Tính cấp thiết của đề tài Đề tài luận văn thạc sĩ Luật học: "Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma túy qua thực tiễn Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa" được nghiên cứu bởi những lý d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỮ THỊ PHƯƠNG QUÝ
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY
(QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT TỈNH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư
liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2KIỂM SÁT NHÂN DÂN
ở thế giới và Việt Nam
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của chế định Viện kiểm sát trong bộ
máy nhà nước Việt Nam
29
CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY QUA THỰC TIỄN Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
34
2.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 34
Trang 32.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 34 2.1.2 Tội phạm hình sự và ma túy 38 2.2 Quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án ma túy tại
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
2.2.2.2 Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án
hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
57
2.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quyền công tố trong
việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy
69
2.3.1 Đánh giá chung về kết quả và tồn tại trong công tác thực
hành quyền công tố trong các vụ án hình sự
69
2.3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án hình sự
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài luận văn thạc sĩ Luật học: "Quyền công tố trong các vụ án
hình sự về ma túy (qua thực tiễn Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa)" được
nghiên cứu bởi những lý do cấp thiết sau:
Thứ nhất: Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình
hiện nay đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo
về pháp luật trong đó có việc tăng cường chất lượng thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa Đây là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 08/NQ/2002 ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ:
"Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan
tư pháp" [9] Bên cạnh đó Nghị quyết còn nhấn mạnh:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… [9]
Việc thực hành quyền công tố ở Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tích trong việc trừng trị
Trang 5tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân Tuy nhiên so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm còn nhiều hạn chế về cả nhận thức và thực tiễn
Thứ hai, vấn nạn về ma túy đang là một vấn đề nhức nhối ảnh hưởng
lớn đến cuộc sống, sinh hoạt của toàn nhân loại Ma túy đã gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự trường tồn của toàn dân tộc Toàn thế giới hiện nay có khoảng 100 triệu người nghiện ma túy, ở Việt Nam trong 5 năm qua có 783.339 người nghiện ma túy Đáng lo ngại là ma túy đã tràn lan vào cả các trường học từ cấp tiểu học trở lên Theo thống kê 63/63 tỉnh thành đều có học sinh, sinh viên sử dụng ma túy Sản xuất và buôn bán
ma túy mạng lại siêu lợi nhuận nên đây là nguyên nhân thúc dẩy sự gia tăng
số người nghiện ma túy và tội phạm về ma túy năm trước lớn hơn năm sau
Đối với địa bàn tỉnh Thanh Hóa là một tỉnh rộng, địa hình phức tạp, đường biên giới với nước bạn Lào dài Dân số đông dẫn đến số người nghiện
ma túy cũng nhiều Do vậy tình hình tội phạm về ma túy đang là một trong những vấn đề nhức nhối Mặc dù tỉnh Thanh Hóa chỉ là địa điểm trung chuyển ma túy nhưng hàng năm cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn và tội phạm về ma túy vẫn diễn ra đầy cam go và phức tạp, đôi khi nó lấy đi cả tính mạng của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đối mặt với tội phạm ma túy Hàng năm
cơ quan chức năng đã phát hiện bắt giữ, xử lý hàng chục nghìn vụ vi phạm và tội phạm về ma túy, triệt phá nhiều đường dây ma túy lớn hoạt động nhiều năm, xóa nhiều tụ điểm ma túy phức tạp làm thay đổi tình hình ở một số địa bàn Hàng năm các cơ quan tiến hành tố tụng đã đưa ra xét xử nghiêm minh một số lượng rất lớn các vụ án ma túy, đưa một số lượng lớn các đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện Thông qua đó góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân đối với cuộc đấu tranh về tội phạm này
Trước sự gia tăng đến mức lo ngại của tội phạm ma túy, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn chặn
Trang 6và đẩy lùi, tiến tới loại trừ loại tội phạm nguy hiểm này ra khỏi đời sống
xã hội, tuy nhiên việc giải quyết các vụ án ma túy đang còn gặp nhiều khó khăn cả về lý luận và thực tiễn bởi tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, quá trình giải quyết án chia thành nhiều giai đoạn khác nhau do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn Việc quản lý chỉ đạo điều hành đối với công tác này còn có những thiếu sót nhất định
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu này Trên cơ sở đó làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đề ra những giải pháp cơ bản giúp cho việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có chất lượng, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở tỉnh Thanh Hóa
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong chính thể nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Trên cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên hệ việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa Qua
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố dưới góc độ hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo các bản Hiến pháp
- Việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam
Trang 7- Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức để qua đó nâng cao chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt Nam nói chung
và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng
3 Phương pháp tiếp cận vấn đề
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước nói chung, tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp nói riêng; quan điểm về đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta Các học thuyết chính trị, pháp lý về tổ chức hoạt động của cơ quan tư pháp trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Lý luận chung về nhà nước pháp luật, chủ nghĩa Hiến pháp và các khoa học pháp lý liên quan Bên cạnh đó luận văn còn nghiên cứu dựa trên những quy định của pháp luật hình
sự và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta từ khi thành lập đến nay
Từ những cơ sở lý luận trên, luận văn tiếp cận vấn đề trên cơ sở phương pháp luận của duy vật lịch sử và các phương pháp khác so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát thực tiễn nhằm làm rõ các nội dung cần nghiên cứu
4 Ý nghĩa của luận văn
Những nội dung nghiên cứu của luận văn là một đóng góp nhỏ trong việc nhìn nhận và đánh giá hoạt động của cơ quan Viện kiểm sát trong đó
có chức năng thực hành quyền công tố Qua đó có cái nhìn đúng đắn
về hoạt động này trong thực tiễn để thấy rõ được vai trò của Viện kiểm sát trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự nói chung và tội phạm
về ma túy nói riêng
Trang 8Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW
và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu lý luận cũng như áp dụng vào thực tiễn giải quyết các
vụ án hình sự về ma túy
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Chương 2: Tình hình tội phạm và thực trạng quyền công tố trong các
vụ án hình sự về ma túy qua thực tiễn ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trang 91.1.1 Cơ quan tư pháp trong chính thể nhà nước
Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công
và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, quyền tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội Vì vậy, cơ quan tư pháp bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các
cơ quan, tổ chức tư pháp bổ trợ như: Luật sư, Công chứng, Giám định, Tư vấn pháp luật
