1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

139 676 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, việc tập trung chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của chính quyền Nhà nước các cấp làm cho bộ máy tinh gọn,

Trang 1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan tôi đã độc lập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của giáo viên hướng dẫn Những tài liệu tôi sử dụng đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo Nếu vi phạm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người cam đoan

Trương Vĩnh Xuân

Trang 2

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HĐND : Hội đồng nhân dân UBND : ủy ban nhân dân CNXH : Chủ nghĩa xã hội UBTVQH : ủy ban thường vụ quốc hội UBMTTQ : ủy ban mặt trận tổ quốc

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 8 CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ, VAI TRề CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRƯỚC YấU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 13

1.1 Sự cần thiết hoàn thiện chớnh quyền địa phương trước yờu cầu xõy dựng nhà nước phỏp quyền Việt nam 13 1.1.1 Chớnh quyền địa phương 13 1.1.2 Xõy dựng chớnh quyền địa phương phục vụ nhõn dõn 16

1.1.2.1 Độc lập, tự quản, và tự chịu trỏch nhiệm (được phõn cấp) 16

1.1.2.2 Phỏt huy dõn chủ 20 1.1.2.3 Bảo vệ quyền và lợi ớch của nhõn dõn 23

1.1.3 Hoàn thiện chớnh quyền địa phương là bước tiếp nối trong xõy dựng nhà nước phỏp quyền 25

1.2 Những yờu cầu cấp thiết đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của

1.2.1 ủy ban nhõn dõn tỉnh – một thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương 27 1.2.2 Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh theo phỏp luật hiện hành 30

1.2.2.1 Nhận thức về Ủy ban nhõn dõn, Ủy ban nhân dân tỉnh 30

1.2.2.2 Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành 31 1.2.3 ủy ban nhõn dõn tỉnh – Một thiết chế năng động và chịu trỏch

nhiệm ở địa phương 38 1.2.3.1 Yờu cầu chung 38

Trang 4

1.2.3.1.1 Gắn liền với sự lónh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 38

1.2.3.1.2 Tăng cường phỏp chế: cơ sở thể hiện tớnh hợp phỏp, đồng

thời đảm bảo quyền của cụng dõn 40

1.2.3.1.3 ủy ban nhõn dõn tỉnh - cơ quan chịu trỏch nhiệm chớnh ở địa phương

43 1.2.3.2 Yờu cầu về tổ chức 45

1.2.3.2.1 Đảm bảo phõn cụng rành mạch trong bộ mỏy tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn dõn; giảm đầu mối quản lý, tăng cường trỏch nhiệm cỏc cơ quan chuyờn mụn

45 1.2.3.2.2 Đội ngũ cụng chức hành chớnh: giảm về số lượng, tăng về chất lượng và thụng thạo chuyờn mụn

46 1.2.3.3 Yờu cầu về hoạt động 48

1.2.3.3.1 Chủ động, sỏng tạo và đề cao trỏch nhiệm của ủy ban nhõn dõn tỉnh đối với việc xõy dựng, trỡnh và thực thi kế hoạch, chớnh sỏch ở địa phương

48 1.2.3.2.2 Đề cao vai trũ trỏch nhiệm cỏ nhõn Chủ tịch ủy ban nhõn dõn tỉnh trong hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh

50 1.2.3.2.3 Hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh đi đôi với cơ chế thị tr-ờng 52

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY DƯỚI GểC NHèN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 54

2.1 Khỏi quỏt đặc điểm tự nhiờn của tỉnh Đồng Thỏp 54

2.1.1 Địa chớnh trị 54

2.1.2 Địa kinh tế 55

2.2 Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh Đồng Thỏp hiện

Trang 5

2.2.1 Cỏc nguyờn tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn

dõn tỉnh Đồng Thỏp 57

2.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 62

2.2.2.1 Tổ chức của ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 62

2.2.2.2 Hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh Đồng Thỏp 66

2.2.2.2.1 Hoạt động của tập thể Ủy ban nhân dân tỉnh 66

2.2.2.2.2 Hoạt động của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh 67

2.2.2.2.3 Hoạt động của cỏc Phú Chủ tịch ủy ban nhõn dõn tỉnh 68

2.2.2.2.4 Hoạt động của cỏc thành viờn và Thủ trưởng cỏc cơ quan chuyờn mụn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 69

2.2.3 Hiệu quả hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua

71 2.2.3.1 Hiệu quả trờn lĩnh vực kinh tế 71

2.2.3.2 Hiệu quả trờn lĩnh vực văn hoỏ - xó hội 78

2.2.3.3 Hiệu quả trờn lĩnh vực an ninh quốc phũng 83

2.2.3.4 Hiệu quả trờn lĩnh vực chớnh trị – hành chớnh 84

2.3 Nhận xột chung về tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh Đồng Thỏp trong điều kiện hiện nay 90

2.3.1 Đỏnh giỏ thực trạng qua những kết quả đạt được 90

2.3.2 Những nguyờn nhõn chủ yếu dẫn đến những yếu kộm cần khắc phục 94

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

96

3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng nhằm hoàn thiện tổ chức và 96

Trang 6

hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh

3.2 Phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của ủy ban nhõn dõn tỉnh Đồng Thỏp trong xõy dựng Nhà nước phỏp

3.3 Những đề xuất hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 99 3.3.1 Những vấn đề có tầm vĩ mô 100

3.3.1.1 Đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền tỉnh 100

3.3.1.2 Cơ cấu số l-ợng các thành viên ủy ban nhân dân tỉnh theo

h-ớng năng động và hiệu quả 101

3.3.1.3 Tổ chức cỏc cơ quan chuyờn mụn năng động, linh hoạt

theo nhu cầu của địa phương 103

3.3.1.4 Xõy dựng cơ cấu tổ chức của chớnh quyền cấp dưới (cấp

huyện và xó) phự hợp với đặc điểm từng địa phương 105

3.3.1.5 Đề cao trỏch nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhõn dõn tỉnh, ủy

ban nhõn dõn tỉnh 108

3.3.1.6 Cụ thể hoỏ vai trũ của Chủ tịch Ủy ban nhõn dõn tỉnh khi

ban hành văn bản hành chớnh thuộc quyền của Ủy ban nhõn dõn tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh 112

3.3.1.7 Tăng c-ờng vai trò lãnh đạo của Cấp uỷ, lấy hoạt động

kiểm tra, giám sát làm trọng tâm

112

3.3.2 Những vấn đề có tính chất địa ph-ơng 113

3.3.2.1 Năng động trong kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế 113 3.3.2.2 Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh thể hiện tính năng động, phát huy sáng kiến 116

3.3.2.3 Hoạt động bỏo cỏo của cỏc cơ quan chuyờn mụn thuộc ủy 116

Trang 7

ban nhân dân tỉnh và vai trò của văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh lấy chất

lượng làm mục tiêu

3.3.2.4 Chính quy hoá việc đào tạo đội ngũ công chức 117

3.3.2.5 Nâng cao chất lượng cuộc họp 118

3.3.2.6 Thực hiện có hiệu quả cải cách hành chính 118

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” Việc định hướng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền khẳng định quyết tâm của Đảng trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế

Cùng với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, việc tập trung chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của chính quyền Nhà nước các cấp làm cho bộ máy tinh gọn, đảm bảo sự điều hành thống nhất, thông suốt có hiệu lực từ Trung ương đến địa phương là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương – UBND tỉnh có vai trò quan trọng, đóng góp và thúc đẩy thi hành thống nhất trong địa phương các chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chế độ, các qui định, hướng dẫn của Chính phủ, đảm bảo lợi ích quốc gia và duy trì trật tự pháp luật chung của nhà nước; đồng thời, quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng về kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa

vụ của địa phương đối với cả nước Cho nên, tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh có tầm quan trọng nhất định, UBND tỉnh phải là cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với đời sống kinh tế – văn hoá ở địa phương trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Trang 9

