1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo qua thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

115 498 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 758,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế… Theo giáo trình Lý luận Nhà nước v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TUYẾT

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

QUA THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TUYẾT

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

QUA THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Tuyết

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 7

1.1 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật 7

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật 7

1.1.2 Hình thức thực hiện pháp luật 8

1.2 Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật 10

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật 12

1.3.1 Những yếu tố tác động bên trong 12

1.3.2 Những yếu tố tác động bên ngoài 13

1.4 Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo 15

1.4.1 Khung pháp luật về giáo dục và đào tạo 15

1.4.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo 19

1.4.3 Nội dung và các hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo 22 1.4.5 Chủ thể và yêu cầu của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo 29

1.5 Vai trò của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo 34

1.5.1 Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo góp phần tích cực đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước 34

1.5.2 Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giải quyết kịp thời những vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 35

1.5.3 Thông qua thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen, ý thức của công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật 36

Kết luận chương 1 38

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO Ở TỈNH BẮC NINH 39 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế -xã hội và một số tình hình về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 39 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39 2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 40 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua 42 2.2.1 Thực trạng thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 42 2.2.2 Thực trạng thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục

và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 48 2.2.3 Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 57 2.2.4 Nguyên nhân của những kết quả, tồn tại và một số kinh nghiệm 64 Kết luận chương 2 73 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 74 3.1 Đảm bảo thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh là yêu cầu cấp bách hiện nay 74 3.1.1 Xuất phát từ yêu cầu thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước 74 3.1.2 Xuất phát từ vị trí, vai trò và ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật giáo dục và đào tạo 76 3.1.3 Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, tồn tại của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 78

Trang 6

3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 79 3.2.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta: giáo dục là quốc sách hàng đầu 79 3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo và các văn bản pháp quy về giáo dục và đào tạo nói chung và tại Bắc Ninh nói riêng 81 3.2.3 Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về giáo dục và đào tạo

ở tỉnh Bắc Ninh 83 3.2.4 Kiện toàn tổ chức và hoạt động về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 86 3.2.5 Xây dựng cơ chế phù hợp và tạo lập môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 88 3.2.6 Bảo đảm điều kiện vật chất cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 92 3.2.7 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 94 3.2.8 Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 96 3.2.9 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh 98 Kết luận chương 3 101 KẾT LUẬN 102

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật Bởi pháp luật là công cụ điều chỉnh mang tính quy phạm và tính bắt buộc chung, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính phổ biến, điển hình trong hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu, đòi hỏi của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều tồn tại, hạn chế; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật diễn ra tương đối phổ biến Do đó, yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay là việc đề cao pháp luật, tôn trọng tính tối cao của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững, đã thực sự coi phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển

Trang 8

Từ đó cho đến nay, hệ thống giáo dục quốc dân đã được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh, góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh những thành tựu đó, giáo dục và đào tạo nước ta còn nhiều mặt yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng kịp thời những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Từ khi tái lập tỉnh năm 1997, tỉnh Bắc Ninh đã ra sức phấn đấu và đạt được những thành tựu trên các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục - đào tạo với quy mô trường lớp tiếp tục tăng, mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp, trình độ dân trí được nâng lên rõ rệt, chất lượng và hiệu quả giáo dục đã có những chuyển biến tích cực, ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo tăng mạnh, huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật nhà trường, chủ trương xã hội hóa bước đầu

có tác dụng, làm cho giáo dục và đào tạo thực sự là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Công tác thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả trên cả ba phương diện: tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Bên cạnh đó, vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh cũng còn những khiếm khuyết và yếu kém, dẫn đến tình trạng chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp; những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục chưa ngăn chặn kịp thời; công tác quản lý đối với giáo dục và đào tạo còn có những biểu hiện tùy tiện chưa tuân thủ pháp luật nên ảnh hưởng đến yêu cầu ổn định, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Mặt khác, trên thực tế, việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản, khoa học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để tổng kết, rút

Trang 9

kinh nghiệm, cũng như đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác này

Từ những điểm đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề

tài: “Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay” là

hoàn toàn cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, nghiên cứu về thực hiện pháp luật nói chung đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

- TS Nguyễn Minh Đoan, Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam

- PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh (Chủ biên năm 2009), Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật

Riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau như:

- TS Phạm Văn Kha, “Tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo

dục 2001-2010 ”, Tạp chí Giáo dục, số 53, tháng 3-2003

- PGS.TS Đặng Quốc Bảo, “Nhận diện một số khó khăn trong quản lý

nhà nước đối với giáo dục ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Giáo dục số 66, tháng

9-2003

- PGS.TS.Trần Khánh Đức, “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo

dục-chính sách và các mô hình ”, Tạp chí Giáo dục số 67, tháng 9-2003

- “Về phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, các

lĩnh vực văn hóa-xã hội ”, Tạp chí Giáo dục, số 81, tháng 3-2004

- “Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay ” của Lê Thị

Kim Dung, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004

Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề về: chính sách hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo; chính sách nâng cao chất

Trang 10

lượng và hiệu quả đào tạo; nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng và nội dung hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách riêng lẻ, cụ thể về vấn

đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở địa phương một cách cập nhật

nhất (tính đến thời điểm hiện nay) và ở một địa bàn cụ thể: tỉnh Bắc Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là vấn đề rộng và được thông qua các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo Nhưng chủ yếu vẫn là hình thức thi hành (chấp hành) pháp luật và áp dụng pháp luật, do đó thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật được xác định là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn

CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP

Phạm vi không gian nghiên cứu là địa bàn Tỉnh Bắc Ninh trong khoảng

5 năm gần đây: từ 2010-2014

4 Điểm mới của luận văn

Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo trong bối cảnh Việt Nam đang từng

Trang 11

bước nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản

lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế - đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Với những kết quả mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng

sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của thực hiện pháp luật về giáo dục - đào tạo nói chung, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng

5 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn

5.1 Mục đích của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

5.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về giáo dục

và đào tạo với tư cách là những phương thức để đưa pháp luật về giáo dục và đào tạo vào cuộc sống thực tiễn, là biện pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo mà Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần phòng ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo nói chung và ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng

- Luận cứ sự cần thiết phải đảm bảo vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh bao gồm cả những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được, xác định nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế, thiếu sót, từ

đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn

- Trên cơ sở thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước,

Trang 12

luận văn bước đầu xây dựng các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay

5.3 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc làm rõ các vấn đề: Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là gì? Thực trạng công tác thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo hiện nay của tỉnh Bắc Ninh? Làm gì và làm thế nào để đổi mới nâng cao công tác thực hiện pháp luật về giáo dục và

đào tạo tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp như: lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1.1 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật

Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa Mục đích của việc ban hành văn bản pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác

và đầy đủ Do vậy, vấn đề không phải chỉ là xây dựng và ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực Thực hiện pháp luật

là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi

cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế…

Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [12]

Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia thì: “Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [22]

Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Khoa Luật

- Đại học Quốc gia Hà Nội thì: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động

Trang 14

có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [14]

Dưới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức và cá nhân (chủ thể pháp luật) khi gặp phải tình huống thực tế mà pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo các quy định pháp luật vào tình huống cụ thể của cuộc sống thông qua hành vi hợp pháp của mình Nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán, hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế sử dụng quyền, thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật thì đó là thực hiện pháp luật Về bản chất, thực hiện pháp luật là tạo lập các hành vi hợp pháp (những hành vi không trái pháp luật, nằm trong giới hạn cho phép của pháp luật, phù hợp với những mệnh lệnh (chỉ dẫn) của pháp luật) của các

tổ chức, cá nhân trong xã hội

Có thể nhận xét rằng, các quan niệm đều có những điểm tương đối đồng nhất về những nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật và cá nhân tôi đồng tình với nội dung này, đó là: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống

1.1.2 Hình thức thực hiện pháp luật

Các quy phạm pháp luật rất phong phú, đa dạng cho nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú, đa dạng Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định thực hiện pháp luật có thể được tiến hành thông qua các hình thức sau:

Tuân theo (tuân thủ) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành động mà pháp luật ngăn cấm Những qui phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, luật

Trang 15

hành chính được thực hiện dưới hình thức này Ví dụ: pháp luật quy định:

“Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Các tổ chức, cá nhân thực hiện quy định này dưới hình thức tuân thủ, nghĩa là không tiến hành bất kỳ một hành vi nào nhằm phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

Thi hành (chấp hành) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Những qui phạm pháp luật bắt buộc (những quy định nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi tích cực nhất định) được thực hiện ở hình thức này Ví dụ: công dân T kinh doanh nông sản và đã thực hiện việc nộp thuế cho nhà nước theo quy định của pháp luật

Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi

mà pháp luật cho phép) Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật

và thi hành pháp luật ở chỗ chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, mà không bị bắt buộc phải thực hiện Ví dụ: Pháp luật qui định công dân có quyền kết hôn Trên thực tế, công dân có thể kết hôn (hoặc không kết hôn) Như vậy công dân đó

đã sử dụng (hoặc không sử dụng) pháp luật (quyền được kết hôn)

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, luôn

gắn với công quyền, vì nó chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền Bằng hoạt động này, các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách đã cá biệt hoá các qui định của pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các đối tượng cụ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình qui định: việc kết hôn phải được đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã Như vậy khi Uỷ ban nhân dân cấp giấy đăng ký kết hôn cho công dân, tức là Uỷ ban nhân dân đã thay

Trang 16

mặt nhà nước áp dụng các qui định của Luật Hôn nhân và gia đình vào một trường hợp cụ thể Bằng hoạt động này, đã làm phát sinh quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình cho đối tượng xin đăng ký kết hôn

Như vậy, thực hiện pháp luật được thực hiện thông qua bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Trong đó, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệt với các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền)

1.2 Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật

Quản lý xã hội bằng pháp luật không đơn giản chỉ dừng lại ở việc nhà nước xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ, điều quan trọng hơn cả là pháp luật của nhà nước phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng và chấp hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để, pháp luật phải đi vào cuộc sống, phải biến thành hành động của mọi công dân, mọi tổ chức trong xã hội

Đối với hoạt động xây dựng pháp luật: để đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động xây dựng pháp luật phải căn cứ vào kết quả của hoạt động đó, tức là chất lượng của hệ thống pháp luật Chất lượng của hệ thống pháp luật thể hiện ở

sự toàn diện, đồng bộ, sự phù hợp của các quy định pháp luật đã được ban hành

mà điều này thì phải được kiểm nghiệm thông qua việc xem xét các quy định pháp luật đã được thực hiện như thế nào trong đời sống xã hội Thông tin thu được từ thực tiễn thực hiện pháp luật sẽ là cơ sở vô cùng quý giá cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong tương lai, pháp luật cần được sửa đổi như thế nào cho phù hợp với thực tế của đời sống xã hội

