Đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và ở xã nói riêng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ LÝ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI QUA THỰC TIỄN Ở TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ LÝ
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI QUA THỰC TIỄN Ở TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ : LUẬT H ỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT H ỌC
Mã số: 60 38 01
HÀ NỘI – 2007
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
8 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức xã
1.1 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến chính quyền cấp xã
1.1.2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong bộ máy nhà
nước và hệ thống chính trị
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ, công chức xã
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức xã
1.2.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức xã
1.2.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức xã trong thời kỳ đổi
mới
1.3 Quan điểm, mục tiêu và nội dung xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức xã ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
1.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán
1.3.2.3 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc thể chế
hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ cơ sở nói
chung và cán bộ, công chức xã nói riêng
Trang 41.3.3 Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã ở Việt
Nam
1.3.3.1 Mục tiêu chung
1.3.3.2 Các mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã
1.3.4 Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức xã ở tỉnh
Thanh Hóa hiện nay
2.1 Khái quát thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức xã
ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay
2.2.1 Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng
đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã ở tỉnh
Thanh Hóa
2.2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã ở tỉnh Thanh Hóa
2.2.2.1 Đội ngũ cán bộ do bầu cử
2.2.2.2 Đội ngũ công chức chuyên môn
2.2.2.3 Đội ngũ cán bộ không chuyên trách
2.3 Những thành tựu đạt được trong xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức xã ở tỉnh Thanh Hóa
2.3.1 Thành tựu đạt được
2.3.2 Nguyên nhân của thành tựu
2.4 Những mặt tồn tại cần khắc phục trong thời kỳ đổi
mới, nguyên nhân
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.1 Những yêu cầu đòi hỏi đẩy mạnh công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức xã theo yêu cầu của thời kỳ đổi
Trang 5Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu bức thiết của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức xã nói riêng
3.1.2 Thực hiện chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2006 là đòi hỏi xây dựng đội ngũ cán
3.2 Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã
3.2.1 Thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức xã
3.2.2 Về quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức xã
3.2.3 Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã
3.3 Các giải pháp cụ thể trong xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức xã hiện nay
3.3.1 Hoàn thiện và cải cách chế độ chính sách đi đôi với quy
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước theo hướng dân chủ, pháp quyền …là yêu cầu tất yếu trong thời kỳ đổi mới và xu thế hội nhập hiện nay Trong đó cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức (viết tắt CBCC) có phẩm chất, năng lực, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ sẽ hoàn thành tốt được công việc Tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ” Đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và ở xã nói riêng có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển KT - XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Ở nước ta, cấp xã là cấp cuối cùng trong tổ chức bộ máy nhà nước Hiện nay cả nước có 10.955 đơn vị xã, phường, thị trấn (trong đó có 9105 xã,
1245 phường, 605 thị trấn)(xem phụ lục 1), xã quản lý tới hơn 83 % dân số cả nước Nhìn nhận dưới góc độ thực tiễn, những đổi mới căn bản của Đảng và Nhà nước về cán bộ cơ sở đã đem lại nhiều kết quả, song vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá (viết tắt CNH – HĐH) nông nghiệp, nông thôn hiện nay, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập Hơn nữa, việc đánh giá đội ngũ cán bộ cơ sở ở nước ta hiện nay vẫn còn là khâu yếu nhất Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước và đẩy mạnh CNH - HĐH, để phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, trọng tâm và trước hết là phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC theo tinh thần Hội nghị Trung ương 5(khoá IX) là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có
Trang 8năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ
sở [6, tr 167-168]
Thanh Hoá là một tỉnh có số dân đông thứ 2 cả nước (trên 3,6 triệu dân), số lượng các xã so với các tỉnh còn lại trong cả nước là nhiều nhất Toàn tỉnh có 637 xã, phường, thị trấn (trong đó có 587 xã, 20 phường, 30 thị trấn)( xem phụ lục 1) Mặc dù được Đảng, Nhà nước quan tâm đã có nhiều chính sách ưu đãi để phát triển KT - XH, và nguồn nhân lực nhằm giảm số các xã trong tỉnh thuộc diện đói nghèo, nhưng do chất lượng yếu kém và thiếu hụt của đội ngũ CBCC xã trong tỉnh nên hiệu quả KT - XH của những chính sách này chưa cao, bộ mặt nông thôn vẫn còn tình trạng chậm phát triển, lạc hậu
Trong nhiều năm qua, dưới giác độ pháp lý, chưa có văn bản cụ thể quy định sự khác nhau về khối lượng công việc, nguyên tắc quản lý, nội dung, yêu cầu quản lý, chế độ chính sách cho cán bộ xã và cán bộ phường sao cho phù hợp với đặc điểm hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam NQTW 5( khoá IX) nêu rõ:
trong cải cách hành chính cần phải “phân định lại thẩm quyền của chính quyền
nông thôn và chính quyền đô thị” để đáp ứng yêu cầu ổn định và phát triển lâu
dài của đất nước CBCC xã là người có quan hệ trực tiếp với dân hàng ngày, hàng giờ, kết quả công việc sẽ ảnh hưởng lớn đến việc phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nhà nước vững mạnh
Thực tế ở nước ta, đội ngũ CBCC xã vẫn còn nhiều bất cập, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, trình độ lý luận, ngoại ngữ, tin học còn yếu kém và chưa được đào tạo có tính hệ thống, một bộ phận CBCC xã do ảnh hưởng của cơ chế thị trường có biểu hiện sa sút về phẩm chất, quan liêu, xa dân …Nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đưa chính quyền xã hoà nhập vào
Trang 9sự phát triển chung của đất nước và xu thế hội nhập một cách hiệu quả, đưa
bộ mặt nông thôn thay đổi, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát huy tốt hơn nữa dân chủ ở cơ sở, cần phải xây dựng đội ngũ CBCC xã mạnh
về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, thành thạo nghề nghiệp, nắm vững pháp luật, có phẩm chất tốt, gần dân hơn, sát dân, được dân tin cậy
là yêu cầu bức thiết hiện nay.Trong những năm qua, việc tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện NQTW5(khoá IX), đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của CBCC cơ sở trong cả nước nói chung, và CBCC xã trong tỉnh nói riêng còn chậm được tiến hành, và chưa có giải pháp đặc thù đối với đội ngũ CBCC xã
