1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

116 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nắm được phương pháp chữa cháy tại chỗ; một số khu đô thị, khu công nghiệp, chung cư cao tầng không đảm bảo các điều kiện an toàn về phòng cháy chữa cháy như không có lối thoát nạn, khôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI PHƯƠNG LAN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI PHƯƠNG LAN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 603801

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Hoàng Anh

Trang 3

MUC LUC

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:

5 Phương pháp nghiên cứu:

6 Điểm mới của luận văn

7 Cơ cấu luận văn

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.1 Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.2 Khái niệm và hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.2.3 Chủ thể của pháp luật phòng cháy và chữa cháy

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1 Đặc điểm tình hình thành phố Hà Nội liên quan đến thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội liên quan

2.1.2 Tình hình cháy nổ 2.2.2 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức về phòng cháy và chữa cháy

Trang 4

2.2.1 Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy chữa cháy

2.2.3 Kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy và xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

2.3.4 Thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy

2.3 Hoạt động thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy tại các khu dân cư và các cơ sở 2.3.1 Hoạt động thực hiện pháp luật về phòng cháy chữa cháy tại các khu dân cư

2.3.2 Hoạt động thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy tại cơ sở

2.4 Đánh giá hoạt động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.4.2 Thành tựu đạt được

2.4.2 Khó khăn, bất cập

Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.1 Dự báo về yêu cầu phòng cháy chữa cháy trên thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên thành phố Hà Nội

3.2.1 Nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền và giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy và

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trật tự hóa,

củng cố và phát triển các quan hệ xã hội theo những định hướng mong muốn nhằm đạt được những mục đích nhất định Nhưng điều đó chỉ đạt được khi những chỉ dẫn (mệnh lệnh) của các quy định pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội, thể hiện ở hành vi hợp pháp thực tế của các tổ chức, các cơ quan, của những người có quyền hạn, chức vụ và các cá nhân Vì vậy, xây dựng một

hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện rất quan trọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là phải thực hiện chúng trong thực tế Ngày nay, song song với vấn đề xây dựng pháp luật, chúng ta càng quan tâm hơn và đề cao việc đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật trên thực tế Bởi lẽ, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật là điều kiện không thể thiếu của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân

dân, do nhân dân, vì nhân dân

Lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy là một trong những lĩnh vực xã hội có tầm quan trọng đặc biệt Bởi vì, thiệt hại về cháy nổ tuy không diễn ra hàng ngày và không phải là một vấn đề có tính thời sự như vi phạm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm…nhưng nếu các vụ cháy đã xảy ra trên thực tế thì thiệt hại về người

và tài sản là rất lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước “Thủy, hỏa, đạo tặc” vốn là một câu nói truyền miệng của ông cha ta từ ngày xưa và đến nay dường như vẫn đúng khi nguy cơ cháy, nổ luôn tiềm ẩn trong sinh hoạt, sản xuất thường ngày, luôn là sự đe dọa lớn thứ hai đến

an toàn cuộc sống của người dân và dễ đem đến những hậu quả khó lường Theo Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, trong 6 tháng đầu năm 2011, cả nước đã xảy ra 873 vụ cháy, gây thiệt hại chết 23 người, bị thương 80 người, thiệt hại về

Trang 8

tài sản trị giá 306, 551 tỷ đồng Trong đó, xảy ra 14 vụ cháy lớn, gây thiệt hại về tài sản khoảng 213 tỷ đổng Cháy rừng xảy ra 167 vụ, gây thiệt hại 1.858 ha rừng[8] Trên địa bàn thành phố Hà Nội, Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy thành phố Hà Nội vừa thống kê tình hình an toàn cháy nổ trong 8 tháng đầu năm

2011 Theo đó, tính đến ngày 15.8.2011, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 157 vụ cháy nổ, làm 5 người chết, 15 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 19,5 tỷ đồng [19] Những con số đã cho thấy một khi cháy, nổ đã xảy ra thì thiệt hại rất khó lường

Từ năm 2001, Luật Phòng cháy chữa cháy đã được ban hành và sau đó là những văn bản dưới luật quan trọng khác như: Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy, Thông tư số 04/2004/TT-BCA về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy, Nghị định số 123/2005/NĐ-

CP ngày 05/10/2005 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy…Các quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy đã phần nào đó tác động đến nhận thức và ý thức thực hiện quy định pháp luật về phòng cháy, chữa cháy của nhân dân Mặc dù vậy, đến nay, một số những quy định đã trở nên không phù hợp như các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, các quy định về bảo hiểm cháy

nổ bắt buộc…dẫn đến hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy trong nhân dân chưa cao và ý thức thực hiện pháp luật về phòng cháy chữa cháy của nhân dân luôn là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những vụ cháy, nổ Thực tiễn cho thấy rằng việc thực hiện pháp luật về phòng chữa cháy đang bộc lộ rất nhiều bất cập, ví dụ: Nhiều hộ gia đình chưa có phương tiện chữa cháy, chưa

Trang 9

nắm được phương pháp chữa cháy tại chỗ; một số khu đô thị, khu công nghiệp, chung cư cao tầng không đảm bảo các điều kiện an toàn về phòng cháy chữa cháy như không có lối thoát nạn, không có giải pháp chống cháy lan…; hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về pháp luật phòng cháy và chữa cháy chưa thường xuyên liên tục; hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy còn nhiều hạn chế, chưa có tác dụng răn đe, ngăn ngừa vi phạm pháp luật…

Với tất cả những lý do về lý luận và thực tiễn trên, đề tài “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội” mong

muốn bước đầu tiếp cận toàn diện việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy của người dân, của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong phạm

vi thành phố Hà Nội để đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, làm rõ những hạn chế, bất cập của một số quy định pháp luật về phòng cháy chữa cháy hiện hành, đưa ra giải pháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện những quy định pháp luật đó nói riêng và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng cháy chữa cháy nói chung, qua

đó góp phần nâng cao ý thức pháp luật về phòng cháy chữa cháy trên thành phố

Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy Chỉ có một số đề tài thuộc cấp trường do các giảng viên của trường Đại học Phòng cháy chữa cháy nghiên cứu ở các khía cạnh như: xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, cải cách hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy trên từng địa bàn

Trang 10

cụ thể…Có thể dẫn chứng như đề tài khoa học cấp trường “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy” năm 2011 của TS Hoàng Ngọc Hải, đề tài khoa học cấp cơ sở “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy đối với chung cư cao tầng trên địa bàn thành phố