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Một nền tư pháp kiểu mới - nền tư pháp nhân dân đã từng bước được thiết lập Gần 60 năm qua, các cơ quan tư pháp đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, đã đóng góp không nhỏ vào thắng lợi chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Các cơ quan tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo đơn vị hành chính, có sự phân công chỉ đạo từ trung ương đến địa phương và hoạt
Trang 10động theo chế độ thủ trưởng chế Mặc dù đã trải qua mộ thời gian dài tồn tại
và phát triển nhưng cho đến nay các cơ quan tư pháp vẫn còn mang đậm bản chất phong kiến, bao cấp chưa chưa nghiêng hẳn về chức năng bảo vệ công lý của mình Tòa án không phải là cấp xét xử cuối cùng mà vẫn phải chịu sự giám sát của các cơ quan nhà nước khác
Hoạt động tư pháp là hoạt động có mục đích chung nhằm "bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân" [24, Điều 126] Vì vậy, các
cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và điều tra đều là những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân, là những bộ phận không thể thiếu của bộ máy nhà nước
Với các mục đích như thế, các cơ quan tư pháp chính là cơ quan bảo
vệ pháp luật bằng cách áp dụng luật của Quốc hội và các văn bản pháp quy để giải quyết các vi phạm pháp luật, các tội phạm và các tranh chấp xảy ra trong đời sống của bản thân bộ máy nhà nước và xã hội Có thể xem các cơ quan
tư pháp như những bộ phận chuyển tải quyền lực nhà nước chứa đựng trong pháp luật vào đời sống xã hội qua việc giải quyết các vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích thiết thân của những con người cụ thể Nếu như "lực" thể hiện đầy đủ, đúng đắn và chính xác qua hoạt động lập pháp và lập quy, nhưng hệ thống truyền lực qua hoạt động của các cơ quan tư pháp không tốt, thì lực đó không đi vào cuộc sống và không trở thành hiện thực Nói cách khác, hoạt động tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thân, quan trọng nhất đối với con người như danh dự, nhân phẩm,
tự do, tài sản và cả tính mạng Bằng cách đó mà pháp luật vì con người, cho con người, đề cao các quyền con người trở thành hiện thực
Hoạt động của Tòa án và Viện kiểm sát quan hệ thiết thân đến con người Họ đòi hỏi Tòa án và Viện kiểm sát phải là biểu tượng điển hình của
Trang 11việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải thể hiện trực tiếp tính chất dân chủ
và công khai trong hoạt động Trong tất cả các khâu của quá trình bảo vệ pháp luật, Tòa án và Viện kiểm sát là nơi biểu hiện rõ nhất bản chất của pháp luật
Ở đó, con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, "thiện" và "ác" một cách trực tiếp và cụ thể qua các vụ việc cụ thể Ở đó, còn là "mảnh đất" kích thích sự hoàn thiện và phát triển pháp luật vì con người và cho con người
Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cho thấy, hệ thống tư pháp hiện nay ở nước ta chưa đảm đương được đầy đủ vị trí, vai trò nói trên Có thể nói,
ở tất cả các khâu từ điều tra, truy tố, đến xét xử và phòng ngừa, hệ thống
tư pháp chưa thực sự là một hệ thống vận dụng và áp dụng thành thạo pháp luật Trong nhiều trường hợp, quyền lực nhà nước bị biến dạng qua hoạt động
cụ thể của Tòa án và Viện kiểm sát Uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật giảm sút trong dư luận của quần chúng Vì vậy, tiếp tục đổi mới, cải cách hệ thống các cơ quan tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi phải nâng cao năng lực áp dụng pháp luật và năng lực đề xuất, kiến nghị sáng kiến đổi mới và hoàn thiện
hệ thống pháp luật vì con người, cho con người đối với đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của quyền công tố
Việc nghiên cứu so sánh lịch sử tư pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố - hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước hay của xã hội) đối với người phạm tội - đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người Chẳng hạn, ở nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng - công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tư tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó);
Trang 12còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nước chiếm hữu nô lệ, thì công tố đã được tiến hành đối với cả các vụ án quan trọng nhất trực tiếp xâm hại (hoặc đe dọa nghiêm trọng) đến trật tự xã hội - các lợi ích công cộng, khác với các vụ án động chạm đến các lợi ích cá nhân
Như vậy "quyền công tố" đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã hội loài người Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật Khi mới có Nhà nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có những thay đổi: Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với nhau; chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống của cá nhân Từ
đó, vai trò công tố càng được đề cao trong xã hội
Tại Việt Nam, khoa học luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định "quyền công tố" chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công
tố Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện Tuy nhiên, hiểu thế nào là "công tố", "quyền công tố", bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất chung
Có quan điểm cho rằng, công tố là "hoạt động tố tụng đối với các vụ án
mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước
khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật"
Theo Từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án"
Trang 13Từ điển Luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính thức nội dung quyền công tố Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố Nhưng
về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về quyền công tố như sau:
- Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001) Quan điểm này xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền công tố; theo
đó, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố Có nghĩa là ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị, yêu cầu các
cơ quan nhà nước khắc phục, sửa chữa những sai phạm của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội thì đó cũng là hoạt động thực hành quyền công tố Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành Cơ sở lập luận của quan điểm này chủ yếu dựa vào nội dung các điều luật được quy định trong
Trang 14Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 Mặt khác, quan điểm này cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tố tụng hình sự Liên
Xô trước đây
- Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) Quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự
Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền công tố Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát tại Tòa án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
- Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật Quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố là một nội dung của hoạt động chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất
Đây là quan điểm được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong
Trang 15các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết trước đây của ngành Kiểm sát Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động
Những quan điểm nêu trên về quyền công tố đều có sự hợp lý ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên mỗi quan điểm đều có những nội dung còn bất cập, thể hiện:
- Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công
tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân
sự, hành chính, kinh tế, lao động
- Hoặc là coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công
- Hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Mặt khác, các quan điểm đó đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Nhiều quan điểm cho rằng hai chức năng của Viện kiểm sát (công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật) vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại,
bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời; tạo nên sự thống nhất trong chức năng của Viện kiểm sát
Bên cạnh đó, để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật
Trang 16cụ thể Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự Tội phạm là vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội (an ninh, trật tự xã hội), sau đó mới đến lợi ích của người bị hại Nhà nước nhân danh xã hội dành cho mình quyền trừng trị kẻ phạm tội
Trong hoạt động tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng tố tụng
cơ bản, đó là chức năng buộc tội (kết quả điều tra xác minh hành vi phạm tội), chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử
Với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân
cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chức năng buộc tội thực chất chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội Trong chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng; nó thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự Khi
đề cập đến vị trí, vai trò của Công tố viên thì các nhà làm luật nước ngoài thường gọi họ là "người buộc tội nhân danh Nhà nước", dịch ra tiếng Việt
là "công tố"
Cùng với thời gian, quyền công tố đã dần dần được hình thành một cách riêng biệt và đến hôm nay nó là một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự của các Nhà nước pháp quyền Để hiểu
rõ "quyền công tố" thực sự như thế nào, chúng ta có thể thấy
- Trước hết, về mặt lập pháp: cụm từ "quyền công tố" chính thức được ghi nhận lần đầu tiên về mặt hiến định trong Hiến pháp năm 1980 (Điều 138)
và hiện nay - trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 137), ngoài ra cụm từ này còn được đề cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 23) và trong Luật
Trang 17ngày 8-10-1992 về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (các điều 15-16) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước ta (từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao) chính thức giải thích nội dung của quyền công tố
- Về mặt thuật ngữ: theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do GS Hoàng Phê chủ biên, thì công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án" [18, tr 204]
- Về mặt thực tiễn: hoạt động điều tra đúng pháp luật là điều kiện tiên quyết và là tiền đề đảm bảo pháp chế cho việc tiến hành tốt hai chức năng của quyền công tố tương ứng trong hai giai đoạn tiếp theo sau đó - truy tố bị can trước pháp luật và buộc tội bị cáo tại phiên tòa xét xử của Tòa án Và chính vì vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật Tố tụng hình sự của nước ta cho thấy, khi thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát cũng tiến hành cả chức năng đầu tiên
và độc lập của quyền này - kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra (mà điều này trên thực tế cũng được nhà làm luật nước ta giao cho Viện kiểm sát)
Hiện nay trong thực tiễn tư pháp hình sự và trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn còn có sự nhận thức chưa đúng hoặc chưa thống nhất về khái niệm "quyền công tố" Chính vì lẽ đó, nhiệm vụ làm sáng tỏ những vấn đề xung quanh khái niệm này là không đơn giản
Tuy vậy, đứng dưới góc độ của pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng có thể khái quát được định nghĩa của khái niệm quyền công
tố như sau: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng do luật tố tụng hình sự quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm góp phần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự
Trang 18Trên cơ sở khái niệm khoa học này, có thể làm sáng tỏ về mặt lý luận bản chất pháp lý, nội dung và các đặc điểm cơ bản của từng chức năng của quyền công tố, đồng thời từ đó khẳng định vị trí hợp lý của Viện kiểm sát trong bộ máy quyền lực nhà nước
Việc phân tích các quy định của luật thực định (Điều 137 Hiến pháp năm 1992, các Điều 15-16 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, và các Điều 23, 141-144, 156, 164, 169-170, v.v… Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) và nghiên cứu thực tiễn tư pháp hình sự cho thấy, quyền công tố mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp - khi nó được hiểu là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện trên cơ
sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự các chức năng truy tố và buộc tội trước Tòa án người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình
sự cấm; và nghĩa rộng - khi nó được hiểu là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội trước Tòa án người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Từ hai cách hiểu này, chúng ta cần phải lần lượt tìm hiểu xem nội dung của quyền công tố mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) nào của quá trình tố tụng hình sự và tương ứng với việc thực hiện các chức năng nào
Trước hết, nếu như chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, thì nội dung của quyền công tố chỉ được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm và vụ án hình sự được chuyển sang Viện kiểm sát để truy tố người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án và chấm dứt sau khi Tòa án xét xử xong với việc tuyên một bản
án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức là trong hai giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự - truy tố bị can và buộc tội bị cáo của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử của Tòa án Hai giai đoạn này tương ứng với việc thực hiện hai chức năng của Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước -
Trang 19chức năng truy tố và chức năng buộc tội Các chức năng của quyền công tố trong luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ, thống nhất và biện chứng với nhau, mà nếu không thực hiện tốt bất kỳ một chức năng nào, thì sẽ dẫn đến tình trạng không đồng bộ, thiếu sự nhất quán và do đó, quyền công tố sẽ không thể đạt được hiệu quả và mục đích cao cả của nó
1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Mô hình hoạt động của cơ quan công tố trên thế giới
1.2.1.1 Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) theo hệ thống luật pháp Châu Âu - lục địa và Luật Anh - Mỹ
Mô hình Nhà nước quân chủ Anh quốc, được coi là xuất phát điểm
của mọi mô hình tổ chức nhà nước hiện nay Có thể nói rằng, mọi thể chế dân chủ đương đại đều có gốc tích từ Anh quốc Anh quốc có thể được xem như là quê hương của các thiết chế dân chủ cổ điển Điều kỳ lạ là ở chỗ, các thiết chế của nhà nước Anh quốc được hình thành và tồn tại cho mãi đến hiện nay, là kết quả của một sự vận động dần dần từng bước một của lịch sử thực tế, như
"một bức tường gạch được xây nên, theo một nguyên tắc hết viên gạch thứ nhất, rồi mới được viên gạch thứ hai, không có điều ngược lại", không theo một lý thuyết nào cho trước
Nước Anh không có một bản hiến pháp thành văn giống như nhiều nước khác Hiến pháp Anh là một kiểu hiến pháp bất thành văn, mà nguồn của nó là các thông lệ truyền thống, các đạo luật của nghị viện Anh và pháp luật của Liên minh Châu Âu Sự độc đáo và linh hoạt này lý giải một phần việc áp dụng cơ chế phân quyền "mềm" giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước, thiên về xu hướng hợp nhất quyền lực hơn là phân chia quyền lực rạch ròi Viện công tố Hoàng gia Anh và Tòa án tối cao của Anh là cơ quan tư pháp của Anh Viện công tố Hoàng gia Anh do Viện trưởng Viện công tố
Trang 20đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và hoạt động dưới sự giám sát của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Tuy nhiên đây là sự giám sát chung mang tính chất chính trị chứ không phải là sự giám sát thường xuyên mang tính pháp lý Bộ trưởng Bộ Tư pháp là nghị sĩ Quốc hội và do Nữ hoàng anh bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng Theo quy định của pháp luật, Chính phủ không kiểm tra Công tố Hoàng gia mà nhiệm vụ này được giao cho Bộ Tư pháp
Hệ thống công tố hoàng gia Anh là cơ quan truy tố được phân chia theo khu vực địa lý Mỗi khu vực do một Công tố viên trưởng Hoàng gia đứng đầu và ông này có quyền bổ nhiệm Công tố viên qua thi cử Các Công
tố viên thực thi nhiệm vụ công tố dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng
Việc khởi tố, điều tra tội phạm ở Anh thuộc thẩm quyền của cơ quan Cảnh sát Công tố Hoàng gia không thực thi chức năng giám sát việc điều tra hoặc chỉ đạo việc điều tra của cảnh sát hay chỉ thị cho cảnh sát trong việc thu thập chứng cứ Tuy nhiên, Công tố Hoàng gia Anh có nhịêm vụ theo luật định thậphỉ dẫn cho cảnh sát về mối liên quan, khối lượng cần và đủ cũng như khả năng có thể chấp nhận được của các bằng chứng đã thu thập được, nhưng đây không phải là mệnh lệnh buộc cảnh sát phải tuân theo việc quyết định làm thế nào để đáp ứng được các chỉ dẫn đó hoàn toàn là việc của cảnh sát nhiệm vụ chủ yếu của Công tố hoàng gia là truy tố tội phạm, ngoài ra cơ quan này có quyền khởi tố đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp
Trong quá trình điều tra, Công tố viên chỉ đóng vai trò như Luật sư tư vấn cho cơ quan cảnh sát nhưng lại có quyền quyết định một số vấn đề như:
có cần thiết phải khởi tố bị can hay không hoặc nếu vụ việc đã được khởi tố thì tiếp tục tiến hành tố tụng hay đình chỉ
Tất cả các Công tố viên phải chịu trách nhiệm cá nhân và phải cân nhắc đầy đủ các vấn đề chứng cứ trên tinh thần bộ luật truy tố tội phạm Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên Hoàng gia không có quyền đề nghị mức
án mà trình bày nội dung vụ án, còn quyết định tội danh và mức án là do Hội
Trang 21đồng xét xử Trong trường hợp cần thiết Công tố viên có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, tuy nhiên số lượng kháng nghị không đáng kể
Tổ chức và hoạt động của Công tố Hoàng gia Anh chỉ thực hiện trong lĩnh vực tư pháp hình sự với nhiệm vụ chủ yếu là đưa vụ án ra Tòa án và thực hiện sự buộc tội đối với bị cáo
Hoa Kỳ, là đất nước mà tổ chức bộ máy nhà nước được thực hiện theo
thuyết tam quyền phân lập một cách triệt để bao gồm ba hệ thống cơ quan là Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp, hoạt động theo cơ chế kìm chế và đối trọng
Ở Mỹ, Viện công tố được tổ chức làm hai cấp là liên bang và bang và trực thuộc sự quản lý điều hành của Bộ Tư pháp Đứng đầu Viện công tố liên bang là Tổng công tố do Tổng thống Mỹ bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của Tổng thống dưới viện công tố liên bang là Viện công tố bang Tùy thuộc vào pháp luật của từng bang quy định mà Tổng công tố bang có thể do Thống đốc bang
bổ nhiệm hoặc do cử tri bang bầu ra theo nhiệm kỳ vài năm một Trong hoạt động tố tụng hình sự, Công tố viên của Mỹ có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý Công tố viên phải chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình điều tra và quyết định truy tố hoặc không truy tố người phạm tội ra Tòa
Về nhiệm vụ buộc tội, quyết định của Công tố viên không thể xem xét lại bởi thẩm phán hoặc các viên chức tư pháp hình sự nào khác Trong khi xét xử, Công tố viên có trách nhiệm đại diện cho Nhà nước tranh luận vụ việc và chứng minh tội trạng của bị cáo Nghĩa vụ phải trình toàn bộ chứng cứ để đảm bảo xu hướng sự thật, đó là xác lập việc có tội hay vô tội phải được đề cao trong hoạt động nghiệp vụ của Công tố viên
Hoạt động công tố của Mỹ chỉ diễn ra trong lĩnh vực hình sự nhiệm
vụ chủ yếu của Công tố viên Mỹ là đưa vụ án ra Tòa, quyền quyết định có truy tố hoặc không truy tố người phạm tội, khởi tố hoặc không khởi tố vụ án được gọi là quyền tự quyết của Công tố viên - đây là nét đặc trưng thể hiện vai trò to lớn của cơ quan công tố Mỹ
Trang 22Chế định công tố ở các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu - lục địa
có phần phức tạp hơn Công tố viên là những người đại diện cho Nhà nước hoạt động vì xã hội, không chỉ bảo vệ lợi ích cho Nhà nước mà còn bảo về quyền và lợi ích cho những người bị hại trong vụ án
Công tố viên của nước pháp là một ví dụ điển hình của hệ thống pháp luật này Hệ thống cơ quan Công tố của Pháp chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp Tuy vậy, theo quy định của pháp luật, các Công tố viên được đảm bảo hoạt động độc lập, đó là quyền tự do luận tội và quyền tự quýet định
có truy tố hay không Công tố viên Tòa sơ thẩm có quyền chỉ ra hoạt động điều tra của nhân viên cảnh sát, có quyền tiến hành khám xét va thu giữ, kiểm tra nhận dạng và tạm giam Ngoài ra Công tố viên có quyền tự quyết định số phận vụ án mà không cần chuyển sang tòa án Đây là những vụ án mà hành vi phạm tội không ảnh hưởng lớn đến những giá trị nền tảng của xã hội và nạn nhân muốn được bồi thường hơn là truy tố
Trong quá trình xét xử Công tố viên có quyền tranh luận, phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, đề nghị mức án đối với bị cáo Sau cùng cơ quan công tố có trách nhiệm theo dõi việc thi hành án
Một quốc gia khác mang đậm nét của luật châu Âu - lục địa là Đức: ở
đây cơ quan Công tố một mặt thuộc cơ quan Hành pháp nhưng mặt khác lại chịu sự quản lý của cơ quan tư pháp Bộ Tư pháp là cơ quan giám sát cao nhất của cơ quan công tố, nhưng cơ quan công tố lại nằm trong hệ thống tòa án Viện trưởng viện công tố Liên bang do Tổng thống Đức bổ nhiệm và có trách nhiệm truy tố tất cả các loại tội phạm Công tố viên tham gia vào quá trình điều tra với tư cách là người chỉ huy, có quyền khởi tố và kết thúc các thủ tục ban đầu, có quyền quyết định các biện pháp cường chế cần thiết trong quá trình điều tra như: Khám xét, tịch thu tài sản, theo dõi điện thoại của người bị tình nghi… nhưng các quyết định này phải có lệnh của thẩm phán trừ những trường hợp khẩn cấp Công tố viên có thể tự tiến hành ngay những biện pháp cưỡng chế nhưng ngay sau đó phải xin lệnh của Tòa án
Trang 23Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên tham gia phiên tòa có quyền công bố cáo trạng, tham gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng khác sau khi Tòa án đã thẩm vấn, đề nghị mức án đối với bị cáo Sau cùng công tố viên có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
Liên bang Nga, Viện kiểm sát nước Cộng hòa Liên bang Nga là một
cơ quan có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất Viện kiểm sát chỉ phục tùng một người lãnh đạo duy nhất là Tổng kiểm sát trưởng Liên bang; Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Dưới quyền Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có các Kiểm sát viên các nước cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc Liên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị, các thành phố quận, huyện và cấp tương đương do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm Mỗi Kiểm sát viên đều có một bộ máy những người dưới quyền…
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật đối với tất cả các đạo luật; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các Bộ, các Tổng cục thuộc Liên bang, của các cơ quan lập pháp, hành pháp…;
có nhiệm vụ truy tố kẻ phạm tội trong các vụ án hình sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga thì hoạt động
tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng Kiểm sát viên Viện kiểm sát Liên bang Nga tham gia vào quá trình tố tụng hình sự với tư cách là bên buộc tội Khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, Kiểm sát viên nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy tố hình sự và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra Trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên thực hiện các yêu cầu của Luật Liên bang trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; khởi tố vụ án hình sự; tham gia vào quá trình điều tra Trong những trường hợp cần thiết,
Trang 24Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của Kiểm sát viên cấp dưới, của Dự thẩm viên, nhân viên điều tra; ủy quyền cho Cơ quan điều tra ban đầu tiến hành các hoạt động điều tra; gia hạn thời hạn điều tra; quyết định truy tố và chuyển vụ án cho Tòa án; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án…
Trong quá trình xét xử, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước, bảo đảm việc buộc tội có căn cứ và đúng pháp luật Tòa án chỉ giới hạn xét xử đối với những nội dung mà Kiểm sát viên truy tố Viện kiểm sát không thực hiện việc giám sát hoạt động xét xử của Tòa án
