1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp

106 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: Cần sửa đổi, bổ sung, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ HOA

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ HOA

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Hữu Thể

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

1.3 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960

Trang 4

1.5.4 Cơ quan cụng tố Hoa Kỳ 40

Chương 2: thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ

thống viện kiểm sát nhân dân

46

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN TỔ

CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

54

3.1 Quan điểm chỉ đạo, yờu cầu đối với việc tổ chức bộ mỏy,

chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sỏt theo yờu cầu cải cỏch tư

phỏp

54

3.2 Về vị trớ, chức năng của Viện kiểm sỏt trong bộ mỏy nhà nước 55 3.3 Về vai trũ của Viện kiểm sỏt trong giải quyết cỏc vụ, việc dõn sự 59 3.4 Về vai trũ, nhiệm vụ của Viện kiểm sỏt trong giai đoạn điều

tra vụ ỏn hỡnh sự

60

3.6 Về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sỏt cỏc cấp 64 3.7 Về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sỏt cỏc cấp 66 3.8 Vấn đề bảo đảm sự lónh đạo của Đảng và sự giỏm sỏt của Hội

đồng nhõn dõn cỏc cấp đối với Viện kiểm sỏt

68

3.10 Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của

Viện kiểm sỏt theo yờu cầu cải cỏch tư phỏp

78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Cải cỏch Viện kiểm sỏt nhõn dõn là một trong những nội dung quan trọng của cải cỏch bộ mỏy nhà nước núi chung và cải cỏch tư phỏp núi riờng nhằm mục tiờu xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam xó hội chủ nghĩa Trong những năm gần đõy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tõm đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cỏc cơ quan tư phỏp, trong đú cú Viện kiểm sỏt nhõn dõn Cỏc chủ trương về cải cỏch tư phỏp của Đảng ta được thể hiện trong cỏc văn kiện của Đảng qua cỏc kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và X Đặc biệt,

Bộ Chớnh trị đó ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cỏch tư phỏp đến năm 2020 Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chớnh trị, ngày 22/2/2006, Ban Chỉ đạo Cải cỏch tư phỏp Trung ương đó ban hành Kế hoạch số 05-KH/CCTP, giao cho Ban Cỏn sự Đảng Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao chủ trì thực hiện nhiệm vụ nghiờn cứu xõy dựng mụ hỡnh tổ chức bộ mỏy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sỏt trong tiến trỡnh cải cỏch tư phỏp; chuẩn bị điều kiện để sắp xếp tổ chức bộ mỏy của Viện kiểm sỏt nhõn dõn cỏc cấp cho phự hợp với việc đổi mới mụ hỡnh tổ chức Tòa ỏn theo thẩm quyền xột xử sẽ được thực hiện sau năm

Trang 6

toàn diện để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm

pháp luật trong tình hình mới Chính vì vậy tôi chọn đề tài "Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp" làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Các chủ trương về cải cách tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX

và X Đặc biệt Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết số

49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 là những nghị quyết đã xác định nhiều định hướng quan trọng,

toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư pháp Bên cạnh đó nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo

như của TS Khuất Văn Nga với cuốn Viện kiểm sát nhân dân đã và đang vững bước trên con đường cải cách tư pháp, hoặc Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2008 Các tạp chí kiểm sát năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 cũng đã phần

nào đề cập đến những nội dung đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

3 Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu, tìm hiểu về Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp là hết sức cần thiết nhằm thực hiện

một cách kịp thời, đầy đủ, nghiêm túc các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và cải cách cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói riêng theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Trong khuôn khổ đề tài luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu

về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát giai đoạn từ 1945 đến nay Trải qua hơn 60 năm tồn tại trưởng thành và phát triển đã thực hiện được nhiều nội dung cải cách tư pháp Từ đó đưa ra đề xuất kiến nghị những nội dung đổi mới

vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong đó có ngành kiểm sát nhân dân

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có thể có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và cải cách Viện kiểm sát nhân dân nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và những người quan tâm trong việc nghiên cứu các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp

6 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Sự ra đời và phát triển của Viện kiểm sát

Trang 8

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm

sát nhân dân

Chương 3: Phương hướng xây dựng và hoàn thiện tổ chức, hoạt động

của Viện kiểm sát nhân theo tinh thần cải cách tư pháp

Trang 9

Chương 1

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT

1.1 TỔ CHỨC CƠ QUAN CÔNG TỐ - TIỀN THÂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1960

Với cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nước ta giành được độc lập Tuy nhiên, chúng ta phải đối phó với các thế lực thù địch, thù trong giặc ngoài chống phá quyết liệt, reo rắc tư tưởng hoài nghi kích động bạo lực Chưa thời kỳ nào cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều thế lực, đảng phái chính trị như giai đoạn 1945 - 1946 Đứng trước diễn biến phức tạp của tình hình cách mạng hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan được giao thực hiện quyền công tố nhà nước nói riêng được tổ chức rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ của cách mạng, trong đó sự phát triển của ngành công tố từ năm 1945 đến trước 1958 chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng

và phát triển của ngành Tòa án

Ngày 13/9/1945 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành lập Tòa án quân sự - đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án, đồng thời cũng là văn bản pháp

lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước ta

Tòa án quân sự được tổ chức ở khắp ba miền Bắc - Trung - Nam là sự hiện diện đầu tiên của tổ chức công tố và quyền công tố Về chức năng công

tố, Điều V Sắc lệnh 33C quy định rõ: "Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát" Một công cáo ủy viên quyết định truy tố một người ra xét xử tại Tòa án và thực hiện sự buộc tội trước Tòa án Như vậy lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp

Trang 10

quyền công tố theo quy định tại Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án

Ngày 17/11/1950 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 155 thay thế tất cả các Sắc lệnh đã ban hành trước đây về Tòa án quân sự

Về thẩm quyền: Tòa án quân sự được quyền xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trước hoặc sau ngày 19/8/1945 xâm hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trừ những tội phạm do binh sĩ thực hiện thì do Tòa án binh xét xử

Theo đó chức năng công tố được giao cho Công tố ủy viên hoặc Phó công tố ủy viên phụ trách việc buộc tội

Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét

xử những tội phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội thì việc thành lập Tòa án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ nhà nước và bảo vệ nhân dân rất cần thiết Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội); ngày 17/4/1946 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 51 ấn định thẩm quyền Tòa án và sự phân công nhiệm vụ giữa các nhân viên trong Tòa án; ngày 20/7/1946 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 131 bổ sung Sắc lệnh số 51, về thẩm quyền tổ chức bộ máy của Tòa án thường có Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm Cơ quan công tố được tổ chức trong Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm, tạo thành một đoàn thể độc lập với các Thẩm phán xét xử Phiên tòa sơ thẩm không có chức danh Biện lý hay đại diện của cơ quan công tố, Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ buộc tội vừa làm nhiệm vụ xét xử, Lục sự giữ bút ký và biên bản án từ Tòa đệ nhị cấp có một Chánh án, một Dự thẩm, một Chánh lục

sự và các Thư ký giúp việc; Tòa thượng thẩm có Chánh nhất hay một Chánh

án phòng giữ vai trò chủ toạ và hai Hội thẩm Chưởng lý, Phó chưởng lý hoặc

Trang 11

1.1.1 Về thẩm quyền của cơ quan công tố giai đoạn 1945 đến 1958

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự: Có quyền điều khiển và giám sát hoạt động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình; có quyền nhận đơn khởi tố của tư nhân, biên bản do ban tư pháp cảnh sát thành lập

Có quyền kháng cáo mệnh lệnh của Dự thẩm

Tại phiên tòa, Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can; có trách nhiệm

tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh của Chánh án tại phiên tòa

Có quyền kháng cáo bản án hình sự của Tòa án; có trách nhiệm thi hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự: Có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các

vị thành niên, của các pháp nhân hành chính bắt buộc phải có mặt trong những phiên tòa xử án dân sự và có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng mọi biện pháp cần thiết để chứng tỏ sự thật của vụ án

Trong thời kỳ này, phạm vi thẩm quyền của cơ quan công tố không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực hình sự mà cơ quan công tố còn tham gia vào quá trình giải quyết các việc dân sự, có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, trông nom việc thi hành các đạo luật của nhà nước

1.1.2 Về mối quan hệ giữa cơ quan công tố với các cơ quan tố tụng khác giai đoạn 1945 đến 1958

Quan hệ với thẩm phán xét xử: Các thẩm phán buộc tội do chưởng lý đứng đầu Các thẩm phán buộc tội của Tòa thượng thẩm hợp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xử án và duy nhất đặt dưới quyền quản lý của Chưởng lý Chưởng lý giữ toàn quyền truy tố và hành động

Như vậy trong thời kỳ này mặc dù cơ quan công tố được tổ chức trong

hệ thống Tòa án thường nhưng hoạt động của cơ quan công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động xét xử của Tòa án Việc quyết định truy tố hay không truy

Trang 12

của người đứng đầu Công tố viện (Chưởng lý) Điều 17 Sắc lệnh quy định:

"Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả các nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội"

Quan hệ với Tư pháp công an: Công tố có trách nhiệm phụ trách tư pháp công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra Tư pháp Công an đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Chưởng lý, Biện lý Biện lý có quyền

ra chỉ thị và kiểm soát công việc của tất cả ủy viên Tư pháp công an Việc bổ sung, thăng trưởng và trừng phạt hành chính những ủy viên Tư pháp công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý và Chưởng lý

Trong điều kiện đất nước có chiến tranh việc tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy cơ quan tư pháp nói riêng linh hoạt như thời kỳ đầu về cơ bản

là phù hợp với điều kiện nước ta Tuy nhiên, sau năm 1954 chúng ta thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng, việc tiếp tục tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp như giai đoạn trước không còn phù hợp nữa Trước sự chuyển biến của tình hình cách mạng, sự trưởng thành của các cơ quan tư pháp đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản, sâu sắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có cơ quan công tố để bảo đảm mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính, bảo đảm việc trừng trị bọn phản cách mạng và các tội phạm khác kịp thời, đúng người, đúng tội

1.2 VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA VIỆN CÔNG TỐ

Tại phiên họp ngày 29/4/1958, Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Quốc hội về việc thành lập Tòa án tối cao và thành lập Viện công tố cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ Tư pháp Tòa án tối cao và Viện công tố có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Quốc hội đã thông qua đề án của Hội đồng Chính phủ

1.2.1 Vị trí của Viện công tố

Trang 13

Viện Công tố được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập, tách khỏi tổ chức của Tòa án và sự quản lý của Bộ Tư pháp, đặt Viện công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền hạn ngang một Bộ

1.2.2 Về chức năng của Viện công tố

- Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự

- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Tòa án

- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan tư pháp

- Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân

Ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước Tòa án, Viện công tố còn được giao nhiệm vụ quan trọng là giám sát chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp (giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động giam giữ cải tạo, thi hành các bản án dân sự )

1.2.3 Về tổ chức bộ máy của Viện công tố

- Viện Công tố trung ương có Văn phòng; Vụ giám sát điều tra; Vụ giám sát xét xử; Vụ giám sát giam giữ cải tạo

- Viện Công tố địa phương các cấp gồm: Viện công tố Hà Nội; Hải Phòng; Công tố khu Hồng Quảng; Viện công tố các tỉnh và khu vực Vĩnh Linh, công tố huyện và đơn vị tương đương cấp huyện

- Viện công tố quân sự các cấp

Ngành Công tố tách khỏi hệ thống Bộ Tư pháp, được tổ chức từ trung ương xuống địa phương Ở địa phương Viện công tố chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo của Viện công tố trung ương Viện Công tố các cấp đều được tổ chức gắn liền với hệ

Trang 14

Ủy ban công tố được làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Những việc quan trọng đều phải được đưa ra Ủy ban thảo luận và quyết định Trường hợp ý kiến của Viện trưởng khác với ý kiến của toàn thể ủy ban thì phải báo cáo lên Ủy ban hành chính cùng cấp và Viện công tố cấp trên xem xét, quyết định

Viện trưởng chủ trì các cuộc họp hội nghị và công tác của ủy ban đôn đốc và theo dõi toàn bộ công tác Các ủy viên công tố phân công phụ trách các khối công tác hoặc phụ trách từng loại vụ việc

Ủy ban Công tố họp ít nhất mỗi tháng một lần để kiểm điểm tình hình, kiểm điểm công tác và bàn về những vấn đề quan trọng về đường lối công tác,

tổ chức và cán bộ

Mối quan hệ giữa Viện công tố địa phương với uỷ ban hành chính

cùng cấp và Viện công tố cấp trên là quan hệ song trùng trực thuộc

1.3 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 2002

Sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được khởi đầu bằng việc ban hành Hiến pháp 1959 và các luật về tổ chức nhà nước, trong đó

có Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trên cơ sở các văn bản pháp luật

ấy, các cơ quan công tố được chuyển thành hệ thống các cơ quan nhà nước mới (Viện kiểm sát nhân dân) Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân thay cho Viện công tố là xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta, giai đoạn vừa tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam vừa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Cách mạng đã chuyển giai đoạn thì tất yếu bộ máy nhà nước cũng phải

có những thay đổi Pháp luật phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất Vì các lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát

Trang 15

cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của giai đoạn cách mạng mới Hiến pháp

1959 của Nhà nước ta đã dành bốn điều quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng công tố

Sau khi thống nhất nước nhà tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp 1980, so với Hiến pháp 1959 thì Hiến pháp 1980 đã có những bổ sung hết sức quan trọng khi quy định về Viện kiểm sát nhân dân Đặc biệt nhấn mạnh chức năng thực hành quyền công tố Khẳng định rõ hơn vai trò và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp đặc biệt là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện kiểm sát có hai chức năng là chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Ngày 15/4/1992 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá VIII của Nhà nước

ta đã thông qua Hiến pháp 1992 thể chế đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam So với Hiến pháp 1980 các quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp 1992 có hai điểm mới mang tính điển hình nhìn từ góc

độ nguyên tắc tổ chức và hoạt động:

Một là, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách

nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 140) Như vậy có nghĩa Hội đồng nhân dân có quyền giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 7 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân)

Hai là, Ủy ban kiểm sát không còn cơ quan tư vấn cho Viện trưởng

nữa mà có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng (Điều 38) Như vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng

Trang 16

Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu không còn được quyền tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Mặc dù có những quy định mới rất quan trọng so với Hiến pháp 1980

và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 vẫn giữ nguyên quy định Viện kiểm sát có hai chức năng là chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Và những quy định về tổ chức bộ máy của hệ thống cơ quan này về căn bản không có gì khác so với trước đây