Hà Nội theo chức năng của lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy” năm 2012 của TS Hoàng Ngọc Hải và Ths.Vũ Thị Thanh Thủy, đề tài cấp nhà nước “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy” do TS Đào Hữu Dân chủ biên…

Đề tài nghiên cứu hiện tại đang ở trạng thái mới bắt đầu, hướng đến việc tiếp cận toàn diện về quá trình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận thực hiện pháp luật nói chung của các nhà nghiên cứu đi trước và thực tiễn thực hiện pháp luật phòng cháy chữa cháy tại thành phố Hà Nội

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội và đưa ra một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn thành phố Hà Nội, thời gian từ năm 2001 đến

Trang 11

hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức về phòng cháy chữa cháy; Kiểm tra an toàn về phòng cháy chữa cháy và xử lý vi phạm về phòng cháy chữa cháy; Thẩm duyệt về phòng cháy chữa cháy

- Đối với hoạt động thực hiện pháp luật của hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức khác, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thực hiện pháp luật của những đối tượng này tại khu dân cư và các cơ sở

5 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích Trước hết trình bày những lý thuyết và sau đó là phân tích thực trạng và chứng minh bằng số liệu thực tế

6 Điểm mới của luận văn

Đề tài bước đầu mạnh dạn nghiên cứu một cách toàn diện hoạt động thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội và đưa ra một số giải pháp thực tế đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng cháy chữa cháy của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trên thành phố Hà Nội

7 Cơ cấu luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.1 Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

Ngay từ những năm sáu mươi, trong điều kiện miền Bắc bắt đầu bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên xuất phát điểm từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc với hình thức sở hữu toàn dân và tập thể; hình thức quản lý chủ yếu theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa; một số cơ sở công nghiệp mới bắt đầu được hình thành…thì công tác phòng cháy và chữa cháy đã được chú trọng như một nhiệm vụ song hành với xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Với mục đích bảo vệ tài sản của nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo

vệ trật tự an ninh chung, ngày 27 tháng 9 năm 1961, Ủy ban thường vụ Quốc hội

đã ban hành pháp lệnh số 53 quy định việc quản lý của nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy Ngay từ Điều 1, Pháp lệnh đã quy định việc phòng cháy và chữa cháy là nghĩa vụ của mỗi công dân, mỗi công dân phải tích cực đề phòng để không xảy ra nạn cháy, luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, triệt để tuân theo các quy định về phòng cháy, chuẩn bị sẵn sàng để khi cần có thể chữa cháy kịp thời và hiệu quả

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, do sự phát triển của nền kinh tế-

xã hội, đặc biệt là quá trình hội nhập, mở cửa, liên doanh liên kết với nước ngoài

để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã làm cho các đối tượng quản lý phát triển rất đa dạng với tính chất và yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy ngày càng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi ở trình độ kỹ thuật cao Sự xuất hiện các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp kỹ thuật cao; sự hình thành những ngành kinh tế mũi nhọn như: khai thác chế biến dầu mỏ khí

Trang 13

đốt, khai khoáng, điện tử, hóa chất, vật liệu xây dựng…mà đặc điểm của quá trình này là việc sử dụng và sản xuất ra ngày càng tăng các nguyên liệu, các chất

dễ cháy, đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác phòng cháy và chữa cháy Trên phương diện xã hội: việc hình thành các trung tâm đô thị lớn tập trung, các khu chung cư cao tầng và quá trình đô thị hoá nông thôn đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác phòng cháy và chữa cháy ngay từ khâu thiết kế quy hoạch đến việc bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy cho cộng đồng dân cư tại những khu

đô thị tập trung Mặt khác, đời sống của các tầng lớp dân cư ngày càng cao được chứng tỏ bằng việc sử dụng ngày càng nhiều các thiết bị, đồ dùng có giá trị kinh

tế lớn nhưng cũng ẩn chứa trong đó đặc tính nguy hiểm liên quan đến cháy, nổ Những tác động về kinh tế, xã hội tới an toàn phòng cháy và chữa cháy đã dẫn đến yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy ngày phải được nâng cao, trong đó không thể thiếu việc cần phải luật hóa các quy định về phòng cháy và chữa cháy Trong khi đó việc quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy còn nhiều bất cập, việc thực hiện trách nhiệm phòng cháy và chữa cháy của một

bộ phận những người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cơ sở, đơn vị chưa tốt Ý thức phòng cháy và chữa cháy của một bộ phận nhân dân chưa cao, thiếu nhiều điều kiện đảm bảo an toàn phòng cháy và chữa cháy Trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn nặng về lợi nhuận mà coi nhẹ việc bảo đảm an toàn về phòng cháy

và chữa cháy Phong trào quần chúng làm công tác phòng cháy và chữa cháy chưa được sâu rộng Lực lượng phòng cháy và chữa cháy tuy đã cùng toàn dân hạn chế được những thiệt hại về cháy và có những sự trưởng thành, song nhìn chung còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phương tiện trang bị cho lực lượng phòng cháy chữa cháy vừa thiếu lại vừa yếu, đặc biệt là đối với các phương tiện chữa cháy các đám cháy

Trang 14

lớn, phức tạp, cháy nhà cao tầng, cháy rừng…Nhiều vụ cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng đã xảy ra, tình hình cháy và thiệt hại do cháy gây ra có xu hướng ngày càng tăng Cơ sở hạ tầng về giao thông, nguồn nước phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là tại các thành phố lớn

Sự biến đổi khí hậu toàn cầu cũng tác động không nhỏ tới tình hình cháy, nổ Trong xu thế hội nhập, mở rộng đầu tư hợp tác với nước ngoài cũng như thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhiều công ty, các đối tác nước ngoài tiếp tục mở rộng hợp tác và đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Yêu cầu phòng cháy và chữa cháy lại liên quan hầu hết đến các lĩnh vực nên một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm là tìm hiểu các quy định về phòng cháy và chữa cháy của Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta lại thiếu những quy định về phòng cháy chữa cháy và chưa được luật hóa trong khi các nước có nền công nghiệp phát triển đều có Luật phòng cháy và chữa cháy