Trang 17

Đối với pháp chế và dân chủ xã hội: chỉ thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật mới có thể đánh giá đúng về thực trạng pháp chế trong đời sống xã hội và thực chất của nền dân chủ xã hội Bởi pháp chế chính là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh của các tổ chức và cá nhân trong đời sống xã hội Còn dân chủ chỉ thực sự khi những quy định pháp luật về quyền, tự do dân chủ của các tổ chức và cá nhân có điều kiện trở thành hiện thực

Đối với các yếu tố xã hội và các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác như tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo… thông qua việc nghiên cứu, đánh giá chính xác sự tác động của các yếu tố như kinh tế, chính trị… và các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác đối với quá trình thực hiện pháp luật, thì từ đó mới có thể giải quyết, sử dụng một cách khoa học mối liên hệ giữa chúng sao cho phù hợp và có lợi nhất cho xã hội trong những điều kiện hiện tại

Đối với cơ chế điều chỉnh pháp luật, thì thực hiện pháp luật là một khâu quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật và đây thường là khâu tồn tại nhiều bất cập nhất Bởi, các tổ chức và cá nhân theo lẽ thường chỉ muốn thực hiện các quyền, tự do pháp lý sao cho có lợi và đưa lại nhiều lợi ích cho mình nhất, còn nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của mình thì không muốn thực hiện Vì vậy, muốn cơ chế điều chỉnh pháp luật vận hành tốt, pháp luật phát huy được vai trò, giá trị của mình trong đời sống xã hội thì quan trọng là phải thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, chính xác, triệt để và hiệu quả

Thực hiện pháp luật nhằm đạt được những mục đích xã hội mà vì chúng Nhà nước đã ban hành pháp luật; tạo ra trật tự pháp luật cần thiết để xã hội tồn tại

và phát triển; tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể pháp luật đạt được những mong muốn của mình; kiểm nghiệm tính đúng đắn, xác định hiệu quả của các quy phạm pháp luật Nó cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi,

Trang 18

bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống; góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong cán bộ, nhân dân

Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật không chỉ thể hiện trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật (xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật) mà nó còn là “một mặt quan trọng của nền pháp chế ” [13] Kết quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật là một trong những tiêu chuẩn để xác định tính chất của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi vì pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Có thể khẳng định rằng sự thực hiện pháp luật là trung tâm của pháp chế

Như vậy, có thể khẳng định rằng, thực hiện pháp luật có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, biến những qui phạm pháp luật thành những hành vi, xử sự thực tế, hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực tiễn xã hội Nếu không tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật thì ý chí của nhà nước sẽ không thể đi vào đời sống thực tiễn, pháp luật sẽ không phát huy được hiệu lực, sẽ không đạt hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật

Nhằm đưa pháp luật từ trên văn bản giấy tờ vào thực tiễn cuộc sống , thực hiện pháp luật là hoạt động diễn ra một cách phổ biến, thường xuyên trong đời sống thường ngày trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Thực hiện pháp luật trên thực tế bị chịu nhiều tác động từ các yếu tố khác nhau của hoàn cảnh xã hội, có thể nhìn nhận chúng dưới góc độ những tác động bên trong và những tác động bên ngoài như sau:

1.3.1 Những yếu tố tác động bên trong

- Trình độ nhận thức của chủ thể thực hiện pháp luật :Từ nhận thức đúng dẫn

đến hành động đúng và ngược lại Có thể khẳng định đây là nhân tố tác động

Trang 19

trực tiếp đến hoạt động thực hiện pháp luật Trình độ dân trí cao sẽ khiến chủ thể nhận thức đúng đắn các chủ trương, chính sách, văn bản luật do nhà nước ban hành từ đó dẫn đến những hành động đúng đem lại hiệu quả cho xã hội Ngựơc lại, trình độ văn hoá thấp hoặc không biết chữ sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp thu tinh thần các văn bản luật, rất dễ dẫn đến hiểu sai, hiểu không đúng

tinh thần của nhà làm luật dẫn đến những hành vi phạm pháp luật

- Yếu tố tâm lý của chủ thể thực hiện pháp luật: Yếu tố tâm lý cũng có những tác

động nhất định đến việc thực hiện pháp luật Việc trọng tình cảm, duy trì tình nghĩa, tôn trọng tình cảm trong quan hệ dòng tộc, họ hàng ở Việt Nam là một yếu tố tích cực trong việc thực hiện pháp luật Vì không muốn mang tiếng với người thân, họ hàng, gia đình nên việc thực hiện pháp luật của chủ thể được thực hiện tích cực hơn, hợp pháp hơn Ngược lại, yếu tố tâm lý này cũng chính là một nhân tố cản trở trong việc thực hiện pháp luật Cụ thể trong trường hợp vì muốn bảo vệ người thân và không tố giác tội phạm, bao che tội phạm Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý và hội và thực hiện pháp luật

- Yếu tố phong tục tập quán: Cũng giống như những yếu tố khác, phong tục

tập quán có những tác động tích cực và tiêu cực đến hoạt động thực hiện pháp luật Những phong tục tập quán tiến bộ phù hợp với quy định của pháp luật được nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn của pháp luật và là yếu tố thúc đẩy thực hiện pháp luật Ví dụ phong tục tập quán ăn tết nguyên đán của nguời Việt nam Thực hiện pháp lụât nguời lao động sẽ được nghỉ trong dịp tết này Ngược lại những phong tục lạc hậu, đi ngược lại chủ trương chung của nhà nước, của pháp luật như phong tục đốt pháo gây nguy hiểm cho tính mạng và kinh tế cần phải bài trừ, thanh toán dẫn đến nhà nước phải ban hành

quy định cấm sản xuất và đốt pháo để loại trừ phong tục này

1.3.2 Những yếu tố tác động bên ngoài

- Sự phát triển của kinh tế xã hội: Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh

hưởng mạnh mẽ bởi yếu tố kinh tế Kinh tế xã hội phát triển, đời sống vật chất

Trang 20

được cải thiện thì thực hiện pháp luật mới có cơ hội và khả năng thực hiện được Điều kiện văn hoá xã hội không ngừng phát triển và biến chuyển tác động đến trình độ dân trí của người dân Họ có cơ hội tiếp xúc với các phương tiện truyền thông như loa đài, sách, báo, internet…Trình độ nhận thức

về pháp luật được nâng cao từ đó họ sẽ dễ dàng thực hiện pháp luật và tuân theo pháp luật Ngược lại tại những nơi kinh tế còn nghèo đói chậm phát thì ở

đó tình trạng vi phạm pháp luật còn nhiều bởi miếng cơm manh áo với họ đựoc đặt lên hàng đầu, thậm chí họ sẵn sàng bất chấp pháp luật, vi phạm pháp

luật vì miếng cơm manh áo Vì vậy chúng ta phải chú ý đầu tư phát triển kinh

tế ở các vùng miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng sa

- Hệ thống pháp luật: Có thế nói pháp lụât là đời sống xã hội được khái quát

hoá và nâng lên thành luật thông qua ý chí và lý trí của con người Người dân

sẽ thực hiện pháp luật tốt hơn nếu chúng ta có một hệ thống pháp luật đầy đủ, toàn diện (hệ thống pháp luật đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng), đồng bộ (không được chồng chéo, không được mâu thuẫn nhau), và phù hợp (nội dung thực hiện pháp luật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế xã hội) Thực tế hiện nay hệ thống pháp luật của chúng ta chưa đáp ứng được những yêu cầu này, ít nhiều ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật của người dân

- Yếu tố chính trị : Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của

thực hiện pháp luật của các chủ thể, đặc biệt là các cá nhân, cơ qua nhà nước

có thẩm quyền áp dụng pháp luật Một nền chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật bởi nó củng cố niềm tin của nhân dân

và sự lãnh đạo của Đảng Ngược lại một đất nước có nền chính trị không ổn định thì sẽ khiến người dân luôn hoang mang, lo lắng, dao động…dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt

Trang 21

- Bộ máy nhà nước: Bộ máy nhà nước có ảnh hưởng nhất định đến việc thực

hiện pháp luật Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện pháp luật phải được tổ chức khoa học, phải có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng tránh chồng chéo lên nhau Nếu không rất dễn dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy lẫn nhau khi giải quyết công việc

Tóm lại các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật rất phong phú và

đa dạng Pháp luật của chúng ta muốn thực hiện được tốt thì phải phát huy vai trò của nó trên cơ sở phát huy những mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực của các yếu tố kể trên

1.4 Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.1 Khung pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.1.1 Tư tưởng chỉ đạo của Đảng về giáo dục và đào tạo

Vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo luôn được toàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo kịp thời về giáo dục và đào tạo Tại hội nghị TW4 khoá VII (tháng 01/1993) có Nghị quyết “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo” và chỉ rõ vị trí của giáo dục là quốc sách hàng đầu [15]; Nghị quyết TW2 khoá VIII (năm 1996) nêu

rõ “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển ngành giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” [16]; văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX có nêu quan điểm chỉ đạo: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” [18]; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội xác định:

Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân

Trang 22

chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội [19]

1.4.1.2 Khung pháp luật về giáo dục và đào tạo

Để tạo khung pháp lý định hướng cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo được tốt, các quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng về giáo dục và đào tạo đã được nhà nước thể chế hoá thành các quy định pháp luật cụ thể Ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục

+ Hiến pháp 1946:

Ngay khi nước Việt nam dân chủ cộng hoà mới ra đời thì giáo dục đã được nhắc đến như một vấn đề quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Cách mạng tháng 8 thành công, cùng với nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, giặc đói, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú tâm ngay đến giặc dốt Hiến pháp 1946, vấn đề giáo dục đào tạo đã được đề cập đến trong Điều 15:

Nền sơ học cưỡng bách và không học phí ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiền của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp Trường tư được mở tự

do và phải dạy theo chương trình của nhà nước [20, Điều 15]

Tuy chưa được quy định cụ thể, song nhận thức được tầm quan trọng của Giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật như Sắc lệnh số 17 ngày 08/09/1945 đặt ra một bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19

Trang 23

ngày 08/09/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 ngày 08/09/1945 quy định việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền; Sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới

+ Hiến pháp 1959: Tại bản Hiến pháp này đã có một điều luật cụ thể dành cho giáo dục, Điều 33:

Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền học tập Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường đại học và cơ quan văn hoá phát triển hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn để đảm bảo cho công dân được hưởng quyền đó [20, Điều 33]

+ Hiến pháp 1980: Giáo dục bắt đầu được tách riêng ra và đưa vào trong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn, thể hiện trong Điều 40 và 41

+ Hiến pháp 1992: Những quy định cơ bản về giáo dục thể hiện rõ tính

kế thừa Hiến pháp 1980, đồng thời là một bước phát triển tiến lên Tuy chỉ thể hiện trong 2 Điều 35 và Điều 36 những nội dung trong đó tương đối đầy đủ, hoàn thiện và sát yêu cầu thực tế

- Hiến pháp mới năm 2013: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng

đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…” [33, Điều 61]

Những văn bản quy phạm pháp luật nói trên đã kịp thời xác định khung pháp lý cho các vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục, cho vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục phù hợp từng giai đoạn

Để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường công tác thực hiện pháp luật về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 14/6/2005

Trang 24

Quốc hội đã ban hành Luật Giáo dục, có hiệu lực ngày 01/01/2006 (sửa đổi năm 2009) quy định về tổ chức và hoạt động giáo dục Luật Giáo dục là văn bản thể chế hoá đường lối giáo dục, làm cơ sở pháp lý chính cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo tại nước ta

Nhằm thực thi Luật Giáo dục được hiệu quả trên thực tế, Chính phủ và

cơ quan quản lý đã ban hành hàng loạt các văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục như: Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 hướng dẫn Luật Giáo dục, Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, Nghị định số 115/2010/NĐ-

CP ngày 24/12/2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, Nghị định số 07/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 sửa đổi Nghị định số 31/2011/NĐ-CP và các văn bản quy định về ngân sách dành cho giáo dục, chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình, mạng lưới tổ chức hoạt động, cơ sở vật chất của nhà trường, điều lệ trường, công tác giáo viên thỉnh giảng, chế độ thi đua khen thưởng và khẳng định Nhà nước thống nhất quản

lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng; ghi nhận việc xã hội hóa sự nghiệp giáo dục - Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để

tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Đồng thời pháp luật cũng đề ra các chính sách ưu tiên của nhà nước để đảm bảo phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn: trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn vượt khó học tập Nhà

Trang 25

nước dành riêng chỉ tiêu tuyển cử đối với những dân tộc thiểu số chưa có hoặc

có rất ít cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi để học sinh các dân tộc vào học trường phổ thông dân tộc nội trú…

1.4.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật, phòng ngừa, phát hiện và

xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm pháp luật để phát triển vững chắc sự nghiệp giáo dục và đào tạo, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Do đó, thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo có những đặc điểm sau:

- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo vừa mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính xã hội rộng lớn

Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo đi vào cuộc sống Các qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo là những qui tắc xử

sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan

hệ về giáo dục và đào tạo phát triển theo định hướng nhất định

Các qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo là những qui tắc xử sự của mọi công dân, của các nhà chức trách có thẩm quyền, là những qui định

về nội dung chương trình, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, về bộ máy quản lý nhà nước, là những qui định về địa vị pháp lý của các chủ thể khác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Do đó nó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm tính quyền lực của nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn

Trang 26

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội Pháp luật về giáo dục và đào tạo có tác dụng điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể và bắt buộc các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nó Do đó, pháp luật về giáo dục và đào tạo còn mang tính xã hội rộng lớn

- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc xuyên suốt của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Vì lẽ

đó nên việc tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, tổ chức và hoạt động của các đơn vị, cơ sở giáo dục phải tuân theo những qui định của pháp luật Mọi công dân xử sự với nhau theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng pháp luật một cách triệt để, phải xử sự đúng theo yêu cầu của pháp luật nói chung và pháp luật về giáo dục và đào tạo nói riêng Nguyên tắc này còn đòi hỏi mọi công dân có trách nhiệm tham gia vào quản lý các công việc của Nhà nước bằng các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý về giáo dục và đào tạo, cũng như các cơ sở giáo dục và đào tạo khác

- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo có phạm vi rộng lớn và chủ thể thực hiện rất đa dạng và phong phú

Mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều quan tâm đến giáo dục và đào tạo và chịu sự tác động của pháp luật về giáo dục và đào tạo Mặt khác, những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo đều nhằm phục vụ lợi ích thiết thân của công dân, vì thế, nói chung, pháp luật về giáo dục và đào tạo được các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện Bên cạnh đó, nó cũng được các cấp, các ngành, mọi tổ chức tích cực, chủ động tham gia chỉ đạo, quản lý, điều

Trang 27

hành làm cho giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá Có thể nói phạm vi tác động của pháp luật về giáo dục và đào tạo rất rộng lớn, tác động đến mọi thành viên trong xã hội từ cá nhân đến các tổ chức, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa trong cả nước

- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là hoạt động tích cực để thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo

Để phát triển xã hội, các quốc gia đều có các chiến lược phát triển giáo dục của mình và để thực hiện được chiến lược ấy, mỗi Nhà nước đều đặt ra những qui định của pháp luật Trong những yêu cầu đặt ra trong xây dựng pháp luật về giáo dục và đào tạo, vấn đề trọng tâm là đề ra các biện pháp nhằm thực hiện yêu cầu đó Vì vậy, việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là nhằm thực hiện các mục tiêu mà giáo dục và đào tạo đặt ra, đó là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo luôn có sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Để pháp luật về giáo dục và đào tạo phát huy hết hiệu lực, hiệu quả cần

có sự kết hợp hài hoà giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó các cơ quan quản lý nhà nước, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt trong thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng, làm nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục Do đó, Đảng

và Nhà nước ta đã quan tâm và xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục đông đảo, phần lớn có đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển giáo dục trong

Trang 28

thời kỳ mới đòi hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa để đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tránh được những hạn chế và bất cập, vươn lên thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành, thực sự làm nòng cốt trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.3 Nội dung và các hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.3.1 Nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

* Thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo

Thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo là thực hiện các qui định của pháp luật về phát triển các ngành học, cấp học, bậc học trong toàn quốc Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta cho đến nay đã bao gồm đủ các cấp học, bậc học, ngành học và phương thức giáo dục, đó là:

1 Giáo dục mầm non có: nhà trẻ và mẫu giáo;

2 Giáo dục phổ thông có: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

3 Giáo dục nghề nghiệp có: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

4 Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ là trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ [31, Điều 4]

Ngoài hệ thống các trường công lập còn có hệ thống các trường ngoài công lập bao gồm các trường bán công, dân lập và tư thục từ mầm non đến đại học

Phương thức giáo dục gồm giáo dục chính qui và giáo dục không chính qui Bên cạnh hệ thống các trường lớp chính qui, ở các địa phương đều phát triển hệ thống các trung tâm, cơ sở giáo dục không chính qui thực hiện nhiệm

vụ giáo dục thường xuyên cho mọi người, đáp ứng nhu cầu được học, được đào tạo một cách đa dạng từ xoá mù chữ, nâng cao trình độ kiến thức cho đến học nghề, học tin học và ngoại ngữ

* Thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo

Thực hiện các qui định của pháp luật về hoạt động giáo dục và đào tạo là quá trình vận động của các chủ thể pháp luật giáo dục và đào tạo trong việc

Trang 29

thực hiện các qui định, các yêu cầu của pháp luật về tổ chức giảng dạy, học tập

và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương trình của các cấp học, các hệ đào tạo; quản lý người dạy người học; tuyển sinh, cấp bằng tốt nghiệp; quản lý các nguồn lực, trang thiết bị phục vụ cho giáo dục và đào tạo

Nội dung hoạt động giáo dục và đào tạo đã được xác định trong Luật Giáo dục Nội dung này bao gồm những qui định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của các nhà trường thể hiện ở Điều 58 Luật Giáo dục năm 2005

* Thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt động của các chủ thể trong việc thực hiện các qui định của pháp luật

bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, qui hoạch, kế hoạch,

chính sách phát triển giáo dục; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về giáo dục; ban hành Điều lệ nhà trường; ban hành qui định về

tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác; qui định mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết

bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; qui chế thi cử và cấp bằng; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành giáo dục; tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục; qui định việc tặng các danh hiệu vinh dù cho những người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

Để thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục xác định các chủ thể quản lý và những nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể đó tại Điều 100 Luật Giáo dục năm 2005:

Trang 30

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục

Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

1.4.3.2 Hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực của đời sống xã hội Hình thức của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo cũng có những nét chung của các hình thức thực hiện pháp luật, đó là:

Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về giáo dục và đào tạo là hình thức thực

hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm Ví dụ: Điều 75 Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) qui định:

Nhà giáo không được có hành vi sau đây: xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của người học; gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố

ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyện của người học; xuyên tạc nội dung giáo dục; ép buộc học sinh học thêm để thu tiền [32, Điều 75]

Trang 31

Như vậy, khi nhà giáo tuân thủ những qui định trên là đã tuân thủ pháp luật về giáo dục và đào tạo

Thi hành (chấp hành) pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hình

thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Ví dụ: Điều 85 Luật Giáo dục năm 2005 qui định:

Người học có các nhiệm vụ sau đây:

1 Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;

2 Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường; chấp hành pháp luật của Nhà nước;

3 Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ và năng lực;

4 Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;

5 Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ

sở giáo dục khác [31, Điều 85]

Người học có trách nhiệm thi hành những qui định này một cách tích cực là đã chấp hành pháp luật về giáo dục và đào tạo

Sử dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hình thức thực hiện pháp

luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình Ví dụ: Khoản 3 Điều 73 Luật Giáo dục năm 2005 qui định về quyền của nhà giáo: “Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác” [31, Điều 73]

Các nhà giáo khi đảm bảo thực hiện đầy đủ chương trình, kế hoạch do nhà trường giao cho có thể tham gia hoặc không tham gia hợp đồng thỉnh giảng

và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục và nghiên cứu khác

Trang 32

Áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hình thức thực hiện pháp

luật về giáo dục và đào tạo, trong đó nhà nước (thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách) tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, hoặc tự mình căn cứ vào những qui định của pháp luật

về giáo dục và đào tạo để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Việc các cơ quan hoặc các nhà chức trách thực hiện vai trò của mình trong việc áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là việc ho đã thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục

Giáo dục và đào tạo bao gồm rất nhiều yếu tố cần phải quản lý như: vấn đề tiêu chuẩn nhà giáo; công tác học sinh, sinh viên; công tác tuyển sinh; công tác tổ chức kế hoạch đào tạo; vấn đề dạy thêm, học thêm; vấn đề thành lập cơ sở giáo dục; vấn đề thi đánh giá kết quả của người học; vấn đề quản lý văn bằng chứng chỉ….Mỗi một lĩnh vực nhà nước ta đều ban hành các văn bản luật (luật nội dung) rất cụ thể để điều chỉnh nó

Ví dụ: Để quản lý về đội ngũ nhà giáo trong ngành giáo dục, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành quy định về đạo đức nhà giáo theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 16.4.2008

Ví dụ: Điều 114 Luật Giáo dục năm 2005 qui định việc phong tặng danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú: “Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán

bộ nghiên cứu giáo dục có đủ tiêu chuẩn theo qui định của pháp luật thì được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú” [31, Điều 114]

Khi nhà giáo có đủ tiêu chuẩn trên, Nhà nước có trách nhiệm áp dụng pháp luật theo những nội dung qui định này để phong tặng các danh hiệu cho nhà giáo

Để quản lý các cơ sở giáo dục trong công tác tuyển sinh, hằng năm Bộ giáo dục và đạo tạo đều ban hành các quy chế tuyển sinh cho từng cấp học và bậc học; ban hành các văn bản quy định về tiêu chí xác định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm

Trang 33

Ví dụ thông tư số 57/2011/TT-BGD &ĐT ngày 2.12.2011 quy định về tiêu chí xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ tiến sĩ, thạc sỹ, đại học, cao đẳng

và trung cấp chuyên nghiệp Tại điều 9 của Thông tư quy định về kiểm tra và

3 Những cơ sở đào tạo thực hiện tuyển sinh vượt từ 15% trở lên so với chỉ tiêu Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông báo sẽ bị xử phạt hành chính theo các quy định hiện hành và bị trừ chỉ tiêu tuyển sinh của năm sau Số bị trừ bằng tổng số tuyển vượt của các năm trước. [6, Điều 9]

Vậy căn cứ vào các quy định hiện hành nào để các cơ quan quản lý nhà nước xử lý, hay nói cách khác là để các cơ quan làm căn cứ áp dụng pháp luật trong mỗi sự vụ cụ thể có liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo? Đó chính là Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22.10.2013 Nghị định quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục Văn bản này đựoc coi là kim chỉ nam cho hoạt động áp dụng pháp luật hiện nay trong việc thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo Tại Nghị định có nêu rất rõ đối tượng áp dụng của văn bản: đó là các cá nhân, tổ chức của Việt Nam hoặc của nước ngoài có vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo Thẩm quyển xử phạt và mức xử phạt của của chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp; của thanh tra; Quy định các mức phạt tiền và biên pháp khắc phục hậu quả trong mỗi lĩnh vực vi phạm cụ thể của ngành

Ví dụ tại khoản 2 điều 10 có quy định xử phạt về vi phạm chỉ tiêu tuyển sinh

Trang 34

Phạt tiền đối với hành vi tuyển sinh để đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc

sĩ và tiến sĩ vượt số lượng so với chỉ tiêu đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo hoặc được giao theo các mức phạt sau đây:

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tuyển vượt từ 5% đến dưới 10%;

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tuyển vượt từ 10% đến dưới 15%;

-Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi tuyển vượt từ 15% đến dưới 20%;

-Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi tuyển vượt từ 20% trở lên

-Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc giảm số lượng tuyển sinh năm sau tối thiểu bằng số lượng đã tuyển vượt đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này. [2, Điều 10].

Ví dụ, để bảo vệ quyền lợi của người học, Nghị định có quy định tại điều 21 như sau:

Vi phạm quy định về kỷ luật người học, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người học

-Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi kỷ luật buộc người học thôi học không đúng quy định

-Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, xâm phạm thân thể người học

- Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ giảng dạy từ 1 tháng đến 6

tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này

-Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật và khôi phục quyền học tập của người học đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này. [2, Điều 21].

Trang 35

Như vậy bên cạnh các quy định về luật nội dung thuộc các lĩnh vực về giáo dục và đào tạo thì Nghị định 138 được coi là văn bản về mặt hình thức, căn cứ vào đó các cơ quan quản lý, các nhà chức trách có thẩm quyền thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thông qua hình thức áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.5 Chủ thể và yêu cầu của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.4.4.1 Chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

Chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật về giáo dục và đào tạo điều chỉnh Tại Điều 1 Luật Giáo dục năm 2005 qui định phạm vi điều chỉnh như sau:

Luật Giáo dục qui định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức

và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục [31, Điều 1]

Căn cứ vào qui định trên, chúng ta thấy chủ thể của thực hiện pháp luật

về giáo dục và đào tạo là cá nhân và tổ chức

* Cá nhân

Trong tất cả các quan hệ xã hội, cá nhân bao giờ cũng là chủ thể thường xuyên và chủ yếu, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng vậy, cá nhân được coi là chủ thể đầu tiên và là chủ thể thường xuyên

Với chủ trương xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, một nền giáo dục cho mọi người, học tập suốt đời, Nhà nước ta đã tạo điều kiện cho mọi công dân có thể tham gia học tập tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, lứa tuổi của mỗi người Khi cá nhân đã tham gia học tập dù dưới bất kỳ hình thức nào thì đồng thời họ cũng trở thành chủ thể của thực hiện pháp luật về giáp dục và đào tạo, bởi khi đó họ phải thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo

Trang 36

Cá nhân - với tư cách là chủ thể của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo rất đa dạng và đông đảo, chiếm tuyệt đại bộ phận trong xã hội, bởi mấy ai trong cuộc đời lại không tham gia bất kỳ một hình thức học tập nào Điều đó có thể xảy ra nhưng chỉ chiếm số lượng hết sức khiêm tốn Chủ thể của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là cá nhân có hai loại: Loại thứ nhất là người đi học (thường được gọi là học sinh, sinh viên, học viên…); Loại thứ hai, không thể thiếu đó là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp Đây được xem là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò chủ lực, có trách nhiệm thường xuyên tiếp cận, phổ biến, giáo dục và thực hiện những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo

* Tổ chức

Chủ thể của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ngoài cá nhân còn có các tổ chức Cũng giống như cá nhân, các tổ chức với tư cách là chủ thể của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo rất đa dạng và phong phú

Ở nước ta hiện nay có các tổ chức sau đây tham gia với tư cách là chủ thể của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo:

- Các tổ chức của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo Do đó tổ chức đảng phải gương mẫu thực hiện và thông qua tổ chức của mình, giáo dục đảng viên tự giác thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo một cách nghiêm túc và triệt để

- Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội nghề nghiệp

có trách nhiệm thực hiện những qui định pháp luật về giáo dục và đào tạo

- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là chủ thể có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo Thông qua các cơ quan nhà nước, các qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo được hướng dẫn và tổ chức thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc

Trang 37

- Ngoài ra phải kể đến các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, các cơ sở đào tạo, trường học Đây được xem là các chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo nòng cốt, chủ đạo, không thể thiếu trong việc đưa pháp luật về giáo dục và đào tạo đi vào cuộc sống

Để đảm bảo thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, các chủ thể cần nắm vững nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, tuỳ thuộc điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng cụ thể mà có những hình thức thực hiện phù hợp, đảm bảo những yêu cầu của pháp luật được thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà phát triển đúng theo quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