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức xã trước yêu cầu đổi mới (qua thực tiễn ở tỉnh Thanh Hoá)”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề CBCC cấp xã đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Liên quan trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng và quản lý đội ngũ CBCC có một số công trình và bài viết đó là:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Th.s Nguyễn Thế Vịnh - Vụ chính quyền địa
phương - Bộ Nội vụ (2007) Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết
Trung ương 5( khoá IX), Hà Nội
- TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên
(2001) Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
- Nguyễn Duy Phương (2003), Vấn đề xây dựng đội ngũ công chức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay qua thực tiễn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 10- Mạc Minh Sản (2002), Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền
cơ sở theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Luận
văn thạc sĩ luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Lê Đình Vĩ (2005), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Nguyễn Khắc Bộ “ Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chính
quyền cơ sở” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 3/2006
Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý có giá trị tham khảo, kế thừa để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Những công trình nói trên mới đề cập đến vấn đề chung về CBCC cấp xã (trong đó có cả
xã, phường, thị trấn) Trong khi đó, đặc thù ở nước ta xã quản lý tới hơn 83 % dân số cả nước, xã có đặc thù riêng của một chính quyền nông thôn, vẫn chưa
có tác giả nào đầu tư nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống dưới giác độ luật học về sự phân biệt sâu sắc giữa cán bộ xã với cán bộ phường
Tỉnh Thanh Hoá có nhiều đặc thù: tỷ lệ CBCC cấp xã chiếm số lượng nhiều nhất so với các tỉnh trong cả nước Số liệu điều tra của tỉnh, số lượng CBCC cấp xã có mặt đến ngày 10 tháng 11 năm 2005 là 36.088 người, chiếm 18,75 % cả nước (tổng điều tra cả nước năm 2005 là 192.438 người) Việc nghiên cứu xây dựng đội ngũ CBCC xã trong cả nước (qua thực tiễn ở tỉnh Thanh Hoá), là một vấn đề bức xúc mà tác giả quan tâm, trăn trở và mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé luận giải khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Trang 11- Luận văn nghiên cứu những thành quả đạt được, những mặt tồn tại, và những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CBCC xã ở Việt Nam hiện nay và ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng (đặc biệt là cán bộ chính quyền)
Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC ở cấp xã nói chung, và những vấn đề thực tiễn pháp luật, thực trạng về xây dựng đội ngũ CBCC xã trong thời kỳ đổi mới
- Phân tích làm rõ thành tựu đạt được và những mặt tồn tại cần khắc phục của đội ngũ CBCC xã ở tỉnh Thanh Hoá, qua đó rút ra những vấn đề cần giải quyết
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC xã nói chung và ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBCC xã trong thời
kỳ đổi mới và những yêu cầu đòi hỏi đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ CBCC
xã, những giải pháp xây dựng đội ngũ này trong điều kiện hội nhập
- Qua khảo sát ở các xã miền núi, nông thôn, đô thị ở tỉnh Thanh Hoá
để đánh giá về việc xây dựng đội ngũ CBCC xã hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, bám sát đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đội ngũ CBCC cấp xã gắn liền với việc Cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền (viết tắt NNPQ) Việt Nam xã hội chủ nghĩa (viết tắt XHCN)
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác-
Lê nin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử Ngoài ra, luận văn còn
Trang 12kết hợp phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh, điều tra xã hội học…
6 Đóng góp mới của luận văn
Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ CBCC ở cấp cơ sở nói chung và cán
bộ chính quyền xã nói riêng, những yêu cầu đối với việc đẩy mạnh xây dựng đội ngũ CBCC xã trong công cuộc CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn hiện nay
Luận văn góp phần làm sáng tỏ sự phân biệt giữa cán bộ xã và cán bộ phường, sự bất cập về mặt pháp lý và thực tiễn về đội ngũ CBCC xã sau kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương (viết tắt NQTW) 5 (khoá IX)
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
- Góp phần hệ thống các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về CBCC xã, và công tác cán bộ ở cơ sở nói chung
- Thông qua thực tiễn pháp lý và thực trạng đội ngũ CBCC xã tỉnh Thanh Hoá, đề xuất những giải pháp đặc thù nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC xã, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập của đất nước
Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện luận cứ khoa học trong công tác xây dựng đội ngũ CBCC xã trong cả nước nói chung và ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho chính quyền tỉnh Thanh Hoá xây dựng đội ngũ CBCC xã trong giai đoạn đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, phần nội dung gồm 3 chương, 10 tiết, phần kết luận và tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
1.1 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến chính quyền cấp xã
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ CBCC xã, trước hết cần nghiên cứu vị trí, vai trò, đặc điểm của cấp xã nói chung và ở xã nói riêng Để xác định đúng đắn vị trí, vai trò của cấp xã cần tiếp cận đến các khái niệm như: đơn vị hành chính, chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, cấp
xã, xã, phường, thị trấn, chính quyền cơ sở
Khái niệm đơn vị hành chính theo Từ điển hành chính thì các khái
niệm đơn vị hành chính, đơn vị lãnh thổ được hiểu như sau:
- Đơn vị hành chính: đơn vị, tổ chức, tổ chức hành chính do quy định
của pháp luật Mỗi đơn vị hành chính địa phương đều có ranh giới hành chính
và chức năng do pháp luật quy định [37, tr 100]
- Đơn vị lãnh thổ: đơn vị hành chính lãnh thổ quốc gia được phân chia
theo thứ bậc hành chính, đảm bảo sự phối hợp quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước và quyền chủ động quản lý của địa phương (tỉnh, huyện, xã)[37, tr.101]
Theo quan niệm trên, khái niệm chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX) thuộc đơn vị hành chính lãnh thổ ở địa phương ở cấp thấp nhất
Khái niệm đô thị và khái niệm nông thôn
- Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông Chính quyền
được tổ chức trên lãnh thổ mà chủ yếu là vùng nông thôn được gọi là tỉnh, huyện, xã
Trang 14- Đô thị được hiểu là nơi cư trú của cộng đồng người sống tập trung và
hoạt động trong những khu vực phi nông nghiệp Ở Việt Nam, đô thị được hiểu là 1 khu dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện: Về cấp quản lý là thành phố, thị xã, quận, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, về trình độ phát triển đô thị phải đạt được các tiêu chuẩn như sau:
+ Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (viết tắt KT - XH), của cả nước hoặc vùng lãnh thổ nhất định
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu đạt 70% mức tiêu chuẩn quy định theo loại đô thị