Trong hoạt động tố tụng hình sự, ngoài sự tham gia của Kiểm sát viên trong tất cả các vụ án hình sự, thì sự tham gia của các Dự thẩm viên của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết một số loại án hình sự cụ thể có vai trò rất quan trọng Theo quy định của pháp luật, Dự thẩm viên được giao thẩm quyền điều tra đối với rất nhiều loại tội khác nhau (tất cả các loại tội phạm do một số chủ thể đặc biệt thực hiện và hơn 80 loại tội khác trong Bộ luật hình sự)
1.2.1.2 Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) ở châu Á
Nhật Bản, là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội
được bầu cử dân chủ Đảng Dân chủ Tự do (thực ra là đảng chính trị bảo thủ) đang có thời gian dài chiếm đa số ghế trong Quốc hội Tuy nhiên, Nhật Bản
có nhiều đảng đối lập đáng kể, lớn nhất là Đảng Dân chủ, hiện đang nắm số ghế lớn nhất trong tất cả các đảng đối lập tại Thượng viện
Các viện công tố nằm dưới sự quản lý của Viện Công tố quốc gia
Tư tố không tồn tại Trong khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm trong việc giám sát chung đối với Viện Công tố quốc gia, Điều 14 của Luật Viện Công tố quốc gia lại ngăn chặn sự can thiệp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp vào việc chỉ đạo các vụ án (trừ các cuộc điều tra được chỉ đạo bởi Viện trưởng Viện Công tố quốc gia)
Trang 25Viện Công tố quốc gia có trách nhiệm toàn bộ đối với quyết định
có truy tố hay không Theo Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, công tố viên
có thể cho rằng việc truy tố không cần thiết trên cơ sở nhân thân và độ tuổi của bị cáo, tính nguy hiểm của hành động phạm tội và hoàn cảnh tại thời điểm trước và sau hành động phạm tội Về quan hệ nội bộ, quyết định truy tố phải được sự thông qua của hai hoặc ba cán bộ lãnh đạo trực tiếp công tố viên Điều này giúp đảm bảo sự chắc chắn trong hành động truy tố
Sự giám sát, mang tính không bắt buộc, đối với các quyết định không truy tố có thể được thực hiện bởi một trong các Hội đồng giám sát công tố của Nhật Bản, mỗi Hội đồng này gồm 11 công dân Tuy nhiên, sự giám sát này ít khi đề nghị Công tố viên xem xét lại quyết định của họ
Ngoài nhiệm vụ truy tố tội phạm, các công tố viên Nhật Bản được chỉ đạo các hoạt động điều tra ban đầu; hoạt động điều tra độc lập và phối hợp hoạt động với cảnh sát Các công tố viên còn chỉ đạo trực tiếp cảnh sát trong hoạt động điều tra của họ Các Công tố viên có quyền kháng nghị hình phạt
và sự tha bổng, mặc dù họ hiếm khi sử dụng quyền này
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, là một nước xã hội chủ nghĩa Quốc
hội là cơ quan quyền lực cao nhất Các đại biểu của mỗi cấp Hội đồng nhân dân được bỏ phiếu bởi cấp thấp hơn ở cấp thấp nhất, đại biểu được bỏ phiếu trực tiếp bởi nhân dân Từ triều đại nhà Thanh đã hình thành Cơ quan công tố trong Tòa án Năm 1921 hệ thống công tố độc lập tách rời khỏi Tòa án Viện công tố có nhiệm vụ điều tra tội phạm, khởi tố và thực hành quyền công tố, hỗ trợ tư tố và chỉ đạo thi hành án hình sự Năm 1927, quy định về Tòa án tối cao được ban hành; theo đó, các Viện công tố được thành lập gắn với Tòa án như
mô hình của Pháp Đến năm 1931, Viện công tố được giao thêm nhiệm vụ giám sát các quan chức nhà nước Đây là sự kết hợp giữa truyền thống luật Châu Âu lục địa và truyền thống luật Trung Quốc Ngày 01 tháng 10 năm
1949, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập dưới sự lãnh
Trang 26đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc Dưới sự ảnh hưởng to lớn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết, Trung Quốc đã tiếp thu mô hình và những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước Liên Xô vào việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình Theo đó, hệ thống Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, cơ quan giám sát pháp luật, được thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với cơ quan hành chính và cơ quan Tòa án Đến năm 1961, hệ thống Viện kiểm sát bắt đầu được nhập vào Cơ quan công an; năm 1968 hệ thống cơ quan Viện kiểm sát chính thức bị bãi bỏ Hiến pháp năm 1975 của Trung Quốc quy định: "Chức năng của Cơ quan kiểm sát do Cơ quan công an thực hiện"
Cơ quan Viện kiểm sát Trung Quốc được khôi phục trở lại từ Hiến pháp năm 1978 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1979; sau đó được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1983, 1995 Theo các quy định này, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức từ trung ương đến địa phương Viện kiểm sát được tổ chức thành 4 cấp, tương ứng với tổ chức của tòa án Viện kiểm sát nhân dân tối cao (SPP) là cơ quan cao nhất và chỉ đạo tất cả các Viện kiểm sát địa phương SPP có trách nhiệm báo cáo Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội Đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Viện trưởng do Đại hội đại biểu nhân dân bổ nhiệm Các Viện kiểm sát địa phương có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tương đương và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
Chức năng, quyền hạn của Viện kiểm sát Trung Quốc như sau:
- Thực hiện quyền kiểm sát đối với các vụ án phản quốc, chia rẽ đất nước và các vụ án phạm tội to lớn, phá hoại nghiêm trọng việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật, pháp lệnh, quy chế hành chính của Nhà nước
- Tiến hành điều tra đối với các vụ án hình sự được trực tiếp thụ lý
- Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự do Cơ quan công an tiến hành; quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố đối với các vụ án do Cơ quan
Trang 27công an điều tra; thực hiện việc giám sát xem hoạt động điều tra của Cơ quan công an có hợp pháp hay không
- Khởi tố và hỗ trợ truy tố đối với các vụ án hình sự; thực hiện giám sát hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân xem có tuân thủ pháp luật hay không
- Thực hiện giám sát đối với việc chấp hành phán quyết và quyết định của các vụ án hình sự, hoạt động của trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động có hợp pháp hay không…
Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành điều tra khoảng 50 tội phạm trong
Bộ luật hình sự Hầu hết các tội phạm này liên quan đến tham nhũng và chức
vụ (các cơ quan điều tra khác không có quyền điều tra đối với những tội phạm này); đây là đặc quyền riêng của Tổng cục chống tham ô, hối lộ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc
Hiến pháp của Trung Quốc quy định: Không một công dân nào có thể bị bắt giữ nếu không có quyết định hoặc được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân hoặc nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân Trong trường hợp Cảnh sát thấy cần thiết phải tạm giam người bị bắt, thì trong vòng 3 ngày kể từ ngày tạm giam, Cảnh sát phải gửi đề nghị ra lệnh tạm giam cho Viện kiểm sát Trong vòng 3 ngày, Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn hoặc bác bỏ đề nghị này Nếu đề nghị bị bác bỏ thì ngay lập tức Cảnh sát phải trả tự do cho người bị tạm giam Viện kiểm sát có thể tự mình thẩm vấn đối với các tội phạm kinh tế như tội tham nhũng, hối lộ, trốn thuế, lừa đảo, buôn lậu
Sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định truy
tố hoặc miễn tố đối với bị can, hoặc trả hồ sơ yêu cầu Cảnh sát điều tra bổ sung Tòa án thẩm tra lại vụ án; nếu các tình tiết của vụ án đã rõ ràng thì Tòa án quyết định mở phiên tòa xét xử; nếu chưa rõ ràng thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; nếu thấy không cần thiết phải truy tố thì Tòa
án yêu cầu Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Trang 28Bắt đầu giai đoạn xét xử, Kiểm sát viên đọc Cáo trạng công bố tội trạng của bị cáo Trong giai đoạn tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu, sau đó tranh luận với Luật sư của bị cáo; đồng thời đề nghị mức án thích hợp trước khi Hội đồng xét xử nghị án… Ngoài vai trò truy tố, Viện kiểm sát có thể tiến hành kiểm sát sự vi phạm pháp luật - kiểm sát tư pháp
Campuchia, là đất nước mà tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng
quân chủ lập hiến Hệ thống pháp luật Campuchia theo truyền thống dân luật
