1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động thanh tra ngành thông tin và truyền thông

106 645 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh tra Thông tin và truyền thông TT&TT là cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực được tổ chức ở Trung ương bao gồm Thanh tra Bộ TT&TT, Thanh tra Cục Tần số vô tuyến điện TSVTĐ, Thanh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Tuấn Khải

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

1.1 Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ - chức năng thiết yếu trong

quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ

1.2 Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông - một tổ chức

giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước

11

1.2.1 Khái niệm Thanh tra Thông tin và Truyền thông 11 1.2.2 Một số đặc điểm của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông 18 1.3 Quá trình hình thành và phát triển của Thanh tra ngành

Thông tin và Truyền thông

23

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH

TRA NGÀNH THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

32

2.1 Những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh

tra ngành thông tin và truyền thông

32

2.2 Tổ chức, bộ máy và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của 33

Trang 4

2.2.1 Đối với Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông 34

2.2.3 Đối với Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông 39 2.3 Một số kết quả đạt được trong hoạt động của Thanh tra ngành

Thông tin và Truyền thông từ năm 2007 đến nay

2.4 Một số hạn chế trong tổ chức và hoạt động của thanh tra

ngành Thông tin và Truyền thông

56

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT

67

3.1 Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện về tổ chức và hoạt động

của Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông

67

3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động thanh tra

ngành Thông tin và Truyền thông

70

3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra ngành thông

tin và truyền thông

70

Trang 5

3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thanh tra 78 3.2.4 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thanh tra Thông

tin và Truyền thông

84

3.2.5 Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan

với Thanh tra Thông tin và Truyền thông

87

3.2.6 Thực hiện tốt chính sách thi đua khen thưởng, chế độ lương,

phụ cấp và các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ thanh tra Thông

tin và Truyền thông

91

3.2.7 Thiết lập chế độ tài chính, tăng cường ứng dụng khoa học

công nghệ vào hoạt động thanh tra

92

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng

và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện được mục tiêu nước giàu, dân mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, chúng ta còn phải cố gắng rất nhiều Cải cách nền hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung chỉ đạo quyết liệt nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa; hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Một trong bốn nội dung của cải cách nền hành chính là cải cách bộ máy hành chính, trong đó

có tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống Thanh tra nhà nước

Công tác thanh tra, kiểm tra giữ vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước, là một công đoạn không thể thiếu được trong công tác quản lý Trong những năm qua nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Chính phủ đã đề cập đến công tác thanh tra Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII đã chỉ rõ: "Tăng cường

tổ chức và hoạt động thanh tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu để đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước; thiết lập kỷ cương xã hội" Nghị quyết còn nhấn mạnh: "Đổi mới tổ chức thanh tra cho phù hợp với chức năng quản lý nhà nước trong điều kiện mới" Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định:

"Tăng cường chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu lực của hệ thống thanh tra các cấp, các cơ quan bảo vệ pháp luật và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan" Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020: "Nghiên cứu sửa đổi pháp luật về thanh tra theo hướng làm rõ chức năng,

Trang 7

nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra nhà nước… tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra… tăng cường hiệu lực thi hành các kết luận của cơ quan thanh tra"

Để cụ thể hóa về công tác thanh tra đã được quy định tại Điều 112

Hiến pháp năm 1992, ngày 15 tháng 6 năm 2004 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua văn bản Luật số 22/2004/QH11 về thanh tra Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra Các văn bản quy phạm pháp luật này là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của thanh tra các cấp, các ngành

Theo quy định của Luật Thanh tra: Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Trong đó, Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp

Thanh tra Thông tin và truyền thông (TT&TT) là cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực được tổ chức ở Trung ương bao gồm Thanh tra Bộ TT&TT, Thanh tra Cục Tần số vô tuyến điện (TSVTĐ), Thanh tra Cục Quản lý Chất lượng (QLCL) Công nghệ Thông tin và Truyền thông (CNTT&TT); ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Thanh tra Sở TT&TT; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và Internet; truyền dẫn phát sóng; TSVTĐ; công nghệ thông tin (CNTT); điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; các dịch vụ công theo quy định của pháp luật

Trong những năm qua, Thanh tra TT&TT đã có những đóng góp rất lớn và thiết thực đối với công tác quản lý nhà nước về TT&TT Điều này được thể hiện thông qua việc tiến hành thanh tra, lập biên bản và xử lý vi

Trang 8

phạm hành chính (VPHC) những sai phạm trong hoạt động TT&TT, phối hợp tốt với các cơ quan chức năng khác nhằm đưa hoạt động TT&TT vào khuôn khổ theo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra, Thanh tra TT&TT còn tích cực tham mưu cho lãnh đạo các cấp trong các công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động của Thanh tra TT&TT vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc cần làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn như: tổ chức và hoạt động thanh tra; thẩm quyền của các cơ quan thanh tra; mối quan hệ giữa Thanh tra Bộ với Thanh tra Cục, Thanh tra Sở; phân định thẩm quyền giữa Bộ TT&TT với Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch về quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thông tin truyền thông; hệ thống tổ chức ngành chưa thực

sự ổn định và thống nhất Năng lực, trình độ nghiệp vụ chuyên môn và quản

lý của thanh tra, cơ sở vật chất trang thiết bị của hoạt động thanh tra v.v…

Mặt khác, cùng với sự phát triển chung của xã hội, ngành TT&TT, mạng lưới, dịch vụ bưu chính, viễn thông (BCVT) và CNTT ngày càng được mở rộng với quy mô lớn, phát triển đa dạng và được sử dụng rộng rãi Môi trường kinh doanh, chế độ sở hữu đã được đa dạng hóa và có bước phát triển để thực hiện lộ trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Do đó, các vi phạm pháp luật cũng đã phát sinh phức tạp, nhất là loại vi phạm, tội phạm sử dụng công nghệ cao như: TSVTĐ, ứng dụng CNTT trong việc sử dụng thẻ tín dụng cá nhân, đánh bạc, cá

độ qua mạng, truyền đưa, phát tán thông tin xấu, khiêu dâm, độc hại lên mạng; lĩnh vực thông tin, báo chí cũng bộc lộ những tồn tại, thể hiện ở việc thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích, thông tin theo lối giật gân câu khách, xu hướng thương mại hóa; thông tin sai sự thật, xâm phạm đời tư, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của công dân; nhiều cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử thông tin thiếu nhạy cảm chính trị, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa dân tộc và vi phạm các quy định của Luật Báo chí… Những hành vi vi phạm pháp luật nêu trên đã tác động xấu đến tình hình chính trị, kinh tế xã hội, an ninh trật tự, công tác chỉ đạo, điều hành của Nhà nước,

Trang 9

chính sách ngoại giao, trực tiếp ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, làm xấu đi hình ảnh đất nước ta trong mắt bạn bè quốc tế

Ngày 15/11/2010, Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 Luật này đã thể chế một cách khoa học quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức và hoạt động thanh tra, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thanh tra Bộ, ngành nói chung và Thanh tra Bộ TT&TT nói riêng là một cơ quan trong hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước cũng cần được đổi mới, tổ chức lại theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010

Trước những lý do mang tính thời sự trên, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới theo chủ trương của Đảng và Chương trình tổng thể cải cách hành chính của nhà nước, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác thanh tra, chấn chỉnh và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật góp phần vào sự phát triển ổn định của đất nước thì việc nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động Thanh tra ngành TT&TT là một đòi hỏi khách quan và là việc làm cấp bách trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thanh tra là vấn đề mang tính tổ chức pháp lý quan trọng trong hệ thống

bộ máy nhà nước Những năm qua, nhiều nhà khoa học pháp lý, quản lý, tổ chức đã có các công trình nghiên cứu, bài viết mang tính khoa học về những vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra Trong số đó trước tiên

phải kể đến tác phẩm "Những vấn đề pháp lý cơ bản của việc đổi mới tổ chức

và hoạt động thanh tra nhà nước Việt Nam" của TS Phạm Tuấn Khải (1998)

Các bài viết của một số tác giả trên tạp chí thanh tra, kỷ yếu nghiên cứu khoa

học thanh tra như: "Bàn về định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra

ở nước ta" của tác giả Phạm Văn Khanh (Tập IV- Kỷ yếu nghiên cứu khoa học

Trang 10

thanh tra); "Một số ý kiến về đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra bộ, ngành"

của TS Nguyễn Văn Mạnh (Tập V- Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra);

"Quán triệt quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra trong đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước" của tác giả Trần

Đức Lượng (Thông tin khoa học Thanh tra số 11-2/2007) Đề tài khoa học cấp

bộ "Đổi mới công tác tổ chức cán bộ của ngành thanh tra" của tác giả Nguyễn Khắc Hường (2008); đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức thanh tra

bộ, ngành bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trật tự kỷ luật, kỷ cương hành chính" của tác giả Đặng Xuân Phương (2009) v.v… Tuy

nhiên, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành TT&TT thì chưa có công trình nào đề cập đến Chính vì vậy, thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu sâu cả về lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra ngành TT&TT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả các mặt của công tác thanh tra góp phần vào việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực TT&TT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành TT&TT; đánh giá đúng thực trạng

về hoạt động thanh tra của ngành TT&TT, trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động thanh tra, đồng thời đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật về thanh tra ngành TT&TT ở nước ta

Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ của luận văn phải thực hiện là: phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, về vị trí vai trò của thanh tra trong quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ; quá trình hình thành và phát triển của Thanh tra ngành TT&TT; nghiên cứu về thực trạng hoạt động thanh tra ngành TT&TT từ năm 2007 đến nay; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện thanh tra TT&TT trong thời gian tới

Trang 11

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, dựa vào nghị quyết Đại hội Đảng về công tác thanh tra, các quan điểm xây dựng nhà nước

và pháp luật Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, từ cái chung đến cái riêng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp xã hội học, phương pháp tổng kết thực tiễn và các phương pháp khác

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sâu sắc thêm một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của thanh tra bộ, ngành nói chung và thanh tra ngành TT&TT nói riêng

Về mặt thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên và những người làm công tác thanh tra Những đề xuất của luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra của ngành TT&TT, một ngành có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của xã hội

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Thông tin

và Truyền thông

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động thanh tra

ngành Thông tin và Truyền thông

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA BỘ,

CƠ QUAN NGANG BỘ

1.1 Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ - chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ

1.1.1 Địa vị pháp lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ

Bộ, cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi chung là Bộ) chính thức được ghi nhận từ Hiến pháp 1946 Qua các Hiến pháp 1954, 1980 và 1992, địa vị pháp

lý của Bộ được xác định ngày càng rõ rệt

Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về các ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (dưới đây gọi chung là Bộ trưởng) là thành viên Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo một Bộ; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước đối với ngành được phân công Bộ trưởng có quyền ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế -

kỹ thuật về quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó; kiểm tra, thanh tra các

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ

Bộ là cơ quan của Chính phủ, nhưng thực chất hoạt động của Bộ phụ thuộc vào Chính phủ, phạm vi quản lý nhà nước của Bộ do Chính phủ quy định và phân công Theo đó, có thể khẳng định Bộ là cơ quan thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ Khi nói đến quản lý, điều hành và trách nhiệm của Bộ tức là nói đến việc đại diện cho Chính phủ

Trang 13

quản lý, điều hành đối với một hoặc một số ngành Nếu nhìn và tiếp cận theo hướng này thì sẽ dễ dàng giải quyết được vấn đề chồng chéo về phạm vi quản

lý nhà nước giữa các Bộ hiện nay Đây cũng là cơ sở để xác định phạm vi hoạt động của Thanh tra bộ Mặt khác, phạm vi quản lý nhà nước của Bộ là ngành, theo chúng tôi để thống nhất quản lý nhà nước, khi nói đến Bộ tức là nói đến ngành, bất kỳ nó ở lĩnh vực nào của đời sống xã hội Chỉ có Bộ mới

có chức năng quản lý nhà nước đối với ngành - đây là xu hướng phát triển tất yếu của quản lý nhà nước trong giai đoạn mới

Về cơ cấu tổ chức của Bộ: Theo quy định của pháp luật hiện hành, Bộ gồm có các Vụ, Cục, Tổng Cục, Thanh tra Bộ và Văn phòng Đối với tổ chức thanh tra ở Bộ, địa vị pháp lý còn được xác định trong pháp luật về thanh tra Thanh tra Bộ là một bộ phận cấu thành, nằm trong cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoài ra tùy theo tính chất quản lý ngành, Chính phủ thành lập các Cục, Tổng cục quản lý chuyên ngành trực thuộc Bộ, các tổ chức sự nghiệp và các đơn vị kinh tế Bộ hoạt động theo chế độ Thủ trưởng, Bộ trưởng điều hành hoạt động của bộ, giúp Bộ trưởng có các Thứ trưởng do Bộ trưởng phân công

1.1.2 Vị trí, vai trò của thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ trong quản

lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, để quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường nói riêng không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước Kinh tế thị trường bên cạnh những yếu tố tích cực thì đã xuất hiện những mặt trái đó là vấn đề việc làm, môi trường, tệ nạn xã hội, nguy cơ mất ổn định chính trị…điều này không những đã và đang diễn ra

ở nước ta, mà đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước kém và đang phát triển

Trong quản lý nhà nước, trên cơ sở pháp luật và mục tiêu phát triển đất nước, Bộ phải sử dụng nhiều chức năng để quản lý: xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển, ban hành quy trình quy phạm về kinh tế -

Trang 14

kỹ thuật, đưa ra các biện pháp tổ chức triển khai thực hiện, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách và các quyết định trong phạm vi quản lý nhà nước của mình Như vậy, thanh tra là yêu cầu tất yếu, là một bộ phận, giai đoạn trong chu trình quản lý và là vai trò không thể thiếu trong quản lý nhà nước của Bộ Hoạt động thanh tra không phải là hoạt động trực tiếp chỉ huy, điều hành quản lý, cũng phải là cơ quan chuyên môn thuần túy trong bộ máy quản lý của Bộ mà nó chính là cơ quan đảm bảo cho hoạt động quản lý đúng pháp luật, giúp cho cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý đối với ngành có hiệu quả Thanh tra bộ có vai trò giữ vững trật tự, kỷ cương trong quản lý, hướng tới hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Ngoài việc thực hiện quyền tài phán đối với việc chấp hành pháp luật của các đối tượng, Thanh tra bộ còn xem tính hợp lý của pháp luật và các chính sách do cơ quan quản lý nhà nước ban hành để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm hoàn thiện chính sách quản lý

Về ý nghĩa này, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh trong Hội nghị thanh tra toàn quốc ngày 24 tháng 3 năm 1972 tại Hà Nội: "Vị trí, tầm quan trọng của công tác thanh tra là ở chỗ nó phát hiện cho mình những cái mà mình cần, nó thường xuyên là tai mắt của mình, nó biết nhìn, biết thấy, biết phát hiện và biết chỉ cho mình thấy những cái mà mình cần biết" [34]

Thanh tra bộ có vai trò giúp Bộ quản lý nhà nước đối với ngành nhằm thực hiện các mục tiêu:

- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, khả năng tác động vào đối tượng quản lý nhằm tìm ra những ưu nhược điểm, định hướng đúng cho hoạt động của đối tượng quản lý

- Góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đối với mọi tổ chức

và cá nhân

- Bảo đảm việc kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước, người thừa hành công vụ; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; đấu tranh chống tham nhũng, tham ô lãng phí

Trang 15

- Đảm bảo quyền tự do sản xuất kinh doanh, quyền bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật

- Đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, ổn định kinh tế và định hướng phát triển của Nhà nước cũng như của ngành v.v

Thanh tra bộ là chức năng thiết yếu trong quản lý của bộ Lịch sử thanh tra đã chứng minh khẳng định vấn đề này thông qua sự hiện diện của các hình thức tổ chức, hoạt động thanh tra ở từng thời điểm cách mạng Việt Nam Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945, Nhà nước đã thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của thanh tra, vì thế tổ chức thanh tra được thành lập rất sớm Trong hoạt động lập pháp mấy năm gần đây, chúng ta đã coi trọng và đề cao vị trí, vai trò của thanh tra Trong các đạo luật, pháp lệnh chuyên ngành, các điều khoản

về thanh tra chiếm tỷ lệ khá lớn Ví dụ các Luật: CNTT, TSVTĐ, Viễn thông, Lao động… Điều này càng cho ta thấy vị trí, vai trò quan trọng của thanh tra trong quản lý nhà nước đối với ngành trong tình hình hiện nay

Tổ chức thanh tra bộ là bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của bộ, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu quản lý nhà nước của bộ Thực tế, Thanh tra bộ được thiết lập dưới nhiều hình thức: Thanh tra bộ, tổng cục, cục, sở Mặc dù với nhiều hình thức tổ chức như vậy, song nhìn chung, các tổ chức thanh tra đều được thành lập do yêu cầu quản lý nhất định, gắn với mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ

Thanh tra bộ là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước của Bộ, nó càng có vị trí, vai trò quan trọng khi chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mục đích của thanh tra đều nhằm điều chỉnh, hướng các đối tượng của quản lý thực hiện nghiêm chỉnh chính sách pháp luật, đánh giá tìm ra những ưu điểm, nhược điểm của các chính sách quản lý nhằm phục vụ quản lý nhà nước của Bộ mà không dừng lại ở việc xem xét, đánh giá một cách đơn thuần đối với các hành

vi cụ thể Do đó, ở khía cạnh nhất định, Thanh tra bộ có vai trò "tham mưu"

Trang 16

cho Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành Thực tiễn đã chứng minh, trong rất nhiều vấn đề quản lý, nếu không có hoạt động của Thanh tra

bộ thì Thủ trưởng cơ quan quản lý chuyên ngành không thể quyết định hoặc rất khó khăn trong việc ra quyết định quản lý Vì vậy, việc xác định vị trí, vai trò của Thanh tra bộ trong quản lý nhà nước của bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra bộ nói chung và Thanh tra Bộ TT&TT nói riêng

1.2 Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông - một tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước

1.2.1 Khái niệm Thanh tra Thông tin và Truyền thông

Để làm rõ khái niệm Thanh tra TT&TT, trước hết chúng ta phải đặt Thanh tra TT&TT trong mối quan hệ với khái niệm chung về Thanh tra; khái niệm về Thanh tra bộ, ngành; với vị trí, vai trò của thanh tra trong quản lý nhà nước của Bộ

a Khái niệm chung về thanh tra

Khi nghiên cứu về khái niệm thanh tra, chúng ta không thể không xem đến sự xuất hiện của Nhà nước với tư cách là một hiện tượng tất yếu, khách quan Nhà nước ra đời - một thiết chế quyền lực chính trị công cộng đặc biệt của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị, đòi hỏi phải có những thiết chế cần thiết để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Từ đó, tính quyền lực của quản lý nhà nước xuất hiện và là đặc trưng để phân biệt rõ Nhà nước với các thị tộc, bộ lạc và các tổ chức mang tính xã hội khác Để thực hiện quyền lực quản lý của mình, giai cấp thống trị đặt ra các thiết chế quyền lực, sử dụng nhiều công cụ khác nhau Một trong những công cụ quan trọng để quản lý, đó

là hoạt động thanh tra, kiểm tra

Ở nước ta, từ khi có Hiến pháp năm 1946 đến nay, mặc dù đã có nhiều thay đổi về cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế, các quyền cơ

Trang 17

bản của công dân…, song về cơ bản bộ máy nhà nước vẫn tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, "nguyên tắc mà về bản chất là đối lập với nguyên tắc phân quyền áp dụng trong tổ chức cơ chế quyền lực nhà nước tư sản" [27, tr 45], nguyên tắc tập trung dân chủ Do đó, các thiết chế về thanh tra cũng bị ảnh hưởng bởi nguyên tắc này

Điểm lại những quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn qua các giai đoạn của lịch sử thanh tra của nước ta, cho chúng ta thấy rằng, thanh tra và kiểm tra là một chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng Trên cơ sở các tài liệu, văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sách báo pháp lý trong và ngoài nước, thanh tra được định nghĩa, hiểu theo nhiều cách khác nhau, ví dụ có một số định nghĩa như sau:

- "Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) là "nhìn vào bên trong", chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định, là

sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra" [51, tr 203]

- "Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động

có tính trực thuộc" [28, tr 13]

- "Thanh tra là sự kiểm tra, kiểm soát sự tuân thủ, thực hiện đúng đắn; xem xét nhằm phát hiện sự có mặt, hoặc tìm dấu hiệu của tình trạng không có hiệu quả; chỉ sự kiểm soát việc ra vào một khu vực nào đó" [28, tr 14]

- "Thanh tra là sự kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương,

cơ quan, với khái niệm này thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét

để phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái với quy định" [56, tr 882]

- "Thanh tra được xem là "biện pháp" (phương pháp) của kiểm tra" [52, tr.129] Bên cạnh thanh tra, khái niệm về kiểm tra cũng rất đa dạng Kiểm tra là

"xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét", để chỉ hoạt động của một chủ

Trang 18

thể tác động vào đối tượng bị kiểm tra, có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc;

"kiểm tra là một phương diện, một mặt của hoạt động thanh tra hoặc hoạt động kiểm tra như là một bộ phận "hạt nhân" của hoạt động thanh tra" [28, tr 17] Xét quá trình và bản chất của hoạt động thanh tra và kiểm tra của các cơ quan nhà nước thì hầu như không có sự phân biệt hai khái niệm này Khi bàn đến sự thống nhất rằng, mục đích của kiểm tra, thanh tra là nhằm xây dựng, V.I Lênin nhiều lần nhấn mạnh trong các tác phẩm của ông cũng như trong thực tiễn hoạt động của Đảng Bônsêvích rằng, mục đích của kiểm tra và thanh tra là nhằm xây dựng "khả năng biết làm, biết thành thạo trong quản lý" [32, tr 34]

Khi tìm đọc trong sách báo chính trị, pháp lý và các văn bản pháp luật của nước ta, chúng ta thường thấy sử dụng cụm từ "thanh tra, kiểm tra" để chỉ một giai đoạn không thể thiếu trong quá trình quản lý, một chức năng của quản lý nhà nước nhằm hướng hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng

bị kiểm tra, ví dụ Nghị định số 61/1998/NĐ-CP, ngày 15/8/1998 của Chính phủ về công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp hoặc Luật Tổ chức Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ là "lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra của Chính phủ"

Từ đó có thể thống nhất rằng, thanh tra, kiểm tra với tư cách là một chức năng, một lĩnh vực hoạt động của quản lý nhà nước Khái niệm thanh tra

và kiểm tra có sự đan xen lẫn nhau, thâm nhập vào nhau rất đa dạng, có rất nhiều nét tương đồng, như đều là những phương thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, đều có khách thể chung là hoạt động quản lý nhà nước Chính những nét tương đồng này trong rất nhiều quy định của pháp luật cũng như thực tiễn, nhiều trường hợp đã không phân biệt một cách rành mạch hoặc không thể phân biệt được giữa thanh tra, kiểm tra và các loại hoạt động

có tính chất tương tự khác

Thuật ngữ "Thanh tra" được xuất hiện đầu tiên trong Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23/11/1945 về việc thành lập Ban thanh tra đặc biệt Đến Hiến pháp

Trang 19

1959 trong một số quy định đã có nội dung về kiểm tra "Hội đồng Chính phủ

ra những thông tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các thông tư, chỉ thị ấy" (Điều 76) Hiến pháp 1980 đã sử dụng thuật ngữ thanh tra, kiểm tra rộng rãi hơn cho các cơ quan Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các cấp "… Hội đồng Bộ trưởng (này là Chính phủ) tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước" (Điều 107) Hiến pháp 1992, càng ghi nhận nhiều hơn và mở rộng phù hợp với phạm vi và thẩm quyền quản lý của Chính phủ, thông qua các điều 112, 115, 116, 124 Pháp lệnh Thanh tra 1990, Luật Thanh tra 2004 và Luật Thanh tra 2010 có hiệu từ ngày 01/7/2011, thanh tra được coi là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước

Như vậy, xuất phát từ những hình thức biểu hiện được phân tích tổng quát trên, qua sự phân tích, so sánh giữa thanh tra và kiểm tra, trên cơ sở khảo sát thực tiễn pháp lý và lý luận về mối quan hệ thanh tra với quản lý nhà nước (theo nghĩa hẹp), chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung về thanh tra như sau:

Thanh tra là một chức năng của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền (theo quy định của pháp luật), nhân danh quyền lực nhà nước nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý, điều hành; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân

b Khái niệm thanh tra bộ, ngành

Như trên đã phân tích, Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành ở Bộ hiện nay đều thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của

Bộ Điều này có nghĩa là, Bộ quản lý nhà nước đến đâu thì Thanh tra bộ có quyền thanh tra đến đó, quản lý ngành nào thì Thanh tra bộ có quyền thanh tra ngành đó Như vậy, Thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành ở bộ

Trang 20

đều gắn liền với khái niệm quản lý nhà nước chuyên ngành, với tính chất chuyên ngành của bộ Do đó về bản chất hoạt động, không có sự phân biệt hai loại hình thanh tra này, mà tổ chức thanh tra của bộ quản lý ngành là thanh tra chuyên ngành của bộ

Qua phân tích các quy định hiện hành và thực tiễn hoạt động của thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành ở Bộ TT&TT, chúng ta đều thấy rằng các hình thức này đều đáp ứng đầy đủ các tiêu thức của khái niệm chung về thanh tra Thanh tra bộ là một chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, được tiến hành bởi chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, được thực hiện các quyền mang tính nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước

và phải thực hiện những trình tự, thủ tục pháp luật quy định

* Tính chất chuyên ngành trong hoạt động thanh tra của bộ - cơ sở để xác định Thanh tra bộ là Thanh tra chuyên ngành:

Trong tự nhiên và xã hội, các ngành được biểu hiện rất đa dạng, nó phản ánh tính chuyên môn hóa cao, ngành là tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là kết quả của sự phân công lao động xã hội một cách khách quan Cơ sở để phân chia ngành là căn cứ vào các hoạt động kinh

tế - kỹ thuật, sản xuất dịch vụ, sự nghiệp hành chính Bộ quản lý nhà nước đối với ngành luôn luôn thể hiện tính đặc trưng riêng của ngành, hay nói cách khác tính đặc trưng của bộ chính là sự thể hiện ra bằng nội dung, phạm vi quản lý nhà nước - ngành Đặc trưng này nó ảnh hưởng đến quy mô, tổ chức

và phương pháp điều hành, quản lý nhà nước của Bộ và cũng có nghĩa là ảnh hưởng đến tính chất hoạt động của Thanh tra bộ Với tư cách là công cụ, chức năng quản lý nhà nước của bộ, tính chất chuyên ngành trong hoạt động của Thanh tra bộ được thể hiện ở các mặt sau:

- Các tổ chức Thanh tra bộ tiến hành thanh tra đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành của bộ, không được hoạt động sang phạm vi quản lý của ngành khác mà bộ không quản lý, bộ quản lý nhà

Trang 21

nước đến đâu thì Thanh tra bộ hoạt động đến đó Thanh tra Bộ TT&TT chỉ thanh tra lĩnh vực báo chí, xuất bản, BCVT, TSVTĐ … mà không thanh tra sang lĩnh vực đất đai, khoa học, môi trường…v.v

- Tất cả các hoạt động của các tổ chức Thanh tra bộ đều nhằm và hướng tới mục tiêu quản lý nhà nước chuyên ngành của bộ Ví dụ, hoạt động của Thanh tra TT&TT luôn luôn hướng tới mục tiêu đảm bảo việc thực hiện tốt pháp luật trong lĩnh vực thông tin truyền thông

- Những người tiến hành thanh tra phải có kiến thức chuyên ngành về những vấn đề mà mục đích, yêu cầu của Thanh tra bộ đề ra Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về lĩnh vực báo chí, xuất bản thì bản thân người thanh tra phải có kiến thức về pháp luật, quản lý đối với lĩnh vực báo chí, xuất bản Người thực hiện quyền thanh tra trực tiếp phải có chuyên môn sâu về vấn đề mình tiến hành thanh tra, vì bản chất của thanh tra là tìm ra nguyên nhân, sự thật khách quan, những yếu tố tác động, tính hợp lý, hợp pháp nhằm đảm bảo sự tuân thủ quy trình, quy phạm… mang tính chuyên ngành của bộ

- Hoạt động quản lý, điều hành của Thủ trưởng các tổ chức Thanh tra

bộ, Trưởng đoàn thanh tra cũng phải căn cứ vào đặc điểm chuyên ngành của

bộ Hay nói một cách khác, đặc điểm chuyên ngành chi phối tính chất chỉ đạo, điều hành, phương pháp, cách thức hoạt động của các tổ chức thanh tra của bộ

- Kết luận, kiến nghị của Thanh tra bộ bao giờ cũng thể hiện tính chuyên ngành sâu sắc, từ việc đánh giá đặc điểm tình hình, những sự kiến đến việc đánh giá ưu, khuyết điểm, nguyên nhân Kết luận thanh tra là sản phẩm,

là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước xử lý các vấn đề gắn với chuyên ngành quản lý của Bộ

- Quyết định xử lý và hậu quả pháp lý của nó luôn gắn với tính chất chuyên ngành Thường là các quyết định xử lý thanh tra chỉ được thực hiện khi Thanh tra bộ phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật về chuyên ngành, quy trình,

Trang 22

quy phạm Ví dụ, hành vi không phát báo hoặc phát báo không đúng địa chỉ, không đúng số lượng (Báo Nhân dân, Báo Quân đội, báo do Đảng bộ các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương xuất bản và 14 loại báo cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 975/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2006) là hành vi không cung ứng hoặc cung ích dịch vụ bưu chính công ích không đúng quy định mà pháp luật về TT&TT đã quy định

Hoạt động của các tổ chức Thanh tra bộ còn được thể hiện rất rõ qua rất nhiều quy định về thanh tra chuyên ngành hiện nay, mà điển hình là thực tiễn hoạt động của các tổ chức thanh tra của Bộ TT&TT (tiểu mục 2.4)

* Cùng với chức năng thanh tra chuyên ngành như đã phân tích ở trên, Thanh tra bộ cũng thực hiện đồng thời cả chức năng thanh tra hành chính Xuất phát từ lý luận về quản lý nhà nước (theo nghĩa hẹp) thì các đơn vị trực thuộc bộ đều là những đối tượng thuộc phạm vi thanh tra của bộ Quan niệm này đã được đưa vào Luật Thanh tra năm 2004 theo hướng đơn nhất hóa mô hình tổ chức thanh tra ở các Bộ, ngành Luật Thanh tra xác định có tính nguyên tắc mỗi bộ, ngành có một tổ chức thanh tra Thanh tra bộ sẽ là đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý toàn bộ công tác thanh tra, kể cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành

Qua phân tích về vị trí, vai trò, chức năng thanh tra trong quản lý nhà nước của bộ, trên cơ sở khái niệm chung về thanh tra, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về thanh tra Bộ, ngành như sau:

Thanh tra Bộ, ngành là cơ quan thanh tra hoặc hệ thống các cơ quan thanh tra thuộc một Bộ, cơ quan ngang Bộ, được thành lập trên cơ sở quy định của Luật Thanh tra và các quy định riêng của Chính phủ, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ, cơ quan ngang Bộ đó [37, tr 18]

Trang 23

c Khái niệm Thanh tra Thông tin và Truyền thông

Trên cơ sở khái niệm chung về thanh tra; thanh tra bộ, ngành và trên

cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, chúng ta có thể đi đến thống nhất khái niệm về Thanh tra TT&TT như sau:

Thanh tra TT&TT là cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm

vi quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; các dịch vụ công theo quy định của pháp luật

1.2.2 Một số đặc điểm của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông

a Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông gắn liền với tính chất quản

lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông

Bàn về quản lý, C Mác cho rằng: "quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động" [35, tr 29-30] Mọi hoạt động quản lý đều có ý chí, mục đích, cách thức tác động theo những nguyên tắc nhất định Bộ TT&TT là cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành TT&TT, trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, luôn luôn cần có sự điều chỉnh, kiểm tra thường xuyên nhằm hướng các đối tượng đi đúng mục tiêu quản lý Thanh tra Bộ TT&TT với tư cách là một chức năng, một giai đoạn trong chu trình quản lý nhà nước, đương nhiên và tất yếu phải gắn liền với quản lý nhà nước của Bộ TT&TT, "quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản

lý và thanh tra đó là một chứ không phải là hai" [31, tr 544]

Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành TT&TT, Bộ TT&TT luôn giữ vai trò chủ đạo, chi phối, đề ra mục tiêu, yêu cầu, nội dung đối với hoạt động của Thanh tra Bộ TT&TT Cơ chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ TT&TT phải phù hợp với quy mô, tính chất và yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ TT&TT Quản lý nhà nước của Bộ và Thanh tra Bộ TT&TT

Trang 24

có điểm chung đó là nhân danh quyền lực nhà nước tác động đến đối tượng quản lý, nhưng xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì Thanh tra Bộ TT&TT chỉ là công cụ, phương tiện để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ TT&TT

Tuy nhiên, Thanh tra Bộ TT&TT cũng có tác động tích cực trở lại đối với quản lý nhà nước của Bộ TT&TT Nếu hoạt động thanh tra có hiệu quả nó

sẽ tác động thúc đẩy quá trình quản lý của Bộ, còn nếu thanh tra mà kém hiệu quả thì sẽ làm hạn chế quản lý Thanh tra Bộ TT&TT có thể xem như một đầu mối mà qua đó các chức năng khác của quản lý sẽ được kết nối với nhau Có thể thấy rằng, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của Thanh tra Bộ TT&TT không chỉ xem xét trên bản thân "tổ chức thanh tra" mà thực chất là phải xem hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ TT&TT, trong đó thanh tra giữ vai trò

là một công cụ quản lý, coi nhẹ thanh tra có nghĩa là buông lỏng quản lý Tính hiệu quả trong hoạt động của Thanh tra Bộ TT&TT sẽ có tác dụng ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý của

Bộ TT&TT Điều này cũng được V.I.Lênin chỉ rõ: "Ở đâu có nạn hối lộ và tham nhũng hoành hành thì ở đó phép nước, kỷ cương xã hội, pháp chế và thanh tra trở thành vô hiệu" [31, tr 54]

Trong quá trình chấp hành và điều hành, hoạt động quản lý nhà nước phải áp dụng và tuân thủ một cách nghiêm minh pháp luật, trên thực tế không phải bao giờ và khi nào pháp luật cũng được chấp hành nghiêm chỉnh Trong trường hợp này, trách nhiệm của Thanh tra Bộ TT&TT là giúp cơ quan quản

lý nhà nước chuyên ngành có biện pháp bảo đảm cho pháp luật thi hành trên thực tế Ví dụ: để xem xét, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật đối với hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ điện thoại di động trả trước, ngày 17/6/2009, Bộ TT&TT đã có công văn số 1795/BTTTT-TTra chỉ đạo Sở TT&TT các tỉnh, thành phố triển khai thanh tra diện rộng hoạt động cung cấp,

sử dụng dịch vụ điện thoại di động trả trước trên phạm vi toàn quốc Thời gian thanh tra bắt đầu từ ngày 01/7/2009 và kết thúc ngày 30/9/2009 Kết quả

Trang 25

thanh tra cho thấy các doanh nghiệp thông tin di động, đại lý, người sử dụng dịch vụ đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý thuê bao di động trả trước như chấp nhận giấy tờ không phải là giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu để đăng ký thông tin thuê bao di động trả trước; bán SIM thuê bao di động trả trước đã được đăng ký thông tin thuê bao của người khác… Các đoàn thanh tra đã kiến nghị xử lý nhiều vấn đề, kiến nghị người có thẩm quyền xử phạt (Chánh Thanh tra Bộ TT&TT, Chánh Thanh tra Sở TT&TT)

xử phạt các hành vi vi phạm trên với tổng số tiền xử phạt lên đến 1.005.900.000 đồng, ngoài ra còn kiến nghị Bộ TT&TT có các biện pháp quản lý như phối hợp với Bộ Công an nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu về chứng minh nhân dân để có cơ sở kiểm tra tính chính xác về thông tin thuê bao; ban hành mẫu "Bản khai thông tin thuê bao di động trả trước" để áp dụng chung cho tất cả doanh nghiệp; nghiên cứu, thẩm định một phần mềm quản lý thuê bao di động trả trước chung cho các doanh nghiệp thông tin di động để

có sự thống nhất trong quản lý

Từ những luận điểm trên, chúng ta có thể nhận định rằng, Thanh tra

Bộ TT&TT và quản lý nhà nước của Bộ TT&TT luôn luôn có mối hữu cơ với nhau, trong nhiều trường hợp, chúng phụ thuộc, tác động thúc đẩy lẫn nhau trong một thể thống nhất Trong mối quan hệ với quản lý - Thanh tra bộ có vị trí, vai trò đặc biệt, không thể thiếu trong quản lý, điều hành của Bộ TT&TT

b Tính quyền lực nhà nước của Thanh tra Bộ TT&TT

Quyền lực nhà nước là sức mạnh đã được hợp pháp hóa và được trao cho các chủ thể xác định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhằm đạt tới những mục đích cụ thể Tính quyền lực nhà nước của Thanh tra Bộ TT&TT

có mối quan hệ chặt chẽ đến tính quyền uy - phục tùng của quản lý hành chính nhà nước Là một chức năng trong quản lý nhà nước của Bộ TT&TT, Thanh tra Bộ TT&TT có tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của Bộ trong quản lý nhà nước mà pháp luật đã trao quyền Khi nhấn mạnh tính

Trang 26

quyền lực của tổ chức thanh tra, Lênin nói: "Thanh tra thiếu quyền lực là thanh tra suông" [32, tr 34]

Xuất phát từ bản chất thanh tra, tính quyền lực của Thanh tra Bộ TT&TT được thể hiện các quyền trong hoạt động thanh tra Trong quá trình thanh tra, các tổ chức thanh tra Bộ TT&TT được thực hiện một số quyền do pháp luật quy định như:

- Ra quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc khắc phục, sửa chữa những thiếu sót do thanh tra phát hiện

- Yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp những thông tin tài liệu về việc thanh tra; kết luận, kiến nghị và có các biện pháp ngăn chặn; áp dụng các hình thức xử lý hành chính hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét truy tố trước pháp luật

- Áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước trong những trường hợp nhất định

Bằng việc thừa nhận quyền lực của thanh tra, khi tiến hành thanh tra, thanh tra Bộ TT&TT tiến hành cưỡng chế nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau (tạm đình chỉ việc làm trái pháp luật) Nhưng nếu cho rằng, Thanh tra Bộ TT&TT là hoạt động mang tính cưỡng chế thì không chuẩn xác, vì như vậy sẽ đồng nhất quyền lực nhà nước với cưỡng chế Chúng ta cần lưu ý rằng, cưỡng chế chỉ là biểu hiện, một yếu tố đặc biệt của quyền lực nhà nước mà thôi

c Tính độc lập của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông

Đây là đặc tính vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra Đặc điểm này phân biệt Thanh tra Bộ TT&TT với các loại hình cơ quan chức năng khác của Bộ TT&TT Ngoài khía cạnh mang tính thứ bậc hành chính như các cơ quan quản lý nhà nước khác thể hiện trong tổ chức và hoạt động, Thanh tra

Bộ TT&TT còn có nhiệm vụ xem xét đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực TT&TT đối với cơ quan, tổ chức và

cá nhân Tính độc lập thường được biểu hiện rất rõ dưới những hình thức sau:

Trang 27

- Chỉ tuân theo pháp luật;

- Tự mình ra quyết định tổ chức các cuộc thanh tra hoặc cử thanh tra viên tiến hành thanh tra theo thẩm quyền quản lý đối với lĩnh vực TT&TT;

- Tính khách quan trong quá trình thanh tra, yếu tố này được cấu trúc

từ tính độc lập của thanh tra Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, có mang yếu tố chủ quan, nhưng xét theo tính chất, mục đích của quản lý thì Thanh tra Bộ TT&TT phải tiến hành nhiệm vụ trên cơ sở bảo đảm yêu cầu pháp chế và kỷ luật quản lý nhà nước của cả một ngành TT&TT chứ không vì lợi ích, động cơ vụ lợi của một vài cá nhân hay tập thể nào đó Tính khách quan trong tác nghiệp của Thanh tra Bộ TT&TT được thể hiện ở tất cả các giai đoạn từ việc phân tích ưu, khuyết điểm đối tượng thanh tra; khảo sát, lập chương trình, kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra; đề xuất kiến nghị Bộ trưởng Bộ TT&TT ra quyết định xử lý

- Tính chịu trách nhiệm rất cao về việc ra kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý về kết quả của hoạt động thanh tra

Ở nước ta, tính độc lập của Thanh tra bộ trong quá trình thanh tra đã được quy định trong các văn bản pháp luật thanh tra từ khi có Ban thanh tra đặc biệt (23/11/1945) đến nay, thể hiện thông qua thẩm quyền của các cơ quan thanh tra Tại Điều 5 Luật Thanh tra năm 2004 quy định "hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật"

Thanh tra Bộ TT&TT là tổ chức có con dấu riêng, khác hẳn với các

Vụ là tổ chức thuần túy tham mưu cho Bộ trưởng Bộ TT&TT, nhân danh tổ chức ra các văn bản hành chính để chỉ đạo, điều hành hoạt động, nhân danh tổ chức mình trong các mối quan hệ hành chính Việc bổ nhiệm, quản lý cán bộ cũng thể hiện tính độc lập Chánh Thanh tra Bộ TT&TT do Bộ trưởng Bộ TT&TT bổ nhiệm bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chánh Thanh tra Cục TSVTĐ và Cục QLCL CNTT&TT do

Bộ trưởng Bộ TT&TT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của

Trang 28

Cục trưởng Cục TSVTĐ và Cục trưởng Cục QLCL CNTT&TT sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra Bộ TT&TT, các Thanh tra viên do Bộ trưởng Bộ TT&TT bổ nhiệm Tính độc lập còn thể hiện đối với những vấn đề không đồng ý với kết luận của Bộ trưởng Bộ TT&TT, Chánh Thanh tra Bộ TT&TT

có quyền báo cáo, kiến nghị với Tổng Thanh tra Chính phủ

Tính độc lập của Thanh tra Bộ TT&TT xuất phát từ chỗ, một bộ phận chủ yếu các quyền của nó mang tính chất tài phán nhân danh cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật Trong đó quyết định xử phạt VPHC là biểu hiện rõ nhất, mọi hoạt động tài phán đều mất tính công minh nếu xa rời cơ sở pháp luật, nếu chịu ảnh hưởng của những quyền lực khác (có thể cơ quan quản lý cùng cấp, cấp trên, cơ quan Đảng) Tuy nhiên, tính độc lập của Thanh tra Bộ TT&TT ở đây cần được hiểu là tính độc lập của hoạt động thanh tra nói chung và độc lập về nguyên tắc, xuất phát từ chức năng hoạt động của tổ chức thanh tra thuộc về bộ máy hành chính nhà nước, nó khác với tính độc lập trong hoạt động điều tra, truy tố của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như trong công tác xét xử của tòa án Bởi vì, Thanh tra TT&TT xem xét mọi việc không thuần túy chỉ căn cứ vào tính hợp pháp, mà cả tính hợp lý và thêm vào

đó, không phải mọi hoạt động thanh tra chuyên ngành của Bộ TT&TT đều mang tính chất tài phán

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông

Ngay sau khi cách mạng Tháng 8, ngày 2/9/1945 thành công, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt (Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945) Ban thanh tra đặc biệt có nhiệm vụ "giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ" Từ năm 1945 đến 1955, các Bộ được thiết lập trong cơ cấu của

