiệu quả, chất lượng công tác của công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng; gắn việc đào tạo với việc sử dụng công chức sau khi được đào tạo
* Điều động, luân chuyển công chức
Điều động là khái niệm để chỉ việc cấp có thẩm quyền điều chuyển công chức từ một cơ quan, tổ chức này sang một cơ quan, tổ chức khác nhằm giải quyết nhiệm vụ công vụ, hoặc tăng cường công chức cho cơ quan, tổ chức để xử lý, giải quyết một nhiệm vụ đột xuất hoặc nhằm mục đích rèn luyện, thử thách cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trong quy hoạch
Trong ngành Hải quan việc điều động, luân chuyển công chức đang được thực hiện theo các hình thức: công chức thuộc diện điều động định kỳ; công chức thuộc diện điều động theo yêu cầu công tác, công chức thuộc diện luân chuyển để bồi dưỡng đào tạo Việc điều động, luân chuyển được thực hiện theo hướng dẫn tại Quyết định số 475/QĐ-TCHQ ngày 06 tháng
03 năm 2012 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy định về điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ lãnh đạo
và công chức thừa hành
* Chế độ, chính sách đối với công chức
Trang 37Chế độ, chính sách đối với công chức bao gồm: chính sách tuyển dụng,
bổ nhiệm và miễn nhiệm; chính sách đào tạo, bồi dưỡng; chính sách tiền lương; chính sách khen thưởng, kỷ luật; chính sách bảo vệ và các chính sách đãi ngộ khác đối với cán bộ, công chức… Với đặc điểm một Đảng cầm quyền, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, chính sách cán bộ, công chức là chính sách thống nhất trong hệ thống chính trị
Nhà nước ta có chế độ, chính sách thích hợp bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cho công chức Tinh giảm biên chế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, chống tham nhũng, lãng phí, mở rộng bảo hiểm xã hội, tăng tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước, đổi mới cơ bản chính sách bảo đảm lợi ích vật chất cho từng đối tượng, trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và phương tiện đi lại… Chính sách cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ công chức đang được thực hiện
có hiệu quả Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài tiền lương theo ngạch, bậc theo cấp chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức làm việc ở những nơi xa xôi, hải đảo, miền núi Ban hành và thực hiện chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và các chế độ đãi ngộ khác ngoài tiền lương đối với công chức đồng thời đề ra nhiều chính sách, hình thức thích hợp để tôn vinh những người có công với nước, những người có tài, có đóng góp lớn cho sự nghiệp đổi mới
Trang 38đích cụ thể, trực tiếp, như: giáo dục cán bộ, công chức đạo đức công vụ, ý thức tôn trọng phục vụ nhân dân, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa các vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức
Tùy theo mức độ vi phạm, pháp luật quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý khác nhau đối với công chức: trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm vật chất
Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm trước Đảng, nhà nước và ngành hải quan Pháp luật nước ta những năm gần đây đã quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là trong công tác đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức và việc đánh giá công chức hàng năm đối với trách nhiệm của công chức là đảng viên trước tổ chức đảng và trách nhiệm của công chức trước đơn vị nơi người công chức đó làm việc
Trách nhiệm đạo đức là loại hình trách nhiệm xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong hoạt động quản lý Đó là sự tự vấn lương tâm, sự lên án của xã hội, cộng đồng dân cư đối với người vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội Sự tha hóa đạo đức của đội ngũ công chức sẽ làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chính quyền Cơ sở của trách nhiệm đạo đức là
vi phạm các quy tắc chuẩn mực đạo đức xã hội Những quy tắc chuẩn mực này
có thể thành văn (được văn bản luật hóa) hoặc không thành văn Việc vi phạm đạo đức có thể áp dụng trách nhiệm pháp lý hoặc bị xã hội lên án
1.3 Yêu cầu của cải cách hành chính đôi với việc xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan
Ở Việt Nam hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức định nghĩa khái niệm cải cách hành chính là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọng của Đảng đã đề cập đến thuật ngữ này, như Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết TW8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết Đại hội
XI, v.v đã nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc cải cách
Trang 39hành chính nhà nước Đồng thời, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ được ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã nêu bốn nội dung cơ bản của cải cách hành chính Việt Nam, đó là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công
Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước đến 2010 theo Chương trình tổng thể là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 là: Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính phục vụ trong sạch, minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội, trọng tâm của cải cách hành chính
là cải cách chế độ công vụ, công chức và nâng cao chất lượng dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công cung cấp
Đối với ngành Hải quan, về tổng thể để đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, ngành Hải quan xác định các mục tiêu và cũng là trọng tâm để cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thời gian tới Đó là: Tập trung triển khai có hiệu quả Luật Hải quan (có hiệu lực từ ngày 1-1-2015); Tiếp tục khẩn trương thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một cửa quốc gia (NSW) và một cửa ASEAN; Thực hiện đánh giá chỉ số thời gian thông
Trang 40quan xác định rõ thời gian từng cơ quan, từng khâu tác nghiệp để có những kiến nghị phù hợp nhằm giảm thời gian giải phóng hàng ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực; Tiếp tục đẩy mạnh công tác hiện đại hoá hải quan theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện kĩ thuật hiện đại, áp dụng đầy đủ phương pháp quản lí rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; Tập trung nguồn lực để vận hành thành công Hệ thống VNACCS/VCIS giai đoạn I và chuẩn bị thủ tục để triển khai giai đoạn II Trong bối cảnh triển khai công cuộc cải cách thủ tục hành chính hiện nay của Chính phủ, Tổng cục Hải quan xác định cải cách, hiện đại hóa Hải quan là một đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập của đất nước, đồng thời xuất phát từ thực trạng, nguồn lực quản lý của ngành Hải quan Trọng tâm là cải cách thủ tục hải quan dựa trên phương pháp quản
lí hải quan hiện đại theo hướng tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin
Để thực hiện mục tiêu đó, Tổng cục Hải quan luôn xác định tinh thần phải chủ động, quyết liệt triển khai cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan hàng hóa Ngành Hải quan đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là 6 lĩnh vực trọng tâm bao gồm:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện thủ tục hải quan điện tử sau quá trình thí điểm và mở rộng thí điểm, đến nay, thủ tục hải quan đã được thực hiện chính thức và “phủ sóng” trên phạm vi cả nước; thủ tục đã được chuyển đổi căn bản
từ phương thức thủ công sang điện tử
Thứ hai, triển khai thành công bước đầu Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS Hệ thống này được thực hiện đúng kế hoạch, không gây xáo trộn đối với hoạt động xuất nhập khẩu, tạo dựng được nền tảng CNTT vững chắc Đây là bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng thực hiện thủ tục hải quan điện tử dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, nhằm tạo