Trước những tình hình trên, ngày 12/7/2001, Chủ tịch nước ký Lệnh số 08 công bố ban hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và ngày 4/10/2001, Luật Phòng cháy và chữa cháy có hiệu lực thi hành Đây là nguồn cơ bản nhất của pháp luật

về phòng cháy và chữa cháy Việt Nam hiện hành Sự ra đời của Luật phòng cháy

và chữa cháy đã cho thấy vai trò quan trọng thiết yếu của công tác phòng cháy và chữa cháy So với Pháp lệnh số 53/1961/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc quản lý đối với công tác phòng cháy và chữa cháy thì Luật phòng cháy và chữa cháy đã cho thấy tính toàn diện và hệ thống hơn Trong các quy định của Luật đã đề cập đến hầu hết các vấn đề của phòng cháy và chữa cháy từ phòng cháy, chữa cháy, tổ chức lực lượng phòng cháy và chữa cháy phương tiện phòng cháy và chữa cháy đến đầu tư cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy, quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy Luật phòng cháy và

Trang 15

chữa cháy là đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy nhằm bảo đảm an toàn cháy, nổ; cho việc tổ chức, triển khai kịp thời công tác chữa cháy, cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và nhanh chóng dập tắt đám cháy, góp phần bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội

Tổng kết 10 năm thi hành Luật phòng cháy chữa cháy (10/2002- 10/2011), trong Báo cáo của Chính phủ trình bày trước Hội nghị đã chỉ rõ mục tiêu, yêu cầu cơ bản của công tác phòng cháy chữa cháy trong những năm tới là: Kiềm chế

sự gia tăng cả về số vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy lớn gây hậu quả nghiêm trọng, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [9] Mười năm qua, dưới sự lãnh đạo của cấp

ủy Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp và sự cố gắng thực hiện của các Bộ, ngành, địa phương, trong đó nòng cốt là lực lượng Công an, công tác phòng cháy và chữa cháy ở nhiều nơi đã đi vào nền nếp; phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy được đẩy mạnh và ngày càng phát triển sâu rộng; hiệu lực quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy được tăng cường…, những kết quả đó đã từng bước kiềm chế sự gia tăng về số vụ cháy và thiệt hại

do cháy gây ra trong thời gian qua, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội phục vụ sự phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước Mười năm qua là thời gian để minh chứng rằng Luật phòng cháy và chữa cháy là cơ sở lý luận quan trọng, đảm bảo hiệu quả hoạt động phòng cháy và chữa cháy của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, các nhân trong việc thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy Luật phòng cháy và chữa cháy ra đời đã góp phần nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong hoạt động phòng cháy và

Trang 16

chữa cháy đồng thời là cơ sở để xã hội hóa hoạt động phòng cháy và chữa cháy Bên cạnh đó, Luật phòng cháy và chữa cháy cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy Hiệu lực của các quy định pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy được nâng cao do Nhà nước sử dụng nhiều các văn bản luật Đây là những điều kiện tiền đề rất thuận lợi cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy Chính vì lý do này nên các quy định của pháp luật phòng cháy và chữa cháy đã từng bước phát huy được tác dụng của chúng trong thực tế

Để cụ thể hóa Luật phòng cháy và chữa cháy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy; Nghị định số 123/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy Ngay mới đây, vào tháng 5 năm 2012, Chính phủ đã ban hành tiếp hai nghị định Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP và Nghị định số 52/2012/NĐ-CP ngày 14/06/2012 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy thay thế Nghị định 123/2005/NĐ-CP Ngoài Luật phòng cháy và chữa cháy còn có các văn bản dưới luật khác có chứa đựng một số quy định về phòng cháy và chữa cháy như:

Nghị định số 64/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý vật liệu nổ công nghiệp

Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng

Trang 17

Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định về chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Quyết định số 95/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt

và thả “đèn trời”

Thông tư số 04/2004/TT-BCA ngày 31 tháng 3 năm 2004 của Bộ công an

về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 4/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy

Thông tư số 220/2006/TT-BCN ngày 29 tháng 3 năm 2005 của Bộ công nghiệp hướng dẫn quản lý, sản xuất, kinh doanh cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp

Do lĩnh vực phòng cháy chữa cháy cũng là một lĩnh vực có những đặc thù riêng về tính chất kỹ thuật nên các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy cũng thuộc hệ thống pháp luật về phòng cháy chữa cháy đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong hoạt động có liên quan đến phòng cháy chữa cháy phải chấp hành nghiêm chỉnh Các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy là những quy định khoa học nhằm đảm bảo những yêu cầu an toàn, ngăn ngừa cháy nổ xảy ra, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về công tác chống cháy lan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu người, cứu tài sản khi có cháy xảy ra Tiêu chuẩn về phòng cháy chữa cháy là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý (các thông số, chỉ số kỹ thuật…) được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để áp dụng trong hoạt động phòng cháy chữa cháy Theo Điều 6 Nghị định 35/2003/NĐ-CP thì Tiêu chuẩn về

Trang 18

phòng cháy chữa cháy là tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng gồm tiêu chuẩn Việt Nam

và tiêu chuẩn ngành có liên quan hoặc chuyên về phòng cháy chữa cháy Các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy có vai trò đặc biệt quan trọng trên góc độ pháp lý, nó chính là những quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho những quy định của luật, nghị định, pháp lệnh… được thực hiện trong thực tế có hiệu lực và hiệu quả Hiện có 06 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; 50 Tiêu chuẩn Việt Nam; 10 Tiêu chuẩn ngành; 11 Tiêu chuẩn xây dựng có liên quan đến an toàn phòng cháy chữa cháy thuộc các lĩnh vực: An toàn cháy trong xây dựng nhà, công trình, nhà cao tầng, chợ, trung tâm thương mại, kho tàng; trong sản xuất, chế biến kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, điện; các hệ thống phòng chống cháy, nổ; về trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện phòng cháy chữa cháy…Như vậy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy chữa cháy bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý và các văn bản quy phạm pháp luật quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn về phòng cháy chữa cháy được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các văn bản quy phạm pháp luật

về phòng cháy và chữa cháy như đã được nêu ở trên- trong đó quan trọng nhất là Luật phòng cháy và chữa cháy 2001