Bộ có Nha thanh tra Nha thanh tra do một Tổng thanh tra và có một số thanh tra viên giúp việc có nhiệm vụ kiểm soát các công việc của cơ quan, các cấp

Trang 29

thuộc bộ về mọi phương diện Tổng thanh tra và các thanh tra viên "do Sắc lệnh bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Sắc lệnh đó sẽ đưa ra Hội đồng chính phủ thông qua" Theo đó, ở một số Bộ đã được thành lập Nha Thanh tra như: Nha Thanh tra hành chính, Nha Thanh tra Bộ Nội vụ, Bộ Canh Nông, Nha Thanh tra hành chính lao động và Ban Thanh tra Bộ Kinh tế v.v

Ngành Bưu điện được thành lập từ năm 1945 với tên gọi là Nha Bưu điện nằm trong Bộ Giao thông công chính Đến tháng 3/1955 thành lập Tổng cục Bưu điện thuộc Bộ Giao thông và Bưu điện, tuy vậy trong thời kỳ từ năm

1945 đến tháng 5 năm 1961 chưa có tổ chức thanh tra riêng Ngày 13/6/1961, Tổng cục Bưu điện tách ra thành Cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ban thanh tra được hình thành từ đó - là Cơ quan thanh tra Nhà nước Tháng 4/1990, Tổng cục Bưu điện chuyển thành Tổng công ty BCVT thuộc Bộ Giao thông vận tải

và Bưu điện Ban thanh tra vẫn tồn tại và hoạt động như cũ Đến 26/10/1992, Chính phủ có Nghị định số 03/CP thành lập Tổng cục Bưu điện trực thuộc Chính phủ và Nghị định 28/CP ngày 24/5/1993 quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện Thanh tra Tổng cục Bưu điện với tên gọi mới, có con dấu riêng và nằm trong hệ thống tổ chức của Thanh tra Nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được qui định tại Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990 trong phạm vi quản lý nhà nước của ngành Ngày 6/1/1994, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện có Quyết định số 18/QĐ-TCBĐ ban hành "Quy chế về tổ chức và hoạt động thanh tra Bưu điện" Hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nước về Bưu điện gồm Thanh tra Tổng cục Bưu điện và Thanh tra Bưu điện tỉnh, thành phố (Thanh tra sở Bưu điện) Các tổ chức này đều có Chánh thanh tra, Phó chánh thanh tra và thanh tra viên, đều có con dấu riêng theo tên gọi, hoạt động theo Pháp lệnh Thanh tra và theo quy định của Tổng cục trưởng Tuy chưa có tên gọi là Thanh tra chuyên ngành và chưa có thẩm quyền xử phạt VPHC nhưng thực chất đây là tổ chức Thanh tra nhà nước chuyên ngành về bưu điện thực hiện hai chức năng thanh tra nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc và thanh tra chuyên ngành

Trang 30

đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên toàn xã hội Thanh tra các Bưu điện tỉnh cũng thực hiện hai chức năng như Thanh tra Tổng cục trên phạm vi của tỉnh, tương tự như thanh tra của các sở khác ở địa phương

Về việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, Quyết định 18/QĐ-TCBĐ quy định: Chánh Thanh tra Tổng cục do Tổng cục trưởng đề nghị, Tổng Thanh tra nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Phó Chánh Thanh tra Tổng cục; Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra Bưu điện tỉnh đều do Chánh Thanh tra Tổng cục cùng Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - Lao động trình Tổng Cục trưởng quyết định

Riêng chuyên ngành quản lý máy phát sóng và TSVTĐ ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng từ trước đến nay đều có tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát Các chế tài xử phạt hoặc được quy định trong luật, hoặc trong các văn bản của Chính phủ, của các cơ quan quản lý nhà nước Ở Việt Nam, căn cứ vào Nghị định 28/CP ngày 26/5/1993 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện, Cục Tần số được thành lập Pháp lệnh Xử phạt VPHC được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 7/12/1989 tại Điều 17 cũng đã qui định thẩm quyền xử phạt cho Thanh tra Nhà nước chuyên ngành Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện đã có Quyết định số 494/QĐ-TCBĐ ngày 8/6/1993 và Quyết định số 185/QĐ-TCBĐ ngày 12/3/1994 giao cho Thanh tra viên hoặc Đoàn kiểm tra của Cục Tần số và của các Bưu điện tỉnh, thành phố có thẩm quyền kiểm tra và xử phạt VPHC theo mức phạt tiền quy định trong Thông tư 104/TC/GTBĐ ngày 22 tháng 12 năm 1993 của Bộ Tài chính Như vậy, từ thực tế khách quan và yêu cầu của hoạt động quản lý, hoạt động thanh tra chuyên ngành TSVTĐ và xử phạt VPHC về lĩnh vực này đã có từ trước khi ra đời các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp Chính phủ và cấp Quốc hội

Cơ chế trên đây tồn tại cho đến khi Nhà nước chủ trương tách quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh Nhằm thực hiện Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập

Trang 31

tập đoàn kinh doanh, Thủ tướng đã có Quyết định số 249/TTg ngày 29/4/1995, thành lập Tổng Công ty BCVT Việt Nam và sau đó ngày 1/8/1995, Chính phủ

có Nghị định số 51/CP phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công

ty BCVT Việt Nam Một số đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp khác trước đây trực thuộc Tổng cục Bưu điện nay gia nhập vào Tổng công ty BCVT Việt Nam để trở thành thành viên của Tổng công ty Tổng cục Bưu điện không còn quản lý doanh nghiệp nào, trở thành cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính

và viễn thông Các Bưu điện tỉnh từ chỗ vừa thực hiện quản lý nhà nước vừa quản lý sản xuất kinh doanh nay chỉ còn là doanh nghiệp Thanh tra các sở bưu điện giải thể Theo Điều 6 Nghị định 51/CP, Tổng công ty là Doanh nghiệp 91 trực thuộc thẳng Chính phủ, chịu sự quản lý nhà nước của các Bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước

Trước sự thay đổi trên, cuối năm 1995 Tổng cục Bưu điện có chủ trương nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra của ngành Bưu điện theo hướng trình Chính phủ ban hành một Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước chuyên ngành về Bưu điện Giai đoạn 1996 - 2002 có những thay đổi lớn cả về thể chế và tổ chức quản lý Liên quan đến thanh tra, sau nhiều năm trình phương án, lúc thì Nghị định của Chính phủ, lúc đổi sang Quyết định của Thủ tướng, ngày 9 tháng 11 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/2001/QĐ-TTg về tổ chức Thanh tra Nhà nước về Bưu điện Tại Điều 1 của Quyết định quy định "Thanh tra Nhà nước về Bưu điện có chức năng thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành về BCVT, Internet, tần số vô tuyến điện và các lĩnh vực khác thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Tổng cục Bưu điện trong phạm vi cả nước"

Điều 2 quy định hệ thống tổ chức của Thanh tra Bưu điện gồm: Thanh tra Tổng cục Bưu điện, Thanh tra Cục Bưu điện khu vực, Thanh tra Cục TSVTĐ Các tổ chức thanh tra này có con dấu và tài khoản riêng

Trang 32

Như vậy trong hệ thống có cả Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục quản lý chuyên ngành và Thanh tra các Cục quản lý nhà nước 3 khu vực Bắc, Trung, Nam Thanh tra các Cục khu vực và Cục quản lý chuyên ngành là cơ quan thuộc Cục, là cấp dưới của Thanh tra Tổng cục, chịu sự lãnh đạo song trùng của Cục trưởng và Chánh Thanh tra Tổng cục Trừ Chánh Thanh tra Tổng cục do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, các phó Chánh Thanh tra Tổng cục và Chánh Thanh tra các Cục đều do Tổng cục trưởng bổ nhiệm

Hệ thống tổ chức này phù hợp lúc đó nhưng chưa kịp hướng dẫn thực hiện vì Tổng cục Bưu điện không còn quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đến ngày 7/6/2002, Chủ tịch nước công bố "Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông" Về mặt tổ chức quản lý nhà nước tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI đã quyết định thành lập Bộ BCVT và ngày 11/11/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ BCVT Tổng cục Bưu điện giải thể và Bộ BCVT ra đời với nhiều chức năng quản lý nhà nước mới mà trước đây Tổng cục Bưu điện chưa được giao

Quyết định 176/2001/QĐ-TTg về tổ chức Thanh tra Nhà nước về Bưu điện không còn phù hợp nữa Mặt khác, năm 2002 Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Pháp lệnh xử lý VPHC mới với nhiều thay đổi so với Pháp lệnh năm 1995 Do vậy, Bộ BCVT phải xây dựng trình đề án Nghị định mới về Thanh tra Bộ BCVT Ngày 26/6/2003 Chính phủ ban hành Nghị định

số 75/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra BCVT và CNTT Theo Nghị định 75/2003/NĐ-CP các tổ chức Thanh tra của