+ Quy mô dân số ít nhất là 4000 người Theo quan điểm của các nhà quản lý đô thị hiện nay, thì “ đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu
là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo lối sống và phong cách thành thị Đó là lối sống được đặc trưng bởi những đặc điểm: có nhu cầu về tinh thần cao, tiếp thu nền văn minh của nhân loại nhanh chóng, có đầu tư cơ
sở hạ tầng KT - XH đầy đủ và thuận tiện
Theo quan niệm trên, các đơn vị hành chính sau đây thuộc về chính quyền đô thị: Thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc tỉnh, quận, thị xã, phường, thị trấn Ở nước ta, các huyện thuộc thành phố, các xã thuộc thành phố thuộc tỉnh, thuộc thị xã có xu hướng đô thị hoá cao hơn các đơn vị hành chính ở nông thôn Đây là xu hướng biến động đáng chú ý khi nghiên cứu về chính quyền xã cũng như CBCC xã
CQCX bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (viết tắt HĐND - UBND) xã, phường, thị trấn Đây là cấp chính quyền thứ 4, cấp chính quyền thấp nhất nên gọi là chính quyền cơ sở Vì vậy CBCC cấp chính
Trang 15quyền cơ sở là những người làm việc thường xuyên ở các cơ quan của HĐND
- UBND cấp xã Chính quyền xã là nói đến HĐND - UBND xã tách bạch với phường và thị trấn
Khái niệm về hệ thống chính trị cơ sở:
Hệ thống chính trị ở nước ta là 1 thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chuyển tải và trực tiếp tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân xây dựng CNXH làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị (tổ chức Đảng), chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX), và các tổ chức chính trị
xã hội khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam, được tổ chức ở xã, phường, thị trấn Trong hệ thống chính trị cơ sở, Đảng là hạt nhân chính trị có nhiệm vụ lãnh đạo cả hệ thống chính trị Tìm hiểu khái niệm này cho thấy CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở rộng hơn khái niệm CBCC chính quyền xã
Khái niệm chính quyền cấp xã :
Trong bộ máy nhà nước bên cạnh những cơ quan nhà nước ở Trung ương, thì chính quyền địa phương là bộ phận không thể thiếu được Không một nhà nước nào có thể ban hành và thực thi pháp luật trên toàn lãnh thổ của đất nước mà không cần có sự tham gia của chính quyền địa phương Hay về thuật ngữ chính quyền địa phương có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, chính quyền được hiểu theo 2 nghĩa: Bộ máy điều hành, quản lý công việc nhà nước ở các cấp 2 Quyền quản lý, điều khiển bộ máy nhà nước ở các cấp Như vậy theo quan niệm này thì chính
Trang 16quyền địa phương là bộ máy quản lý, điều hành các công việc nhà nước ở địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (viết tắt HĐND - UBND) và cả các cơ quan nhà nước khác ở địa phương như Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên thuật ngữ chính quyền địa phương còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn : Chính quyền địa phương là một nhóm người chịu trách nhiệm đối với việc quản lý hành chính một vùng lãnh thổ Như vậy chính quyền địa phương ở đây được hiểu là các cơ quan hành chính ở địa phương chịu trách nhiệm quản lý hành chính các công việc của địa phương, ở nước ta gồm có: HĐND -UBND Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của chính quyền nhà nước thống nhất được lập ra để quản lý đời sống
xã hội ở địa phương Chính quyền địa phương ở nước ta theo Hiến pháp 1992
và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 được tổ chức thành 3 cấp tương ứng với các đơn vị hành chính gồm cấp tỉnh (bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), và cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) Mỗi cấp đều có HĐND - UBND Như vậy có thể thấy CQCX là một bộ phận hợp thành của chính quyền địa phương và là cấp thấp nhất (gọi là cấp cơ sở) Cũng như các cấp chính quyền địa phương khác, CQCX gồm có HĐND - UBND là bộ máy thực thi quyền lực nhà nước trong phạm vi xã, phường, thị trấn Vị trí, tính chất pháp lý của HĐND - UBND cấp xã được pháp luật quy định chung trong
vị trí, tính chất pháp lý của HĐND - UBND các cấp
- HĐND theo Điều 119 của Hiến pháp 1992 và Điều 1 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được sửa đổi bổ sung năm 2003 quy định: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Theo quy định trên, HĐND có 2 tính chất sau:
Trang 17+ HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương HĐND là cơ quan nhà nước được nhân dân địa phương trao quyền thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước HĐND còn đại diện cho quyền lực nhà nước ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao trên cơ sở sự phân cấp quản
lý nhằm giải quyết những công việc chung của nhà nước ở địa phương HĐND thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương không với chức năng lập pháp mà với chức năng chấp hành pháp luật chung của nhà nước và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ban hành Vì vậy, thực chất HĐND chủ yếu thực hiện quyền hành pháp ở địa phương
+ HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Có thể nói, ở địa phương HĐND là cơ quan duy nhất do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc trực tiếp, phổ thông và bỏ phiếu kín Đại biểu HĐND đại diện cho các tầng lớp nhân dân địa phương, nói lên tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của nhân dân
- UBND được Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được quy định: do HĐND bầu ra, là
cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Như vậy, UBND có các vị trí, tính chất pháp lý sau:
+ UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND do HĐND cùng cấp bầu ra có trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh
và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
+ UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND thực hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương trên mọi lĩnh vực góp phần bảo
Trang 18đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở
Riêng đối với cấp xã là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của nhân dân nên CQCX còn có trách nhiệm hướng dẫn các hoạt động tự quản của nhân dân ở cơ sở
Từ đó có thể khẳng định: CQCX ở nước ta là một cấp của chính
quyền địa phương bao gồm HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân tại cơ sở do nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp bầu ra và UBND do HĐND thành lập nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương và hướng dẫn nhân dân thực hiện các hoạt động tự quản ở cơ sở trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ
và kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
1.1.2 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong bộ máy nhà nước
và hệ thống chính trị
CQCX vừa là một bộ phận của chính quyền địa phương, một cấp của chính quyền địa phương và chính quyền nhà nước nói chung, vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị ở cơ sở Vì vậy, chúng ta cần đánh giá vị trí, vai trò của CQCX trong hệ thống chính quyền nhà nước đồng thời phải xem xét
cả vị trí, vai trò của CQCX trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Về vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền nhà nước