Tổ chức Bộ máy nhà nước của Campuchia gần giống với tổ chức bộ máy của Việt Nam Quyền lực tối cao của Nhà nước thuộc về Quốc hội Quốc hội có chức năng thông qua và sửa đổi Hiến pháp và pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật, quyết định các chính sách về đối nội và đối ngoại Cơ quan công tố Campuchia nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp
Công tố đưa ra lời buộc tội đối với các tội phạm hình sự, chống lại người bị buộc tội và đề nghị Tòa án áp dụng pháp luật Công tố viên chịu trách nhiệm thực hiện các lệnh của Tòa án hình sự về các tội phạm hình sự, bao gồm cả việc truyền đạt các lệnh bắt giữ
Khi thực hiện nhiệm vụ, Công tố viên có quyền trực tiếp huy động các lực lượng của Nhà nước Công tố viên tham gia tất cả các phiên tòa xét
xử trong các vụ án hình sự
Công tố viên bao gồm: Tổng Chưởng lý, Phó Tổng chưởng lý và
Công tố viên thuộc Tòa án Tối cao; Tổng Chưởng lý, Phó Tổng chưởng lý và Công tố viên thuộc Tòa án phúc thẩm; Công tố viên Hoàng gia và Phó Công
tố viên thuộc Tòa án sơ thẩm
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể tố giác với Tổng chưởng lý thuộc Tòa
án Phúc thẩm hay với bất kỳ Công tố viên Hoàng gia nào mọi hành vi phạm tội mà Bộ trưởng biết được, ban hành lệnh bằng văn bản đối với hồ sơ vụ án
để khởi tố hoặc ban hành bất kỳ lệnh nào mà chúng ta cho là phù hợp Bộ trưởng tư pháp không được ban hành lệnh giữ hồ sơ vụ án nào không giải quyết
Trang 29Tổng Chưởng lý thuộc Tòa án Phúc thẩm phụ trách toàn bộ Công
tố viên thuộc thẩm quyền lãnh thổ, có thể ban hành một lệnh cho các Công tố viên đủ để khởi tố một người hoặc để đưa ra các kết luận mà cho là phù hợp
Mọi Công tố viên cần tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên theo cấp bậc đó được xác lập Tuy nhiên, trong một phiên tòa, Công tố viên có thể tự
do trình bày ý kiến theo nhận thức riêng Không có hình thức xử lý kỷ luật nào đối với một Công tố viên dựa trên ý kiến của người này trình bày tại một phiên tòa
Tổng chưởng lý thuộc Tòa án tối cao tham gia vào các yêu cầu áp dụng pháp luật đối với đơn kháng án lên Tòa án tối cao; kiến nghị xem xét lại một vụ án đó được phán quyết hay các khiếu nại khác trình lên Tòa án tối cao
Tổng Chưởng lý thuộc Tòa án Phúc thẩm giám sát áp dụng pháp luật trong thẩm quyền lãnh thổ của Tòa án Phúc thẩm; Tổng chưởng lý có thể thanh tra các Văn phòng Công tố viên được đặt trong thẩm quyền lãnh thổ của mình Trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng, Tổng chưởng lý cần báo cáo với Bộ trưởng tư pháp
Tổng Chưởng lý thuộc Tòa án Phúc thẩm giám sát và quản lý các sĩ quan cảnh sát tư pháp ông ta có thể mời người phụ trách một đơn vị cảnh sát
tư pháp tới trao đối các vấn đề liên quan tới chức năng của đơn vị đó ông ta
có thể giao nhiệm vụ cho các sĩ quan cảnh sát tư pháp hay hạ sĩ quan cảnh sát
tư pháp (nếu thấy cần thiết) phục vụ cho công tác quản lý và chức năng của Cảnh sát tư pháp; ông ta có thể thanh tra một đơn vị cảnh sát tư pháp vào bất
kỳ thời điểm nào có thể tham gia vào các cuộc thẩm vấn; có thể kiểm tra việc thực hiện tạm giữ của cảnh sát, nhất là để đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục pháp luật và các quy định về quản lý tạm giữ Người đứng đầu các đơn vị sĩ quan cảnh sát tư pháp, các sĩ quan cảnh sát tư pháp và các hạ sĩ quan cảnh sát
tư pháp cần tuân thủ mệnh lệnh của Tổng chưởng lý thuộc Tòa án Phúc thẩm
Trang 30Công tố viên Hoàng gia lãnh đạo và điều phối các hoạt động của tất
cả các hạ sĩ quan cảnh sát tư pháp và sĩ quan cảnh sát tư pháp trong thẩm quyền lãnh thổ của mình Tuy nhiên, khi thực hiện các công văn thẩm tra, thẩm phán điều tra sẽ phụ trách các sĩ quan cảnh sát tư pháp được giao nhiệm vụ; Công tố viên Hoàng gia có thể tới hiện trường điều tra và đưa ra các chỉ đạo hữu ích cho các sĩ quan cảnh sát tư pháp Trong hoàn cảnh đặc biệt, một Công tố viên có thể thu hồi các quyền hạn điều tra được ủy quyền từ các
sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát tư pháp và thu xếp việc thay thế họ; Công
tố viên Hoàng gia có thể thanh tra một đơn vị cảnh sát tư pháp và bất kỳ thời điểm nào ông ta có thể tham gia vào các cuộc thẩm vấn, có thể kiểm tra việc thực hiện tạm giữ của Cảnh sát, nhất là để đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục pháp luật và các quy định về quản lý tạm giữ
Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, tổ chức bộ máy nhà nước
theo chế độ xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp luật của Lào dựa trên cơ sở Luật
hành văn Quyền lực nhà nước cao nhất thuộc về Quốc hội Lào nhưng vẫn có
sự phân chia giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp Quốc hội là cơ quan lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản của quốc gia và giám sát hoạt động của
cơ quan hành chính tư pháp Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia và là người đại diện cho Nhà nước Lào về mặt đối nội và đối ngoại Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của đất nước Toà án nhân dân là cơ quan xét xử cao nhất Viện kiểm sát nhân dân của Lào nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thuộc thẩm quyền Nhà nước, thực hiện chức năng kiểm sát việc thi hành đúng pháp luật và thống nhất của các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan quần chúng, cơ quan tổ chức- xã hội, cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp, công dân và thực hành quyền công tố
Viện kiểm sát có thẩm quyền quản lý việc tuân thủ và thực thi pháp luật của các cơ quan của Chính phủ Viện kiểm sát có quyền khởi tố các vụ án
Trang 31hình sự và đại diện cho Chính phủ trong các vụ án dân sự Viện kiểm sát gồm
có Viện kiểm sát tối cao và các Viện kiểm sát ở địa phương Viện kiểm sát địa phương được chia thành 18 tỉnh và 135 hạt
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng nhiệm vụ bằng những công tác sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện đúng theo pháp luật và thống nhất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan quần chúng, cơ quan tổ chức xã hội, cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp, công dân công tác kiểm sát này gọi
là kiểm sát chung; kiểm sát việc thi hành pháp luật của Cơ quan điều tra; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, trại tạm giam, trại tạm giữ, và quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù; Xem xét trình đơn trong việc đặc xá cho tội phạm; tiến hành trong việc phòng chống tội phạm và những vi phạm khác để nhằm mục đích phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, đồng thời xoá bỏ những nguyên nhân và điều kiện dẫn đến xảy ra tội phạm; đảm bảo trong việc điều tra vụ án hình sự trọn vẹn, toàn diện, khách quan và đề ra biện pháp ngăn chặn phạm tội bằng cách phối hợp với các cơ quan nhà nước và cơ quan, tổ chức khác; đảm bảo bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật và người nào không phạm tội thì không bị xử lý; tiến hành điều tra vụ án nào đó, một phần hoặc toàn
bộ theo quyền, chức năng và nhiệm vụ của mình theo luật định; thực hành các quyền, chức năng và nhiệm vụ khác theo luật định
Qua nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Cơ quan thực hành quyền công tố một số nước trên thế giới, cho thấy mô hình hoạt động của mỗi quốc gia có những ưu việt riêng Những nét riêng đó, và đặc biệt là những điểm chung như đã phân tích ở trên là những nội dung tham khảo có giá trị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay
Trang 321.2.2 Sự ra đời và phát triển của chế định Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước Việt Nam
Thiết chế tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta có tuổi đời cùng với Nhà nước cách mạng và trải qua nhiều giai đoạn p hát triển từ năm 1945 đến nay với những mô hình , phương án tổ chức khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng , đồng thời cũng phản ánh điều kiện khách quan, chủ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước ta
Giai đoạn 1: Từ 1945 đến 1958
Giai đoạn từ 1945 đến 1958, trước khi cải tổ lại hệ thống Viện công tố, mô hình tổ chức cơ quan công tố hoàn toàn giống như mô hình cơ quan