Bộ BCVT được cấu tạo ở ba loại cơ quan và đều thực hiện hai chức năng thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành Cao nhất là Thanh tra Bộ là cơ quan trực thuộc Bộ Dưới Thanh tra Bộ là Thanh tra của 2 Cục quản lý chuyên ngành - là cơ quan trực thuộc Cục và Thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước địa phương gọi là Thanh tra Cục quản lý khu vực Cục BCVT và CNTT khu vực I quản lý 28 tỉnh, thành phố phía bắc; Cục BCVT và CNTT khu vực

Trang 33

II quản lý 21 tỉnh, thành phố phía nam; Cục BCVT và CNTT khu vực III quản lý 12 tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên

Về cán bộ lãnh đạo của Thanh tra Bộ BCVT được bổ nhiệm theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra 1990 và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghĩa là: Chánh Thanh tra Bộ do Bộ trưởng Bộ BCVT đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ

và Tổng Thanh tra Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Các Phó Chánh Thanh tra Bộ do Chánh Thanh tra Bộ đề nghị, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ trình Bộ trưởng bổ nhiệm Chánh thanh tra các Cục quản lý chuyên ngành, các Cục quản lý khu vực do Cục trưởng đề nghị, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và Chánh Thanh tra Bộ trình Bộ trưởng bổ nhiệm Phó Chánh Thanh tra các Cục do Cục trưởng bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của chánh Thanh tra Cục và trưởng phòng Tổ chức của Cục Việc bổ nhiệm theo quy trình trên như trên phù hợp với các quy định, các văn bản phân cấp đề bạt, bổ nhiệm cán bộ hiện hành của Nhà nước, của Bộ Nội vụ, của Thanh tra nhà nước và của Bộ BCVT Lực lượng thanh tra viên trong hệ thống lúc này nói chung rất mỏng Lúc đó Thanh tra bộ có tổng số 14 cán bộ, thanh tra viên (cả 3 lãnh đạo) trong đó mới 9 người được bổ nhiệm vào chức danh thanh tra viên và thanh tra viên chính, 4 người đang là chuyên viên, 1 mới tuyển dụng đang tập sự Một

Bộ lớn nhưng không có thanh tra viên cao cấp Tổ chức thanh tra 5 Cục còn lại mỗi Cục có bình quân 3 cán bộ, chuyên viên Riêng Cục tần số mới được bố trí 1-2 thanh tra viên hoặc chuyên viên thanh tra nằm rải rác ở 8 Trung tâm

Ngày 25/02/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2004/NĐ-CP

về việc thành lập Sở BCVT thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương Tổ chức quản lý nhà nước về BCVT và CNTT đã có

những thay đổi so với ngày đầu thành lập Bộ BCVT, nhất là việc thay đổi cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Theo Nghị định 101/2004/NĐ-CP, thì các Sở sẽ hình thành và sẽ có Thanh tra Sở, còn các Cục quản lý khu vực sẽ giải thể

Trang 34

Nghị định 75/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra BCVT và CNTT đã bộc lộ những hạn chế và đã mất hiệu lực một số phần do sự thay đổi về tổ chức bộ máy và do có Luật Thanh tra năm

2004 Luật Thanh tra được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2004 đã thay thế Pháp lệnh Thanh tra ban hành năm 1990

Để hướng dẫn Luật, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số

41/2005/NĐ-CP ngày 25/03/2005 Như vậy, nội dung Luật và Nghị định hướng dẫn có những thay đổi sâu sắc và nhiều điểm mới so với Pháp lệnh Thanh tra ban hành trong cơ chế quản lý hành chính tập trung bao cấp Đặc biệt là chế định thanh tra chuyên ngành, một lĩnh vực được chú trọng trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, mà thanh tra chuyên ngành chỉ có ở các Bộ, ngành quản lý theo lĩnh vực và ở các Sở chuyên môn của các

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Do vậy, hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành cũng cần thiết phải được thay đổi theo để đáp ứng với yêu cầu quản lý Ngày 04/10/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra BCVT và CNTT thay thế Nghị định 75/2003/NĐ-CP

Theo Nghị định 115/2006/NĐ-CP, hệ thống thanh tra chuyên ngành BCVT và CNTT được tổ chức ở Trung ương có Thanh tra Bộ, Thanh tra Cục TSVTĐ và Thanh tra Cục QLCL BCVT và CNTT; ở địa phương có thanh tra của 64 Sở BCVT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước về BCVT và CNTT theo quy định của pháp luật

Thời kỳ này, Thanh tra Bộ được bổ sung thêm 04 cán bộ mới, tiếp tục hoàn thiện các chức danh quản lý, được Lãnh đạo Bộ bổ nhiệm thêm 01 Phó Chánh Thanh tra Hoàn thiện cơ cấu cán bộ tại các phòng thanh tra, bố trí nhiệm vụ theo năng lực cán bộ, chuyên viên, đảm bảo hoạt động có hiệu quả Thanh tra 02 Cục, về cơ cấu tổ chức bộ máy đã cơ bản hoàn thiện, đã tập

Trang 35

trung đào tạo nghiệp vụ chuyên môn kỹ năng thanh tra cho cán bộ thanh tra, trong năm 2006 đã được bổ sung biên chế 03 cán bộ, bổ nhiệm 01 cán bộ quản

lý Đến tháng 12 năm 2006, tổng số 61 tỉnh, thành phố trực thuộc đã thành lập

Sở BCVT, trong đó có 58 sở đã có Thanh tra Sở với tổng số 132 cán bộ, thanh tra viên, chuyên viên thanh tra Trong 58 Thanh tra Sở, có 34 Sở đã bổ nhiệm chức danh Chánh Thanh tra (có 6 Giám đốc Sở kiêm Chánh thanh tra),

17 Phó Chánh thanh tra và có 14 sở chưa có lãnh đạo thanh tra

Năm 2007, do yêu cầu đổi mới tổ chức quản lý nhà nước, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31/7/2007 về quy định cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ khóa XII Theo Nghị quyết số 01/2007/QH12 của Quốc hội, Bộ TT&TT được thành lập trên cơ sở Bộ BCVT với các chuyên ngành quản lý mới Thực hiện Nghị quyết trên, ngày 25/12/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 187/2007/NĐ-

CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TT&TT Theo Điều 1 của Nghị định 187/2007/NĐ-CP thì Bộ TT&TT là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; TSVTĐ; CNTT, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Như vậy, chức năng quản lý nhà nước của Bộ đã được bổ sung thêm một số lĩnh vực như báo chí, xuất bản Nghị định số 115/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra BCVT và CNTT không còn phù hợp với thực tiễn quản lý Để tổ chức thanh tra đồng bộ với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ mới, ngày 14/4/2008,

Bộ TT&TT trình Chính phủ Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra TT&TT thay thế Nghị định 115/2006/NĐ-CP Tuy nhiên Nghị định này đến nay, vẫn chưa được ban hành (tiểu mục 2.4.3)

Trang 36

Một số đánh giá về quá trình phát triển của Thanh tra ngành TT&TT:

Thứ nhất, sự ra đời, tồn tại và phát triển của thanh tra ngành TT&TT

gắn liền với sự tồn tại, phát triển của ngành TT&TT, là yêu cầu tất yếu trong quản lý nhà nước của Bộ TT&TT Tổ chức thanh tra ngày càng được củng cố

và mở rộng cùng với việc củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước

Thứ hai, tổ chức và hoạt động thanh tra ngành TT&TT qua các thời kỳ

lịch sử đều chịu ảnh hưởng, tác động trực tiếp bởi các điều kiện chính trị, kinh

tế và xã hội của đất nước

Thứ ba, Thanh tra ngành TT&TT trong giai đoạn nào cũng có nhiệm

vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ và thanh tra việc thực hiện pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Cùng với việc củng cố tổ chức thanh tra, các quyền của thanh tra ngày càng tăng, nhiệm vụ được phân định ngày càng rõ ràng, rành mạch

Thứ tư, quá trình hình thành và phát triển của Thanh tra ngành

TT&TT luôn có sự kế thừa và phát triển với mục đích nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ trong từng giai đoạn lịch sử

Tóm lại, những năm tháng qua mặc dù luôn có sự biến đổi về tổ chức, tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, song Thanh tra ngành TT&TT vẫn phát huy được vai trò, vị trí, chủ động, tích cực khắc phục mọi khó khăn phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao góp phần vào sự ổn định, đổi mới, phát triển và giữ gìn trật tự, kỷ cương trong quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA

NGÀNH THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

2.1 Những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành thông tin và truyền thông

Thanh tra ngành TT&TT là lực lượng nằm trong hệ thống thanh tra của nhà nước nói chung, vì vậy, không nằm ngoài các quy định pháp luật về thanh tra mà giống như các cơ quan thanh tra khác, Thanh tra chuyên ngành TT&TT được điều chỉnh bởi các quy định của Luật Thanh tra - văn bản quy

phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hoạt động thanh tra

Về tư cách pháp lý, các cơ quan thanh tra ngành TT&TT hoạt động trên cơ sở Nghị định số 115/2006/NĐ-CP ngày 10/4/2006 của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra BCVT và CNTT Ngoài ra, quy định liên quan đến công tác thanh tra còn được đề cập trong Nghị định số 187/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Bộ TT&TT và Quyết định số 14/2008/QĐ-BTTTT của Bộ trưởng Bộ TT&TT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ TT&TT

Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Thanh tra năm 2004 về tổ chức cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực, quy định: Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức Thanh tra bộ và việc thành lập Thanh tra sở Điều đó có nghĩa

tổ chức và hoạt động của Thanh tra các bộ, ngành chỉ hợp pháp khi được Chính phủ quy định Tháng 8 năm 2007, Chính phủ tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối, Bộ TT&TT được thành lập với tư cách Bộ đa ngành, đa lĩnh vực Tuy nhiên, đến thời điểm này Chính phủ chưa ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra TT&TT Như vậy, về nguyên tắc hoạt động của Thanh tra chuyên ngành TT&TT chưa bảo đảm tính

Trang 38

pháp lý Tuy nhiên trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra là hoạt động thiết yếu không thể không thực hiện nhằm ổn định trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực TT&TT, vì vậy Bộ TT&TT chỉ đạo hoạt động này tiến hành bình thường trên cơ sở thẩm quyền quản lý nhà nước được quy định trong Nghị định số 187/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyển hạn và

cơ cấu tổ chức của Bộ TTT&TT và Quyết định số 14/2008/QĐ-BTTTT của

Bộ trưởng Bộ TT&TT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ TT&TT Việc Thanh tra chuyên ngành TT&TT hoạt động nhưng chưa được Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt

là công tác chỉ đạo, điều hành

2.2 Tổ chức, bộ máy và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra ngành Thông tin và Truyền thông

Về tổ chức cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực, Luật Thanh tra chỉ quy định có Thanh tra bộ và Thanh tra Sở Theo quy định của Luật Thanh tra mỗi Bộ chỉ có một tổ chức thanh tra (thanh tra bộ), tổ chức này thực hiện cả nhiệm vụ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước, trên thực tế có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đã quy định việc thành lập thanh tra cả ở một số tổng cục, cục và hiện nay trong cơ cấu tổ chức của nhiều Bộ có tổng cục, cục thực hiện nhiệm vụ quản lý theo phân cấp đã thành lập cơ quan thanh tra và hoạt động có hiệu quả Bộ TTT&TT cũng không nằm ngoài xu thế đó, hiện nay, hệ thống tổ chức thanh tra TT&TT bao gồm:

- Thanh tra Bộ TT&TT

- Thanh tra Cục TSVTĐ, Thanh tra Cục QLCL CNTT&TT

- Thanh tra Sở TT&TT

Các tổ chức Thanh tra TT&TT có con dấu và tài khoản riêng

Trang 39

2.2.1 Đối với Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông

Thanh tra Bộ là cơ quan trực thuộc Bộ TT&TT, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ TT&TT Chánh Thanh tra Bộ do Bộ trưởng

Bộ TT&TT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Các Phó Chánh Thanh tra Bộ do Bộ trưởng Bộ TT&TT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ Thanh tra bộ chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Bộ trưởng và chịu sự chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ về nghiệp vụ thanh tra

Hiện nay Thanh tra Bộ TT&TT có 30 cán bộ, công chức bao gồm 01 thanh tra viên cao cấp, 07 Thanh tra viên chính, 16 Thanh tra viên và 06 chuyên viên làm công tác thanh tra, được tổ chức thành 05 phòng chức năng gồm: Phòng Thanh tra Viễn thông và CNTT; phòng Thanh tra Bưu chính và Chuyển phát; phòng Thanh tra Báo chí và Xuất bản; phòng Thanh tra Hành chính và Xử lý khiếu tố; phòng Tổng hợp

Lãnh đạo Thanh tra Bộ TT&TT hiện nay bao gồm Chánh Thanh tra

Bộ và 03 Phó Chánh Thanh tra Bộ Cán bộ cấp phòng hiện nay có 11 đồng chí (bao gồm 03 trưởng phòng và 08 Phó trưởng phòng) đa phần là những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản trong hệ thống đào tạo quốc gia Về phẩm chất chính trị, Thanh tra Bộ hiện nay có 26 đồng chí là đảng viên chiếm 86% tổng số cán

bộ của Thanh tra Bộ Về trình độ học vấn, Thanh tra Bộ hiện nay có 02 đồng chí là Tiến sỹ, 09 đồng chí có trình độ là Thạc sỹ, 19 đồng chí có trình độ là

cử nhân, kỹ sư Trong đó có 11 đồng chí có 02 bằng đại học trở lên

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ được giao, trong thời gian vừa qua Thanh tra Bộ đã đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao Với đội ngũ cán bộ đó, Thanh tra Bộ không những luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao mà còn hướng dẫn, hỗ trợ có hiệu quả đối với thanh tra các Sở TT&TT, do đó luôn nhận được sự đánh giá cao của Lãnh đạo Bộ và các Sở TT&TT trên cả nước

Trang 40

* Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ TT&TT

Các tổ chức của Thanh tra Bộ TT&TT hoạt động trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn chung của pháp luật về thanh tra và các quy định về công tác thanh tra của Bộ TT&TT Theo các quy định hiện hành, Thanh tra Bộ TT&TT có nhiệm vụ, quyền hạn chính sau đây:

1- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ TT&TT

2- Thanh tra việc thực hiện pháp luật chuyên ngành về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; TSVTĐ; CNTT, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ TT&TT

3- Xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC

4- Giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra; hướng dẫn Thanh tra Cục, Thanh tra Sở xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của

Bộ TT&TT

5- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, bao gồm việc tiếp nhận đơn, thư khiếu nại, tố cáo; xác minh, kết luận về vụ việc và kiến nghị với Bộ trưởng về biện pháp giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật

6- Kiến nghị Bộ trưởng giải quyết những vấn đề về công tác thanh tra; phát hiện và kiến nghị với Bộ trưởng những vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ TT&TT

7- Kiến nghị Bộ trưởng Bộ TT&TT tạm đình chỉ việc thi hành quyết định của tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ khi có căn cứ cho rằng các quyết định đó trái pháp luật hoặc gây cản trở đến hoạt động thanh tra

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Bưu chính - Viễn thông (2003), Lịch sử truyền thống Giao bưu vận Nam bộ, Nxb Bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền thống Giao bưu vận Nam bộ
Tác giả: Bộ Bưu chính - Viễn thông
Nhà XB: Nxb Bưu điện
Năm: 2003
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2007), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2007
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2007
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2008), Quyết định số 14/2008/QĐ-BTTTT ngày 02/4 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 14/2008/QĐ-BTTTT ngày 02/4 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2008
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2008), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2008
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2008
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (2009), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2009
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2009
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2010), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm năm 2010
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2010
7. Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11 của Chủ tịch nước về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11 của Chủ tịch nước về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1945
8. Chính phủ (2001), Quyết định số 176/2001/QĐ-TTg ngày 9/11 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Thanh tra Nhà nước về Bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 176/2001/QĐ-TTg ngày 9/11 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Thanh tra Nhà nước về Bưu điện
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
9. Chính phủ (2002), Nghị định số 90/2002/NĐ-CP ngày 11/11 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Bưu chính, Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 90/2002/NĐ-CP ngày 11/11 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Bưu chính, Viễn thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
10. Chính phủ (2003), Nghị định số 75/2003/NĐ-CP ngày 26/6 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2003/NĐ-CP ngày 26/6 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
11. Chính phủ (2004), Nghị định số 101/2004/NĐ-CP ngày 25/02 về việc thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông thuộc Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2004/NĐ-CP ngày 25/02 về việc thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông thuộc Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Chính phủ (2004), Nghị định số 142/2004/NĐ-CP ngày 08/7 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 142/2004/NĐ-CP ngày 08/7 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
13. Chính phủ (2005), Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. Chính phủ (2006), Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa - thông tin
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
15. Chính phủ (2006), Nghị định số 115/2006/NĐ-CP ngày 04/10 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2006/NĐ-CP ngày 04/10 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
16. Chính phủ (2006), Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
17. Chính phủ (2007), Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25/12 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25/12 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
18. Chính phủ (2007), Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12 quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25/12 quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
19. Chính phủ (2007), Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
20. Chính phủ (2008), Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8 quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8 quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức Thanh tra Bộ TT&TT hiện nay - Tổ chức và hoạt động thanh tra ngành thông tin và truyền thông
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức Thanh tra Bộ TT&TT hiện nay (Trang 81)
Sơ đồ 3.2. Đề xuất cơ cấu tổ chức Thanh tra Bộ TT&TT sau khi điều chỉnh - Tổ chức và hoạt động thanh tra ngành thông tin và truyền thông
Sơ đồ 3.2. Đề xuất cơ cấu tổ chức Thanh tra Bộ TT&TT sau khi điều chỉnh (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w