Chính vì CQCX là chính quyền cơ sở nên nó có một vị trí đặc biệt trong các cấp chính quyền Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn hiệu quả và sức mạnh của nhà nước không chỉ phụ thuộc vào cách thức tổ chức quyền lực
Trang 19ở Trung ương mà còn lại phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức, thực thi quyền lực ở cơ sở bởi vì các cấp chính quyền có thể chia thành 3 cấp: cấp chính sách, cấp trung gian và cấp thực thi chính sách CQCX là chính quyền cấp thấp nhất, gần dân nhất, là cấp thực thi chính sách trong hệ thống chính quyền nên nó có vị trí, vai trò sau:
- Các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật muốn đi vào cuộc sống phải thông qua hoạt động của CQCX, phải được thực hiện ở xã, phường, thị trấn thành phong trào hành động của nhân dân, thông qua những sáng kiến
và nỗ lực của nhân dân bởi vì là cấp thấp nhất, cấp thực thi chính sách nhưng
cơ sở lại là tầng sâu nhất của việc hiện thực hoá đường lối, quan điểm được vạch ra ở cấp Trung ương Cho nên, khi CQCX tổ chức tốt việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thì các chính sách và pháp luật mới đi vào cuộc sống, mới phát huy được hiệu lực Mặt khác thông qua việc thực hiện chính sách, pháp luật ở cấp xã, sẽ kiểm nghiệm được tính đúng đắn, tính khả thi, tính hiệu quả, của các chính sách, pháp luật của cấp trên, giúp cấp trên xem xét, điều chỉnh các chính sách, pháp luật cho phù hợp
Lê Nin chỉ rõ: Phải khẳng định rằng thành quả của cuộc cách mạng mà chúng
ta đã đạt được ngày hôm nay chính là vì chúng ta luôn chú ý tới một vấn đề quan trọng bậc nhất, đó là chính quyền cơ sở, kinh nghiệm của chính cơ sở
Và cũng từ cơ sở mà chúng ta có được sự lạc quan, sự nhanh nhạy và quyết đoán trong hành động cách mạng
- CQCX là cấp gần dân nhất, là nơi trực tiếp tổ chức các hoạt động quản
lý, điều hành các công việc hành chính ở cơ sở và trực tiếp tổ chức thi hành pháp luật ở xã, phường, thị trấn, có khả năng tiếp xúc gần gũi dân nhất, nắm bắt tốt tâm tư nguyện vọng của nhân dân từ đó có thể đề xuất những biện pháp chăm lo, bảo đảm cho lợi ích của nhân dân địa phương CQCX có vai trò rất quan trọng trong việc chăm lo đến lợi ích của nhân dân, đảm bảo trật tự an toàn
Trang 20xã hội, phát triển địa phương ở cơ sở Nếu CQCX được tổ chức tốt, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình thì nhà nước ta sẽ vững mạnh
- CQCX có vai trò quyết định trong việc đảm bảo thực hiện dân chủ CQCX ở nước ta được hình thành trên cơ sở những địa điểm quần cư (xóm, làng, thị trấn) là loại lãnh thổ hành chính tự nhiên Chính quyền không chỉ là
cơ quan cai trị mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư Do vậy, CQCX là cấp chính quyền trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết các công việc của dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, gắn bó với đời sống nhân dân Thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực đời sống xã hội, thực hiện quyền tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước
- CQCX quyết định những chủ trương, biện pháp phát triển địa phương
về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…và tổ chức thực hiện các chủ trương biện pháp đó, góp phần quan trọng vào việc phát triển địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương
Về vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Để đánh giá toàn diện cần phải xem xét vai trò của CQCX theo cả chiều ngang trong mối tương quan với các thiết chế, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở Hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn là một trong
4 cấp của hệ thống chính trị nước ta Nếu trong hệ thống chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở Đảng là hạt nhân chính trị, có nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở thì CQCX giữ vai trò là trung tâm, là nòng cốt của hệ thống chính trị ở cơ sở Bởi vì, khác với bộ phận khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở, CQCX có một bộ máy thực thi quyền lực nhà nước, được áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong khuôn khổ pháp luật, được nhà nước giao các nguồn lực để thực hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương Vai trò của CQCX đối với hệ thống chính trị ở cơ sở thể hiện ở những khía cạnh sau:
Trang 21- Các Nghị quyết của Đảng uỷ xã, phường, thị trấn phải được cụ thể hoá trong Nghị quyết của HĐND - UBND cấp xã và tổ chức thực hiện thì mới
có thể đi vào đời sống của nhân dân Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân cũng chỉ thực hiện có hiệu quả được quyền làm chủ của nhân dân thông qua hoạt động của CQCX Các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân thay mặt cho các tầng lớp nhân dân địa phương tham gia phối hợp với CQCX trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ở xã, phường, thị trấn Mặt khác, các tổ chức này được quyền kiến nghị với CQCX
về những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhân dân địa phương CQCX có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động tốt Vì vậy, CQCX có vai trò không nhỏ trong việc giúp các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Do đó, muốn tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở phải đặc biệt quan tâm đến việc củng cố CQCX bên cạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và củng cố các tổ chức, đoàn thể nhân dân
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cán bộ, công chức xã
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức xã
Tìm hiểu khái niệm CBCC xã cần tiếp cận quan niệm trong quá trình hình thành đội ngũ CBCC Việt Nam nói chung và CBCC xã nói riêng
Thứ nhất: Khái lược lịch sử hình thành khái niệm CBCC ở Việt Nam từ
năm 1945 đến nay
Ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề phải làm sao cho tất cả CBCC từ Chính phủ đến làng xã đều là công bộc của dân, đều phải tận tuỵ phục vụ nhân dân Sắc lệnh số 76/SL ngày 23/5/1950 ban hành quy chế công chức (là người làm công ăn lương cho cơ quan Chính phủ)
Trang 22Từ những năm 60 trở đi, khái niệm cán bộ được sử dụng thay cho công chức (người có trình độ trung cấp trở lên giao giữ một nhiệm vụ lâu dài trong
cơ quan Nhà nước, trong các tổ chức chính trị, xã hội, trong các doanh nghiệp Nhà nước và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân) Cán bộ được hình thành lên từ bầu cử, bổ nhiệm, phân công công tác sau khi tốt nghiệp các trường Trung cấp và Đại học Cán bộ được phân biệt khác với các công nhân
về vị trí làm việc và trình độ Có thể hiểu chung lại là: Cán bộ chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ lãnh đạo chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức Thời kỳ này có 6 loại cán bộ: Các nhà hoạt động chính trị, cán bộ ở các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, cán bộ trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trong các doanh nghiệp Nhà nước, cán bộ trong các lực lượng vũ trang - sĩ quan, và cán bộ xã
Nhưng mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì việc quy định về cán bộ xã có những thay đổi Cụ thể: Theo Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, thì cán bộ xã làm việc ở Uỷ ban Hành chính (giai đoạn từ 1954 -1980), UBND (từ 1980 đến nay) hoạt động theo chế độ bán chuyên trách, không thoát ly khỏi sản xuất