Tháng 4 năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta được tiến hành, đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước Khẳng định việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ phải cải cách tổ chức nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, xét xử, thi hành án, không để xảy ra các trường hợp oan, sai Trong Nghị quyết Hội nghị

lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: Cần sửa đổi, bổ sung, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt

chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Ngày 2/4/2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới, thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và về đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi)

Trang 17

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân, theo đó Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 1) Có thể nói, đây là bước thay đổi lớn

về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một hệ thống thống nhất, bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Bảo đảm cho pháp

Trang 18

luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình Căn cứ Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định chức năng, nhiệm

vụ của mình bằng những công tác sau đây:

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

- Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự

- Kiểm sát vịêc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự

và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Theo quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

Trang 19

- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi

tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật

- Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật

- Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra

- Quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa

- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm

- Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về vịêc giải quyết

vụ án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt

tư pháp Được thực hiện cụ thể qua các hoạt động sau:

Thứ nhất, công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các

Trang 20

cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Công tác kiểm sát điều tra nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động điều tra phải được tiến hành khách quan, đầy đủ, toàn diện, chính xác và phải đúng pháp luật Hoạt động điều tra nhằm xác định một cá nhân có tội hay không có tội, đáng phải truy tố trước pháp luật hay không, nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bất kỳ công dân nào cũng phải có căn cứ, hợp pháp, đảm bảo việc truy tố, xét xử của Viện kiểm sát và Tòa án đúng người, đúng tội Vì vậy, Điều 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát các hoạt động điều tra và vịêc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra

Thứ hai, công tác kiểm sát xét xử là hoạt động kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong quá trình xét xử của Tòa án, nhằm đảm bảo việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời Theo Điều 18 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của Tòa án, kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà chưa có hiệu lực pháp luật; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà đã có hiệu lực pháp luật; kiến nghị với Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác nhằm đảm bảo vịêc giải quyết các

vụ án đúng pháp luật kịp thời Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc thụ lý và lập hồ sơ của Tòa án; tham gia phiên tòa theo quy định; yêu cầu Tòa án xác

Trang 21

minh, thu thập chứng cứ trên cơ sở nội dung yêu cầu và khiếu nại của đương sự Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân

sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quýêt định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật

Thứ ba, công tác kiểm sát thi hành án là hoạt động kiểm sát việc tuân

theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân đối với Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, cơ quan tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

Thi hành án là một giai đoạn có vai trò cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho sự chấp hành nghiêm chỉnh, kịp thời và đúng pháp luật bản án, quyết định của Tòa án Nó góp phần khẳng định uy tín của Tòa án nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền lợi ích hợp pháp của công dân Trong hoạt động thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân, các cơ quan hữu quan ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật, tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án quyết định được thi hành ngay; Viện kiểm sát nhân dân có quyền tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích, đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định của pháp luật; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quy định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự

Thứ tư, công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục

người chấp hành án phạt tù là hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật đối với

cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản

lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn như thường kỳ hoặc bất

Trang 22

thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam (Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phát hiện

và xử lý kịp thời các trường hợp oan sai trong tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật (Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi), Viện kiểm sát nhân dân

là một trong bốn hệ thống cơ quan của bộ máy nhà nước ta Do đó, cũng như các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung Song, do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên

hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù Điều đó không có nghĩa là tách hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân ra khỏi bộ máy nhà nước ta, mà nhằm cho nó hoạt động có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Những nguyên tắc đó được quy định ở Điều 138 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Điều 8 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Đó là nguyên tắc tập trung lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương

+ Nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành

Khẳng định nguyên tắc này không có nghĩa là khẳng định hệ thống Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo các nguyên tắc riêng biệt, không liên quan đến các nguyên tắc tổ chức và hoạt động chung của bộ máy nhà nước ta

Trang 23

Dù là một hệ thống cơ quan riêng, các Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận không tách rời của bộ máy nhà nước ta Tìm hiểu nguyên tắc này, chúng ta thấy nó bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp chế

Tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước ta, dễ dàng nhận thấy rằng, các cơ quan nhà nước ở địa phương một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ chủ quản, mặt khác lại trực thuộc Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân địa phương Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều

Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta (cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây) không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều nêu trên, mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Có thể thấy cách tổ chức và hoạt động này được thực hiện theo tư tưởng của V.I Lênin Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân không được tổ chức

và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều, mà nó phải và chỉ trực thuộc vào một cơ quan trung ương duy nhất

Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp phải chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 138 Hiến pháp 1992 sửa đổi và Điều 8 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và khu vực, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức (Điều 9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Như vậy, tất cả các Viện kiểm sát từ trên xuống dưới tạo thành một hệ thống thống nhất Mọi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, dù ở cấp nào, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện

Trang 24

trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát do mình lãnh đạo trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của toàn ngành kiểm sát trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Việc thực hiện nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành bảo đảm cho các cấp kiểm sát hoạt động đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát Mặt khác, nhấn mạnh nguyên tắc này nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khẳng định Viện trưởng là người có quyền và có trách nhiệm quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi công việc thuộc phạm vi của mình không có nghĩa là loại trừ nguyên tắc tập trung dân chủ ra khỏi hoạt động kiểm sát Phải thấy rằng, Viện trưởng không có quyền quyết định các vấn đề một các độc đoán, mà trên cơ sở bàn bạc tập thể Ở Viện kiểm sát nhân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Ủy ban kiểm sát Ủy ban kiểm sát làm việc tập thể, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng như phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, dự án luật, dự án pháp lệnh (các điều 32 và 35 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Ủy ban kiểm sát thảo luận và quyết định các vấn đề theo đa số Khi Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì vẫn thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo lên cấp trên (lên Ủy ban Thường

vụ Quốc hội nếu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nếu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh) Như vậy, quy định này vừa bảo đảm mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, vừa hạn chế những thiếu sót của Viện trưởng, đề cao trách nhiệm của Viện trưởng

Trang 25

+ Nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương

Trong tổ chức và hoạt động của mình, Viện kiểm sát nhân dân không hoàn toàn lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và hạn chế, ngăn chặn, loại trừ tình trạng "phép vua thua lệ làng", một yêu cầu khách quan được đặt ra là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc này biện Viện kiểm sát nhân dân thành một hệ thống cơ quan nhà nước có những quyền hạn quá lớn, đứng ngoài mọi sự giám sát Suy nghĩ như vậy biểu hiện một cách nhìn nhận chưa toàn diện về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân Nguyên tắc này nhằm tạo ra điều kiện để ngành kiểm sát nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đặt dưới sự giám sát toàn diện, thường xuyên và chặt chẽ của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước (Điều 139 Hiến pháp 1992 sửa đổi

và Điều 9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Nội dung nguyên tắc Viện kiểm sát nhân dân không lệ thuộc vào bất

kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương thể hiện ở chỗ: Các Viện kiểm sát nhân dan thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khi hoạt động, các Viện

Trang 26

kiểm sát nhân dân chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Về mặt tổ chức, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ máy và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân địa phương

Nói Viện kiểm sát nhân dân không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương không có nghĩa là khẳng định hệ thống cơ quan này hoạt động biệt lập hoàn toàn, không có quan hệ gì với các cơ quan nhà nước ở địa phương Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung quyền lực, có sự phân công, phân biệt rành mạch, rõ ràng Để bảo đảm hoạt động đạt hiệu quả cao, các cơ quan nhà nước luôn luôn có sự phối hợp chặt chẽ, toàn diện và nhịp nhàng với nhau Do đó, trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác, hộ trợ cho nhau để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của Nhà nước Để bảo đảm sự phối hợp này, Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải tham gia đầy đủ, tích cực và chủ động các cuộc họp của Hội đồng nhân dân Một mặt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương báo cáo trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân về tình hình chấp hành pháp luật ở địa phương và hoạt động của các Viện kiểm sát ở địa phương Mặt khác, qua thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng kiến nghị với

Trang 27

Hội đồng nhân dân về việc phòng ngừa tội phạm và những biểu hiện vi phạm pháp luật, phối hợp hoạt động để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Chương X Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và tại Chương VII Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Các Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta tạo thành một hệ thống thống nhất, bao gồm:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Các Viện kiểm sát quân sự;

Theo Điều 31 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên và Điều tra viên

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Ủy ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng; Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự Trung ương

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người lãnh đạo thống nhất toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Theo Điều 31 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Trang 28

- Lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát và xây dựng Viện kiểm sát nhân dân về mọi mặt; quyết định những vấn đề về công tác kiểm sát không thuộc thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát;

- Ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, điều lệ, quy chế, chế độ công tác áp dụng đối với ngành kiểm sát;

- Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành kiểm sát;

- Quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn; quyết định bộ máy làm viiệc của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương; quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát quân sự sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn;

- Chỉ đạo việc xây dựng và trình dự án luật, dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật; đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh khi thấy cần thiết cho việc áp dụng thống nhất luật;

- Trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình;

- Tổ chức việc thống kê tội phạm;

- Tham dự các phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật

Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Các Phó viện trưởng giúp Viện trưởng thực thi nhiệm vụ

Theo Điều 32 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các Phó

Trang 29

Viện trưởng, một số kiểm sát viên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

So với Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo Hiến pháp năm 1980 thì Ủy ban Kiểm sát theo Hiến pháp năm 1990 (sửa đổi) có những điểm bổ sung mới rất căn bản Theo Hiến pháp năm 1980, Ủy ban kiểm sát chỉ là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng, còn theo Hiến pháp năm 1990 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Ủy ban kiểm sát không còn là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng nữa, mà có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân như: phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch công tác của toàn ngành; dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sat nhân dân tối cao trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những ý kiến của Viện trưởng không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao; kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm gửi Thủ tướng Chính phủ; những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động quan trọng, những vấn đề quan trọnh khác do ít nhất một phần ba thành viên Ủy ban kiểm sát yêu cầu (Điều 32 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Do Ủy ban kiểm sát có tư cách pháp lý mới, quan hệ giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Ủy ban kiểm sát cũng có những nét khác

so với trước Các nghị quyết của Ủy ban kiểm sat phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc

Trang 30

Chủ tịch nước Điều bổ sung mới này vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, phát huy được sức mạnh trí tuệ của tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân, giúp cho việc quyết định các vấn đề quan trọng được chính xác

Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có các Cục,

Vụ, Viện, Văn phòng và Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát Bộ máy làm việc này thừa lệnh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Theo Điều 34 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có Viện trưởng, các Phó viện trưởng và các kiểm sát viên, đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Viện trưởng lãnh đạo Các Phó viện trưởng giúp Viện trưởng thực thi nhiệm vụ Một điểm quy định mới của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2002 so với Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũ là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân (Điều 9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ủy ban kiểm sát, các phòng và văn phòng

Ủy ban kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có Viện trưởng, các phó Viện trưởng, một số Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tương tự như Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban

Trang 31

kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không còn là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng như Luật cũ quy định nữa, mà

có quyền hạn và trách nhiệm thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng như việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông

tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; báo cáo tổng kết công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp; những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân

và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động quan trọng; những vấn đề quan trọng khác do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định (Điều 35 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên

Ủy ban kiểm sát biểu quyết tán thành Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng, nếu Viện trưởng không nhất trí theo ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Mặt khác, trong các cuộc họp của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban kiểm sát biểu quyết tán thành Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng, nếu Viện trưởng không nhất trí theo ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Mặt khác, trong các cuộc họp của Ủy ban kiểm sát, Viện trưởng có quyền quyết định những vấn đề không thuộc thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được tổ chức rất đơn giản Theo Điều 36 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có Ủy ban kiểm sát và các phòng

Trang 32

nghiệp vụ, mà chỉ có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, Phó viện trưởng phụ trách

Cũng giống như Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp

Các Viện kiểm sát quân sự được tổ chức trong quân đội để thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật (Điều 37 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Các Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự đều theo quy định chung của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002

Viện kiểm sát quân sự gồm có Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là đồng thời là Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1.5 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VIỆN KIỂM SÁT (VIỆN CÔNG TỐ) TRÊN THẾ GIỚI

1.5.1 Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Trung Quốc là quốc gia tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên nguyên tắc tập trung quyền lực Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Tòa án là cơ quan xét xử, Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật

Trang 33

Viện kiểm sát Trung Quốc là một cơ quan độc lập, được xác định là

cơ quan tư pháp, không thuộc hệ thống cơ quan hành pháp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này Các Viện kiểm sát địa phương không thuộc hệ thống cơ quan hành chính ở địa phương nhưng lại chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương

Theo Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, "Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát pháp luật nhà nước " Viện kiểm sát

có chức năng, quyền hạn cụ thể như sau:

* Thực hiện quyền giám sát đối với các vụ án phản quốc, chi rẽ đất nước và các vụ án phạm tội to lớn, phá hoại nghiêm trọng việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật, pháp lệnh, quy chế hành chính của nhà nước

* Tiến hành điều tra đối với các vụ án hình sự được trực tiếp thụ lý

* Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự do cơ quan công an tiến hành; quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố đối với các vụ án do cơ quan công an điều tra; giám sát hoạt động điều tra của cơ quan công an

* Khởi tố và hỗ trợ truy tố đối với các vụ án hình sự; giám sát hoạt động xét xử của Tòa án;

* Giám sát việc chấp hành phán quyết và quyết định của các vụ án hình sự, hoạt động của trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động

Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bảo vệ quyền tố cáo của công dân đối với các nhân viên theo nhà nước vi phạm pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp luật đối với những người xâm phạm quyền thân thể, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân

Trang 34

Trong từng lĩnh vực cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định như sau:

- Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc khởi tố của cơ quan công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan công an và điều tra viên , bảo đảm việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật; trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng (Viện kiểm sát nhân dân các cấp đều có một

bộ phận làm nhiệm vụ điều tra tội phạm tham nhũng, do các Kiểm sát viên tiến hành Trong hoạt động điều tra, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu cơ quan công an và các cơ quan khác hỗ trợ khi cần thiết); truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, luận tội và đưa ra mức hình phạt; kiểm sát việc xét xử của Tòa án

- Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nếu phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích xã hội; tham gia phiên tòa giám đốc thẩm;

Viện kiểm sát có thể khởi tố vụ kiện dân sự, nếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thấy có hành vi phạm tội của bị can, bị cáo gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, tập thể Việc kiện dân sự phải được tiến hành xét