Tuy nhiên, tổ chức của UBND tỉnh bên cạnh những đóng góp tích cực

về nhân lực, tài lực, vật lực, còn tồn tại những bất cập trong tổ chức và hoạt động cần được hoàn thiện như: có quá nhiều đầu mối quản lý, trách nhiệm tập thể và cá nhân chưa rõ ràng, chất lượng hoạt động chưa cao, cơ chế vận hành

và nhiều mối quan hệ còn bất hợp lý Những yếu kém luôn luôn là những rào cản cho việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của UBND tỉnh trước yêu cầu Nhà nước pháp quyền Việt Nam; hơn nữa, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền những lúc, những nơi còn xem nhẹ chính quyền địa phương nói chung, UBND tỉnh nói riêng, chưa đặt ra những yêu cầu cần thiết như cơ sở

để hướng hoạt động đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bộ máy UBND tỉnh phải tổ chức lại theo hướng gọn và tinh, đủ năng lực quản lý trên lãnh thổ; có khả năng độc lập và phát huy tiềm năng của địa phương; trách nhiệm trở thành yếu tố trọng tâm đối với hoạt động của UBND tỉnh

Cho nên, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh nói chung thông qua tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp là nhu cầu cấp thiết Từ bên trong vấn đề, chúng ta từng bước vạch ra những yêu cầu đối với chính quyền địa phương mà trọng tâm là UBND tỉnh trong Nhà nước pháp quyền có tính chất như những cơ sở lý luận đóng góp vào sự nghiệp đổi mới tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước

Xuất phát từ những yêu cầu đó, căn cứ thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp, chúng ta tham chiếu, tổng kết thực tiễn và đề ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp, tạo sự đồng bộ, thống nhất quản lý toàn bộ hoạt động kinh tế, văn hoá và đời sống của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 10

Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của

UBND tỉnh trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam (Qua thực tiễn tỉnh Đồng Tháp)

2 Tình hình nghiên cứu:

Trong những năm gần đây, yêu cầu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương trở thành vấn đề cấp bách Với vai trò đầu tàu của cấp chính quyền tỉnh, UBND tỉnh trong Chính quyền địa phương phải được đề cập và hoàn thiện trước tiên, song song cùng với HĐND tỉnh Đây là vấn đề trọng tâm cải cách bộ máy nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, Nội dung này đã có một số công trình nghiên cứu như:

 PGS TS Nguyễn Đăng Dung: Bàn về cải cách chính quyền Nhà nước

ở địa phương, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 9/2003;

 PGS TS Nguyễn Đăng Dung, Chuyên đề Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2001

 PGS TSKH Đào Trí Úc: Vấn đề Nhà nước pháp quyền và sự cần thiết xây dựng mô hình tổng thể bộ máy Nhà nước ta, Tạp chí cộng sản số 23/2001;

 Trần Công Tuynh: Mấy vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và Trần Hữu Thắng: Bộ máy hành chính địa phương

và những kiến nghị đổi mới, trong Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam KX 05 07 do Nguyễn Văn Thảo (chủ biên) Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý Bộ tư pháp, Hà Nội 1995;

Trang 11

 Trương Đắc Linh: Chính quyền địa phương với việc đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật – Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu KHPL của BTP;

 PGS.TS Bùi Xuân Đức: Đổi mới, hoàn thiện Bộ máy nhà nước hiện nay, NXB Tư Pháp, 2005 Trong đó có nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền tỉnh

 Lê Minh Tuấn, Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, 2003

 Th.S Đặng Xuân Phương, Sắp xếp kiện toàn Bộ máy chính quyền địa phương – Hiện trạng và nguyên nhân, Tạp chí tổ chức nhà nước số 9/2005

Các công trình nghiên cứu khai thác nhiều góc độ khác nhau và đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp vào kho tàng lý luận, thực tiễn Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện yêu cầu đối với tổ chức và hoạt động UBND tỉnh trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

Trang 12

- Chính quyền địa phương và sự cần thiết hoàn thiện chính quyền địa phương trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

- Tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh theo pháp luật hiện hành

- Xây dựng những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh trước trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam

- Tham chiếu những yêu cầu và đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp

- Đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt

động của UBND tỉnh Đồng Tháp

5 Phạm vi nghiên cứu

Dựa vào nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng UBND tỉnh xoay quanh các vấn đề: chính quyền địa phương mà trọng tâm là UBND tỉnh trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, những yêu cầu đối với tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh, thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp để làm rõ mục đích nghiên cứu của luận văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối của Đảng

Từ phương pháp luận đó, phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn :

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thực tiễn của UBND tỉnh Đồng Tháp

- Phương pháp nghiên cứu, kế thừa tài liệu, sách báo về hoạt động của UBND tỉnh, về Nhà nước pháp quyền Việt Nam, và các văn bản pháp luật có liên quan

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

7 Kết cấu luận văn

Trang 13

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Vị trí, vai trò của UBND tỉnh trước yêu cầu xây dựng nhà nước

pháp quyền Việt Nam

Chương 2: Tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh đồng tháp hiện nay dưới góc nhìn nhà nước pháp quyền Việt Nam

Chương 3: Phương hướng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Đồng Tháp trong Nhà nước pháp quyền Việt nam

Trang 14

CHƯƠNG 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH TRƯỚC YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 1.1 Sự cần thiết hoàn thiện chính quyền địa phương trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam

1.1.1 Chính quyền địa phương

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Nhận thức tầm quan trọng của chính quyền địa phương, song song với việc xây dựng bộ máy chính quyền Trung ương, Bác Hồ đã dành quan tâm đến chính quyền địa phương và bước đầu khởi thảo “cách tổ chức UBND” Bác xem đây là hình thức chính phủ trong nhân dân

Quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất, có hiệu lực trên từng đơn

vị, toàn bộ lãnh thổ của quốc gia Nhà nước dựa trên những điều kiện lãnh thổ, truyền thống, lịch sử, văn hoá, dân tộc mà chia đất nước thành những đơn vị lãnh thổ nhất định Đây là cơ sở để quyền lực nhà nước mang tính hiện thực, trực tiếp trong quản lý xã hội Quản lý đời sống kinh tế - xã hội của một vùng dân cư hiệu quả, mang lại lợi ích cho nhân dân là yêu cầu của bất kỳ nhà nước nào, kể cả Việt nam Đáp ứng yêu cầu đó, trên từng đơn vị lãnh thổ, quyền lực nhà nước được tổ chức, thực hiện bởi một bộ máy hữu hiệu, chặt chẽ Đó là chính quyền địa phương

Trong nhà nước XHCN, vì bản chất của dân, do dân, vì dân việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước trên từng vùng lãnh thổ địa phương là nhằm tổ chức cho nhân dân trên các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước tham gia, tiến tới thực hiện quyền nhà nước của mình [3, tr 8]

Đơn vị hành chính được hình thành từ hai yếu tố cơ bản: yếu tố lãnh thổ và yếu tố dân cư Tuỳ mức độ kết hợp của hai yếu tố này mà xuất hiện

Trang 15

đơn vị hành chính tự nhiên hay đơn vị hành chính lãnh thổ nhân tạo và tiến tới

tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở những đơn vị đó khác nhau