Bước sang thời kỳ cả nước xây dựng CNXH ở chặng đầu tiên (sau những năm 80) khi mà cơ chế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp vẫn còn duy trì trong quản lý Nhà nước và trong điều kiện làm ăn kinh tế tập thể, quản lý Hợp tác xã với quy mô lớn thì đối tượng cán bộ xã ở nước ta vẫn chưa đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá, vẫn là chế độ bán chuyên trách và không đặt ra vấn đề
“công chức xã” Từ NQTW5 khoá (IX) về “Đổi mới hệ thống chính trị cơ sở
xã, phường, thị trấn”, tiếp đó là Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi năm
2003 cụ thể hoá NQTW 5 đã đưa “công chức xã” là đối tượng công chức Nhà nước được điều chỉnh bằng Pháp lệnh thuộc hệ thống CBCC của Nhà nước ta
Trang 23Từ đó ngày càng yêu cầu “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ cán bộ cơ sở, Chính
phủ đã quy định chức danh tiêu chuẩn riêng cho từng cán bộ Trong những năm đổi mới, đã có những nỗ lực phân biệt công chức với các loại cán bộ khác “Công chức” phải là: Công dân Việt Nam, được tuyển dụng qua thi tuyển công khai, được bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên, làm việc trong một công sở Nhà nước, được xếp vào một ngạch công chức, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước cấp Có thể hiểu: Công chức nhà nước là
“những người làm việc chuyên môn, có tính chất lâu dài và ổn định trong bộ máy Nhà nước có tư cách nhân danh Nhà nước”
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, được hưởng lương ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là người làm việc trong hệ thống chính quyền Nhà nước Ở nước ta, khái niệm CBCC là những người được bầu, bổ nhiệm hay giao giữ một công việc nhất định trong các tổ chức của hệ thống chính trị nước ta cho nên cán bộ Đảng, đoàn thể, Mặt trận do bầu cử cũng gọi chung là CBCC được quy định trong Pháp lệnh Cán bộ công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003
Thứ hai: Khái niệm CBCC nói chung ở Việt Nam hiện nay
Theo Pháp lệnh Cán bộ công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003, CBCC là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm:
a Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
b Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
Trang 24c Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
d Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào 1 ngạch viên chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
đ Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
e Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị, thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp
g Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã)
h Những người được tuyển dụng, giao giữ 1 chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã
Như vậy CBCC cấp xã bao gồm các đối tượng được quy định của Pháp lệnh đó là: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội xã, phường, thị trấn, những người tuyển dụng giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã được gọi là CBCC trong biên chế Nhà nước được hưởng
từ ngân sách Nhà nước
Đội ngũ cán bộ cơ sở có cán bộ chuyên trách và không chuyên trách
Cán bộ chuyên trách là cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động
làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm:
Trang 25- Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử: Gồm cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng, HĐND,UBND, những người đứng đầu Uỷ ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội
- Cán bộ chuyên môn được UBND tuyển chọn gồm: Công an trưởng,
xã đội trưởng, cán bộ văn phòng - thống kê, địa chính- xây dựng, tài chính -
kế toán, tư pháp- hộ tịch, văn hoá- xã hội Số lượng cán bộ chuyên trách do Chính phủ quy định
- Cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế độ làm việc và hưởng lương chính sách về cơ bản như CBCC Nhà nước, CBCC cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên
Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công
trong một thời gian lao động
Như vậy so với những quy định trước đây của pháp luật, những quy định trên của NQTW 5 về đội ngũ CBCC xã đặc biệt là cán bộ chuyên trách,
đã có những thay đổi Đối tượng sau không phải là chuyên trách: Thường trực Đảng uỷ, Trưởng ban tổ chức, dân vận, tuyên giáo và Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ, Phó công an xã, công an viên, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Chủ tịch hội chữ thập đỏ, Chủ tịch hội người cao tuổi cấp xã
Trên cơ sở lý luận về CQCX và các quy định cấp xã, thì CBCC cấp xã hiện nay theo Pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 và Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn được quy định như sau:
Cán bộ chuyên trách xã (có 11 chức danh), gồm những người do dân
bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
- Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ (hoặc thường trực Đảng uỷ xã); Bí thư, phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp xã)
Trang 26- Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân
- Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc
- Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ
- Chủ tịch Hội nông dân
- Chủ tịch Hội cựu chiến binh
Công chức cấp xã: (Có 7 chức danh) gồm những người được tuyển
dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã Gồm có:
- Văn hoá - xã hội
Cán bộ không chuyên trách cấp xã ( có 19 chức danh gồm):
- Trưởng ban tổ chức Đảng;
- Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng, trưởng ban tuyên giáo và một cán
bộ văn phòng Đảng uỷ
- Phó trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy)
- Phó chỉ huy trưởng quân sự
- Cán bộ kế hoạch giao thông, thuỷ lợi, nông, lâm, ngư, diêm nghiệp
- Cán bộ lao động - thương binh & xã hội
- Cán bộ dân số, gia đình và trẻ em
- Thủ quỹ - văn thư lưu trữ
Trang 27- Cán bộ phụ trách đài truyền thanh
- Cán bộ quản lý nhà văn hoá
- Phó chủ tịch Uỷ ban mặt trận tổ quốc
- Phó các đoàn thể cấp xã
- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
- Hội Liên hiệp phụ nữ
- Hội Nông dân
- Hội Cựu chiến binh
- Chủ tịch Hội người cao tuổi
- Chủ tịch Hội chữ thập đỏ Việt Nam
Cán bộ không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
- Bí thư chi bộ thôn
- Trưởng thôn
- Công an viên ở thôn
Nghị định 121/2003 quy định: Số lượng cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã được bố trí như sau:
- Đối với xã đồng bằng:
+ Dưới 10.000 dân : Không quá 19 CBCC
+ Trên 10.000 dân : Thêm 3000 dân - thêm 01 CBCC mức tối đa 25 CBCC
- Đối với xã vùng miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo;
+ Dưới 1000 dân: Không quá 17 CBCC
+ Từ 1000 đến 5000 dân; Thêm 15.00 dân- thêm 01CBCC Mức tối đa
Trang 282003/NĐ- CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của chính phủ về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định rõ: “ Những nơi được bố trí cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã tăng thêm, thì cùng 1 chức danh được bố trí từ 2 đến 3 cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã Chủ tịch UBND cấp tỉnh căn cứ Khoản 1,2 Điều 3 Nghị định 121/CP quyết định những chức danh cán bộ được bố trí thêm, đồng thời hướng dẫn việc phân công nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp”
Từ những quy định trên có thể hiểu về CBCC xã như sau:
“CBCC xã là công dân Việt nam, trong biên chế được hưởng lương
từ ngân sách nhà nước theo quy định của Pháp luật, làm việc tại HĐND và UBND xã do được bầu cử để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND xã”
Theo tinh thần NQTW 5 (khoá IX) thì cán bộ cơ sở được gọi là “cán
bộ công chức cơ sở” thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở Ngày nay, trong công
cuộc cải cách hành chính, thời kỳ đổi mới và hội nhập, năng lực, trình độ, phẩm chất đội ngũ CBCC xã chưa đáp ứng được yêu cầu Con người là yếu tố quyết định, nếu như cải cách thể chế, sắp xếp, cải cách bộ máy có được những kết quả tốt nhất mà CBCC xã không chuyển thì mọi thứ vẫn như cũ, thậm chí còn xấu đi
Ở Việt Nam, xã quản lý tới hơn 80% dân số trong cả nước Số lượng các đơn vị hành chính xã chiếm đa số trong tổng số các đơn vị cấp cơ sở xã, phường, thị trấn Cụ thể: Tính đến 02/4/2007 thì cả nước có 10.955 đơn vị cơ
sở xã, phường, thị trấn, (trong đó có 9105 xã, 1245 phường, 605 thị trấn)( xem phụ lục 1) Còn địa bàn phường do dân cư tập trung ít, lại ở đô thị, tính phức tạp của đời sống dân cư đô thị và văn hoá lối sống đô thị chi phối đến tổ chức và hoạt động của chính quyền phường, kể cả trình độ và chất lượng đội ngũ CBCC phường Đặc thù riêng là chính quyền phường không quản lý toàn
Trang 29diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cư trên địa bàn như chính quyền xã, thị trấn, mà chính quyền phường có nhiệm vụ quan trọng trong quản lý đô thị: thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, hộ tịch, vệ sinh môi trường, trật
tự đô thị Vì vậy, đòi hỏi CBCC chính quyền phường phải có đủ trình độ năng lực để quản lý Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền xã, thì đội ngũ CBCC xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt mà phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác và phải được mọi người dân tín nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Vì vậy, cần thiết phải xây dựng đội ngũ CBCC xã để theo kịp với thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay trên phạm vi toàn quốc Đặc biệt là đội ngũ công CBCC xã ở tỉnh Thanh Hoá (nơi địa phận có số lượng dân cư đông thứ hai cả nước) trên 3.6 triệu người sau TP HCM, địa bàn rộng với 27 huyện, thị và thành phố) Số xã phường, thị trấn đông nhất cả nước (637 xã, phường, thị trấn), trong đó: xã: 587 đơn vị (chiếm 6,44 % so với tổng số xã cả nước), phường: 20 đơn vị (chiếm 0,16% cả nước), thị trấn: 30 đơn vị (chiếm 4,95% cả nước) (xem phụ lục 1)
1.2.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức xã
Đội ngũ CBCC xã là những người vừa công tác vừa gắn liền với đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân khu dân cư Đặc điểm ở xã là địa điểm quần cư nông thôn liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất Bởi vậy, CBCC có một số đặc điểm cơ bản khác với đội ngũ CBCC nói chung sau đây:
- CBCC xã chịu tác động của yếu tố phong tục tập quán, dòng họ, tâm
lý người dân địa phương
- CBCC xã là người địa phương, cho nên đặc thù là: Vừa phải có chuyên môn, vừa phải có uy tín, cán bộ xã hình thành từ chế độ “dân bầu, xã
Trang 30cử” đặc biệt có liên quan đến vấn đề dòng họ Hiện nay đây là vấn đề rất phức tạp, chế độ dân bầu có một số điểm tích cực và hạn chế
Tích cực là: Người cán bộ đại diện cho nhân địa phương thay mặt dân nắm quyền lực nhà nước phải là người do dân lựa chọn, dân tín nhiệm bầu nên, dân bầu đi đôi với dân đề nghị bãi nhiệm, giám sát cán bộ dân cử trong hiệu quả công việc mà cán bộ đó đảm nhận khi được chính quyền, nhân dân giao phó
Mặt hạn chế là: dễ nảy sinh tình trạng: Người có năng lực (ở dòng họ nhỏ) bị áp đảo số phiếu bởi người không có năng lực ( nhưng ở dòng họ lớn) nên không lựa chọn được người tài, không thu hút và khuyến khích được người có năng lực thực sự làm việc cho chính quyền
- Do bị ảnh hưởng yếu tố tâm lý của các thành phần dân cư địa phương, nên việc giải quyết thiên lệch (theo tình) nhưng có lý của một vấn đề nào đó của cán bộ có trình độ cao thì lại không được lòng dân (một bộ phận dân cư) nên không được dân bầu.Vì vậy, người có trình độ không phải là người địa phương rất ít khi làm việc ở xã,
- Tác phong làm việc chưa chuyên nghiệp, vẫn còn mang tính chất “nay
làm mai nghỉ” mang tính nghiệp dư
- Là người ba cùng với dân, “ăn cùng dân, ở cùng dân, làm việc với
dân” nên họ thông thạo phong tục tập quán, tâm lý, truyền thống nhân dân trên
địa bàn công tác nên đội ngũ này được nhân dân tin cậy và yêu mến hơn cả
- Cán bộ chuyên trách (do bầu cử) hưởng lương theo chức vụ, cán bộ không chuyên trách đều là người ngoài biên chế (không được hưởng lương chỉ có phụ cấp) nên tâm lý không yên tâm công tác
- Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ” nên mặc dù đã có chế
độ ổn định “công chức xã” nhưng một số cán bộ vẫn chưa thực sự yên tâm công tác Cứ hết nhiệm kỳ, đời Bí thư, Chủ tịch khác lên họ lại bố trí người khác Vì vậy nhiều chức danh công chức chuyên môn xã (7 chức danh) đi đào
Trang 31tạo để chuẩn hoá bằng cấp, cốt học để lấy bằng Cho nên vấn đề đặt ra là: Có nên đưa người khác địa phương làm chức danh chuyên môn ở xã hay không? Thuận lợi là: Cán bộ là người địa phương, am hiểu dân cư địa phương, gần dân hơn, có bề dày kinh nghiệm nên giải quyết công việc tốt hơn Nhưng hạn chế là: chính cán bộ chuyên môn xã cũng là người địa phương nên khi người khác lãnh đạo khác lên thay, họ lại cũng lựa chọn con em mình Nếu công chức chuyên môn là người nơi khác đến thì họ phát huy được năng lực, chuyên môn, có bằng cấp cao, do huyện bổ nhiệm thì có thay đổi được họ không? Đó là vấn đề đặt ra chưa được giải quyết dứt điểm
- CBCC xã là người ít được đào tạo có tính chất hệ thống, việc nắm vững pháp luật và xử lý tình huống theo pháp luật nhà nước còn hạn chế nên còn lúng túng, ít sáng tạo khi xử lý công việc, trông chờ vào sự hướng dẫn của cấp trên Nếu cấp trên chưa hướng dẫn pháp luật thì họ giải quyết theo kinh nghiệm, luật tục, hoặc chuyển lên cấp trên để giải quyết
Tóm lại: Đội ngũ CBCC xã còn chịu nhiều ảnh hưởng của cơ chế cũ,
làm việc mỗi ngày một buổi và tâm lý tiểu nông nên có không ít CBCC xã giải quyết công việc theo hướng “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, thiếu chủ động, ít sáng tạo, tình trạng xem nhẹ pháp luật nhà nước theo kiểu
“Phép vua thua lệ làng” Một số cán bộ chưa thực sự tận tâm với công việc, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của chính quyền xã và việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của dân cư địa phương
Sự khác nhau giữa cán bộ, công chức xã với cán bộ, công chức cấp trên:
CBCC cấp trên nằm trong biên chế Nhà nước, được Nhà nước bảo đảm vị trí công tác từ khi bắt đầu vào biên chế cho đến khi nghỉ hưu Trong khi đó cán bộ công chức xã chủ yếu là cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử, không nằm trong biên chế nhà nước, do đó khi trúng cử thì cán bộ được hưởng chế
độ chính sách do nhà nước quy định: Không trúng cử thì là dân thường Nếu
Trang 32trúng cử hết nhiệm kỳ, thôi giữ chức vụ lãnh đạo thì họ làm gì? Dẫn đến tâm
lý không yên tâm công tác Hoặc những công chức đang làm việc chuyên môn, nay được bầu làm Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND, liệu họ có được hưởng lương chế độ chính sách như công chức không, hay lại hưởng chế độ chính sách như nhiệm kỳ, hết nhiệm kỳ, họ sẽ có công việc, thu nhập ra sao?