công tố của Pháp Về tính chất , đó là cơ quan tư pháp ; về c hức năng : chức
năng chủ yếu là công tố , buộc tội và chức năng thứ hai là chỉ đạo hoạt động
điều tra và thực hiện điều tra đối với một số loại vụ án nhất định ; về tổ chức: đặt trong Tòa án ; về quản lý hành chính : do Bộ Tư pháp quản lý ; về địa vị
pháp lý: có tính độc lập cao trong hoạt động , với tư cách là thiết chế thuộc
quyền tư pháp ; được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không có quyền can thiệp Ngay từ khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách, ban hành nhiều văn bản định hướng và đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp, trong đó có vai trò, vị trí của cơ quan công tố
Trên cơ sở xác định những nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước, để tạo
cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh củng cố chính quyền, chống thù trong, giặc ngoài Chính phủ lâm thời đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật như là Sắc lệnh 06, 07, 08, 30 nhằm chấn áp các tổ chức,phần từ chính trị phản động
và các hành vi nguy hại đến nền độc lập
Bên cạnh đó Chính phủ lâm thời ban hành các Sắc lệnh về tổ chức
tư pháp, tạo cơ sở cho việc hình thành và phân định các chức danh xét xử, công tố và tư pháp công an Sắc lệnh số 32-SL ngày 13 tháng 9 năm 1945 bãi
Trang 33bỏ các ngạch quan lại tư pháp, trong đó có ngạch thẩm phán, công tố viên cũ Sắc lệnh số 33c-SL ngày 13 tháng 9 năm 1945 về thành lập Toà án quân sự ba miền Bắc, Trung, Nam Toà án quân sự có thẩm quyền "xét xử tất cả các người phạm vào một việc gì đó có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam" Theo sắc lệnh này, Toà án quân sự của Chính phủ lâm thời có chức năng công
tố và có sự phân định về chức năng, nhiệm vụ của chức danh pháp lý trong
cơ quan Toà án Sắc lệnh 07-SL ngày 15 tháng 01 năm 1946 sửa đối bổ sung một số điều của Sắc lệnh 33c, ngoài uỷ viên quân sự, uỷ viên của ban trinh sát
bổ sung thêm nhân viên của công tố viện do trưởng lý của Toà thượng thẩm chỉ định, thực hành quyền công tố Nhà nước trước toà án quân sự đến ngày 14 tháng 2 năm 1946, Sắc lệnh số 21-SL đươc ban hành phân định rõ hơn thẩm quyền của Toà án quân sự và việc bổ nhiệm Chánh án, hội thẩm và các công cáo uỷ viên (cống tố)
Tuy không có một hệ thống tổ chức độc lập, song cùng với sự hiện diện và thực thi nhiệm vụ của các công cáo uỷ viên trong tất cả các toà án quân sự được thành lập trên cả nước, một đội ngũ công tố viên đã được hình thành, được chỉ định và thực hiện nhiệm vụ độc lập với thẩm phán xét xử
Giai đoạn II: Công tố trực thuộc Chính phủ
Mô hình tổ chức này của Viện Công tố ở nước ta tồn tại rất ngắn (1958 - 1959) và có thể nói chỉ tồn tại trên pháp lý như một bước quá độ về tổ chức theo hướng tạo thành một hệ thống riêng , độc lập trong bộ máy nhà nước Việt Nam Từ khi ra đời cho đến thời kỳ này, thực trạng tổ chức bộ máy hoạt động của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đang có nhiều bất cập, nhiều cơ quan phải làm việc kiêm nhiệm Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp với tình chính trị xã hội hiện tại Do đó ngày 23 tháng 01 năm 1957, kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá I đã quyết định phải sửa đổi Hiến pháp, trong thời gian này quốc hội cùng quyết nghị thành lập Toà án tối cao và hệ thống toà
án, Viện công tố và hệ thống viện công tố
Trang 34Trong khi chờ đợi thông qua Hiến pháp mới, kỳ họp thứ 8 - Quốc hội khoá I đã quyết nghị về thành lập Toà án tối cao và hệ thống Toà án, Viện công tố và hệ thống Viện công tố, cả hai cơ quan tách ra khỏi Bộ Tư pháp
và đều có nhịêm vụ, quyền hạn ngang bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ
Nghị quyết của Quốc hội là cơ sở pháp luật nhằm kiện toàn một bước
bộ máy nhà nước, mở ra thời kỳ quá độ cho sự ra đời và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan mới trong đó có hệ thống Viện công tố
Thời gian này, Viện công tố đã hoàn chỉnh bản điều lệ quy định trách nhịêm, tổ chức, biên chế của Viện công tố trong đó chủ yếu quy định
về quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức của bộ máy làm việc, cụ thể: điều tra, truy tố
ra trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự; Giám sát việc cháp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan Điều tra, công tác xét xử của Toà
án, khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự có liên quan đến lợi ích Nhà nước và nhân dân
Theo quy định của Nghị định số 256/TTg, hệ thống Viện công tố gồm
có Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp, Viện công tố quân sự cấc cấp
Giai đoạn III: mô hình Viện kiểm sát nhân dân hiện nay
Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, kế đó là Hiến pháp 1980 và Hiến pháp
1992 của nước ta , trong hơn 50 năm qua , đã duy trì một hệ thống thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân
Về tổ chức , Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân
dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự tạo thành một hệ thống ; theo đó , Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng , các Phó Viện trưởng và Kiểm s át viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát Quân sự các quân khu và khu vực do Viện
Trang 35trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm , miễn nhiệm , cách chức Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và bá o cáo công tác trước Quốc hội , trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch Nước Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Bắt đầu từ Hiến pháp 1992 có thêm trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dânđịa phương báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Như vậy, xét về vị trí và tổ chức, có thể hiểu Viện kiểm sát nhân dân
là một hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất Hai đặc trưng cơ bản này phản ánh yêu cầu về một thiết chế có chức năng quan trọng trong việc giám sát việc thi hành pháp luật của các bộ , các ngành , các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức , cơ quan và cá nhân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (theo quy định trước ngày 07/01/2002 - ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 51/2001/QH11 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992); kiểm sát các hoạt động tư pháp (kể từ 07/01/2002) và thực hành quyền công tố
Về tính chất, kể từ Hiến pháp 1959 đến trước ngày 07/01/2002, ở nước
ta không có các khái niệm quyền lập pháp , quyền hành pháp và quyền tư pháp Hiến pháp năm 1992 tại lần sửa đổi, bổ sung năm 2001 lần đầu tiên xác định một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức quyền lực nhà n ước ở nước ta: quyền lực nhà nước là thống nhất , có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp , hành pháp và tư pháp (Điều 2) Với quy định đó , chúng ta có thể nói rằng , có các nhánh quyền lực nhà nước ở nước ta Tuy nhiên, khi chế định tổ chức và chức năng của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước , Hiến pháp chưa xác định rõ những cơ quan nào là cơ quan hành pháp , những cơ quan nào là cơ qua n tư pháp Vì vậy, rất khó để xác định , hiện nay , với những chức năng kể trên , Viện kiểm sát nhân dân thuộc lĩnh vực nào của quyền lực nhà nước
Trang 36Tuy nhiên, theo tinh thần của các văn kiện của Đảng, có thể hiểu Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống tổ chức độc lập , thống nhất, nhưng với hai chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố , Viện kiểm sát nhân dân thiên về tính chất của một cơ quan tư pháp Cụ thể: Văn kiện Đại hội X và Đại hội XI của Đảng nhắc đến hai chức năng đó của Viện kiểm sát khi xác định nhiệm vụ xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch , vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh , bảo vệ công lý, quyền con người
Bên cạnh sự phát triển chung của xã hội, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đẩy mạnh cải cách tư pháp Ngày 02 tháng 6 năm 2005,
Bộ Chính trị ra Bghị quyết số 49-NQQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại hóa, phục vụ nhân dân… Nghị quyết chỉ rõ: trước mắt Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động phù hợp với