Đồng quan điểm này, theo Micheal P Barber: Chính quyền địa phương

có nghĩa là thẩm quyền quyết định và thực thi các vấn đề trong một giới hạn

địa lý và có thẩm quyền thấp hơn thẩm quyền chung của cả nước (Local government means authority to determine and to excute matters with-in a restricted area inside and smaller than the whole state) [52, tr 1]

Nhưng cũng có quan điểm xác định chính quyền địa phương không dựa trên cơ sở lãnh thổ mà dựa vào mức độ cung cấp dịch vụ: ““Chính quyền địa phương” được hiểu là những đơn vị của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch

vụ cho các công dân tại cấp trung gian thấp và thấp nhất” [24, tr 148]

Quan điểm chính quyền địa phương có tính chất chính thống và được mọi người thừa nhận: Chính quyền địa phương là sự tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước trên một đơn vị hành chính lãnh thổ (nhân tạo hoặc tự nhiên) nhằm thực hiện quản lý và điều chỉnh các hoạt động xã hội và cai trị

Ở Việt Nam, tên gọi chính quyền địa phương đã xuất hiện chính thức trong Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 Trước đó, trong Sắc lệnh 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ghi “Để thực hiện chính quyền nhân dân ở địa phương trong nước Việt Nam sẽ đặt ra hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”

Tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta được đề cập từ những năm đầu giải phóng đất nước Sau đó, do điều kiện chiến tranh, những giai đoạn khác nhau, chính quyền địa phương được tổ chức linh hoạt tuỳ thuộc vào nhiệm vụ cách mạng đặt ra Cách mạng thắng lợi, tổ chức chính quyền địa phương được điều chỉnh phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ mới Bởi, chính quyền địa phương được tổ chức nhằm cho nhân dân thuận tiện trong việc tự

Trang 16

mình tham gia công việc của nhà nước, nên việc phân chia các đơn vị hành chính - trên đó các cơ quan nhà nước được thành lập - không phải dựa trên ý chí chủ quan của Nhà nước Trung ương mà căn cứ vào điều kiện tự nhiên, tạp quán, phong tục của mỗi vùng dân cư Bên cạnh, còn dựa vào những điều kiện lịch sử, nhất là những đơn vị hành chính được phân chia ổn định từ những thời kỳ trước [3, tr 11-12]

Nhưng việc thống nhất cơ cấu của chính quyền địa phương còn nhiều ý kiến khác nhau Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương bao gồm hoạt động của tất cả cơ quan nhà nước có phạm vi hoạt động trong vùng lãnh thổ địa phương của cơ quan quyền lực nhà nước, hành pháp, tư pháp, viện kiểm sát Ngược lại, quan điểm theo nghĩa hẹp, chính quyền địa phương chỉ bao gồm tổ chức và hoạt động các cơ quan HĐND, UBND và các cơ quan trực thuộc UBND [3, tr 13]

Hiện nay, dưới góc độ pháp lý và quan điểm chung chính quyền địa phương được hiểu theo nghĩa hẹp [36] Bởi vì hoạt động của các cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát tuy thực hiện trên một vùng lãnh thổ hành chính của địa phương nhưng trên thực tế là nhân danh nhà nước và có hiệu lực trên cả nước Riêng HĐND và UBND chấp hành Hiến pháp, pháp luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và trên cơ sở thực tiễn địa phương xây dựng chính sách, chủ trương, kế hoạch quản lý kinh tế - xã hội trong phạm vi địa phương Trách nhiệm luôn đặt ra đối với HĐND và UBND Do vậy, HĐND và UBND không phải từ hai hệ thống mà là cơ cấu thống nhất của chính quyền địa phương [34, tr 232]

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), chính quyền địa phương được

tổ chức thành các cấp hành chính lãnh thổ Dưới sự thống nhất quản lý của Chính phủ, chính quyền địa phương chủ động thực hiện các nội dung công

Trang 17

việc của địa phương trong khuôn khổ pháp luật nhà nước, tôn trọng lợi ích của quốc gia Ở nước ta hiện nay, chính quyền địa phương gồm ba cấp:

1 Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

2 Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

3 Xã, phường, thị trấn

Như vậy, khi nhận thức về chính quyền địa phương ở Việt Nam bao gồm

tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND cả ba cấp hành chính đã hiến định

Chính quyền địa phương hiện nay thực hiện các chức năng chủ yếu:

 Đảm bảo việc thi hành thống nhất trong địa phương các luật, văn bản pháp quy của nhà nước, các chế độ chính sách, các quy định của chính phủ để đảm bảo lợi ích quốc gia và duy trì trật tự pháp luật ở địa phương

 Thực hiện chức năng “tự quản” ở địa phương để đảm bảo các nhu cầu và lợi ích nhân địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với Trung ương Chức năng này đòi hỏi tính tự quản, tự sáng tạo của chính quyền địa phương nhằm giải quyết có hiệu quả các quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích trong

khuôn khổ luật pháp và đường lối của nhà nước [34, tr 345] (qua hoạch định

kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương)

Tổ chức chính quyền địa phương là nhu cầu chung của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam Chính quyền địa phương là cơ sở đảm bảo Hiến pháp, p-háp luật, chính sách của nhà nước được thực thi trên toàn cõi quốc gia; đồng thời, thông qua chính quyền địa phương, nhà nước điều chỉnh chính sách pháp luật của mình nhằm đảm bảo lợi ích của nhân dân, từng cá nhân công dân trong mối tương quan lợi ích chung của xã hội

1.1.2 Xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân

1.1.2.1 Độc lập, tự quản, và tự chịu trách nhiệm (được phân cấp)

Trang 18

Chính quyền địa phương là cơ quan nhà nước địa phương giữ vai trò mắc xích giữa nhân dân và nhà nước trong hai việc: thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước ở địa phương và đồng thời, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân ở địa phương

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, để thực hiện chức năng của mình, chính quyền địa phương phải đảm bảo tính độc lập, tự quản và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của mình Đây là điểm khác cơ bản so với mô hình trước đây - mô hình tập trung Mô hình tập trung tạo cho Trung ương quyết định những vấn đề có tính trung ương lẫn những địa phương Mô hình đó tồn tại trong một thời gian tương đối dài và mang lại hiệu quả nhất định trong thời

kỳ kháng chiến Nhưng trước sự vận động, phát triển của xã hội mô hình tập trung đã bộc lộ nhiều hạn chế: chính phủ trung ương quyết định không đáp ứng đòi hỏi của địa phương và không phù hợp với điều kiện từng địa phương

Vì vậy, để đáp ứng điều kiện xã hội mới phải thực hiện phân cấp trong quản lý hành chính nhà nước Chỉ có phân cấp, chính quyền địa phương tận dụng tốt lợi ích, điều kiện và đem lại hiệu quả trong khi quyết định những vấn

đề của địa phương

Chính quyền địa phương gồm hai cơ quan trong hệ thống thống nhất: HĐND và UBND Trong đó, HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra UBND là cơ quan chấp hành của cơ quan đại diện nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

HĐND là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân và cùng với UBND chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên Theo quy định của Hiến pháp, luật, văn bản cơ quan nhà nước cấp trên, HĐND thông qua xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách, quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh Do đó, nếu không

Trang 19

dành cho HĐND phạm vi độc lập và tự quản tương đối (được phân cấp), HĐND không thể thể hiện hết được chức năng, quyền hạn của mình đối với địa phương (trước nhân dân) và càng không thể thực hiện được nghĩa vụ của địa phương đối với trung ương

Dưới nhiều góc độ, phân cấp giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương được đề cập với nội dung khác nhau Trong nhà nước pháp quyền Việt Nam, phân cấp phải được xác định đó là sự chuyển giao từ chính quyền trung ương (Chính phủ) cho chính quyền địa phương quyền quyết định hành chính và tài chính Cách tiếp cận này là phù hợp, bởi vì, HĐND trong chính quyền địa phương ở Việt Nam là cơ quan được thành lập bởi cộng đồng dân cư ở địa phương và chính quyền cấp trên (hoặc Chính phủ đối với cấp tỉnh) chỉ tham gia vào việc thành lập chính quyền địa phương có tính chất hạn chế, chủ yếu là phê chuẩn Ở Việt Nam hiện nay, quy định đó từng bước tiến tới yêu cầu trong nhà nước pháp quyền và cần được hoàn thiện hơn nữa

Nhưng phân cấp không phải là một chiều, chung chung cho chính quyền địa phương, mà phân cấp phải gắn liền và rành mạch trách nhiệm của tập thể chính quyền địa phương và cá nhân lãnh đạo chính quyền địa phương đối với hiệu quả các quyết định Có phân cấp mới tạo tiền đề xác định trách nhiệm của cấp chính quyền địa phương

Mặt khác, phân cấp trong sự kiểm tra, giám sát của chính quyền trung ương, phân cấp quản lý hành chính nhà nước không có nghĩa là các cấp chính quyền địa phương hoàn toàn thoát khỏi kiểm soát việc tuân thủ quy định chung của hệ thống pháp luật, trách nhiệm phải báo cáo hoạt động của mình trước đại diện của nhân dân mà còn cả đối với chính quyền cấp trên [32, tr 334] Phân cấp là sự phi tập trung hoá chính quyền vào trung ương, còn kiểm tra giám sát là sự tăng cường tính tập trung vào trung ương Hai mặt vấn đề luôn là cặp sinh đôi, lẽ rằng, kiểm tra, giám sát của Trung ương tạo sự thống

Trang 20

nhất quyền lực nhà nước, và tạo sự thống nhất trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với chính quyền trung ương (vì là nhà nước đơn nhất) Phân cấp tạo cho chính quyền địa phương sự năng động, sáng tạo và đem lại hiệu quả hoạt động hành chính nhà nước ở địa phương

Thứ đến, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời

là cơ quan chấp hành hiến pháp, luật, văn bản nhà nước cấp trên nên HĐND

có tính hành pháp [4, tr 42] Trong mối quan hệ với cơ quan chấp hành - UBND, phải xác định trách nhiệm HĐND đối với hiệu quả các kế hoạch, chính sách ở địa phương Chính HĐND mới có quyền cụ thể hoá những điều pháp luật quy định chung thành những quy định cụ thể ở địa phương [32, tr 366] Hiện nay, vai trò của HĐND có tính mờ nhạt hơn so với UBND HĐND

là cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân

và thông qua cơ quan chấp hành - UBND - thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế mà mình thông qua Do vậy, phải xác định rõ vai trò của HĐND là cơ quan chịu trách nhiệm cơ bản, tăng cường tự chủ trong hoạt động bằng cách nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND, đại biểu HĐND đối với hoạt động và báo cáo của UBND, khắc phục tính hình thức của HĐND

Sự độc lập của HĐND là nền tảng cho độc lập của UBND Muốn UBND thực

sự độc lập, trước hết phải đảm bảo độc lập, tự chịu trách nhiệm từ cơ quan bầu ra UBND: HĐND

Chính quyền địa phương được phân cấp dựa trên những nội dung:

- Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng cơ quan trong tổ chức chính quyền địa phương

- Đảm bảo trao quyền quyết định các hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong phạm vị địa phương cho các cấp chính quyền trên cơ sở luật định

- Sự phân cấp phải được luật định

Trang 21

Tiểu kết: Phân cấp trong Nhà nước pháp quyền XHCN là yêu cầu cấp

thiết của chính quyền địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với chính quyền địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu vận động phát triển của xã hội và đảm bảo tính độc lập, tự quản tương đối gắn liền với trách nhiệm của chính quyền địa phương

1.1.2.2 Phát huy dân chủ

Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi năm 2001) có ghi:

“Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân ” (điều 2) Trong mối quan

hệ giữa nhà nước và nhân dân, nhân dân là chủ thể quyền lực, nhân dân giao cho nhà nước đại diện thực hiện quyền lực thống nhất trong cả nước Chính quyền địa phương là nơi trực tiếp thực hiện pháp luật, chính sách của cả nước, trực tiếp xác định hiệu quả thực hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo quản lý xã hội mang lại lợi ích cho nhân dân

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, nhân dân tham gia hoạt động quản lý nhà nước nói chung và ở địa phương nói riêng là đòi hỏi tất yếu của nhà nước dân chủ, thể hiện rõ bản chất của nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, là nội dung cơ bản của dân biết, dân bàn, dân kiểm tra Sự tham gia của nhân dân làm cho quyết định, chính sách phù hợp và có tính khả thi do có nhiều thông tin được đưa vào xử lý [32, tr 133]

Chính phủ Trung ương tạo điều kiện để nhân dân và các cấp chính quyền địa phương trước khi quyết định các chính sách lớn (sửa đổi hiến pháp, ban hành đạo luật mới, thay đổi đường lối kinh tế) dưới hành thức trưng cầu dân trước khi đưa ra quyết định; quy định những vấn đề nhân dân được tham gia, tự quyết định [32, tr 131]

Trang 22

Nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương có hai hình thức chủ yếu:

1 Tham gia trực tiếp (dân chủ trực tiếp) (dân biết, dân bàn, dân kiểm tra)

2 Tham gia gián tiếp thông qua cơ quan đại diện [32, tr 129]

Luật tổ chức HĐND và UBND 2003 thể hiện dân chủ khá rõ nét Bằng cách trực tiếp, cử tri (nhân dân) nhận thấy đại biểu nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân, thì tuỳ theo mức độ sai lầm mà bị HĐND hoặc

cử tri bãi nhiệm Việc cử tri bãi nhiệm đại biểu HĐND do thường trực HĐND

và UBND quyết định theo đề nghị của UBMTTQ Việt Nam cùng cấp Trong trường hợp này, việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do UBTVQH quy định (điều 46) Trong mối liên hệ với nhân dân (cử tri), đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ, chịu sự giám sát của cử tri; có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri (1 lần/năm) về hoạt động của mình và của HĐND; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri Báo cáo cử tri (nhân dân) về kết quả của kỳ họp sau mỗi kỳ họp của HĐND (điều 39)

Bên cạnh trực tiếp, nhân dân còn gián tiếp thực hiện quyền của mình qua cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là HĐND HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ở địa phương, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương (điều 1)

Trang 23

Thông quan cơ quan chấp hành của HĐND – UBND, các chủ trương, biện pháp và các chính sách khác được thực hiện góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở

Phát huy dân chủ ở địa phương phải gắn liền phân cấp hành chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Phân cấp cho chính quyền địa phương là cơ sở để nhân dân tham gia và quyết định chính sách ở địa phương Sự tham gia của nhân dân trong quá trình ra quyết định, giám sát việc thực thi quyết định quản lý hành chính nhà nước là biểu hiện cao của phân cấp trong việc thực thi hoạt động quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ [32, tr 135]

Phát huy cơ chế dân chủ phải gắn với cơ chế kiểm soát từ phía các cơ quan nhà nước ở địa phương mà trọng tâm là HĐND, định hướng nhân dân tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương Mặc khác, cần tăng cường giám sát từ phía nhân dân, tránh sự lạm quyền và nhũng nhiễu từ phía cán bộ, cơ quan nhà nước, góp phần đấu tranh chống tiêu cực