Trang 35

Theo Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, hệ thống tổ chức Viện kiểm sát bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát quân sự và các Viện kiểm sát chuyên ngành

Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của nhà nước, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát chuyên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc; lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành; tiến hành điều tra các vụ án phức tạp như tham nhũng, hối lộ, xâm phạm quyền dân chủ của công dân, các vụ thiếu trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và những vụ án khác mà cần thiết phải được thông qua và xem xét một cách trực tiếp; lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong viện tiến hành hoạt động điều tra; xem xét và phê chuẩn việc bắt và khởi tố bị can theo quy định của pháp luật, chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương

và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc xem xét, phê chuẩn bắt kẻ tình nghi phạm tội và khởi tố bị can; chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong hoạt động giám sát xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính theo quy định của pháp luật; kháng nghị lên Tòa án nhân dân tối cao bản án của Tòa án các cấp đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm; kiểm tra và sửa lại các quyết định của Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành; đề xuất các phương án cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát trên toàn quốc; giải thích pháp luật trong lĩnh vực công tác kiểm sát; xây dựng điều lệ, quy chế trong công tác kiểm sát; quản lý nhân sự đối với các Viện kiểm sát cấp dưới, xác định biên chế đối với các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát chuyên ngành; đệ trình Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về việc bổ

Trang 36

trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát chuyên ngành; đề nghị Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc miễn nhiệm và thay thế Viện trưởng, Phó viện trưởng, ủy viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát các cấp thấp hơn; tổ chức và hướng dẫn công tác giáo dục, đào tạo trong các cơ sở đào tạo của ngành kiểm sát và với các cán bộ kiểm sát, xây dựng kế hoạch và hướng dẫn hoạt động lập kế hoạch, đầu tư tài chính, trang thiết bị của hệ thống

cơ quan kiểm sát; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế, thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp

Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó viện trưởng, ủy viên Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên, Trợ lý kiểm sát viên, Thư ký, Cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật

Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (cấp thứ hai); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộc tỉnh, châu tự trị, (cấp thứ ba); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu vực thuộc thành phố (cấp cơ sở)

Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân các cấp tương tự như ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Viện kiểm sát chuyên ngành là cơ quan đặc biệt được thành lập trong

hệ thống tổ chức ngành kiểm sát Trung Quốc Trong những năm 1980, ở Trung Quốc tồn tại ba Viện kiểm sát chuyên ngành là: Viện kiểm sát vận tải, Viện kiểm sát đường sắt và Viện kiểm sát quân sự Hiện nay, chỉ còn tồn tại hai Viện kiểm sát chuyên ngành là Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát đường sắt

Viện kiểm sát quân sự là cơ quan giám sát pháp luật chuyên trách được thành lập trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, thực hiện quyền kiểm sát đối với tội phạm trong lĩnh vực quân sự và các vụ án phạm tội hình

sự khác do quân nhân tại ngũ thực hiện Trong hoạt động của mình, Viện

Trang 37

kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục chính trị quân sự giải phóng nhân dân Trung Hoa

Viện kiểm sát đường sắt chịu trách nhiệm giám sát pháp luật trong lĩnh vực đường sắt

Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa, việc bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng, Phó viện trưởng, ủy viên Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên, Trợ lý kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau:

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Một người chỉ được đảm đương chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không vượt quá hai nhiệm kỳ

- Phó viện trưởng, ủy viên Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương

do Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ nhiệm theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương do Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bầu và bãi miễn Việc bầu và bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương phải báo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để đề nghị Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó phê chuẩn Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp Một người chỉ được đảm đương chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương không qua hai nhiệm kỳ

Trang 38

- Phó viện trưởng, ủy viên Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân các ở địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị Ủy ban Thường vụ Đại hộ đại biểu nhân dân cấp đó bổ nhiệm và miễn nhiệm

Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể bãi bỏ, thay thế Viện trưởng, Phó viện trưởng,

ủy viên Ủy ban kiểm sát, Kiểm sát viên của Viện kiểm nhân dân cấp dưới

- Trợ lý kiểm sát viên và Thư ký của Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm Sau khi được Viện trưởng phê chuẩn, Trợ lý kiểm sát viên có thể làm thay nhiệm vụ của Kiểm sát viên

1.5.2 Viện kiểm sát Liên bang Nga

Viện kiểm sát Liên bang Nga có vị trí độc lập với các cơ quan hành pháp và tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, trên cơ sở các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng các Kiểm sát viên cấp trên và tất cả đều phải phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, hoàn toàn độc lập với các cơ quan, tổ chức, công dân Các cơ quan Viện kiểm sát được thực hiện các thẩm quyền của mình một cách độc lập với các cơ quan quyền lực của Liên bang Nga, của các chủ thể liên bang, các chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội

Để bảo đảm tính độc lập cho các cơ quan Viện kiểm sát, luật Liên bang Nga quy định không cho phép các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc thực hiện công tác kiểm sát

Viện kiểm sát Liên bang Nga có chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát vẫn thực hiện chức năng kiểm sát chung, tuy nhiên chức năng kiểm sát

Trang 39

chung đã bị thu hẹp hơn so với trước (Viện kiểm sát không thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với Chính phủ Liên bang Nga, các tổ chức xã hội, đảng phải chính trị, công dân) Ở Liên bang Nga, Viện kiểm sát không kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án và những người tham gia tố tụng dân sự và tố tụng hình sự

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong từng lĩnh vực được quy định cụ thể như sau:

- Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát Liên bang Nga kiểm sát việc

chấp hành pháp luật của các cơ quan tiến hành các hoạt động trinh sát nghiệp

vụ, các cơ quan điều tra ban đầu và điều tra dự thẩm; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền thi hành các hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác do Tòa án tuyên phạt, của Ban giám thị các trại tạm giữ, trại tạm giam; điều tra các vụ án hình sự (theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, Dự thẩm viên của Viện kiểm sát được giao thẩm quyền điều tra đối với khoảng hơn 80 loại tội được quy định trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga và tất cả các loại tội phạm do một số chủ thể đặc biệt như đại biểu các cơ quan lập pháp, Kiểm sát viên dự thẩm, Dự thẩm viên, Thẩm phán, Luật sư, những người có chức vụ, quyền hạn của các Cơ quan an ninh, Tình báo, Nội vụ , kể cả Tổng thống Liên bang Nga đã từ nhiệm thực hiện); thực hành quyền công tố Viện kiểm sát không thực hiện việc giám hoạt động xét xử của Tòa án

- Trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể của Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương Khi khởi kiện, Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ

tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ trả lệ phí Đồng thời, Kiểm sát viên tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và

Trang 40

yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ hoặc trong trường hợp khác do Bộ luật tố tụng dân

sự và Luật Liên bang Nga quy định

Việc tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng Mục đích hoạt động của Viện kiểm sát Liên bang Nga là bảo đảm tính tối cao của luật pháp, sự thống nhất và củng cố pháp chế, bảo vệ quyền tự do và các quyền khác của con người và của công dân, cũng như các lợi ích xã hội và Nhà nước được pháp luật bảo vệ

Ngoài những chức năng, nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, Viện kiểm sát Liên bang Nga còn thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ khác như: Chủ trì phối hợp hoạt động với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác (trừ Tòa án) trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội pham; tham gia vao hoạt động xây dựng pháp luật

Viện kiểm sát Liên bang Nga được tổ chức theo đơn vị hành chính, bao gồm:

- Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga;

- Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tương đương;

- Viện kiểm sát các thành phố, quận, huyện, và cấp tương đương; các Viện kiểm sát chuyển trách (như: Viện kiểm sát trong lĩnh vực giao thông, Viện kiểm sát bảo vệ môi trường );

- Các viện nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo cán bộ kiểm sát;

- Hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp

Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga lãnh đạo Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Giúp việc cho Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có một Phó tổng kiểm sát

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2005), "Bàn về tổ chức quyền tư pháp - Nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Kiểm sát, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tổ chức quyền tư pháp - Nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2005
7. Chính phủ (1959), Nghị định số 256-TTg ngày 1/7 quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 256-TTg ngày 1/7 quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1959
8. Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2009
14. Jonh Henry Marryman (1998) "Truyền thống luật dân sự; Giới thiệu về các hệ thống luật Tây Âu và Mỹ Latinh", Kỷ yếu Hội thảo về tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống luật dân sự; Giới thiệu về các hệ thống luật Tây Âu và Mỹ Latinh
15. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
20. Khuất Văn Nga (2005), "Viện kiểm sát nhân dân đã và đang vững bước trên con đường cải cách tư pháp", Kiểm sát, (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân đã và đang vững bước trên con đường cải cách tư pháp
Tác giả: Khuất Văn Nga
Năm: 2005
21. Khuất Văn Nga (2008), Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Khuất Văn Nga
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
22. Hoàng Thị Kim Quế (2003), "Một vài suy nghĩ về những vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống nhà nước", Dân chủ và pháp luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về những vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống nhà nước
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2003
23. Hoàng Thị Kim Quế (2005), "Một số đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật", Dân chủ và pháp luật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2005
24. Hoàng Thị Kim Quế (2005), " Chế độ pháp lý thống nhất, hợp lý và áp dụng chung", Dân chủ và pháp luật, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý thống nhất, hợp lý và áp dụng chung
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2005
27. Quốc hội (1960), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1960
28. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1960
2. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 13 ngày 24/1 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán Khác
3. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 51 ngày 17/4 thẩm quyền các Tòa án và phân công giữa các nhân viên trong Tòa án Khác
4. Chính phủ (1948), Sắc lệnh số 185-SL ngày 26/5 về thẩm quyền của các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w