MỤC LỤC Chương I: nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đối với tổ chức, hoạt động của chính quyền xã 1.1.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do n
Trang 1DDDDDDDDDDDDDDDDDddddddddddddddddddddddddddddddddd
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -*** -
BÙI THỊ HẢI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2008
Trang 2DDDDDDDDDDDDDDDDDddddddddddddddddddddddddddddddddd ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -*** -
BÙI THỊ HẢI
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ
THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - NĂM 2008
Trang 3MỤC LỤC
Chương I: nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đối với tổ
chức, hoạt động của chính quyền xã
1.1.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
11
1.1.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt
động trên cơ sở Hiến pháp
12
1.1.3 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội
bằng pháp luật, đảm bảo vị trí tối thượng của pháp luật trong đời
sống xã hội
13
1.1.4 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo
vệ các quyền, tự do của công dân, bảo đảm quyền con người, nâng
cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước với công dân
14
1.1.5 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền
lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ
giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
15
1.1.6 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
18
1.2 Chính quyền xã trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
19
1.2.3 Những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt
động của chính quyền xã
22
Trang 4Chương II: Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Việt
Nam hiện nay
30
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC BỘ MÁY
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ TỪ NĂM 1945
2.1.4 Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Việt Nam từ năm 1992
đến trước khi có Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân năm 2003
36
2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong giai
đoạn hiện nay
37
2.2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã 38
c Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã 39
2.2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã 49
a Vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân xã 49
2.2.3 Thực trạng về đội ngũ cán bộ - công chức xã 56
2.2.4 Thực trạng về mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân 61
Trang 52.2.5 Quy chế dân chủ ở cơ sở 65
Chương III: Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
71
3.1 Nguyên tắc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của chính
quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
71
3.1.1 Kết hợp lợi ích Nhà nước và lợi ích địa phương 71
3.1.2 Phát huy tính độc lập của chính quyền xã trong việc giải quyết các
vấn đề ở địa phương
72
3.1.3 Đảm bảo sự tương thích giữa các cấp chính quyền địa phương nói
chung và chính quyền xã nói riêng
73
3.1.4 Đảm bảo sự tương thích với các đặc trưng của cộng đồng dân cư,
truyền thống, phong tục tập quán của nhân dân địa phương
74
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CHÍNH QUYỀN XÃ THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN
75
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách có liên quan đến tổ
chức và hoạt động của chính quyền xã
75
3.2.2 Đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân xã theo hướng làm cho
Hội đồng nhân dân xã thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương
77
a Xác định tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân xã một cách
thích hợp để phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân
78
b Hoàn thiện và nâng cao hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
xã
80
3.2.3 Xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức của chính quyền xã 84
a Phân biệt rõ vị trí, tính chất, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chính
quyền xã với chính quyền phường
87
Trang 6b Xây dựng các Ban của Hội đồng nhân dân xã 88
c Mô hình Thường trực Hội đồng nhân dân xã thực sự vững mạnh 89
d Mô hình Hội đồng nhân dân xã với các đại biểu Hội đồng nhân dân
đủ mạnh, đủ tài
91
e Mô hình Uỷ ban nhân dân xã gọn nhẹ, phân định rõ trách nhiệm
của tập thể Uỷ ban nhân dân, cá nhân Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và
các thành vien Uỷ ban nhân dân
92
g Mô hình Uỷ ban nhân dân xã thực sự là cơ quan chấp hành của Hội
đồng nhân dân
93
3.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ - công chức xã trong sạch, vững mạnh
đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước
94
3.2.5 Phát huy dân chủ, tôn trọng và đảm bảo quyền – tự do của nhân dân
ở địa phương
101
3.2.6 Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự phối
hợp của hệ thống chính trị trong tổ chức, hoạt động của chính
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã xác định, một trong những phương hướng để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa là: “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” “Cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, phát huy
và tăng cường dân chủ là đòi hỏi khách quan, bức thiết của đời sống xã hội hiện nay” Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách này là cải cách tổ chức - hoạt động của chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) nói chung và của chính quyền xã nói riêng Điều 2 - Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Xây dựng Nhà nước pháp quyền đặt
ra hàng loạt các vấn đề liên quan đến phương thức tổ chức - hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương
Xã là cấp quản lý hành chính thấp nhất, trực tiếp và gần gũi dân nhất Yêu cầu nâng cao năng lực hiệu quả của chính quyền xã là đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “phải đề cao tính chủ động của chính quyền địa phương”; tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân, kiện toàn
cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và bộ máy chính quyền xã, phường, thị trấn Chính quyền xã bao gồm Hội đồng nhân dân (cơ quan quyền lực) và Ủy ban nhân dân (cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương) Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã có những quy định chuyên biệt nhưng chưa đạt đến mức
độ cao thể hiện những đặc thù của đời sống đô thị và nông thôn Về mặt
Trang 8pháp luật, tổ chức và hoạt động của chính quyền xã đã có những thay đổi nhất định Nhưng trong thực tiễn tổ chức, hoạt động còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay: cơ cấu mang tính hình thức, hoạt động kém hiệu quả; nhiều quy định của chính quyền xã còn trái với Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và xâm phạm quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân Tất cả những điều đó không phù hợp với quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ để
nghiên cứu là đáp ứng yêu cầu đang đặt ra hiện nay
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Về Nhà nước pháp quyền và chính quyền xã đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu: từ đề tài luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đến bài báo khoa học, sách chuyên khảo, đề tài khoa học cấp Bộ, cấp nhà nước Các công trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam tập trung giải quyết những vấn đề nhận thức luận về nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc, điều kiện, mô hình Nhà nước pháp quyền trong điều kiện hoàn cảnh đặc thù của nước ta hiện nay