1.2.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức xã trong thời kỳ đổi mới
Thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy tình hình chính trị - xã hội của đất nước ổn định hay không phụ thuộc vào sự ổn định của cơ sở Chính quyền xã có vị trí vai trò hết sức quan trọng Có đội ngũ cán bộ mạnh thì mới
có chính quyền mạnh, nếu không văn bản của Nhà nước, mệnh lệnh của cấp trên chỉ là quy định giấy, không có cán bộ triển khai thực hiện nó, đưa nó vào cuộc sống Thực tiễn ở Tây Nguyên những năm qua có tình trạng kẻ địch lợi dụng gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, khó khăn cho Đảng trong lãnh đạo chính quyền xây dựng CNXH, do nguyên nhân nhận thức chưa đầy đủ vai trò của chính quyền cơ sở
- Xã là nơi tổ chức thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao cho, trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân Thông qua hoạt động của Nhà nước, nhân dân thể hiện quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Người cán
bộ xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiện đúng chính sách pháp luật, thẩm quyền được giao, tiếp xúc trực tiếp với người dân, có nhiệm vụ:
+ Tiếp xúc, lắng nghe những ý kiến đóng góp của nhân dân
+ Thuyết phục nhân dân chấp hành chính sách và pháp luật
+ Giải thích, hướng dẫn chủ trương, chính sách, pháp luật cho dân hiểu + Trực tiếp tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện những nhiệm vụ được giao theo đúng thẩm quyền
Trang 33+ Giải quyết những tranh chấp trong phạm vi trách nhiệm của mình, xử
lý vi phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền
+ Vận động những việc làm tích cực, khuyến khích người khác noi theo Người CBCC xã khác với công chức Nhà nước ở cấp trên, họ sinh ra và lớn lên tại địa bàn cơ sở nên có mối quan hệ gắn bó máu thịt với xóm làng, dân cư Có nhiều công việc phải thực hiện ngoài giờ hành chính Thậm chí khi giải quyết công việc một mặt phải đảm bảo đúng pháp luật nhưng mặt khác cũng dựa trên cơ sở chủ yếu là tuyên truyền vận động, thuyết phục trong quá trình thực thi công vụ
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đưa ra những kiến nghị đề xuất lên cấp trên, CBCC xã góp phần hoàn chỉnh những chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành công trong vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân, đối với
sự nghiệp đổi mới đất nước Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc bất cứ chính sách, công tác gì, nếu có
có cán bộ tốt thì thành công không có cán bộ tốt thì hỏng việc” Nhận thức được vai trò của đội ngũ CBCC xã, cho nên việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC xã có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, biết hướng dẫn và phát huy khả năng tự quản của công dân; thạo việc, tận tuỵ với dân, không tham nhũng quan liêu là thực sự bức thiết trong giai đoạn hiện nay
Có thể khái quát lại vai trò của đội ngũ CBCC xã thể hiện qua bốn mối quan hệ:
Một là, quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Đội ngũ CBCC xã có phẩm chất và năng lực tốt mới có thể đề ra đường lối đúng, tham mưu cho cấp uỷ Đảng cơ sở thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, đồng thời chính đội ngũ này cụ thể hoá, bổ sung hoàn chỉnh đường lối và
Trang 34thực hiện đường lối Đường lối của Đảng uỷ cơ sở sẽ không thể biến thành hiện thực nếu không có CBCC xã vững mạnh Vì lẽ đó, CBCC xã quyết định đến sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và chính quyền cơ sở CBCC xã là người nắm đường lối pháp luật, giải thích và hướng dẫn nhân dân trong xã thực hiện đường lối, pháp luật Đồng thời thông qua việc đó CBCC xã phản ánh lại cho Đảng uỷ xã và chính quyền về tình hình triển khai thực hiện chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để kịp thời điều chỉnh bổ sung cho sát hợp với thực tiễn địa phương mình Cho nên vị trí, vai trò của đội ngũ CBCC như là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng nhân dân
Hai là, quan hệ với chính quyền cơ sở:
CBCC xã là nhân tố chủ yếu, hàng đầu của chính quyền cơ sở, là người điều hành chính quyền xã, nhưng lại chịu sự chi phối ràng buộc của chính quyền đó CBCC xã chỉ được thực thi nhiệm vụ quyền hạn trong phạm vi công vụ được giao, và hành động theo những nguyên tắc, khuôn khổ pháp lý nhất định Vì vậy CBCC xã luôn gắn với sức mạnh quyền lực Nhà nước đồng thời góp phần thành công cho các hoạt động của chính quyền
Ba là, quan hệ với công việc:
CBCC xã có vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và tổ chức các công việc của chính quyền; đồng thời chính
họ lại tham mưu đóng góp cho chính quyền xã đưa ra chủ trương chỉ thị phù hợp để phát triển KT-XH địa phương mình
Bốn là, quan hệ với nhân dân
CBCC xã là “công bộc” của nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo kỷ cương, pháp luật của Nhà nước và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội ở thôn, làng, bản ấp, chống các
Trang 35hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của cộng đồng, của mỗi người dân địa phương
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đổi mới, phù hợp với giai đoạn hội nhập, sự phát triển của dân trí đòi hỏi đội ngũ CBCC
xã phải vươn lên một tầm cao mới cả về trình độ chuyên môn, năng lực, khả năng sáng tạo trong quản lý, điều hành để khai thác tốt nhất những tiềm năng
ở địa phương cơ sở Đối với đội ngũ cán bộ xã ở tỉnh Thanh Hoá có vai trò quan trọng trong việc phát huy dân chủ ở địa phương và đẩy mạnh các tiềm lực phát triển KT-XH tỉnh nhà Trong thực tế mấy chục năm qua, chính sách đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ xã ở tỉnh Thanh Hoá còn nhiều bất cập Nguồn lực làm việc cho 587xã/ 637 đơn vị cơ sở trong tỉnh là khá lớn, nhưng
tỷ lệ xã được đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, ngoại ngữ và tin học còn gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được nhiều kết quả Trong điều kiện hiện nay, cần xây dựng được một đội ngũ CBCC xã có năng lực phù hợp, am hiểu sâu sắc thực tế và tâm huyết với sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh nói riêng cũng như toàn quốc nói chung
1.3.Quan điểm, mục tiêu và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Trước hết cần tìm hiểu xây dựng và xây dựng đội ngũ CBCC là gì? Xây dựng là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong hoạt động của đời sống chính trị xã hội như: xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng pháp luật, xây dựng gia đình, xây dựng xã hội Xây dựng theo nghĩa của từ này là làm nên, xây dựng một cái gì đó mang tính chất nhân tạo, do con người thực hiện Xây dựng nhà nước thường diễn ra 3 lĩnh vực phải xây dựng: xây dựng thể chế nhà nước, xây dựng bộ máy, và xây dựng đội ngũ cán bộ Trong xây dựng có cái phải xây dựng mới, có cái phải
Trang 36xây dựng lại, làm lại Xây dựng đội ngũ CBCC nói chung ở nước ta hiện nay thể hiện trong các hoạt động cụ thể Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ để thực hiện được việc xây dựng đội ngũ CBCC (nói 1 cách ngắn gọn là thực hiện công tác cán bộ ) Đảng cộng sản Việt Nam thống nhất quản lý công tác cán bộ trong hệ thống chính trị nói chung và CBCC nhà nước nói riêng Đảng đề ra chủ trương về công tác cán bộ, Đảng giới thiệu đảng viên ưu tú của mình cho nhân dân bầu vào các chức vụ, chức danh trong bộ máy nhà nước Đảng kiểm tra theo dõi Đảng viên của mình trong thi hành công vụ mà nhà nước giao cho Đảng chăm lo về bồi dưỡng đào tạo cán bộ thông qua nhiều hình thức như: đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo tại chỗ (qua công việc), đào tạo bồi dưỡng qua luân chuyển cán bộ, qua các lớp học về chuyên môn nghiệp vụ và đào tạo cán bộ để đạt được trình độ