1.4.4.2 Yêu cầu của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, tiếp tục quán triệt các quan điểm chỉ đạo về giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng XI (2013) nỗ lực phấn đấu làm cho giáo dục, đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu cả về 4 yêu cầu: đầu tư tài chính, đầu tư cán bộ, chính sách ưu tiên, tổ chức quản lý Tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo mạnh hơn, khẩn trương và hiệu quả hơn theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, đưa nền giáo dục và đào tạo nước nhà hoạt động bảo đảm chất lượng toàn diện, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thực hiện những tư tưởng chỉ đạo trên, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt động giáo dục và đào tạo Điều quan trọng là để việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo được thực hiện một cách nghiêm túc và đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 38

- Nhận thức đúng đắn và thống nhất những nội dung, quan điểm của Đảng và qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trước hết nó đòi hỏi tất cả các quan hệ xã hội quan trọng nói chung phải được điều chỉnh bằng pháp luật Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật tạo ra sự thống nhất của hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về giáo dục và đào tạo Từ

cơ sở có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ thì việc nhận thức đúng đắn

và thống nhất những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo phải được thực hiện trên phạm vi cả nước, nghĩa là ở bất cứ nơi đâu, mọi cá nhân, mọi tổ chức phải nhận thức đúng về tư tưỏng, nội dung và ý nghĩa của pháp luật về giáo dục và đào tạo để làm cơ sở cho việc thực hiện trong thực tiễn

Hiến pháp và luật là những văn bản do Quốc hội ban hành, thể hiện một cách tập trung ý chí và những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Hiến pháp và các luật là những văn bản qui phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, là cơ sở của hệ thống pháp luật, do đó các văn bản khác phải tuân thủ nghiêm túc những qui định của Hiến pháp và luật trong phạm vi cả nước

- Việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo phải chính xác

và triệt để

Pháp luật về giáo dục và đào tạo là cơ sở để thực hiện trong thực tế nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo Khi một văn bản pháp luật được ban hành đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục, có nội dung hợp pháp, phù hợp với thực tế thì nó có hiệu lực trong thực tiễn Khi văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành thì nó được thực hiện một cách chính xác, triệt để đúng với nội dung, tinh thần của văn bản Trong quá trình thực hiện pháp luật không coi nhẹ một văn bản hay một qui định pháp luật nào Để đảm bảo tính chính xác, triệt để trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và

Trang 39

đào tạo đòi hỏi các chủ thể trong mọi hoạt động của mình phải dựa trên cơ sở những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo

- Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình thực hiện những qui định của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cho nên cần phải phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo Những khiếu nại, tố cáo các vấn đề có liên quan đến giáo dục và đào tạo phải được các cấp có thẩm quyền xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn trong thời hạn theo qui định của pháp luật

- Việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo phải được kiểm tra, thanh tra và giám sát một cách thường xuyên

Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên nhằm đánh giá việc thực hiện những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo; xem xét các biện pháp hoạt động của các cấp, các ngành, cũng như phát hiện những hạn chế để từng bước củng cố bộ máy quản

lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phương pháp hoạt động để nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát giúp phát hiện những thiếu sót, yếu kém

về tổ chức và hoạt động, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục kịp thời Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát còn giúp cho việc phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những biểu hiện vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo

Trang 40

1.5 Vai trò của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.5.1 Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo góp phần tích cực đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện pháp luật Thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức (kể cả cơ quan nhà nước) và mọi công dân Việt Nam và các tổ chức, công dân nước ngoài làm việc, sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và trách nhiệm thực hiện pháp luật của công dân, tổ chức mang tính nguyên tắc do Hiến pháp qui định

Quản lý xã hội bằng pháp luật đòi hỏi nhà nước phải xây dựng và ban hành pháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của các qui phạm pháp luật không cao, chứng tỏ rằng quản lý nhà nước kém hiệu quả Vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan của việc quản lý nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Để quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhà nước phải xây dựng, ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo, làm căn cứ pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động của lĩnh vực này Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là tích cực đưa pháp luật vào cuộc sống thực tiễn góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà phát triển đúng với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta Muốn vậy, cần phải nắm vững tính chất nền giáo dục nước ta: “Nền giáo dục Việt Nam là

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Chính phủ (2007), Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2007
5. Chính phủ (2006), Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 hướng dẫn Luật Giáo dục, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 hướng dẫn Luật Giáo dục
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2006
6. Chính phủ (2010), Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2010
7. Chính phủ (2011), Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2011
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 07/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 sửa đổi Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 sửa đổi Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11/05/2011 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 75/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2013
11. C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin, I.V.Stalin (1974), Về công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin, I.V.Stalin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1974
12. Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
13. Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
14. Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
19. Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam (2011), Văn kiê ̣n Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính tri ̣ quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiê ̣n Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính tri ̣ quốc gia
Tác giả: Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
Nhà XB: Nxb Chính tri ̣ quốc gia"
Năm: 2011
20. Hà Hùng Cường (2010), Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992
Tác giả: Hà Hùng Cường
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2010
21. Hoàng Văn Thái (2013), Ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh sau một năm thực hiện “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Bản tin Ban Tuyên giáo tỉnh Bắc Ninh, số 06/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh sau một năm thực hiện “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Tác giả: Hoàng Văn Thái
Năm: 2013
22. Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật , Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
24. Lê Thị Kim Dung (2004), Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thị Kim Dung
Năm: 2004
27. Nguyễn Minh Đoan (2010), Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
28. Nguyễn Minh Đoàn (1997), Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Đoàn
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w