Trong quá trình tham gia của nhân dân ở địa phương, nếu thiếu một cơ chế kiểm soát nhằm đảm bảo tính trung thực khách quan sẽ tác động xấu đến kinh tế - xã hội ở địa phương, tránh lợi dụng dân chủ để trở thành diễn đàn chủ trì cá nhân, gây mất trật tự xã hội [32, tr 370]

Phát huy dân chủ gắn liền điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Dân chủ phải tương thích với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đáp ứng năng lực của chính quyền địa phương Giá trị hiện thực của chính sách, chủ trương được đảm bảo từ yêu cầu này Nó đảm bảo dân chủ không mang tính hình thức và đồng thời không chứa đựng yếu tố cực đoan

Phát huy dân chủ tạo cơ chế trách nhiệm cao của chính quyền địa phương: trách nhiệm đối với bộ máy chính quyền địa phương, trách nhiệm

Trang 24

đối với chính quyền trung ương, trách nhiệm đối với nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ ở địa phương Tổ chức và hoạt động chính quyền địa phương phải hợp hiến, hợp pháp và được sự tín nhiệm của nhân dân Nếu chính quyền đó tham nhũng, gây nhũng nhiễu, không chăm lo đến đời sống của nhân dân sẽ

bị bất tín nhiệm và chịu các hành thức trách nhiệm chính trị Tuỳ mức độ, có thể bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Có như vậy, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tâp thể sẽ được đề cao Bộ máy chính quyền ở địa phương trở thành công cụ của nhân dân, công chức là công bộc của nhân dân

1.1.2.3 Bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân

Nhân dân là gốc, là nền tảng của nước nhà Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN phải hướng tới mục đích xem con người là giá trị cao nhất và cũng là mục tiêu phục vụ duy nhất mà trước hết là người lao động Phải đảm bảo trên thực tế quyền con người và quyền công dân của mỗi người [39, tr 380]

Chính quyền trung ương là nơi đề ra chính sách, lập quy để cụ thể hoá pháp luật, làm cho pháp luật có “đời sống” thực tế Theo lẽ thường, Nhà nước pháp quyền chỉ đặt ra yêu cầu đối việc tổ chức, cải cách ở chính quyền trung ương và các cơ quan nhà nước khác ở trung ương Nhưng giá trị hiện thực của Nhà nước pháp quyền lại được thực tế hoá ở địa phương Địa phương là cái đích thể nghiệm, đánh giá mục tiêu nhà nước pháp quyền hướng tới và xây dựng

Trang 25

Cùng với phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương, nhà nước

(trong đó có chính quyền địa phương) đảm bảo và không ngừng phát huy

quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện [6, điều 3]

Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền địa phương không phải bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân bằng những lời nói suông của lãnh đạo, những

mỹ từ của kế hoạch, chính sách, mà phải kết hợp nhuần nhuyễn trên hai mặt: quy định của pháp luật và hiệu quả thực tiễn

Theo quy định của pháp luật, Chính quyền địa phương có nhiệm vụ to lớn là xây dựng kế hoạch phát triển ở địa phương Quyền to lớn đó dành cho HĐND các cấp của chính quyền địa phương HĐND thông qua cử tri của mình ghi nhận những yêu cầu, phản ánh của cử tri (nhân dân) để quyết định tại các kỳ họp Những vấn đề được HĐND quyết định hầu hết là phù hợp với lòng dân, xuất phát từ ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, có ý nghĩa thiết thực ở địa phương [50, tr 34]

Chính quyền địa phương có thể có 2 thẩm quyền: thẩm quyền bắt buộc

và thẩm quyền tuỳ nghi [4, tr 45-46] Chính quyền là bộ máy phục vụ, cán bộ

là công bộc của nhân dân Do vậy, chính quyền địa phương phải thực hiện nghiêm chỉnh những thẩm quyền mà pháp luật quy định, phát huy tối đa khả năng sáng tạo của Chính quyền địa phương đối với thẩm quyền tuỳ nghi vì lợi ích của địa phương

Để thực hiện chức năng của mình, Chính quyền địa phương xây dựng đội ngũ công chức Đội ngũ công chức ở chính quyền địa phương chiếm số lượng khá lớn Công chức là những người được trao quyền lực để thực thi công vụ Những người này dễ dẫn đến lạm quyền Vì lẽ đó, quyền và nghĩa vụ của chính quyền địa phương phải được pháp điển hoá, quyền công dân phải

Trang 26

được quy định trong văn bản pháp luật có giá trị cao nhất - Hiến pháp Trong nhà nước dân chủ, văn minh, dù trung ương hay địa phương đều có trách nhiệm lớn trong việc bảo đảm, bảo vệ nhân phẩm và giá trị của con người trước sự tấn công của các chiều hướng khác nhau, trong đó kể cả từ phía các công chức nhà nước được giao quyền lực [5, tr 32-39]

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của cả hai phía, cả chính quyền địa phương

và công dân đều phải do pháp luật quy định là tiền đề để công dân thoát khỏi

sự cấm đoán vô lý, chống lại sự lộng quyền từ phía cá nhân nhân danh nhà nước, cản trở và lạm dụng quyền của họ [12, tr 52]

Quyền và lợi ích của nhân dân phải được bảo vệ là yêu cầu của nhà nước dân chủ - Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Nhà nước phải có trách nhiệm phát hiện nhu cầu và giá trị xã hội của các quyền và nghĩa vụ để sớm thể chế hoá và bảo vệ bằng pháp luật [12, tr 49] Chức năng này của chính quyền địa phương phải được giám sát từ bên trên và bên ngoài của hệ thống cơ quan nhà nước: chính quyền trung ương và từ phía nhân dân Do đó, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân phải gắn liền phát huy dân chủ

Trang 27

Tiểu kết

Hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chính quyền địa phương phải tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ, đẩy mạnh sự kiểm tra giám sát của chính quyền trung ương và nhân dân là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới, đảm bảo cho mọi cá nhân công dân được bình đẳng trước pháp luật, là phương pháp thực hiện công bằng xã hội và cũng là nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đang tiến hành ở nước ta [12, tr 54]

1.1.3 Hoàn thiện chính quyền địa phương là bước tiếp nối trong xây dựng nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là một lý thuyết đang được khuyến khích thực thi trên khắp thế giới Lý thuyết nhà nước pháp quyền là di sản chung của nhân loại, bất cứ nhà nước nào cũng có thể áp dụng lý thuyết này để xây dựng

tổ chức quyền lực nhà nước Tuỳ từng điều kiện thực tế khác nhau ở các quốc gia mà nhà nước pháp quyền hiện thực ở các nước là không giống nhau [33, tr 5]

Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam được nhiều người nghiên cứu và đưa ra các mô hình khác nhau Mỗi mô hình có ưu điểm và hạn chế khác nhau nhưng đều tôn trọng và hướng tới những tiêu chí:

1 Khẳng định vai trò tối cao của pháp luật, trong đó Hiến pháp có vị trí cao nhất Pháp luật là công cụ chủ yếu điều chỉnh xã hội, cả đối với công dân lẫn tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước

2 Quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong đó, cơ quan hành pháp phải mạnh, chịu trách nhiệm chính đối với hiệu quả hoạt động của nước trên các