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – GS.TS Hoàng Văn Hảo – Tạp chí nhà nước và pháp luật số 3/2004
* Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật – nhiệm vụ trọng tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân – PGS.TS Trần Ngọc Đường - Tạp chí nhà nước và pháp luật số 7/2004
Trang 9* Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng – Tô Xuân Dân, Nguyễn Thanh Bình - Tạp chí cộng sản tháng 4/2004
* Bàn về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước
ta – PGS.TS Phạm Hồng Thái – Nguyễn Quốc Sửu – Tạp chí quản lý nhà nước số 3/2005
Đặc biệt, trong những năm gần đây ở nước ta có nhiều công trình lớn nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền như:
* Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân giai đoạn 2001 –
* Sự hạn chế quyền lực nhà nước – PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
Trong các công trình nghiên cứu này các tác giả đã tập trung luận giải sự hình thành, phát triển nhận thức luận về Nhà nước pháp quyền; nguyên tắc, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền với tư cách là những giá trị có tính phổ biến; sự hạn chế quyền lực trong Nhà nước pháp quyền; nêu
ra một số đặc thù của Nhà nước pháp quyền Việt Nam; mô hình Nhà nước pháp quyền, mô hình tổ chức cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Nhà nước pháp quyền … Nhưng về chính quyền địa phương nói chung và chính quyền xã nói riêng chỉ được điểm qua ở những nét chung nhất mà
Trang 10chưa có những phân tích xác đáng về tổ chức và hoạt động - đặc biệt là về
tổ chức và hoạt động thực tiễn của những cơ quan này Hơn nữa, trong các nghiên cứu nêu trên, các tác giả còn những quan niệm khác nhau về Nhà nước pháp quyền, về chính quyền địa phương và về tính chất của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Về chính quyền địa phương, cũng có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau như:
* Đổi mới thể chế và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương – PGS.TS Lê Sỹ Thiệp, năm 2006
* Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương – PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, NXB Đồng Nai, năm 1997
* Cải cách hành chính địa phương – Lý luận và thực tiễn – Tô Tử Hạ, TS Nguyễn Hữu Trị, TS Nguyễn Hữu Đức đồng chủ biên, năm 1998
* Đổi mới tổ chức bộ máy đô thị trong cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay – Luận án Phó tiến sỹ của Đỗ Xuân Đông, năm 1996
* Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp – Lê Minh Thông – Tạp chí nhà nước và pháp luật số 6/1999
* Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp – Tạp chí nhà nước và pháp luật số 7/2000
* Đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã - Luận án tiến sỹ Trần Nho Thìn, năm 2000
* Quyền lực nhà nước và quyền công dân - Đinh Văn Mậu – NXB Tư pháp, năm 2003
* Vài nét về hành chính Việt Nam từ cách mạng tháng 8 đến nay - Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái – Tạp chí quản lý nhà nước số 10/2001
* Nghiên cứu mô hình bộ máy chính quyền thành phố Hồ Chí Minh năm
1997 – Kỷ yếu hội thảo
Trang 11* Các mô hình tổ chức chính quyền nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội – TS Lê Anh Sắc
* Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố – TS Vũ Đức Đán
Các công trình nghiên cứu này, tập trung nghiên cứu những vấn đề chung: sự hình thành, phát triển, đặc điểm của chính quyền địa phương; phân biệt chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn; mô hình chính quyền 2 cấp ở đô thị, 3 cấp ở nông thôn; quan điểm tổ chức chính quyền nói chung; phân công, phân cấp quyền lực nhà nước; tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương… Đây là những tài liệu tham khảo có giá trị
để hoàn thành luận văn này
Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt,
có hệ thống về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam Đặc biệt là chưa có những khảo sát cụ thể thực tiễn của chính quyền xã trên các mặt hoạt động
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển dần từ nền hành chính truyền thống – hành chính cai quản sang nền hành chính phục
vụ, nhân dân với tư cách là khách hàng của nền hành chính, càng đặt ra những đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền các cấp, trong đó có chính quyền xã Vì vậy, việc nghiên cứu đặt ra những khuyến nghị khoa học nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra hiện nay
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
a Mục đích nghiên cứu
Trang 12Trên cơ sở phân tích những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, luận văn đưa ra những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với tổ chức
và hoạt động của chính quyền xã Đồng thời, từ việc phân tích tổ chức và hoạt động của chính quyền xã từ năm 1945 đến nay, luận văn đưa ra các giải pháp đổi mới tổ chức – hoạt động của chính quyền xã trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
b Nhiệm vụ của luận văn
Thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
*1 Nghiên cứu những đặc trưng chung, đặc thù về tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó khẳng định những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
*2 Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của chính quyền xã từ năm 1945 đến nay Từ đó, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của chính quyền
xã trên các phương diện khác nhau: phương diện về thể chế, phương diện thực tiễn… trên cơ sở những tiêu chí, những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
*3 Nêu các khuyến nghị khoa học về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Luận văn này được nghiên cứu từ góc nhìn của Lý luận Nhà nước và pháp luật; dưới sự tác động của những triết lý về Nhà nước pháp quyền đối với Lịch sử Nhà nước và pháp luật Luận văn nghiên cứu tổ chức và hoạt động của chính quyền xã (bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân); nghiên cứu tổ chức, hoạt động của chính
Trang 13quyền xã từ khi có Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 tới nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm chính trị – pháp lý ở nước ta về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu có tiếp thu, chọn lọc các quan điểm
tư tưởng tiến bộ của nhân loại về Nhà nước pháp quyền và mô hình tổ chức chính quyền địa phương
Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp sau: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, dự báo, khảo sát thực tiễn và điều tra xã hội học
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
a Về lý thuyết
*1 Hình thành quan niệm về thiết chế tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở địa phương, trong đó chính quyền xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương
*2 Hình thành quan niệm, tiêu chí, điều kiện đảm bảo tính độc lập của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã
*3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách có liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
*4 Giải pháp mở rộng quy chế dân chủ ở cơ sở
*5 Xác định vị trí, tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân xã một cách thích hợp để phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
*6 Hoàn thiện và nâng cao hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã
*7 Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ - công chức xã trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước
b Về thực tiễn
Trang 14Luận văn đưa ra khuyến nghị mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam:
*1 Xây dựng các Ban của Hội đồng nhân dân xã
*2 Xây dựng Thường trực Hội đồng nhân dân xã thực sự vững mạnh
*3 Xây dựng Hội đồng nhân dân xã với các đại biểu đủ mạnh, đủ tài
*4 Hoàn thiện tổ chức của Uỷ ban nhân dân xã để Uỷ ban thực sự là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã
*5 Tổ chức Uỷ ban nhân dân xã gọn nhẹ, phân định rõ trách nhiệm của tập
thể Uỷ ban nhân dân, cá nhân Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên
của Uỷ ban nhân dân xã
Những kết luận, kiến nghị đưa ra trong luận văn có thể có ý nghĩa đối với việc tìm ra mô hình tổ chức và phương thức hoạt động hợp lý của chính quyền xã cũng như hoàn thiện pháp luật về chính quyền xã trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đồng thời, luận văn có thể giúp ích phần nào cho cán bộ - công chức chính quyền xã trong việc tìm hiểu cũng như áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của mình
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương
CHƯƠNG I: NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ
Trang 151.1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Nhà nước pháp quyền là một hình thức chính trị pháp lý hợp lý để quản lý, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ Trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại nhưng đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện học thuyết về Nhà nước pháp quyền Theo quan điểm của phương Tây: Nhà nước pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công quyền Nhà nước pháp quyền liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các quyền căn bản Nhà nước pháp quyền là nhà nước nơi những người được ủy quyền giao trọng trách thông qua phiếu bầu phải có trách nhiệm với những luật lệ mà họ ban
ra Lý thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này Theo các nhà luật học Liên bang Nga thì có ba dấu hiệu cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền: tổ chức quyền lực nhà nước khoa học; phân định giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong cơ chế kiểm soát lẫn nhau, tự do dân chủ của công dân, bảo vệ quyền con người; tính tối cao của luật, sự thống trị của pháp luật, nhà nước phải tự đặt mình dưới pháp luật Tại Hội nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Bê-nanh, năm 1992, các luật gia đã đưa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về một nhà nước pháp quyền và được đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, bao gồm: sự thừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc xác định quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy quyền lực nhà
Trang 16nước; việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng pháp luật quốc tế v.v
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu được thành lập cũng như trong suốt quá trình xây dựng – phát triển của mình, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đảng và Nhà nước ta đã có những nỗ lực to lớn nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân" (Điều 2) Việc ghi nhận
đó là cơ sở pháp lý xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác định, Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất
là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung)
Thực tiễn của 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là định hướng, là mô hình quan điểm cho việc xây dựng các thiết chế Nhà nước và
Trang 17pháp luật cụ thể nói chung cũng như tổ chức, hoạt động của chính quyền xã nói riêng
1.1.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Cái gốc của chế độ trong Nhà nước pháp quyền là xác lập dân chủ, tức
là thừa nhận và đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân Nội dung này luôn được khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng Nhà nước ta Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định tại Điều 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bình trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp và tôn giáo” Nguyên tắc đó được khẳng định trong các Hiến pháp tiếp theo và đến Hiến pháp 1992 được hoàn thiện hơn: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2)
Khẳng định quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn gắn liền với việc thành lập các cơ chế đảm bảo thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân Nhân dân tạo lập nên Nhà nước, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực Nhà nước Ở những mức độ khác nhau, nhân dân có thể tác động một cách tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực nhà nước Trong các phạm vi khác nhau của hoạt động nhà nước, pháp luật cũng đã tạo
ra những điều kiện về mặt pháp lý để thu hút sự tham gia rộng rãi, sự đóng góp tích cực của công dân vào quản lý nhà nước và xã hội (Điều 53 Hiến pháp 1992): quyền tham gia các tổ chức xã hội, quyền khiếu nại – tố cáo…Về bản chất, các thiết chế chính trị và quyền lực nhà nước đều đặt mình dưới sự giám
Trang 18sát của nhân dân (Điều 8 Hiến pháp 1992) Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam
đã ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”
1.1.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp
Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân, sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp Chính vì vậy, Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước và
có hiệu lực pháp lý cao nhất Do vị trí đặc biệt quan trọng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, trong sinh hoạt của nhà nước và trong sinh hoạt của một xã hội nói chung nên Hiến pháp được xem là luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa Điều này được thể hiện ở các nội dung sau đây:
Thứ nhất, Hiến pháp không phải là một loại văn bản pháp lý thông thường,
do cơ quan nhà nước bất kỳ ban hành mà do một cơ quan nhà nước có vị trí đặc biệt thông qua Ở Việt Nam, Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền thông qua Hiến pháp, tức là làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Thứ hai, Hiến pháp là một văn bản có hiệu lực cao nhất quy định việc tổ chức
quyền lực Nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo
Thứ ba, đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát tất
cả các lĩnh vực của sinh hoạt xã hội: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, đường lối phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, đường lối quốc phòng toàn dân, cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Trang 19Thứ tư, các quy định của Hiến pháp là nguồn, là căn cứ cho tất cả các ngành
luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam Các luật và các văn bản dưới luật không được mâu thuẫn mà phải phù hợp với tinh thần, nội dung của Hiến pháp; được ban hành trên cơ sở Hiến pháp, để thi hành Hiến pháp Vì thế trong Nhà nước pháp quyền, các quy định của Hiến pháp phải thực sự ổn định, có tính pháp lý cao nhất và có khả năng phát huy hiệu lực trực tiếp