Phòng cháy và chữa cháy là nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các cơ quan,

tổ chức, cá nhân và hộ gia đình Nhà nước ta đã coi vấn đề phòng cháy và chữa cháy là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo an toàn trật tự xã hội

và phát triển kinh tế đất nước

1.2 Khái niệm và hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

Trang 19

Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [9, tr.494] Cũng theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội thì thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật [13, tr.494] Như vậy, về cơ bản, quan niệm thực hiện pháp luật trong hai cuốn giáo trình trên là tương đồng nhau và qua đó có thể thấy bản chất của thực hiện pháp luật chính là tạo lập các hành vi hợp pháp của các tổ chức và

cá nhân trong xã hội Các tổ chức và cá nhân khi gặp phải những tình huống thực

tế mà pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình sẽ chuyển hóa một cách sáng tạo các quy định pháp luật vào tình huống cụ thể của cuộc sống thông

qua hành vi hợp pháp của mình

Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy như sau: Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy là hoạt động của các cơ quan, các tổ chức, các hộ gia đình và các cá nhân nhằm đưa các quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy vào cuộc sống Nói cách khác, đó là quá trình vật chất hóa, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy Như vậy, thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy luôn là hoạt động có ý thức và mục đích rõ ràng

cháy

Trang 20

Về lý luận và thực tiễn, do Nhà nước ban hành nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cơ bản khác nhau nên việc thực hiện pháp luật được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Khoa học pháp lý xác định thực hiện pháp luật có thể được tiến hành thông qua các hình thức như tuân thủ pháp luật (hay tuân theo pháp luật), chấp hành pháp luật (hay thi hành pháp luật), sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật [9, tr.468] Cả bốn hình thức thực hiện pháp luật này gắn bó chặt chẽ với nhau và hiệu quả của chúng đều phụ thuộc vào bốn điều kiện cơ bản: trình độ phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội; mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; sự trong sạch và tinh thông của bộ máy nhà nước và trình độ ý thức pháp luật của các cá nhân, các nhóm xã hội và của cả xã hội

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật kiềm chế, không thực hiện những hoạt động mà pháp luật cấm Các quy phạm pháp luật cấm được thực hiện ở hình thức này Các quy phạm pháp luật ngăn cấm quy định những điều không được làm, khi đó các chủ thể pháp luật có ý thức tự kiềm chế mình để không làm điều pháp luật cấm Sự tự kiềm chế này phụ thuộc rất lớn vào trình độ văn hóa nói chung và trình độ ý thức pháp luật nói riêng của mỗi cá nhân Nếu trình độ ý thức pháp luật của mỗi cá nhân cao thì cá nhân đó luôn có ý thức tự kiềm chế mình để không thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm Ngược lại, khi trình độ ý thức pháp luật của cá nhân thấp thì sự kiềm chế một cách tự giác của cá nhân không thể diễn ra thường xuyên, thậm chí có lúc cá nhân đó cũng không thể tự kiềm chế mình được dẫn đến vi phạm pháp luật

Thứ hai, chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các

chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích

Trang 21

cực Nghĩa vụ pháp lý là sự cần thiết phải xử sự theo đúng quy định của pháp luật nhằm đáp ứng lợi ích của Nhà nước, xã hội và các cá nhân khác trong những hoàn cảnh, điều kiện, tình huống cụ thể mà pháp luật đã dự liệu từ trước Nghĩa

vụ pháp lý được quy định trong các quy phạm pháp luật bắt buộc và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Các quy phạm pháp luật bắt buộc chỉ được thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất thông qua những hành vi tích cực có ý thức tự giác của các chủ thể pháp luật Nhà nước yêu cầu tất cả các đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân không những thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình mà còn thực hiện các nghĩa vụ đó một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất Điều đó chỉ có thể đạt được khi có trình độ ý thức pháp luật cao của các cá nhân, các nhóm xã hội và của toàn xã hội Bất cứ hành vi nào trốn tránh nghĩa vụ pháp lý hoặc thực hiện nghĩa vụ pháp lý không đầy đủ đều bị coi là vi phạm pháp luật và chủ thể của nó bị nghiêm trị theo pháp luật

Thứ ba, sử dụng pháp luật là thực hiện các quyền mà pháp luật đã quy định

trong giới hạn cho phép của pháp luật Quyền pháp lý là khả năng mà pháp luật trao cho mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị

vũ trang nhân dân được tiến hành những hành vi nhất định trong phạm vi, giới hạn cho phép của pháp luật khi họ ở vào những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống

mà pháp luật đã trù tính từ trước Quyền pháp lý được quy định trong các quy phạm pháp luật trao quyền (hay các quy phạm pháp luật cho phép) và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Nhà nước cũng yêu cầu các chủ thể pháp luật phải thực hiện các quyền pháp lý một cách đúng đắn, có nghĩa

là chỉ được tiến hành những hành vi nhất định trong phạm vi, giới hạn cho phép của pháp luật Và điều này cũng chỉ có thể đạt được khi tồn tại một trình độ ý

Trang 22

thức pháp luật cao của cá nhân, các nhóm xã hội và của toàn xã hội Bất cứ hành

vi nào được thực hiện có ý thức mà vượt quá phạm vi, giới hạn cho phép của pháp luật đều bị coi là vi phạm pháp luật và chủ thể của nó phải bị xử lý theo pháp luật

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước,

do các cơ quan, tổ chức hoặc các cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Về thực chất, áp dụng pháp luật chính là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân được Nhà nước trao quyền nhằm tổ chức cho các cơ quan nhà nước,

tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và các cá nhân khác thực thi các quy phạm pháp luật một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất Đây là hình thức thực hiện pháp luật mang tính tổng hợp, trong đó có cả ba hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật Nhà nước đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành một cách đúng pháp luật vào từng trường hợp cụ thể, đối với những cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức cụ thể Cụm từ “đúng pháp luật” ở đây nghĩa là phải theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung mà pháp luật

đã quy định nhằm bảo đảm tính hợp lý, hợp tình và chính xác Ở đây, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, sự trong sạch và vững mạnh của bộ máy nhà nước, trình độ cao của ý thức pháp luật đóng vai trò quyết định tới hiệu quả áp dụng pháp luật Bởi vậy, việc tạo lập và nâng cao không ngừng ba tiền đề, điều kiện đó là nhiệm vụ chung của cả Nhà nước và xã hội

Tuy nhiên, nếu hiểu khái niệm “thực hiện pháp luật” như trên thì chưa phản ánh hết nội dung, thực chất của vấn đề Trên thực tế, hình thức hoạt động thực

Trang 23

hiện pháp luật phong phú, đã dạng và phức tạp hơn Bởi vậy, nên hiểu khái niệm

“thực hiện pháp luật” theo nghĩa rộng, tức là không chỉ gồm bốn hình thức là tuân theo pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật,

mà còn là các hình thức hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước Nội dung các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật cũng khá phong phú, đa dạng, phức tạp, nhưng chủ yếu là các hoạt động triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của chính mình và việc áp dụng các biện pháp tổ chức, kỹ thuật- pháp lý nhằm bảo đảm cho hoạt động đó có hiệu quả trong lĩnh vực quản lý nhà nước Cụ thể là những hoạt động như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật, huy động sức người sức của để thực thi pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; xử lý các vi phạm pháp luật theo pháp luật; sử đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật do chính mình ban hành và kịp thời đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện hành

do các cơ quan nhà nước khác ban hành; tổng kết, đánh giá việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước mà mình đảm nhiệm

Đối với lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, trước hết cần khái quát các hành vi hay các hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng cháy và chữa cháy Xuất phát điểm của việc xác định phạm vi điều chỉnh của Luật phòng cháy và chữa cháy là ở quan niệm về “cháy” Sự cháy là phản ứng ôxy hóa có tỏa nhiệt và phát sáng Song không phải tất cả các sự cháy nói chung đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng cháy và chữa cháy Theo Khoản 1 Điều 3 Luật PCCC, cháy được hiểu là: “Trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được

có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường” Như vậy, chỉ những trường hợp xảy ra cháy ngoài ý muốn, có thể gây thiệt hại về người, tài

Trang 24

sản và ảnh hưởng đến môi trường mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng cháy và chữa cháy Trong các quy định của Luật phòng cháy và chữa cháy có đề cập đến trường hợp “nổ” song cần hiểu “nổ” là do cháy nhanh, các trường hợp

nổ của vũ khí, đạn không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng cháy và chữa cháy Quan niệm về cháy, nổ như vậy là tiền đề để xem xét các hoạt động của con người trong phòng ngừa cháy nổ; trong công tác chữa cháy và các hoạt động khác có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy Các hoạt động trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy luôn là hành vi của những cá nhân, những cơ quan, tổ chức cụ thể nhằm thực hiện các quy định về phòng cháy và chữa cháy Các hành

vi trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy có thể khái quát thành các nhóm hành

cư, hộ gia đình, phương tiện giao thông cơ giới và đối với rừng; trong công tác tuyên truyền, kiểm tra, xử lý vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy

- Nhóm các hành vi trong công tác chữa cháy: tổ chức cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan; huy động lực lượng, phương tiện, tài sản để chữa cháy và đảm bảo các điều kiện chữa cháy có hiệu quả; bảo đảm các điều kiện phục vụ chữa cháy…

- Nhóm các hành vi trong công tác xây dựng lực lượng phòng cháy chữa cháy: việc tổ chức, quản lý và duy trì hoạt động của lực lượng dân phòng, lực

Trang 25

lượng phòng cháy chữa cháy cơ sở và chuyên ngành; huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ và kiến thức về phòng cháy chữa cháy, xây dựng và thực hiện các chế

độ, chính sách đối với người tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy…

- Nhóm các hành vi trong trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện phòng cháy chữa cháy, phương tiện cứu nạn cứu hộ; trong hoạt động sản xuất kinh doanh phương tiện và các dịch vụ về phòng cháy chữa cháy

- Nhóm các hành vì liên quan đến tạo nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy

Theo đó, với đối tượng điều chỉnh như trên mà Luật phòng cháy và chữa cháy và các văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành đã điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực hoạt động có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy Trong đó, có thể phân

ra thành các nhóm: Nhóm các quy định nhằm bảo đảm việc phòng ngừa cháy, nổ trong các cơ sở, khu dân cư, hộ gia đình và phương tiện giao thông cơ giới và đối với rừng; Nhóm các quy định làm cơ sở cho công tác thẩm duyệt, kiểm định, cấp giấy phép, cấp giấy chứng nhận, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy; Nhóm các quy định nhằm bảo đảm cho công tác

tổ chức chữa cháy; Nhóm các quy định là cơ sở cho công tác xây dựng lực lượng phòng cháy chữa cháy tại chỗ; Nhóm các quy định về trách nhiệm phòng cháy chữa cháy của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong phòng cháy chữa cháy

Từ những trình bày trên, có thể khái quát nội dung thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy như sau:

Tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, tức là các chủ

thể pháp luật tự kiềm chế mình để không thực hiện những hành vi mà pháp luật

về phòng cháy và chữa cháy cấm Nhà nước yêu cầu các chủ thể pháp luật phải

Trang 26

luôn luôn tự kiềm chế mình một cách chủ động và tự giác trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống luật định mà bản thân mình đang gặp phải để không thực hiện những hành vi bị pháp luật ngăn cấm trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, tránh tình trạng do sợ bị pháp luật trừng phạt mà phải tự kiềm chế mình Các hành vi bị nghiêm cấm trước hết được quy định trực tiếp tại Điều 13 Luật phòng cháy và chữa cháy bao gồm:

“1 Cố ý gây cháy, nổ làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe con người; gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng xấu đến môi trường, an ninh và trật tự an toàn xã hội

2 Cản trở các hoạt động phòng cháy và chữa cháy; chống người thi hành nhiệm

vụ phòng cháy và chữa cháy

3 Lợi dụng hoạt động phòng cháy và chữa cháy để xâm hại đến tình mạng, sức khỏe con người, xâm phạm tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân

4 Báo cháy giả

5 Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, sử dụng, mua bán trái phép chất nguy hiểm về cháy, nổ; vi phạm nghiêm trọng các quy định quản lý, sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt và các tiêu chuẩn về phòng cháy và chữa cháy đã được Nhà nước quy định

6 Thi công những công trình có nguy hiểm về cháy, nổ mà chưa có thiết kế được duyệt về phòng cháy và chữa cháy; nghiệm thu và đưa vào sử dụng công trình có nguy hiểm về cháy, nổ khi chưa đủ điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy

7 Làm hư hỏng, tự ý thay đổi, di chuyển phương tiện, thiết bị phòng cháy và chữa cháy, biển báo, biển chỉ dẫn và lối thoát nạn

8 Các hành vi khác vi phạm quy định của Luật này”

Trang 27

Chấp hành pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, các chủ thể

thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng những hành vi tích cực mà pháp luật về phòng cháy và chữa cháy đã quy định Nhà nước bắt buộc mọi chủ thể pháp luật không những phải thực hiện các nghĩa vụ phòng cháy và chữa cháy bằng hành vi tích cực của mình, mà còn thông qua hành vi tích cực ấy thực hiện các nghĩa vụ phòng cháy và chữa cháy một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất nhằm đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy Nhà nước cũng nghiêm cấm mọi hành vi trốn tránh nghĩa vụ phòng cháy và chữa cháy hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ phòng cháy và chữa cháy, gây mất an toàn phòng cháy chữa cháy; yêu cầu mọi