lý luận chính trị, năng lực chuyên môn và trau dồi đạo đức phẩm chất cách mạng (đào tạo qua hệ thống trường Đảng, đoàn thể) Nhà nước (các cơ quan
có thẩm quyền) thực hiện việc quy hoạch, sắp xếp, bố trí CBCC và thực hiện đào tạo bồi dưỡng CBCC, tạo các điều kiện vật chất và tinh thần chăm lo xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước
Có thể hiểu xây dựng đội ngũ CBCC là một quá trình hoạt động có ý thức chủ định của Đảng và Nhà nước ta thông qua việc đề ra chủ trương đường lối về công tác cán bộ của Đảng Việc xây dựng pháp luật, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ và quản lý cán bộ của Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất chính trị cao, đạo đức trong sạch, năng lực trình độ ngày càng cao để thực hiện tốt công vụ được giao
Trang 371.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã
1.3.2.1 Các quan điểm chung chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Trước bối cảnh quốc tế, trong nước có những thuận lợi và khó khăn, những thời cơ và thách thức mới Nhiệm vụ chính trị rất nặng nề, phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề cho công tác cán bộ và đào tạo cán bộ, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ CBCC xã nói riêng, ngang tầm, có năng lực phẩm chất, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH - HĐH đất nước Đại hội Đảng VII, VIII xác định: Phải chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành và đổi mới quan niệm, phương pháp đánh giá, sử dụng cán bộ trong tình hình mới Trước hết phải coi trọng xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã tại chỗ
- Quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng CBCC
Công tác cán bộ là một nhiệm vụ chiến lược của Đảng, bảo đảm cho mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước được thực thi, sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đạt hiệu quả Báo cáo của Ban chấp hành TW đảng khoá VIII (tại Đại hội Đảng IX) đã xác định rõ việc nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cần phải: Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chương trình nội dung sát thực, chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường
- Quan điểm về dân chủ hoá trong công tác xây dựng, phát triển đội
ngũ cán bộ
+ Đổi mới và đưa vào nền nếp việc thực hiện quy chế tuyển chọn, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu Thực hiện nguyên tắc người phụ trách công việc có quyền hạn và trách nhiệm trong việc trong việc tuyển chọn, sử
Trang 38dụng cán bộ, công chức dưới quyền Thanh lọc những kẻ tham nhũng, vô trách nhiệm; chuyển đổi công tác những người không đủ năng lực
+ Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, bảo đảm cho dân dễ dàng tiếp xúc các cơ quan có uy quyền
Chúng ta đang xây dựng NNPQ XHCN trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền Do đó, đòi hỏi Đảng phải trực tiếp chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống chính trị trên mọi lĩnh vực Nguyên tắc cơ bản là: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ đồng thời phát huy trách nhiệm của Nhà nước
và của các cơ quan Nhà nước trong quản lý, phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Đảng không ngừng cải tiến phương pháp quản lý cán bộ cho phù hợp với tình hình mới, thực hiện phân công, phân cấp, công khai, dân chủ hoá trong công tác quản lý cán bộ Vì vậy, vấn đề đổi mới và thể chế hoá phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ vừa có ý nghĩa hết sức quan trọng vừa là nhu cầu cấp bách hiện nay Quá trình hình thành, phát triển
và hoàn thiện các nguyên tắc chỉ đạo đối với cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta là liên tục, nhất quán, có tính hệ thống ngày càng cụ thể và đồng bộ
Ngày nay, bước sang thời kỳ hội nhập, công cuộc cải cách hành chính ở nước ta rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ bởi vì: Hoạt động của đội ngũ CBCC và chính quyền nhà nước ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng NNPQ XHCN của dân do dân và vì dân Vì vậy, Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ
- Quan điểm về luân chuyển, đánh giá CBCC:
Đảng ta còn quan tâm nhiều đến công tác đánh giá cán bộ, luân chuyển cán bộ và chế độ chính sách cho cán bộ
Trang 39Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã chỉ rõ:
+ Làm tốt việc chuyển cán bộ cho quy hoạch để đào tạo cán bộ lãnh đạo, và quản lý chủ chốt, coi đây là giải pháp quan trọng, một khâu đột phá trong công tác cán bộ, kết hợp việc luân chuyển để đào tạo cán bộ đánh giá, quản lý với đội ngũ cán bộ chuyên gia, công chức chuyên sâu
+ Đổi mới việc đánh giá cán bộ trên cơ sở thống nhất quan điểm, tăng cường thông tin bổ sung hoàn thiện quy chế, quy trình đánh giá cán bộ một cách khoa học dân chủ, khách quan, lấy kết quả hoàn thành của cán bộ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá
- Quan điểm về đổi mới chính sách đãi ngộ đối với CBCC
+ Thực hiện cải cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ công chức, coi chính sách tiền lương là chính sách đầu tư cho con người, cho phát triển KT -
XH và là một giải pháp hạn chế những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ
Đánh giá:
Những quan điểm nêu trên của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay có nhiều thành tựu Tuy nhiên còn bộc lộ nhiều hạn chế đáng lưu ý đó là: Chủ trương về chú trọng đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đổi mới cơ chế chính sách đối với CBCC cơ sở được Đảng ta rất đề ra rất sớm, nhưng điểm yếu là mới dừng ở nguyên tắc chung, thiếu cụ thể nên vẫn còn vướng mắc khi triển khai Việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về công tác CBCC xã để hoàn thiện những quan điểm chủ trương, làm cơ
sở cho việc hoạch định cơ chế chính sách, quản lý phù hợp vẫn là khâu yếu nhất, thậm chí còn thiếu hoàn chỉnh
Trang 401.3.2.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức xã
- Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở trước hết cần quán triệt những quan điểm, nguyên tắc cơ bản của Đảng đã được xác định trong Nghị quyết đại hội Đảng IX, X, và các NQ TW 6 (lần 2) NQTW 5 (khoá IX), đồng thời thực hiện những nguyên tắc cụ thể sau:
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở phải đặt trong tổng thể chiến lược về xây dựng đội ngũ CBCC Nhà nước
+ Xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở phải dựa trên phân loại và tiêu chuẩn hoá từng loại cán bộ, để quy định việc bầu cử tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng,
và thực hiện chế độ chính sách phù hợp với từng đối tượng cán bộ cơ sở
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở phải phù hợp với đặc điểm KT-XH của vùng, miền dựa trên việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã
+ Thực hiện việc phân cấp nhiều hơn nữa cho địa phương trong quản lý cán bộ cơ sở; thực hiện mạnh cơ chế khoán ngân sách và tự chủ về tài chính cho cán bộ cấp cơ sở
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở phải đặt trong tổng thể chiến lược về
ổn định đơn vị hành chính các cấp, định rõ chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền
và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn, phân biệt quản lý Nhà nước theo địa bàn đô thị, nông thôn, xác định tiêu chí phân loại đơn vị hành chính lãnh thổ để hạn chế việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới
hành chính cấp xã
- Việc xây dựng đội ngũ CBCC xã, luôn gắn liền với việc kiện toàn chính quyền cơ sở NQTW 3 (khoá VIII) cũng chỉ rõ: việc kiện toàn chính quyền cơ sở cần phải:
+ Phát huy vai trò của HĐND cấp xã trong việc xem xét quyết định các nhiệm vụ KT - XH, an ninh, trật tự, đời sống nhân dân, về ngân sách và giám