1.1.3 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đảm bảo vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội điển hình, phổ biến giữa các chủ thể với nhau, thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội Pháp luật của Nhà nước ta là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, đối nội, đối ngoại Pháp luật thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Vì vậy, nói đến pháp luật Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nói đến tính khách quan của các quy định pháp luật chứ không phải chỉ nói đến nhu cầu đặt ra pháp luật, áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách chung chung Pháp luật của Nhà nước ta là phương tiện thể hiện đường lối chính sách của Đảng cộng sản, bảo vệ chế độ chính trị, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Pháp luật xác định bản chất, cơ cấu, nội dung, phương hướng, mục tiêu hoạt động của hệ thống chính trị và mỗi tổ chức thành viên Đối với kinh tế, pháp luật cụ thể hóa các chính sách giá, tài chính, thuế, tín dụng, các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, quan hệ hợp đồng kinh tế; tạo lập khung pháp lý cho các thành phần kinh tế hoạt động trên các nguyên tắc
Trang 20chung thống nhất; thiết lập và đảm bảo cơ chế quản lý mới… Đối với xã hội nói chung và các quy phạm xã hội nói riêng, pháp luật giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội; tạo lập khung pháp lý để các cá nhân, cơ quan, tổ chức… hoạt động vì lợi ích của nhân dân Pháp luật ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền - lợi ích hợp pháp của công dân, xác lập và đảm bảo cơ chế pháp lý để công dân thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình Pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhanh chóng mọi hành vi xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, các quyền – lợi ích hợp pháp của công dân và những giá trị xã hội khác…
Nhà nước pháp quyền đặt ra một nhiệm vụ phải có một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội; làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật, kỷ luật của xã hội Pháp luật thể chế hóa các nhu cầu quản lý
xã hội, là hình thức tồn tại của các cơ cấu và tổ chức xã hội cũng như của các thiết chế Nhà nước Vì vậy, sống và làm việc theo Hiến pháp - pháp luật là một yêu cầu mà tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành
1.1.4 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo
vệ các quyền, tự do của công dân, bảo đảm quyền con người, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước với công dân
Đây là một đặc trưng mà kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được thể chế hóa một cách cụ thể ở các Hiến pháp trước đây Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, nguyên tắc tôn trọng các quyền con người được thể chế hóa trong đạo luật cơ bản của Nhà nước Đây là một bước phát triển quan trọng của chế định quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Điều 50) Và cũng theo Hiến pháp
1992, Nhà nước ta xây dựng chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân dựa trên các nguyên tắc sau:
Trang 21Thứ nhất, quyền công dân xuất phát từ quyền con người trong các lĩnh vực
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội hay còn gọi là nguyên tắc tôn trọng các quyền con người
Thứ hai, nguyên tắc quyền không tách rời nghĩa vụ của công dân Điều 51
của Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.” Nguyên tắc này đã tạo nên tính thống nhất hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và công dân: quyền và nghĩa vụ của bên này là quyền và nghĩa vụ của bên kia Nhà nước đảm bảo cho các công dân những quyền và lợi ích hợp pháp nhưng mặt khác cũng đòi hỏi mọi công dân phải thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Thứ ba, nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Bản chất của
bình đẳng thể hiện ở sự công nhận giá trị bình đẳng của tất cả mọi người trong các lĩnh vực dời sống, kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật không phân biệt giới tính, tình trạng giai cấp, giàu nghèo…
Thứ 4, nguyên tắc hiện thực các quyền và nghĩa vụ của công dân Nguyên tắc
này đòi hỏi các quyền - nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác phải là các quyền - nghĩa vụ có cơ
sở, phải được đảm bảo thực hiện trong thực tế
Ngày nay, khi chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền thì vấn đề tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân là một trong những yêu cầu cấp bách Nó không những phản ánh phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội liên quan trong thời kỳ hiện nay mà còn phù hợp với nội dung của pháp luật quốc tế, nhất là những Công ước của Liên hợp quốc về vấn đề quyền con người
Trang 221.1.5 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy Nhà nước Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) cùng với cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm về sự tồn tại của ba quyền và sự phân công, phối hợp giữa ba phạm vi quyền lực đó của Nhà nước mới được chính thức khẳng định trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, phát triển và vận dụng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam các tri thức của nhân loại Đến Hội nghị trung ương lần thứ 8 (Khóa VII, 1995) quan điểm của Đảng về sự tồn tại của ba quyền đã có sự bổ sung quan trọng: quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây là một quan điểm chính trị pháp lý khái quát và có ý nghĩa rất to lớn Quán triệt quan điểm quyền lực Nhà nước là thống nhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy Nhà nước, bảo đảm cho
bộ máy vận hành đồng bộ, thống nhất, có hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, tăng cường việc phân công, phân nhiệm rành mạch, rõ ràng và chú trọng việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là điều kiện để phát huy tốt hiệu lực của quyền lực Nhà nước thống nhất
Với tính chất là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất trong hệ thống các cơ quan Nhà nước của Việt Nam, Quốc hội là cơ quan được Hiến pháp dành cho một vị trí quan trọng nhất: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối
Trang 23ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ
xã hội và hoạt động của công dân.” Thông qua chức năng lập pháp của mình, Quốc hội đảm đương các nhiệm vụ khác với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao trong hệ thống các cơ quan tạo thành bộ máy Nhà nước
Chính phủ tại Hiến pháp 1992 đã được xây dựng theo hướng tập trung vào lĩnh vực hành chính nhà nước, quản lý điều hành đất nước một cách chủ động, độc lập: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Trong Nhà nước pháp quyền, Chính phủ phải được coi là trung tâm của bộ máy Nhà nước vì hoạt động của Chính phủ có sự ảnh hưởng rất lớn đến toàn
bộ hoạt động của cơ quan Nhà nước khác Chính phủ phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm trong việc phải phân tích chính sách, đề ra các chủ trương thông qua các hoạt động trình dự án luật và lập quy Mặt khác, Chính phủ không chỉ thụ động trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật mà còn chủ động trong việc đề ra các chủ trương, chính sách làm nền tảng cho sự hoàn thiện của pháp luật và thực hiện pháp luật
Vị trí, vai trò của cơ quan tư pháp của nước ta mà trọng tâm là hệ thống các Tòa án luôn được đề cao Trong giai đoạn hiện nay, cải cách tư pháp đã và đang được coi là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nằm trong định hướng chung của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền là một
mô hình tổ chức Nhà nước chống lại sự lạm quyền, tùy tiện của công quyền