Trang 28

phương diện chung, đặc biệt là thực thi chính sách, pháp luật, bảo vệ

và mang lại dịch vụ cho nhân dân – những người chủ của đất nước

3 Quyền con người được đảm bảo trong nhà nước pháp quyền trên các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế

Tuy nhiên, mô hình chung của các nước hay của Việt Nam đều tập trung vào cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Trung ương (Bộ máy nhà nước ở trung ương), về mức độ phân chia quyền lực, về vai trò của pháp luật, mục tiêu của nhà nước pháp quyền, vai trò của nền kinh tế thị trường Tập trung chủ yếu ở tầm vĩ mô Đây là những định hướng tổ chức quyền lực nhà nước mà mọi quốc gia có thể tìm cho mình một mô hình phù hợp với điều kiện thực tiễn quốc gia Nhưng quyền lực nếu chỉ là định hướng và hiện thực

ở cấp vĩ mô thì chưa đủ, đó mới chỉ là “Nhà nước pháp quyền một nữa” Nhà nước pháp quyền toàn diện không chỉ hiện thực ở tầm vĩ mô, mà còn thể hiện

ở từng cấp chính quyền địa phương, được nhận thức ở từng công chức nhà nước, được thấu hiểu bởi từng người dân thì mới có thể đạt được mục đích: Xem con người là giá trị cao nhất và cũng là mục tiêu phục vụ duy nhất, trước hết là người lao động [39, tr 380]

Chính quyền địa phương bao gồm HĐND và UBND các cấp Trên cơ

sở và nhằm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, UBND có trách nhiệm trực tiếp quản

lý và tổ chức, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành quản lý cụ thể, thường xuyên, liên tục đối với tất cả các lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương; trực tiếp giải quyết các quyền, nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân [21, tr 9] Do vậy, quan trọng nhất là các cấp chính quyền địa phương Chính quyền địa phương phải phải mạnh, HĐND là

cơ quan quyết định và thông qua kế hoạch chung của địa phương, thực hiện giám sát; UBND là cơ quan thực thi và chịu trách nhiệm trước cơ quan dân cử

Trang 29

ở địa phương Bởi, các mục tiêu trong định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền thể hiện ở đây – địa phương Mục tiêu đặt ra có tốt đẹp, có to lớn, nhưng

ở địa phương nhân dân vẫn sống trong đói nghèo, quyền dân chủ không được đảm bảo, quyền công dân không thể thực hiện được thì cũng không thể có nhà nước pháp quyền XHCN Thực tiễn thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương là cơ sở đánh giá hiệu quả của xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam

Đây là “một nửa thứ hai” của Nhà nước pháp quyền XHCN Có thể khẳng định Nhà nước pháp quyền XHCN muốn đạt được mục tiêu mà Đảng

đã định hướng không chỉ chú trọng đến việc tổ chức quyền lực ở Trung ương như thế nào mà còn phải quan tâm đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Do vậy, hoàn thiện chính quyền địa phương là bước tiếp nối công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Nhà nước pháp quyền là thành tựu của nhân loại, mà “mục đích cao cả, nhiệm vụ thường trực của nhà nước pháp quyền không gì khác hơn là vì con người” [31, tr 22] Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, con người là phạm trù rộng, gồm toàn bộ nhân dân lao động Vì vậy, vai trò hiện thực của chính quyền địa phương trong nhà nước pháp quyền là rất lớn, phải làm cho từng người dân thấy được vai trò của nhà nước pháp quyền Việt Nam và góp phần cùng chính quyền thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước pháp quyền XHCN đề

ra Đó mới là hiện thực Sự cổ vũ và thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân là động lực to lớn dẫn đến thành công của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

1.2 Những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 30

1.2.1 Ủy ban nhân dân tỉnh - một thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương

Bản chất của nhà nước ta được hiến định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”

Quyền lực nhà nước là thống nhất và được thực hiện thống nhất trên cả nước nhằm “ đảm bảo không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện” (điều 2 hiến pháp 1992) Quyền lực nhà nước không chỉ được tổ chức, thực hiện ở Trung ương Vấn đề cơ bản là phải đảm bảo cho quyền lực đó được bao trùm,

có hiệu lực trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia và tác động trên tất cả mọi người dân

Quyền lực nhà nước được tổ chức thực hiện thống nhất, trên sự phân công phối hợp giữa ba nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp mà đại diện là Quốc hội: cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Chính phủ: cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Đồng thời, quyền lực nhà nước được tổ chức thực hiện thống nhất giữa Trung ương và địa phương Trong đó, Chính quyền Trung ương bằng pháp luật, chính sách hoạch định chủ trương, đường lối chung cho cả nước Địa phương dựa vào chính sách pháp luật, văn bản cơ quan nhà nước cấp trên và thực tiễn địa phương, xây dựng đường hướng và tổ chức thực hiện ở địa phương vì lợi ích chung của cả nước và địa phương mình

Trang 31

Chính quyền địa phương gồm hai cơ quan trong hệ thống nhất: HĐND

và UBND HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra UBND là cơ quan chấp hành của cơ quan đại diện nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Hành chính ở địa phương nước ta chia thành ba cấp: Tỉnh, Huyện, xã

và tương đương Trong các cấp chính quyền địa phương, cấp tỉnh là cấp có vị trí đặc biệt, “bởi lẽ, cấp tỉnh được xác định là cấp chiến lược, cấp thể chế chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và địa phương” [37, tr 72], “là đầu mối cho việc triển khai thực hiện cho việc thực hiện tất cả các chính sách, đường lối của Đảng, nhà nước So với các cấp chính quyền khác, tỉnh là cấp có nhiều điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nhất” [5, tr 349] UBND tỉnh là một bộ phận của chính quyền tỉnh, là cơ cấu của HĐND, không tách rời HĐND tỉnh UBND chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương Trong mối quan hệ với HĐND tỉnh - cơ quan quyết định chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm xây dựng, và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, UBND tỉnh

là cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, mắc xích quan trọng trong việc phát huy hiệu lực của chính quyền địa phương, đảm bảo hoạt động hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương đến cơ sở Vì hoạt động của UBND vừa nhận sự chỉ đạo trực tiếp từ Trung ương, vừa là cơ quan trực tiếp quản lý, tổ chức và chỉ đạo các cơ quan, ban ngành quản lý cụ thể, thường xuyên, liên tục đối với tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở địa phương Do vậy, UBND tỉnh là một thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương

Trong bối cảnh nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xu thế hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu, khu vực; trong điều kiện phát triển dân

Trang 32

chủ, đòi hỏi phải cải cách cơ bản hệ thống hành chính nước ta, thực hiện “sắp xếp lại bộ máy hành chính ở Trung ương và địa phương; hợp nhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước giữa các cơ quan nhà nước giữa chính phủ với các cấp chính quyền tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính; cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều hành thống nhất và thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước và của thủ trưởng

các cơ quan hành chính” [7, tr 241-242] Với vai trò cấp tỉnh (đã nêu), việc

đẩy mạnh cải cách hành chính UBND tỉnh đặt ra như là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay, từng bước tạo ra một cơ cấu, tổ chức hợp lý, hoạt động nhịp nhàng hiệu quả và xây dựng đội ngũ công chức có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được nhiệm vụ đề ra trên cơ sở một thể chế minh bạch rõ ràng

Như vậy, UBND tỉnh không những là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh mà còn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở địa phương; là cánh tay nối dài của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương – HĐND tỉnh Do

đó, UBND tỉnh là một thiết chế quyền lực nhà nước ở địa phương

1.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành

1.2.2.1 Nhận thức về Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh

Việt Nam là quốc gia có lịch sử hình thành lâu đời Đất nước có những thời kỳ giành độc lập, thời lỳ bị đô hộ, thuộc địa của đế quốc Năm 1945, bản tuyên ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đánh dấu lịch sử Việt Nam sang trang mới

Nhằm tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới theo chủ nghĩa Mác - Lê nin,