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy đều bị xử lý theo pháp luật

Sử dụng pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy- các chủ thể

thực hiện các quyền mà pháp luật về phòng cháy và chữa cháy quy định Nhà nước yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình khi thực hiện các quyền pháp lý của mình trong sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và các hoạt động khác của xã hội phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật về đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy Mọi hành vi thực hiện các quyền pháp lý đó nhưng không đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, gây ra cháy dẫn đến thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng đến môi trường đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy- hoạt động của

các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền nhằm vận dụng các quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy hiện hành trong từng trường hợp cụ thể, đối với những

cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được Nhà nước trao quyền phải vận dụng các quy phạm pháp luật về

Trang 28

phòng cháy và chữa cháy một cách đúng đắn, chính xác, hợp lý, hợp tình, công bằng, khách quan không chỉ trong việc bảo đảm an toàn phòng cháy mà còn trong trường hợp xử lý các vi phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy

Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân được Nhà nước trao quyền

trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật phòng cháy và chữa cháy, huy động sức người, sức của của toàn xã hội để thực thi pháp luật về phòng cháy

và chữa cháy; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy do chính mình ban hành và kịp thời đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện hành về phòng cháy và chữa cháy do các

cơ quan nhà nước cấp trên ban hành; tổng kết, đánh giá việc thực hiện pháp luật

về phòng cháy và chữa cháy…Ngoài ra, còn là các hoạt động tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy của các tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội và công dân

Có thể nói, giữa các hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự đan xen, bao chứa và gắn bó chặt chẽ với nhau, không biệt lập với nhau Các chủ thể thông thường phải cùng đồng thời tiến hành thực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, bởi pháp luật là một hệ thống, giữa các quy định pháp luật luôn có sự liên hệ, gắn bó, ràng buộc lẫn nhau nên không thực hiện quy định pháp luật này sẽ không thể thực hiện được các quy định pháp luật khác Đối với thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy, các hình thức thực hiện pháp luật cũng không tồn tại độc lập, riêng biệt Bởi lẽ, các quy phạm pháp luật trong Luật phòng cháy và chữa cháy chủ yếu thể hiện dưới dạng các

Trang 29

quy định về yêu cầu đối với phòng cháy và trách nhiệm của từng chủ thể trong phòng cháy và khi có cháy xảy ra Do vậy, khi thực hiện những quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vừa phải tuân thủ, chấp hành và sử dụng một cách có hiệu quả, đúng đắn để đảm bảo

an toàn phòng cháy chữa cháy Hay nói cách khác, với những yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy cũng như trách nhiệm của người đứng đầu mỗi cơ sở, đơn vị

đã được luật hóa, các cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vừa phải tích cực thực hiện đồng thời phải biết tự kiềm chế mình để không xảy ra cháy nổ trong sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh Các cơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật về phòng cháy và chữa cháy cũng phải tuân, thi hành và sử dụng pháp luật để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được tiến hành thuận lợi, chính xác,

đúng mục đích mong muốn

1.2.3 Chủ thể của pháp luật phòng cháy và chữa cháy

Cháy nổ luôn là một trong những nguy cơ, hiểm họa đe dọa cuộc sống của con người Một khi cháy nổ đã xảy ra thì thiệt hại về người và tài sản thường rất nghiêm trọng Do vậy, vấn đề phòng cháy và chữa cháy không chỉ đặt ra đối với

cơ quan nhà nước mà quan trọng hơn là trách nhiệm của mọi tổ chức, hộ gia đình

và cá nhân Phòng cháy và chữa cháy là hoạt động mang tính xã hội rộng lớn, vì thế phải coi đây là sự nghiệp của toàn dân, là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cơ sở, gia đình và mỗi cá nhân

1.2.3.1 Phòng cháy chữa cháy là trách nhiệm của toàn dân

Điều 5 Luật phòng cháy chữa cháy quy định trách nhiệm phòng cháy chữa cháy là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; công dân từ 18 tuổi trở lên, đủ sức khỏe, có trách nhiệm tham gia vào đội dân phòng, đội phòng cháy chữa cháy

Trang 30

cơ sở được lập ở nơi cư trú hoặc nơi làm việc khi có yêu cầu Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình là người chịu trách nhiệm tổ chức hoạt động và thường xuyên kiểm tra phòng cháy chữa cháy trong phạm vi trách nhiệm của mình, lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra hoạt động phòng cháy chữa cháy của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

và làm tốt nhiệm vụ chữa cháy Luật phòng cháy và chữa cháy đã dành hẳn một điều để quy định ngày 04 tháng 10 hàng năm là ngày “Toàn dân phòng cháy và chữa cháy” Đồng thời việc huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy được coi là một trong những nguyên tắc phòng cháy và chữa cháy Đây là sự thể hiện nhận thức rõ ràng của Nhà nước về thiệt hại từ nguy cơ cháy, nổ, đồng thời thể hiện quyết tâm sẽ áp dụng mọi biện pháp, trong đó có biện pháp quản lý và pháp lý để phòng cháy và chữa cháy trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân

Phòng cháy và chữa cháy, đặc biệt phòng cháy là mối quan tâm của toàn

xã hội, do đó về nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm phòng cháy và chữa cháy, thực thi pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy Các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân theo pháp luật Việt Nam về phòng cháy và chữa cháy Công tác phòng cháy chữa cháy là công tác toàn dân đã được khẳng định trong bốn nguyên tắc cơ bản về phòng cháy và chữa cháy được quy định tại Điều 4 Luật phòng cháy chữa cháy: “1 Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy; 2 Trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy lấy phòng ngừa là chính; phải tích

Trang 31

cực và chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây ra; 3 Phải chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện khác để khi có cháy xảy ra thì chữa cháy kịp thời, có hiệu quả; 4 Mọi hoạt động phòng cháy và chữa cháy trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ” Các nguyên tắc này là một thể thống nhất có quan hệ chặt chẽ với nhau và xuyên suốt trong các quy định của Luật phòng cháy chữa cháy, đòi hỏi các chủ thể quản lý, cũng như các

cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh Phòng cháy và chữa cháy là hai nhiệm vụ không thể tách rời nhau, chúng luôn có mối quan hệ mật thiết Mục đích phải đạt là không để cháy xảy ra, nên ý thức phòng cháy phải luôn được đề cao, các biện pháp phòng cháy phải được thực hiện nghiêm ngặt trong cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và mỗi cá nhân, nó sẽ hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy có thể xảy ra; đồng thời phải luôn sẵn sàng chữa cháy và chữa cháy kịp thời là yếu tố quyết định đến sự hạn chế tổn thất về người

và tài sản Cho nên phòng cháy và chữa cháy phải được kết hợp chặt chẽ, trong

đó phải lấy phòng cháy làm chính

1.2.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy

Để thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các nội dung quản lý về phòng cháy và chữa cháy, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy theo quy định tại Điều 58 Luật phòng cháy và chữa cháy bao gồm hai loại: các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn

Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung đến địa phương Cụ thể là Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp

Trang 32

Đối với Chính phủ, theo khoản 1 Điều 58 Luật phòng cháy và chữa cháy,

“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy”

Đối với Ủy ban nhân dân các cấp, theo quy định của Luật phòng cháy và

chữa cháy và Nghị định số 35/2003/NĐ-CP của Chỉnh phủ, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm sau:

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện:

+ Ban hành các quy định về phòng cháy và chữa cháy tại địa phương; + Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy tại địa phương; xử lý hành chính các vi phạm về phòng cháy chữa cháy theo thẩm quyền;

+ Hướng dẫn, chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy chữa cháy, xây dựng phong trào quần chúng tham gia phòng cháy chữa cháy;

+ Đầu tư ngân sách cho hoạt động phòng cháy chữa cháy, trang bị phương tiện phòng cháy chữa cháy;

+ Quy hoạch địa điểm, đề xuất cấp đất và xây dựng doanh trại cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ;

+ Chỉ đạo việc xây dựng và thực tập phương án chữa cháy cần huy động nhiều lực lượng, phương tiện tham gia;

+ Chỉ đạo tổ chức chữa cháy và khắc phục hậu quả vụ cháy;

+ Thống kê báo cáo ủy ban nhân dân cấp trên, Chính phủ và Bộ Công an

về phòng cháy chữa cháy

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã:

+ Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy tại địa phương; bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng

Trang 33

cháy chữa cháy đối với khu dân cư; xử lý hành chính các vi phạm về phòng cháy chữa cháy theo thẩm quyền;

+ Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy chữa cháy; xây dựng phong trào quần chúng tham gia phòng cháy chữa cháy;

+ Tổ chức quản lý các đội dân phòng tại các thôn, ấp, bản, tổ dân phố; + Đầu tư kinh phí cho hoạt động phòng cháy chữa cháy; trang bị phương tiện phòng cháy chữa cháy cho các đội dân phòng theo quy định;

+ Đảm bảo các điều kiện phục vụ chữa cháy: thông tin báo cháy, đường giao thông, nguồn nước chữa cháy;

+ Chỉ đạo việc xây dựng và thực tập phương án chữa cháy;

+ Tổ chức chữa cháy và giải quyết hậu quả vụ cháy;

+ Thống kê, báo cáo về phòng cháy chữa cháy lên ủy ban nhân dân cấp huyện

Cơ quan chuyên môn, cụ thể là Bộ Công an Bộ Công an được Chính phủ

giao nhiệm vụ thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về lĩnh vực quản

lý này Nhiệm vụ cụ thể của Bộ Công an trong quản lý nhà nước về phòng cháy

và chữa cháy được quy định tại Nghị định 35/2003/NĐ-CP như sau:

- Để xuất và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phòng cháy và chữa cháy trên phạm vi toàn quốc;

- Đề xuất ban hành hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy; hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy;

Trang 34

- Hướng dẫn, chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy và chữa cháy, xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy;

- Thực hiện công tác thanh tra chuyên ngành về phòng cháy và chữa cháy; giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy trong phạm vi thẩm quyền;

- Thực hiện thẩm duyệt về phòng cháy và chữa cháy đối với các dự án, thiết kế; nghiệm thu công trình xây dựng về phòng cháy và chữa cháy; kiểm định, cấp và thu hồi giấy chứng nhận an toàn và đủ điều kiện về phòng cháy và chữa cháy;

- Thực hiện công tác điều tra, xử lý vụ cháy và xử lý các vi phạm quy định

về phòng cháy và chữa cháy;

- Hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thường trực sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và thực tập phương án chữa cháy; thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn hàng ngày;

- Xây dựng dự án đầu tư trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy; ban hành các quy định về trang

bị, sử dụng phương tiện phòng cháy chữa cháy;

- Xây dựng lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và tổ chức đào tạo cán bộ chuyên môn về phòng cháy chữa cháy;

- Tổ chức nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học công nghệ về phòng cháy và chữa cháy;

- Tổ chức hệ thống thông tin quản lý, chỉ huy, điều hành, hoạt động phòng cháy chữa cháy;

Trang 35

- Tổ chức và kiểm tra hoạt động bảo hiểm cháy, nổ gắn với hoạt động phòng cháy chữa cháy

Cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy thuộc Bộ Công an là lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy bao gồm: Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, các Sở cảnh sát

phòng cháy chữa cháy và các phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh Đây là lực lượng nòng cốt trong quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy

Lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy có các chức năng: Tham mưu, đề xuất cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản, tổ chức, chỉ đạo hoạt động phòng cháy chữa cháy; Thực hiện quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy; Thường trực sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ hàng ngày Theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 35/NĐ-CP của Chính phủ thì

tổ chức bộ máy lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy bao gồm:

- Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ thuộc Tổng cục cảnh sát quản lý hành chính, là cơ quan tham mưu cho Tổng cục Cảnh sát quản

lý hành chính, là cơ quan tham mưu cho Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính

và Bộ trưởng Bộ công an, tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về phòng cháy chữa cháy và chỉ đạo nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn trong phạm vi cả nước

- Các Sở Cảnh sát phòng cháy chữa cháy trực thuộc Bộ Công an là cơ quan tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công an, Thành ủy (Tỉnh ủy), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố về bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy, quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy trên địa bàn tỉnh, thành phố; trực tiếp thực hiện công tác

Trang 36

phòng cháy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ hàng ngày; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Các phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy là cơ quan chuyên môn, tham mưu, giúp việc cho Giám đốc Công an tỉnh chỉ đạo và tổ chức thực hiện các mặt công tác phòng cháy và chữa cháy và là cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong phạm vi địa bàn tỉnh

Trong phạm vi, nhiệm vụ quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ

có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an tổ chức thực hiện các quy định về phòng cháy và chữa cháy.Việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng và

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc thực hiện phòng cháy và chữa cháy rừng theo quy định của Chính phủ

Tất cả các hoạt động nêu trên của các chủ thể thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy đều có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất và đều nhằm thực hiện nhiệm vụ cơ bản là bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy Các hoạt động này đều hướng tới mục tiêu là bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tài sản và sức khỏe của nhân dân, bảo vệ trật tự và an toàn xã hội

Trang 37

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1 Đặc điểm tình hình thành phố Hà Nội liên quan đến thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội liên quan

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, nơi tập trung đầu não các cơ quan của Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành; có trên 165 các Đại sứ quán, Lãnh sự quán, cơ quan ngoại giao và các tổ chức Quốc tế; nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội của Thủ đô và đất nước Tháng 8/2008, thực hiện Nghị quyết 15/NQ của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính của Thủ đô đến nay Hà Nội

có diện tích 3.344,7 km2, dân số 6,3 triệu người, 29 quận, huyện, thị xã với địa hình đan xen giữa đồng bằng, miền núi và bán sơn địa

Thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội và sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, trong những năm qua, Hà Nội không ngừng được phát triển, mở rộng cả về quy mô và diện tích, đời sống của người dân được cải thiện, giao lưu quốc tế được mở rộng Hàng trăm công trình, dự án khách sạn, tổ hợp văn phòng, nhà chung cư cao tầng, nhiều công trình đa năng cao tầng, với nhiều tầng hầm đã và đang được xây dựng đưa vào hoạt động; hàng chục các khu công nghiệp, khu chế xuất lớn, nhỏ, hàng trăm làng nghề truyền thống trong đó có nhiều làng nghề hoạt động sản xuất, kinh doanh có nguy cơ cháy, nổ cao Với sự gia tăng cơ học về dân số và các phương tiện giao thông…cùng với các hoạt động, sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển với nhiều thành phần kinh tế…do vậy, công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trên địa bàn Thủ

đô có vị trí hết sức quan trọng

Trang 38

Hoạt động phòng cháy và chữa cháy trên Thủ đô luôn được Đảng, Nhà nước, cán bộ, các ngành trung ương quan tâm chỉ đạo Luật phòng cháy và chữa cháy được thi hành, các văn bản dưới Luật, các Quy chuẩn, Tiêu chuẩn, quy định ngày càng hoàn chỉnh đã từng bước được phát huy hiệu lực góp phần đảm bảo an ninh chính trị- trật tự an toàn xã hội phục vụ sự phát triển đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội của Thủ đô Thực hiện Quyết định 2324/QĐ-TTg ngày 30/12/2010 của Thủ tướng chính phủ, ngày 1/7/2011 Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy thành phố Hà Nội chính thức đi vào hoạt động Việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ trên địa bàn Thủ đô được đầu tư trên các lĩnh vực tăng hơn so với Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy trước đã khẳng định một bước phát triển vượt bậc của lực lượng

vị thuộc thành phần kinh tế tư nhân, khi xảy ra cháy thường cháy lớn, gây hậu quả nghiêm trọng (số vụ cháy lớn chỉ chiếm từ 1-2% nhưng thiệt hại chiếm

Trang 39

khoảng 80 đến 85%) Nguyên nhân cháy do điện chiếm tỷ lệ cao, bình quân chiếm 60-65%, do sơ xuất khi sử dụng tia lửa chiếm tỷ lệ từ 25%- 30%, còn lại

là do các nguyên nhân khác So sánh giai đoạn 5 năm từ 2006-2011 với 5 năm trước đó (2001-2005) cho thấy thiệt hại về vật chất do cháy gây ra có chiều hướng tăng mạnh (293,2 tỷ/65,2 tỷ), tăng 40%

2.2 Hoạt động thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

2.2.1 Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy chữa cháy

Để đưa Luật phòng cháy chữa cháy đi vào cuộc sống, điều quan trọng là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những văn bản nhằm cụ thể hóa các yêu cầu của Luật thành các quy định để tổ chức thực hiện trong công tác phòng cháy chữa cháy của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và trong toàn xã hội Xây dựng hệ thống pháp luật về phòng cháy chữa cháy đầy đủ, đồng

bộ, có tính khả thi cao là trách nhiệm trước hết của các chủ thể quản lý nhà nước

về phòng cháy chữa cháy và là một trong những vấn đề cốt yếu của quá trình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy Vì vậy, điểm a và b Khoản 1 Điều 27 Nghị định 35/2003/NĐ-CP đã quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có nhiệm vụ: Ban hành các quy định về phòng cháy và chữa cháy tại địa phương; tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

về phòng cháy chữa cháy tại địa phương”

Trong việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, thành phố Hà Nội được coi là một trong những địa phương chủ động và tích cực, biểu hiện như: Sau khi Luật phòng cháy và chữa cháy có hiệu lực, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã có

Trang 40

Chỉ thị số 31/2001/CT-UB về tăng cường chỉ đạo các cấp, các ngành, các đơn vị,

cơ sở của thành phố triền khai thực hiện Luật phòng cháy và chữa cháy Ngày 30/6/2003, Ủy ban nhân dân thành phố có Quyết định số 75/2003/QĐ-UB phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở vật chất lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy đến năm 2010 và phương hướng đến năm 2020 Đến nay đã phê duyệt quy hoạch mạng lưới và cơ sở vật chất cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Ngày 09/12/2010, Ủy ban nhân dân thành phố tiếp tục có kế hoạch số 162/KH-UBND về thực hiện Chỉ thị số 1634/CT-TTg ngày 31/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm trong công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ [25]

Qua việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm

pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã tập trung giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy tại Thủ đô đồng thời thực hiện kiên quyết các quy định của pháp luật

về yêu cầu đảm bảo giải pháp phòng cháy chữa cháy các khu dân cư trong phố

cổ, quy định quy hoạch phát triển các làng nghề truyền thống có nguy cơ cháy nổ cao, quy định đảm bảo phòng cháy chữa cháy tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, quy định về cấm sản xuất, kinh doanh, đốt thả các loại đèn trời có nguy cơ gây cháy, nổ…Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo lực lượng phòng cháy chữa cháy phối hợp chặt chẽ với các Sở, ban, ngành, các đoàn thể quần chúng triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy về đấu tranh ngăn chặn cháy lớn, các hoạt động của Tiểu ban tìm kiếm cứu nạn khi xảy ra thảm họa cháy nhà cao tầng, khu đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy; đẩy mạnh hoạt động

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w