để bảo vệ con người Do đó, Nhà nước pháp quyền yêu cầu chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật bởi pháp luật là để bảo vệ con người Muốn làm được điều này thì yêu cầu hệ thống Tòa án phải hoàn thiện, độc lập, công minh và chỉ tuân theo pháp luật Sự độc lập của quyền tư pháp, sự kiểm tra của nó với hai nhánh quyền lập pháp – hành pháp, sự vận hành có hiệu quả
Trang 24của cơ chế phối hợp - chế ước của ba nhánh quyền lực chính là những điều kiện cần thiết và quan trọng đảm bảo cho sự thành công của công cuộc cải cách tư pháp nói riêng cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền nói chung ở Việt Nam
Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương được thể hiện qua các Hiến pháp với việc hình thành Hội đồng nhân dân mà các đại biểu Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và việc Hội đồng nhân dân bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân
Quyền lực Nhà nước ở nước ta là thống nhất Sự thống nhất đó không phải là sự tập trung quyền lực cao độ vào một nhánh quyền lực nào theo kiểu phân lập quyền lực mà là sự thống nhất ở mục tiêu chung là phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc Thực tiễn chứng minh rằng, việc phân công và phối hợp trong thực hiện quyền lực Nhà nước ở Việt Nam mấy chục năm qua đã tạo điều kiện để bộ máy Nhà nước vận hành thông suốt Đồng thời đảm bảo tăng cường ngày càng có chất lượng hơn cơ chế kiểm tra,
tự kiểm tra, thanh tra của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước; cơ chế kiểm soát đối với hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát; cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và cơ chế giám sát thường xuyên của nhân dân
1.1.6 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam vừa là một
bộ phận hợp thành, vừa là tổ chức lãnh đạo hệ thống Sự lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp, đó là sự khẳng định thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta Hiến pháp 1992 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đồng thời cũng quy định rõ các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
Trang 25luật Các đường lối, chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho hoạt động của Nhà nước và xã hội Nhiều chính sách của Đảng được thể chế thành pháp luật Tuy vậy, là Đảng lãnh đạo trong hệ thống chính trị nhưng Đảng không can thiệp trực tiếp vào công việc Nhà nước, của các tổ chức xã hội mà Đảng chỉ định ra đường lối, phương hướng cho hoạt động của Nhà nước và kiểm tra các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện đường lối của mình Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng cũng như khẳng định mối quan hệ mật thiết của Đảng với nhân dân là một trong những nội dung vô cùng quan trọng
Qua những nội dung trình bày ở trên đây, ta có thể thấy, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân là một xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2 CHÍNH QUYỀN XÃ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.2.1 Khái quát chung về chính quyền xã
Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1992, là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước kể từ năm 1945 đến nay Hiến pháp 1992 đã xác định mô hình nhà nước phù hợp với các mục tiêu của quá trình chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện chức năng cai trị của mình và để thuận tiện hơn trong việc thực hiện các quyết định của cơ quan cấp trên, Nhà nước trung ương tiến hành phân chia theo vùng trên toàn bộ lãnh thổ Với bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên ở nước ta việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trên từng vùng lãnh thổ địa phương còn nhằm mục đích chính là
Trang 26tổ chức cho nhân dân trên các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc quản lý đất nước Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cũng như cơ cấu tổ chức hệ thống chính quyền địa phương của mỗi nước có những đặc thù khác nhau song dù tổ chức theo mô hình nào thì chính quyền địa phương (trong đó có chính quyền xã) vẫn là một bộ phận hợp thành
và tất yếu của hệ thống chính quyền nhà nước của bất cứ quốc gia nào
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chính quyền địa phương Xét
về giác độ tổ chức bộ máy nhà nước, theo nghĩa rộng thì chính quyền địa phương gồm tất cả các cơ quan nhà nước nằm trong hệ thống quyền lực, có hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của địa phương như: cơ quan quyền lực, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp Theo nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm tổ chức và hoạt động của các cơ quan ra quyết nghị, cơ quan hành pháp và các bộ phận trực thuộc cơ quan hành pháp Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm chính quyền địa phương (trong đó có chính quyền xã) theo nghĩa hẹp tức là các thể chế nhà nước trên địa bàn xã nắm quyền lực nhà nước bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền là chủ của nhân dân; chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê chuẩn; là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã
1.2.2 Vị trí, vai trò của chính quyền xã
Trong hệ thống tổ chức chính quyền bốn cấp của Nhà nước ta hiện nay thì chính quyền xã có một vị trí đặc biệt quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm
Trang 27được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, hiệu quả và sức mạnh của nhà nước không chỉ phụ thuộc vào cách thức
tổ chức quyền lực nhà nước ở trung ương mà còn phụ thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức, thực thi quyền lực ở chính quyền cấp cơ sở nói chung cũng như chính quyền xã nói riêng
Thứ nhất, xã là một cấp chính quyền cơ sở, là nơi sinh sống của 80% dân số
nước ta hiện nay; ở đó mọi người cùng nhau gắn bó, sinh sống bởi những kết cấu chặt chẽ, làng xóm họ tộc lâu bền Chính quyền xã có vai trò quan trọng trong việc quản lý và tổ chức mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở xã Trực tiếp tổ chức, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phương, đáp ứng và giải quyết mọi nhu cầu phát sinh nơi làng xã như: phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh trật tự, xây dựng xã hội, xây dựng đời sống mới, giải quyết các chính sách xã hội… Thông qua việc quyết định những chủ trương, biện pháp phát triển ở địa phương chính quyền
xã góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Nếu chính quyền xã được tổ chức tốt, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình thì nhà nước ta sẽ vững mạnh
Thứ hai, chính quyền xã là nơi trực tiếp thực hiện và kiểm nghiệm sự đúng
đắn của mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước Khi và chỉ khi chính quyền xã tổ chức tốt việc thực hiện chủ trương, chính sách thì các chính sách, pháp luật mới đi vào cuộc sống, mới phát huy được hiệu lực Trên cơ sở đó chính quyền xã đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện sao cho phù hợp với đặc điểm của địa phương mình, góp phần thực hiện thành công những đường lối, chính sách
Thứ ba, chính quyền xã có vai trò quyết định trong việc đảm bảo thực hiện
dân chủ, đảm bảo Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đây cũng chính là địa bàn lý tưởng để thực hiện phương châm:
Trang 28“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” một cách đơn giản nhất, song lại dễ làm, dễ nhận biết và kiểm tra Là cấp chính quyền trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết các công việc của dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân, gắn
bó với đời sống nhân dân nên chính quyền xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát huy dân chủ của nhân dân Trên địa bàn cơ sở, nhân dân có khả năng, điều kiện thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình một cách thuận tiện và hiệu quả Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các cơ quan đại biểu, các tổ chức, đoàn thể xã hội (gián tiếp) và trực tiếp bày tỏ ý chí, nguyện vọng, ý kiến của mình trong quá trình xây dựng và quản
lý nhà nước, quản lý xã hội (trực tiếp) Vì nguồn gốc sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ở chỗ nhân dân làm chủ nhà nước và xã hội, tham gia xây dựng nhà nước, tham gia quản lý nhà nước
Thứ tư, chính quyền xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị ở cơ
sở Hệ thống chính trị ở cấp xã là một trong bốn cấp của hệ thống chính trị ở nước ta Hệ thống chính trị ở cơ sở là các cơ quan, tổ chức của các thiết chế chính trị, chính trị – xã hội của hệ thống chính trị Việt Nam, được tổ chức ở
xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Hệ thống này bao gồm: tổ chức Đảng, chính quyền xã, Mặt trận và các tổ chức thành viên Trong đó, nếu Đảng là hạt nhân chính trị, có nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống chính trị ở xã thì chính quyền xã giữ vai trò là trung tâm, là nòng cốt của hệ thống chính trị Vì chính quyền xã có bộ máy thực thi quyền lực nhà nước, được áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong khuôn khổ pháp luật, được nhà nước giao các nguồn lực để thực hiện việc quản lý nhà nước ở xã Đường lối, chủ trương lãnh đạo của tổ chức Đảng ở xã chỉ có thể được thực hiện thông qua hoạt động của chính quyền xã Các Nghị quyết của Đảng ủy xã phải được cụ thể hóa trong Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã
Trang 29và được Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện thì mới có thể đi vào đời sống của nhân dân Các tổ chức chính trị – xã hội và đoàn thể nhân dân cũng chỉ thực hiện có hiệu quả được quyền làm chủ của nhân dân thông qua hoạt động của chính quyền xã
Do vị trí, vai trò quan trọng và những đặc thù nêu trên nên vấn đề đổi mới tổ chức, tăng cường hiệu quả hoạt động của chính quyền xã là một vấn đề
có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.3 Những yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
Mô hình tổ chức chính quyền xã ở nước ta hiện nay đã và đang khẳng định được tính ưu việt của nó; đã và đang thực hiện được mục tiêu xây dựng
bộ máy nhà nước thật sự có hiệu quả, thích ứng với cơ chế kinh tế – xã hội của công cuộc đổi mới Vấn đề này chỉ có thể giải quyết trong tổng thể chủ trương chung của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền; từ vị trí, vai trò của chính quyền xã tác giả bước đầu đưa ra một số yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt động của chính quyền
từ vị trí, tính chất của chính quyền xã Vì chính quyền xã là chính quyền gần
Trang 30dân nhất, trực tiếp tổ chức các hoạt động phục vụ nhân dân; là nơi nhân dân
có điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền làm chủ của mình nên những nhiệm
vụ mang tính tự quản của chính quyền xã cần được pháp luật ghi nhận Phát huy dân chủ, tính độc lập và trách nhiệm của chính quyền xã trong việc giải quyết các vấn đề có ý nghĩa ở địa phương Đảm bảo sự liên kết và phối hợp giữa trung ương và địa phương; sự hỗ trợ từ phía trung ương đối với một số hoạt động của địa phương Việc phân định thẩm quyền phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của các địa phương, mặt khác cũng phải thể hiện đặc thù của mỗi loại đơn vị hành chính lãnh thổ Không thể phân cấp đồng loạt ở tất cả các địa phương mà phải phân biệt giữa đô thị và nông thôn và tập trung chủ yếu vào trình độ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội
Tính thống nhất của quyền lực nhà nước được quy định bởi nguyên lý
về chủ quyền nhân dân Ở Nhà nước ta, tất cả quyền lực nhà nước bắt nguồn
từ nhân dân, thuộc về nhân dân và tập trung thống nhất vào nhân dân; nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và trong sự phân cấp giữa trung ương và địa phương Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy chính quyền xã nói riêng, làm cho bộ máy tinh gọn, đảm bảo sự điều hành thông suốt, có hiệu lực từ chính quyền xã có một ý nghĩa rất quan trọng
Thứ hai, tính hiệu lực, hiệu quả của chính quyền xã
Xây dựng chính quyền xã vững mạnh, hoạt động có hiệu lực – hiệu quả
là một trong những tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Một Nhà nước muốn vững mạnh thì phải có một
hệ thống chính quyền địa phương nói chung và chính quyền xã nói riêng trong
Trang 31sạch, có đủ năng lực để đảm nhận được vai trò của mình Cùng với quá trình đổi mới đất nước thì sự đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã là một yêu cầu cấp bách Hiện nay, năng lực quản lý, năng lực của đội ngũ cán
bộ - công chức, việc quyết định - điều hành của chính quyền xã còn nhiều bất cập, trì trệ, thụ động, chưa thực sự đảm bảo dân chủ – kỷ luật và kỷ cương Chính điều này đã kìm hãm sự phát triển nhanh, bền vững và đúng hướng của chính quyền xã trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Vấn đề lớn nhất hiện nay là cần phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền xã nói riêng Làm tốt được điều này sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh cải cách hành chính phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, sự phục vụ của chính quyền xã đối với các cá nhân, tổ chức, công
dân trong Nhà nước pháp quyền
Một trong những đặc trưng rất quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Do đặc thù của truyền thống văn hóa Việt Nam mà chính quyền xã luôn giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý địa phương và tổ chức đời sống dân cư tại địa bàn Xã là nơi sinh sống của khoảng 80% dân số nước ta hiện nay, nên chính quyền xã có vai trò quan trọng trong việc quản lý, tổ chức mọi mặt hoạt động đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh… của nhân dân ở địa phương Chính quyền xã phải trực tiếp tổ chức, chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phương, đáp ứng và giải quyết mọi nhu cầu phát sinh nơi làng xã Trong tổ chức và hoạt động, chính quyền xã cần đề cao và phát huy tính dân chủ; thu hút sự tham gia rộng rãi của người dân vào quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội Để nhận thức đúng đắn trách nhiệm của chính quyền xã trong việc phục vụ nhân dân, vấn đề đặt ra là phải khắc phục quan niệm về sự lệ thuộc của các cá nhân đối với công quyền Chính
Trang 32quyền xã, cán bộ - công chức xã phải thực sự là “đầy tớ” trung thành của nhân dân; sự phục vụ của chính quyền xã đối với các tổ chức, cá nhân ở địa phương phải là sự phục vụ tận tâm, tận lực
Thứ tư, tính độc lập tương đối giữa Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Chính quyền cấp xã (trong đó có chính quyền xã) là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống chính quyền địa phương Chính quyền xã bao gồm: Hội đồng nhân dân xã - là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí của nhân dân địa phương và Uỷ ban nhân dân xã - là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nên Hội đồng nhân dân xã được thực hiện chức năng quyết nghị và chức năng giám sát Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 đã quy định nhiệm vụ - quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã bao quát tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống, quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội, thực hiện chính sách dân tộc – tôn giáo, thi hành pháp luật và xây dựng chính quyền địa phương Song trên thực tế, đa số Hội đồng nhân dân xã không sử dụng hết quyền năng của mình và sinh hoạt còn hình thức; hiệu quả giám sát, thảo luận chưa cao Hội đồng nhân dân ít ban hành Nghị quyết để quyết định các vấn đề ở địa phương và trong nhiều trường hợp, Hội đồng nhân dân ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân xã quyết định các vấn đề lẽ ra phải do Hội đồng nhân dân tự quyết định
Với tính chất là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã cũng có những nhiệm vụ – quyền hạn trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, nông – ngư nghiệp – thủy lợi, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục, y
tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, không phải ở địa phương nào, Hội đồng nhân dân xã cũng kiểm soát được Uỷ ban nhân dân xã một cách chặt chẽ Với tư
Trang 33cách là cơ quan hành chính nhà nước, Uỷ ban nhân dân xã chịu sự chỉ đạo thống nhất của Chính Phủ và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Như vậy, nếu trong tình trạng này, Uỷ ban nhân dân khó có thể vừa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của một cơ quan chấp hành, đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước
Chính quyền địa phương cần phát huy tính độc lập tương căn cứ vào các tiêu chí như: nhận thức và tính tích cực chính trị của dân cư; mức độ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; tính chất của địa bàn và đối tượng bị quản lý… Sự độc lập ở đây chủ yếu là về kinh tế Đã đến lúc chúng ta cần phân cấp mạnh mẽ hơn về tài chính cho chính quyền xã để chính quyền xã có thể tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trên cơ sở các quy định của pháp luật Những nhiệm vụ – quyền hạn mà pháp luật quy định cho chính quyền xã là rất rộng, toàn diện trên mọi lĩnh vực Vì vậy, để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả thì pháp luật nên quy định tính độc lập tương đối trong tổ chức - hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã thông qua việc đề cao tính đại diện của Hội đồng nhân dân Cần giải quyết dứt điểm mối quan
hệ vốn không rõ ràng giữa Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã Phải xây dựng Hội đồng nhân dân thực sự mạnh và là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương theo đúng nghĩa Mặt khác, Uỷ ban nhân dân phải được nhấn mạnh là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã và giảm tính chất là cơ quan hành chính nhà nước
Thứ năm, tính hợp pháp về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 chưa có những cải cách cơ bản để giải quyết các vấn đề đặt ra đối với chính quyền địa phương nói chung và chính quyền xã nói riêng về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động Những giải pháp của Luật như tăng cường cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân; giảm số thành viên Uỷ ban nhân dân xã; tăng cường chức
Trang 34năng giám sát của Hội đồng nhân dân hay tăng cường nguyên tắc tập thể trong hoạt động của Uỷ ban nhân dân… không đủ tầm để đổi mối tổ chức và hoạt động của chính quyền xã Điều này xuất phát từ nguyên nhân: do chế định Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân trong Hiến pháp chưa được sửa đổi,
bổ sung một cách cơ bản nên Luật không thể có những cải cách vượt ra ngoài phạm vi Hiến pháp Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền xã nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng Gắn liền với công cuộc cải cách đó thì một yêu cầu được đặt ra là phải
đề cao tính hợp pháp về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã Chúng ta phải nghiên cứu nhằm đổi mới, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trên cơ sở thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Pháp luật cần quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, quan hệ qua lại giữa các cơ quan trong chính quyền xã dưới các hình thức pháp lý phù hợp Đồng thời, Nhà nước cần rà soát, hủy bỏ, sửa đổi các văn bản pháp luật đã không còn phù hợp nhằm tạo ra một cơ sở pháp lý mới cho tổ chức và vận hành của chính quyền xã Sửa đổi mới, hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã phải được xem xét là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ chiến lược cải cách nền hành chính quốc gia
Thứ sáu, đảm bảo tự do, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức từ
Trang 35quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức từ chính quyền xã không chỉ là đòi hỏi từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, yêu cầu phát triển kinh tế, dân chủ hóa đời sống xã hội và của bản thân Nhà nước Đảm bảo tự do, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức từ chính quyền xã sẽ góp phần quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hiện nay Trong mối quan hệ với công dân, chính quyền xã là sự đảm bảo quan trọng nhất, quyết định nhất đối với các quyền tự do – dân chủ của nhân dân địa phương, thể hiện trên tất cả các phương diện: tổ chức, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng
Hiện nay ở nhiều địa phương, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,
có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ cương; quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ Ở nhiều nơi, một số quyền của công dân được pháp luật khẳng định nhưng không được tôn trọng Chính quyền ở nhiều xã chưa thực sự vì dân, phục vụ dân mà là một bộ máy xa rời dân, phiền hà, sách nhiễu nhân dân làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin với chính quyền Do đó đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền thì yêu cầu bảm bảo, tôn trọng quyền con người – quyền công dân là một trong những yêu cầu cấp bách
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Nhà nước pháp quyền với tính cách là học thuyết về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; là một giá trị, là tinh hoa của nhân loại có thể được áp dụng ở các nước trên cơ sở những nét đặc trưng về văn hoá, chính trị, tư tưởng – pháp lý, truyền thống dân tộc Cùng với việc tiếp thu các giá
Trang 36trị đó và trên cơ sở tổng kết những bài học lịch sử của sự nghiệp xây dựng đất nước chúng ta có thể xác định được các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Những đặc trưng cơ bản này là định hướng và là mô hình quan điểm cho việc xây dựng các thiết chế Nhà nước và pháp luật cụ thể
Ở nước ta, nói tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
là nói tới một phương thức tổ chức nền chính trị xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà mục đích là không ngừng duy trì bản chất giai cấp của công nhân, tính nhân dân của Nhà nước, làm cho Nhà nước thực
sự trong sạch, vững mạnh Hiến pháp Việt Nam đã đặt một cơ sở hiến định cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xây dựng Nhà nước pháp quyền
là một sự nghiệp to lớn, lâu dài, không thể làm được tất cả trong một thời gian ngắn Vì vậy, việc hoàn thiện các thiết chế nhà nước nói chung cũng như chính quyền xã nói riêng phải được đặt trong quỹ đạo chung Song để làm được điều đó, chúng ta cần phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức - hoạt động của chính quyền xã từ năm 1945 đến nay; từ đó tìm ra các ưu – nhược điểm làm căn cứ đổi mới nhằm nâng cao hiệu lực – hiệu quả của chính quyền xã
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC BỘ MÁY
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM
1945 ĐẾN NĂM 1992
Trang 372.1.1 Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Việt Nam từ năm
1945 đến năm 1959
Cách mạng tháng 8 thành công, để tạo cơ sở về thể chế và đảm bảo
sự thống nhất cho tổ chức chính quyền địa phương trong cả nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ban hành 2 Sắc lệnh: Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 về
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ; Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính thành phố, khu phố Đây là hai văn bản có ý nghĩa lịch sử rất trọng đại, đánh dấu sự ra đời về mặt pháp lý của chính quyền cơ sở nói chung và chính quyền xã nói riêng Ngày 9/11/1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam – Hiến pháp 1946 Cùng với việc quy định hình thức chính thể và bộ máy nhà nước, Chương V đã quy định về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính gồm 6 điều (từ Điều thứ 57 đến Điều 62) Có thể nói, những nguyên tắc về tổ chức - hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương đã được quy định trong Hiến pháp 1946 thể hiện tinh thần dân chủ và tiến bộ của nhà nước ta Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh nên những quy định này chưa được áp dụng trong thực tế Sau khi có Hiến pháp 1946, Hồ Chí Minh
đã ký nhiều Sắc lệnh cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính: Sắc lệnh số 210
về ấn định phụ cấp cho các hội viên Hội đồng nhân dân và ủy viên Ủy ban hành chính các cấp; Sắc lệnh số 254 – SL về tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến và Sắc lệnh số 255 – SL về ấn định cách tổ chức và làm việc của các Hội đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính trong vùng tạm bị địch kiểm soát hoặc uy hiếp; Sắc lệnh số 80 – SL ngày 22/5/1950 điều chỉnh các văn bản trước đó; Sắc lệnh số 11 – SL/12
“Ban bố Luật tổ chức chính quyền địa phương đã được Quốc hội biểu
Trang 38quyết trong khóa họp thứ VIII” Luật tổ chức chính quyền địa phương (năm 1958) quy định khá cụ thể về hệ thống tổ chức của chính quyền địa phương
Từ việc nghiên cứu những văn bản trên có thể rút ra một số nhận xét
về mô hình tổ chức chính quyền xã trong giai đoạn này như sau:
Một là, cơ cấu tổ chức của chính quyền xã rất gọn nhẹ, đơn giản Hội đồng
nhân dân xã có từ 15 đến 25 hội viên, Ủy ban hành chính có 3 thành viên Các quy định này tạo ra một hệ thống hành chính gọn nhẹ, có khả năng phản ứng linh hoạt trong hoàn cảnh chiến tranh
Hai là, chính quyền xã được xác định là đơn vị cơ sở, nơi trực tiếp nối liền
quan hệ nhà nước với nhân dân Chính quyền xã hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ: chính quyền xã được quyền quyết định những vấn đề thuộc về địa phương mình nhưng không được trái với chỉ thị của cấp trên; nhân dân có quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng cho mình trong bộ máy chính quyền xã
Ba là, vị trí - tính chất của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính cũng
như mối liên hệ cơ bản giữa Hội đồng nhân dân với cấp trên và Ủy ban hành chính chưa được xác định rõ ràng như các Hiến pháp sau này
Bốn là, trong cơ cấu quyền lực nhà nước ở xã ở giai đoạn này, quyền lực
thực tế được tập trung vào Ủy ban hành chính Mô hình Hội đồng nhân dân không có bộ phận thường trực; Ủy ban hành chính trở thành cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân, mọi công việc đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng nhân dân đều do Ủy ban hành chính đảm nhiệm
Năm là, Hội đồng nhân dân xã là những thể chế đại diện của cộng đồng
làng, xã; chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên cả về tổ chức, cả về hoạt động (cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
Trang 39phê chuẩn kết quả bầu Ủy ban hành chính cấp dưới, chuẩn y các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới về nhiều vấn đề phát sinh…)
2.1.2 Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Việt Nam từ năm
1959 đến năm 1980
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới Miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, nhưng miền Nam còn tạm thời sống dưới ách thống trị của đế quốc, phong kiến Trước tình hính đó, Đảng ta tiếp tục chủ trương tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước Để phù hợp với nhiệm vụ cách mạng, ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa 1 đã thông qua Hiến pháp 1959 Cơ chế Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính cũng đã
có những phát triển mới; trong đó xã được coi là một trong các đơn vị hành chính của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và được “thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính” (Điều 79) Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 đã quy định: chính quyền địa phương ở nông thôn được tổ chức
ở 3 cấp: tỉnh – huyện - thành phố thuộc tỉnh, thị xã và xã Cả 3 cấp trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
Phân tích Hiến pháp, pháp luật về tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền xã trong giai đoạn này ta có thể rút ra một số nhận xét:
Một là, tổ chức chính quyền xã lần đầu tiên được điều chỉnh bằng một văn
bản có hiệu lực pháp lý cao ở cấp độ luật - Luật tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962
Hai là, lần đầu tiên Hội đồng nhân dân có một định nghĩa: “Hội đồng nhân
dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương… do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương” (Điều
80 – Hiến pháp 1959) Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân được
Trang 40quy định rộng rãi, cụ thể hơn so với trước đây: “đặt kế hoạch xây dựng kinh tế, văn hóa và sự nghiệp lợi ích công cộng ở địa phương; xét duyệt và phê chuẩn dự toán, quyết toán ngân sách ở địa phương; duy trì trật tự và an ninh ở địa phương; bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân, bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc” (Điều 82 – Hiến pháp 1959)…
Ba là, lần đầu tiên Ủy ban hành chính có một định nghĩa: “Ủy ban hành
chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phương, là
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương” (Điều 87) So với các quy định của Hiến pháp 1946, các quy định của Hiến pháp 1959 đã xác định sự phụ thuộc của Ủy ban hành chính vào Hội đồng nhân dân cùng cấp trước
sự phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Điều đó thể hiện qua những quy định sau: Hội đồng nhân dân có quyền sửa đổi, bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Ủy ban hành chính cấp mình; Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp mình; Ủy ban hành chính cấp trên có quyền đình chỉ những Nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ
Bốn là, cơ cấu tổ chức số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã tăng nhiều
so với đại biểu Hội đồng nhân dân trước đây (từ 20 đến 40 đại biểu) Quy định này phản ánh xu hướng mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động của chính quyền xã đồng thời huy động rộng rãi sự tham gia của nhiều tầng lớp dân cư tham gia vào hoạt động chính quyền và quản lý nhà nước
Năm là, số lượng thành viên Ủy ban hành chính xã tăng đáng kể (từ 5 đến
9 người) Điều này thể hiện việc tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban hành chính trong điều kiện mới – xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và là hậu phương cho miền Nam đấu tranh thống nhất đất nước