ở địa phương bộ máy chính quyền địa phương được thành lập gồm một cơ

Trang 33

quan đại diện nhân dân (gọi là HĐND) và một cơ quan hành chính (gọi là UBND (trước Hiến pháp 1980 gọi là Ủy ban hành chính)) Theo đó, “UBND

tổ chức và làm việc theo tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới khác hẳn với

cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra” [14, tr 13-15]

Theo quy định của pháp luật hiện hành (Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) và Luật tổ chức HĐND và UBND 2003), UBND do HĐND bầu

ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND (cùng cấp) nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách trên địa bàn [6, điều 123]

Theo đó, UBND các cấp có đặc điểm:

1 UBND do HĐND bầu ra;

2 UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;

3 UBND là cơ quan song trùng trực thuộc: là cơ quan chấp hành của HĐND, chịu trách nhiệm trước HĐND (thực hiện Nghị Quyết của HĐND); và chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên, UBND tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ

Tổ chức và hoạt động của UBND được tổ chức theo đơn vị hành chính: tỉnh và tương đương; huyện và tương đương; xã và tương đương Do vậy, UBND tỉnh là một cấp hành chính tỉnh thực hiện chức năng chấp hành và điều hành trên phạm vi một tỉnh, chịu trách nhiệm trước HĐND tỉnh và chịu sự chỉ đạo của Chính phủ

Do cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng, là khâu trực tiếp quan hệ và chịu

sự chỉ đạo của chính quyền Trung ương [37, tr 75]; trực tiếp quản lý toàn bộ

Trang 34

hoạt động kinh tế, văn hoá và đời sống nhân dân trên một địa bàn dân cư rộng lớn, phức tạp [30, tr 186] Vì vậy, UBND tỉnh trong chính quyền địa phương phải được tổ chức và hoạt động theo quy mô, chức năng, nhiệm vụ hợp lý mới

có thể đáp ứng đòi hỏi và tầm quan trọng của chính quyền địa phương tỉnh

1.2.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh theo pháp luật hiện hành

Điều chỉnh tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh, Luật được ban hành rất sớm Tuy nhiên, trước tình hình mới, điều kiện mới, Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung đặt trọng tâm sửa đổi tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, trong đó, hoàn thiện UBND tỉnh cũng được đặt ra Luật tổ chức HĐND và UBND ban hành 2003 đã đáp ứng phần nào yêu cầu này

Hiệu quả của công cuộc đổi mới trong những năm qua đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi phương diện của đời sống xã hội Trong đó việc kiện toàn tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh ngày càng được hoàn thiện

Cụ thể là Luật tổ chức HĐND và UBND phát triển và điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, dân chủ của địa phương; từng bước tạo điều kiện nâng cao tính thiết thực cho đời sống của nhân dân, mục đích cuối cùng là nhân dân Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân phải đảm bảo quyền lợi của nhân dân từ địa phương

Trên cơ sở Hiến pháp 1992 (được sửa đổi năm 2001), và khắc phục những hạn chế của Luật tổ chức HĐND và UBND 1994, đáp ứng thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 được ban hành kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI, ngày 26 tháng 11 năm 2003

Theo quy định của luật này, tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh được thể hiện:

1.2.2.2.1 Về tổ chức

Trang 35

UBND được tổ chức ở 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Tổ chức và hoạt động của UBND (cùng với HĐND) dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ

Theo quy định chung của UBND các cấp (có cấp tỉnh), UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên; tức, UBND cấp tỉnh do HĐND cấp tỉnh bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở địa phương, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp tỉnh và Chính phủ UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương (tỉnh) mình, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới

cơ sở

UBND tỉnh do HĐND tỉnh bầu ra gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và

Ủy viên Chủ tịch UBND tỉnh là đại biểu HĐND tỉnh Các thành viên khác của UBND tỉnh không nhất thiết phải là đại biểu HĐND tỉnh Kết quả bầu các thành viên của UBND tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch UBND tỉnh thì Chủ tịch HĐND tỉnh giới thiệu người ứng cử để HĐND tỉnh bầu Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh trong trường hợp này không nhất thiết là đại biểu HĐND tỉnh

Số lượng các Ủy viên của UBND tỉnh được chia ra hai trường hợp:

1 Các tỉnh có số dân từ 2 triệu người trở lên hoặc diện tích từ 10 ngàn

km2 trở lên và thành phố trực thuộc Trung ương là đô thị loại 1 (trừ thành phố

Hà Nội và Hồ Chí Minh) có 11 thành viên gồm 01 Chủ tịch, 04 Phó Chủ tịch

và 06 Ủy viên Các thành viên UBND được phân công phụ trách các mảng công tác khác nhau theo quy định của pháp luật và tình hình cụ thể của địa phương

2 Các tỉnh còn lại, UBND tỉnh gồm 09 thành viên gồm có 01 Chủ tịch, 03 Phó Chủ tịch và 05 Ủy viên Tùy theo lĩnh vực công việc, Chủ tịch UBND

Trang 36

tỉnh phân công thành viên phụ trách cho phù họp với địa phương Trong nhiệm kỳ HĐND cấp tỉnh có thể ấn định thêm số lượng thành viên UBND nhưng không quá 11 thành viên và phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn

Tuy nhiên, việc phân công thành viên các Phó Chủ tịch UBND do Chủ tịch UBND quyết định căn cứ vào năng lực cán bộ và thực tế tại địa phương [26, điều 5-6-7]

Thực hiện các chức năng nhiệm vụ của UBND tỉnh còn có các cơ quan chuyên môn: Sở và các cơ quan tương đương Chính phủ quy định tổ

chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND và hướng dẫn tổ chức một số cơ quan chuyên môn để HĐND tỉnh quyết định phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương mình Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh có từ 19 đến 27 [27, điều 8-9] Sở và tương đương Cơ cấu, tổ chức cơ quan chuyên môn của tỉnh gồm bắt buộc: văn phòng, thanh tra, phòng nghiệp vụ; và đơn vị có thể có: Chi cục, các tổ chức sự nghiệp [27, điều 5] Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm theo tiêu chuẩn của Bộ quản

lý ngành, thủ trưởng chịu trách nhiệm trước UBND, Chủ tịch UBND và trước pháp luật về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà họ phụ trách Giúp thủ trưởng các cơ quan chuyên môn quản lý công tác chỉ đạo còn có các Phó Thủ trưởng, số lượng các Phó Thủ trưởng không được quá 03 người [27, điều 6, điều 13]

Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở

Trang 37

Cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp

vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND tỉnh, cơ quan chuyên môn cấp trên và báo cáo công tác trước HĐND tỉnh khi được yêu cầu [23, 27]

Hình thức hoạt động tập thể của UBND thông qua các kỳ họp:

Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND (2003), UBND tỉnh mỗi tháng họp một lần (điều 48) Ngoài ra, UBND tỉnh có thể họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch hoặc ít nhất một phần ba số thành viên của UBND tỉnh Qua cuộc họp, UBND tỉnh giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình bằng các quyết định và chỉ thị

Các cuộc họp của UBND tỉnh là hình thức hoạt động tập thể của UBND tỉnh, nhằm giải quyết những nhiệm vụ quan trọng nhất của UBND

tỉnh do pháp luật quy định, gồm: Chương trình làm việc của UBND tỉnh; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình HĐND tỉnh quyết định; Kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình HĐND tỉnh quyết định; Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn

đề cấp bách của địa phương trình HĐND tỉnh quyết định; Các biện pháp thực

Trang 38

hiện nghị quyết của HĐND tỉnh về kinh tế - xã hội; thông qua báo cáo của UBND tỉnh trình HĐND tỉnh; Thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan thuộc UBND tỉnh; Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định của Nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/09/2004 và các văn bản quy phạm pháp luật khác

có liên quan và việc phân vạch, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ở địa phương [23, điều 124];

Đó là những vấn đề quan trọng có liên quan đến sự phát triển mọi mặt của địa phương, cũng như hoạt động của UBND tỉnh Những vấn đề này đòi hỏi có sự nghiên cứu, thảo luận bàn bạc kỹ lưỡng, có sự tập trung trí tuệ của

cả tập thể UBND tỉnh; đảm bảo cho quyết định phản ánh đúng đắn nhu cầu quản lý địa phương Do đó, khi giải quyết các công việc trên, UBND tỉnh phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại kỳ họp [16, tr 246]

Hoạt động của Chủ tịch UBND tỉnh:

Chủ tịch UBND tỉnh vừa hoạt động với tư cách là đại diện UBND tỉnh, vừa với tư cách là quyền hạn cá nhân Chủ tịch UBND tỉnh

Với tư cách là đại diện UBND tỉnh, Chủ tịch là người lãnh đạo, điều hành công tác của UBND tỉnh, thực hiện phân công công tác cho các thành viên của UBND tỉnh phù hợp với khả năng, trình độ của các thành viên Ủy ban Chủ tịch là người triệu tập và chủ tọa các cuộc họp của UBND tỉnh, dự kiến chương trình họp, phân công chuẩn bị các dự án, báo cáo; chuẩn bị những điều kiện đảm bảo cho phiên họp của UBND tỉnh Trong cuộc họp, trên cơ sở chương trình kỳ họp đã được thông qua, Chủ tịch dẫn dắt điều khiển cuộc họp đạt được hiệu quả cao nhất

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh có quyền hạn:

Trang 39

Bổ nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo tiêu chuẩn, chức danh do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực quy định (riêng việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh Thanh tra cấp tỉnh thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra) Đôn đốc, kiểm tra công tác các cơ quan chuyên môn (Sở và cơ quan tương đương) và UBND cấp Huyện, cấp xã trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp và quyết định, chỉ thị của UBND cùng cấp; áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả

Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của UBND huyện, thị xã; điều động, đình chỉ công tác, bãi nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện, thị xã; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của UBND huyện, thị xã; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ công chức theo sự phân cấp quản lý trong cơ quan UBND và trong đơn vị hành chính lãnh thổ của mình, đảm bảo hợp pháp, hợp

lý trong bố trí cơ cấu nhân sự của cơ quan cũng như hệ thống do mình quản lý

Giải quyết những bất đồng (nếu có) trong phối hợp hoạt động giữa các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND và các UBND huyện, thị xã, giữa cơ quan chuyên môn với nhau và với UBND huyện, thị xã trong việc thi hành các văn bản UBND tỉnh, HĐND tỉnh và của cơ quan nhà nước cấp trên

Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và văn bản trái pháp luật của UBND huyện, thị xã, Chủ tịch UBND huyện, thị xã; đình chỉ việc thi hành Nghị quyết trái pháp luật của HĐND huyện, thị xã và đề nghị HĐND tỉnh bãi bỏ

Trang 40

Chỉ đạo hoạt động đấu tranh chống những tiêu cực có thể xảy ra trong cán bộ, công chức và bộ máy chính quyền; chỉ đạo áp dụng các biện pháp để giải quyết công việc đột xuất, khẩn cấp trong: thiên tai, an ninh,

Hàng năm báo cáo tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh với HĐND tỉnh và Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Quyết định những vấn đề thuộc quyền hạn của mình trừ những vấn đề thảo luận đa số và quyết định tập thể (trừ điều 124) [23, 27]

Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh làm việc theo chế độ thủ

trưởng Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh căn cứ các quy định của pháp luật và phân công của UBND tỉnh ban hành quy chế làm việc, chế độ thông tin báo cáo của cơ quan và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy định đó sau khi được ban hành Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và các công việc được UBND, Chủ tịch UBND tỉnh phân công hoặc uỷ quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng tham nhũng, gây thiệt hại trong tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh có trách nhiệm báo cáo với UBND, Chủ tịch UBND tỉnh và Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực ở trung ương về tổ chức, hoạt động của cơ quan mình; xin ý kiến về những vấn đề vượt quá thẩm quyền và báo cáo công tác trước HĐND và UBND khi có yêu cầu; phối hợp với Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn khác, tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp để giải quyết các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình [27, điều 7]

Tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh theo pháp luật hiện hành là quy định chung, có tính chất khung làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh của các tỉnh trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, tuỳ vào điều

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Trung tâm thông tin Sài Gòn (2005), Tây Nam bộ tiến vào thế kỷ 21, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nam bộ tiến vào thế kỷ 21
Tác giả: Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Trung tâm thông tin Sài Gòn
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2005
2. Báo cáo của ủy ban “Nhà nước, nền hành chính nhà nước và hoạt động dịch vụ công trước ngưỡng cửa năm 2000” (2000), Tiến tới xây dựng một nhà nước với vai trò là hoạch định chiến lược, người bảo đảm cho lợi ích chung, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước, nền hành chính nhà nước và hoạt động dịch vụ công trước ngưỡng cửa năm 2000” (2000), "Tiến tới xây dựng một nhà nước với vai trò là hoạch định chiến lược, người bảo đảm cho lợi ích chung
Tác giả: Báo cáo của ủy ban “Nhà nước, nền hành chính nhà nước và hoạt động dịch vụ công trước ngưỡng cửa năm 2000”
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2000
3. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch sử và hiện tại), NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch sử và hiện tại)
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1997
4. PGS. TS Nguyễn Đăng Dung (2001), Chuyên đề Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
5. PGS. TS Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản việt nam (2001), Văn kiện Đảng toàn quốc lần IX, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn quốc lần IX
Tác giả: Đảng Cộng sản việt nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản việt nam (2005), Văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản việt nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản việt nam (2005), Văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản việt nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2005
11. PGS.TS Bùi Xuân Đức (2004), Đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước
Tác giả: PGS.TS Bùi Xuân Đức
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2004
12. PGS.TS Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, NXB CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Trần Ngọc Đường
Nhà XB: NXB CTQG Hà Nội
Năm: 2004
13. Hồ Chí Minh (1995), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1995
14. Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2000
15. Hồ Chí Minh (1995), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB CTQG Hà Nội
Năm: 1995
16. Học viện hành chính (2004), Giáo trình Hiến pháp và Luật tổ chức Bộ máy nhà nước, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hiến pháp và Luật tổ chức Bộ máy nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
18. Hội đồng khoa học Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp (2005), Tài liệu bồi dưỡng đại cương về địa lý tự nhiên và đặc điểm lịch sử, con người, kinh tế, văn hoá - xã hội tỉnh Đồng Tháp, Sa Đéc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng đại cương về địa lý tự nhiên và đặc điểm lịch sử, con người, kinh tế, văn hoá - xã hội tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Hội đồng khoa học Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp
Năm: 2005
19. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Triết học Mác - Lênin, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2002
20. Võ Văn Kiệt, “Trách nhiệm cá nhân người đứng đầu”, Báo tuổi trẻ thứ 5 ngày 24/11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm cá nhân người đứng đầu”, "Báo tuổi trẻ
21. TS. Trương Đắc Linh (2002), Chuyên đề Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành hiến pháp và pháp luật
Tác giả: TS. Trương Đắc Linh
Năm: 2002
49. VNCI (5/2005), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh ở Việt Nam (báo cáo tóm tắt), http://www.vnci.org Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w