hệ thống Tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát nhân dân thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra
Nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp đã ban hành một số văn bản nêu rõ mục tiêu và quan điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nói riêng, nhằm hướng tới một nền tư pháp độc lập, trong sạch, vững mạnh, gần dân, thuận lợi cho dân, hoạt động hiệu quả, bảo
vệ trật tự, kỷ cương, tôn trọng và bảo đảm quyền con người…
Phát huy những thành tựu đã đạt được trong các thời kỳ trước, bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu nhiệm vụ của đất nước và công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân, ngành kiểm sát nhân dân đã từng bước đổi mới tổ chức bộ máy
và thực hiện chức năng nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của đất nước và thời đại
Trang 37Chương 2
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY QUA THỰC TIỄN
Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
2.1 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội
- Vị trí địa lý, kinh tế, chính trị
Tỉnh Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 153 km
về phía Nam theo quốc lộ 1A, có tọa độ địa lý từ 19o
18 - 20o00 vĩ độ Bắc và
104o22 - 106o04 kinh độ Đông; phía Bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phía Đông là Vịnh Bắc Bộ Tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện, với tổng diện tích tự nhiên 11.134,73 km2, dân số trung bình năm 2007 khoảng 3,7 triệu người, chiếm 3,4% diện tích và 4,3% dân số cả nước Về vị trí địa lý kinh tế, chính trị của Thanh Hóa có những điểm nổi bật sau:
- Nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, đồng thời nằm trên các tuyến giao lưu quan trọng của hệ thống đường quốc tế
và quốc gia như: tuyến đường sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ 10; đường 15A và đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du miền núi của tỉnh; có đường 217 nối Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn của Lào nên có nhiều điều kiện
để phát triển Thanh Hóa có đường biên giới chung với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dài trên 190 km; có các cửa khẩu Na Mèo, Tén Tần Trong đó, tại cửa khẩu Na Mèo được quy hoạch xây dựng thành Khu kinh tế Cửa khẩu thời kỳ 2008-2015 (Quyết định số 52/2005/QĐ-CP ngày 25 tháng 4
Trang 38năm 2008 của Chính phủ); đây là những lợi thế lớn để Thanh Hóa phát triển kinh tế cửa khẩu, mở rộng hợp tác và giao lưu thương mại quốc tế với các tỉnh Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan và các vùng lân cận thông qua hệ thống các tuyến đường xuyên Á trong khu vực
- Trong tương lai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có khả năng sẽ được
mở rộng không gian về phía Nam (đến Thanh Hóa) tạo cơ hội để Thanh Hóa thu hút đầu tư phát triển nhanh hơn Đặc biệt Thanh Hóa có Khu kinh tế Nghi Sơn, tại đây ngoài Khu liên hợp lọc hóa dầu (công trình trọng điểm quốc gia), khu cảng Nghi Sơn (tương lai sẽ là cảng nước sâu lớn ở phía Bắc), nhiều công trình kinh tế lớn khác sẽ được xây dựng… mở ra cơ hội phát triển mới, tạo bước đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của vùng Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Thanh Hóa có nhiều dân tộc anh em sinh sống, có nền văn hóa rất đa dạng về ngôn ngữ, phong tục tập quán Đây là một lợi thế lớn để khai thác phục vụ phát triển du lịch, song cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng trong vấn đề giữ gìn khối đại đoàn kết các dân tộc và ổn định chính trị xã hội Vùng núi phía Tây của tỉnh rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông cách trở, kết cấu
hạ tầng yếu kém, kinh tế xã hội chậm phát triển… đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng
- Dân số
Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 3,7 triệu người (lớn thứ hai trong cả nước, sau Thành phố Hồ Chí Minh), chiếm xấp xỉ 34,6% dân số vùng Bắc Trung Bộ và 4,4% dân số cả nước Mật độ dân số bình quân gần
332 người/km2, gấp 1,6 lần mật độ dân số trung bình của vùng (207 người/km2
)
và 1,3 lần mật độ dân số trung bình cả nước (255 người/km2
)
Tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 2001-2005 là 1,0%/năm, thấp
hơn mức tăng dân số của vùng Bắc Trung Bộ (1,01%) và thấp hơn mức tăng dân số trung bình cả nước (1,37%) Những năm gần đây, do công tác dân số
Trang 39và kế hoạch hóa gia đình trong tỉnh được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả, nhận thức của nhân dân ngày càng cao nên tốc độ tăng dân số của tỉnh có
xu hướng giảm từ 1,17% (thời kỳ 1996 - 2000) xuống còn 1,00% (thời kỳ
2001-2005) Năm 2006, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh là 0.78% và năm
2007 là 0,76% đạt mức phấn đấu <1,0% năm 2010;
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 84,75%, tiếp đến là dân tộc Mường chiếm 8,7%, dân tộc Thái chiếm 6%, còn lại là các dân tộc khác như H’Mông, Dao, Hoa chiếm một tỷ trọng nhỏ Các dân tộc ở Thanh Hóa có những nét văn hóa đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều lễ hội và phong tục truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc đang được phục hồi và phát triển theo hướng tiến bộ và trở thành một trong những nguồn lực phát triển quan trọng của tỉnh, nhất là phát triển du lịch
Về chất lượng dân số: Thanh Hóa có cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức
khỏe tốt Đây là nguồn nhân lực chủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 10 - 15 năm tới Trình độ học vấn của người dân cũng ngày càng được nâng cao Đến nay, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi; 473 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó 69 trường mầm non, 343 trường tiểu học, 56 trường trung học cơ sở
và 5 trường trung học phổ thông Tuy nhiên, tại một số huyện miền núi phía Tây, nhất là các huyện giáp biên do phần lớn dân cư là người dân tộc với nhiều tập tục lạc hậu, lại sống rải rác ở các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn nên trình độ dân trí và học vấn của dân cư còn thấp, tình trạng tái mù chữ còn tương đối phổ biến
Về phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư ở Thanh Hóa rất không đều
giữa các vùng, các khu vực Hầu hết dân cư sinh sống ở địa bàn nông thôn, năm 2005 dân số nông thôn chiếm trên 90,2% dân số toàn tỉnh; dân số thành
Trang 40thị chỉ chiếm gần 9,8%, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước (trung bình cả nước là 27%) Điều đó cho thấy mức độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Thanh Hóa trong những năm qua còn rất thấp
Sự phân bố dân cư giữa các huyện và các vùng trong tỉnh cũng không đều Huyện có số dân cao nhất là Quảng Xương với 281.315 người (chiếm 7,7% dân số toàn tỉnh) Huyện có dân số ít nhất là Mường Lát và Quan Sơn chỉ chiếm gần 0,9 % dân số toàn tỉnh Mật độ dân số cao nhất ở Tp Thanh Hóa (3.365 người/km2), thấp nhất là huyện Quan Sơn (37 người/km2) và huyện Mường Lát (39 người/km2
)
Trong những năm qua, ngoài tình trạng di cư tự do trong nội bộ các huyện vùng cao biên giới của tỉnh, đồng bào người Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc chuyển đến cũng khá đông, nẩy sinh những vấn đề phức tạp trong quản lý dân cư, an ninh chính trị và trật tự xã hội Vài năm gần đây, mặc dù tình trạng di cư tự do đã giảm nhưng hiện tượng vượt biên trái phép, vi phạm Hiệp định biên giới vẫn còn xảy ra, đòi hỏi phải quy hoạch phân bố sắp xếp lại dân cư trên địa bàn để vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vừa đảm bảo an ninh chính trị và trật tự xã hội cho các khu vực vùng biên
- Kinh tế - xã hội:
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khả quan Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,5% giai đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,2%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng 12,2%/năm Điều đáng chú ý
là tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối
kỳ của kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo