xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN XHCN của dân, do dân, vì dân ...” Trong thực tiễn qua cho thấy, mặc dù pháp luật TTHS đã quy định tương đối đầy đủ và khá chặt chẽ, nhưng trong các vụ á
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS,TS Hoàng Thị Kim Quế
Trang 3Contents
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 9
VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO 9
1.1.Cơ sở lý luận về QCN 9
1.1.1 Khái niệm QCN 9
1.1.2 Những điều kiện bảo đảm thực hiện QCN 12
1.1.3 Mối quan hệ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm QCN 24
1.2 Cơ sở lý luận của việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 28
1.2.1 Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo 28
TTHS là một quá trình bao gồm một loạt các hoạt động được sắp xếp theo một trình tự nhất định, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Có thể nói, bị can, bị cáo luôn là trung tâm trong số những người tham gia TTHS, bởi vì hầu như mọi hoạt động tố tụng đều hướng tới việc làm rõ các vấn đề liên quan đến việc phạm tội hay không phạm tội của họ 28
1.2.2 QBC của bị can, bị cáo 31
A) Tự MÌNH BÀO CHữA 34
1.2.3 Vai trò của Luật sƣ trong việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 39
Trang 4CHƯƠNG 2 41
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO Ở VIỆT NAM 41
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển về QBC của bị can, bị cáo ở Việt Nam 41
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 41
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1985 43
2.1.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay 46
2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 55
Vụ án 3: Vụ PMU 18 - Công tố và luật sƣ tranh luận căng thẳng [26] 63 2.3 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 69
2.3.1 Hạn chế, bất cập 69
2.3.2 Nguyên nhân 82
2.4 Ý nghĩa của việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 87
CHƯƠNG 3 89
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH 89
CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA 89
CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO Ở VIỆT NAM 89
3.1 Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 89
Trang 53.2 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 91
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật TTHS về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo 91
3.2.2 Cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp 101
3.2.3 Kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về QBC của bị can, bị cáo 108
3.2.4 Tăng cường tuyền truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QBC của người bị can, bị cáo 110
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người (QCN) là một trong những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức và thực tiễn chính trị, vì vậy, nó gắn với các thời đại lịch sử cụ thể
và nó bị chế định bởi lịch sử, bởi các điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia và quốc tế Các Học thuyết chính trị - pháp lý về QCN là hệ thống các quan điểm chính trị - triết học và pháp lý về QCN thể hiện cô đọng trong các trường phái triết học, trong các văn bản pháp lý như các bản Tuyên ngôn, Hiến pháp, các đạo luật tồn tại ở các thời kỳ lịch sử khác nhau Sự phát triển
Trang 6của tư tưởng về QCN gắn liền với tiến trình phát triển, vận động của các quan điểm chính trị - triết học và pháp lý qua từng thời đại lịch sử khác nhau
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, dù có biết bao nhiệm vụ khó khăn cần giải quyết nhưng chính quyền dân chủ nhân dân rất quan tâm đến nhiệm vụ bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, trong đó có quyền bào chữa (QBC) trước tòa Ngày 10/10/1945, Nhà nước ban hành sắc lệnh quy định các tổ chức đoàn thể luật sư và từ đó đến nay các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo được bổ sung ngày càng đầy đủ hơn
Bảo đảm QBC của bị can, bị cáo luôn được coi là nguyên tắc hiến định, được thể hiện trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta Đồng thời được coi là nguyên tắc đặc thù của Luật Tố tụng hình sự (TTHS) Điều 12, Bộ luật TTHS năm 1988 - Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta quy định: “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện QBC của họ”
QBC trong Luật TTHS năm 2003 được mở rộng cả đối tượng và phạm
vi các quyền, người bị tạm giữ cũng được bảo đảm QBC Cùng với sự phát triển của pháp luật TTHS, QBC ngày càng được tôn trọng và mở rộng hơn, đồng thời có những cơ chế bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền này Điều đó thể hiện bản chất dân chủ của pháp luật nước ta
QBC của bị can, bị cáo không chỉ là mối quan tâm của riêng bị can, bị cáo hay gia đình họ và những người làm công tác bảo vệ pháp luật mà nó còn là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Chính vì lẽ đó, ngày 02/01/2002,
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết chỉ ra những quan điểm chỉ đạo như “bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ” Tiếp đó, trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết 59/NQ-TW đã chỉ rõ “ xác định rõ hơn
vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng theo hướng đảm bảo
Trang 7tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Điều đó cũng phù hợp với chiến lược phát triển đất nước mà Đại hội Đảng X, XI đã chỉ ra rằng:
“ xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN (XHCN) của dân, do dân, vì dân ”
Trong thực tiễn qua cho thấy, mặc dù pháp luật TTHS đã quy định tương đối đầy đủ và khá chặt chẽ, nhưng trong các vụ án hình sự QBC của bị can, bị cáo vẫn chưa được các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng thực sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện Tình trạng vi phạm các quyền tố tụng của bị can, bị cáo vẫn còn diễn ra Một số người tiến hành tố tụng còn chưa nhận thức được việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và minh oan cho người vô tội cũng như xử lý nghiêm minh đối với người phạm tội Ở giai đoạn điều tra, nhiều điều tra viên cho rằng người bị tạm giữ không cần mời luật sư vì chưa cần thiết Trong quá trình tố tụng thường chú ý đến việc không bỏ lọt tội phạm hơn
là việc không làm oan người vô tội và coi việc tham gia tố tụng của người bào chữa chỉ là để cho đủ thủ tục mà thôi Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ QBC của bị can, bị cáo, dẫn đến tình trạng oan sai trong tố tụng
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài về QBC của bị can, bị cáo ở Việt Nam
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tối đa tình trạng oan sai
Với nhận thức trên, tác giả chọn đề tài Quyền con người và vấn đề
bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
Trang 8khi có Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị ban hành
xác định: bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; cũng như nội dung trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nhấn mạnh: nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, thì
nội dung về người bào chữa và QBC lại càng được quan tâm nghiên cứu
Điển hình là: Luật sư, PGS.TS Phạm Hồng Hải với cuốn sách: Đảm bảo QBC của người bị buộc tội; TS Trần Quang Tiệp với cuốn sách Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS
Các tác giả làm luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ liên quan đến người bào chữa và vấn đề bảo đảm QBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như:
tác giả Hoàng Thị Sơn với đề tài: Thực hiện QBC của bị can, bị cáo trong TTHS; tác giả Nguyễn Thu Thủy với đề tài: Vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ QCN trong TTHS Việt Nam; tác giả Nguyễn Thị Vân Hằng với đề tài: Vai trò của Luật sư góp phần bảo đảm dân chủ trong hoạt động TTHS ở Việt Nam hiện nay; tác giả Nguyễn Phạm Duy Trang với đề tài: Sự tham gia của người bào chữa trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự; tác giả Giang Thanh Hải với đề tài: Hoạt động chứng minh của người bào chữa trong vụ án hình sự; tác giả Nguyễn Tiến Đạt với đề tài: Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam; tác giả Trần Văn Bảy với đề tài: Người bào chữa trong TTHS Việt Nam; tác giả Huỳnh Thị Trúc Linh với đề tài: Chức năng bào chữa trong TTHS Việt Nam; tác giả Võ Văn Hòa với đề tài: Chức năng buộc tội và bào chữa trong TTHS Việt Nam
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Toà án nhân dân; Tạp chí Kiểm sát; Tạp chí dân chủ và pháp luật; Tạp chí Luật học; Tạp chí Nghề luật; Báo pháp luật
Trang 9Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu ở trên chủ yếu được các tác giả thực hiện khi bộ luật TTHS năm 2003 chưa được ban hành, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế và vướng mắc trong việc thực hiện QBC của bị can, bị cáo Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này vẫn còn rất cần thiết để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về QBC của bị can, bị cáo góp phần đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ luận văn cao học, học viên giới hạn sự nghiên cứu của mình về các vấn đề sau:
- Khái niệm, các đảm bảo thực hiện QCN
- Vai trò của người bào chữa trong việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo
- Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo đảm QBC của bị can, bị cáo trong hệ thống pháp luật từ sau 1945 đến nay
- Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về bảo đảm QBC ở Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là khi nhà nước ta ban hành năm 2003
- Những hạn chế, bất cập; nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc bảo đảm QBC cho bị can, bị cáo
- Ý nghĩa của việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về QCN, về QBC, về mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân với tư cách là những căn cứ lý luận để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra
Trang 10Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biến chứng và duy vật lịch
sử để nghiên cứu QCN; sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để đánh giá thực trạng về vấn đề đảm bảo QBC của bị can, bị cáo; kết hợp phương pháp hệ thống với phương pháp logic - lịch sử, phương pháp so sánh nhằm phân tích luận chứng một cách khoa học khi xác định các giải pháp bảo đảm thực hiện QBC của bị, bị cáo ở Việt Nam
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: đề tài nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về bảo
đảm QBC của bị can, bị cáo trong TTHS; từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp để sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn chi tiết các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trên thực tế Với kết quả nghiên cứu như vậy, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về QBC và bảo đảm QBC của bị can, bị cáo
- Về mặt thực tiễn: Kết qủa nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng
thực trạng áp dụng pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo; qua đó khắc phục được những thiếu sót, bất cập trong hoạt động này Các đề xuất, kiến nghị trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến vấn đề này
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 03 chương và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Cơ sở lý luận về QCN và việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của
pháp luật về bảo đảm QBC của bị can, bị cáo ở Việt Nam
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
1.1.Cơ sở lý luận về QCN
1.1.1 Khái niệm QCN
Con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên QCN luôn trở thành nội dung thu hút được sự quan tâm cả về phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia, của từng khu vực và mang tính toàn cầu Có rất nhiều khái niệm khác nhau về QCN Tuy nhiên, QCN có thể được hiểu là đặc quyền vốn có của từng cá nhân nhằm bảo vệ nhân phẩm
Trang 12và nâng cao giá trị của họ với tư cách là con người Không có nó, các cá nhân không thực sự là con người Đó là các giá trị cơ bản mà thông qua đó, chúng
ta khẳng định rằng chúng ta là một cộng đồng nhân loại duy nhất Đó là các nhu cầu và quyền lợi của con người được thừa nhận và bảo đảm bởi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế QCN có những đặc điểm cơ bản là:
Thứ nhất, QCN vừa phản ánh các nhu cầu tự nhiên, khách quan, vừa thể
hiện các quan hệ xã hội, ý chí chủ quan của từng con người và của xã hội Nó
là những đặc quyền của con người đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận, điều chỉnh, do chính cá nhân con người nắm giữ trong mối quan
hệ với tự nhiên, với xã hội, với nhà nước và với những cá nhân con người khác
Thứ hai, QCN là khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu, quan niệm
được xác định với những nội dung cụ thể
Thứ ba, QCN vừa là giá trị chung, phổ biến, vừa mang tính riêng biệt,
đặc thù, vừa có tính nhân loại, vừa có tính giai cấp Tuy nhiên, quan niệm QCN trên thực tế được lý giải bởi những quan điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào lợi ích và ý chí giai cấp
Thứ tư, QCN vừa bao hàm quyền của từng cá nhân con người, thể hiện
lợi ích cá thể, tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích của nhóm, của cộng đồng, của quốc gia dân tộc
Thứ năm, QCN phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
truyền thống văn hoá, đạo đức của các quốc gia
Thứ sáu, QCN và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời, Với chức năng
là công cụ, phương tiện pháp luật ghi nhận và bảo đảm việc thực hiện các QCN
QCN là giá trị thắng lợi chung của nhân loại, nhưng do điều kiện kinh
tế chính trị - xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
Trang 13chính trị - xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống Vì vậy, ở các quốc gia, QCN được thể hiện thành quyền công dân và được đảm bảo thực hiện bởi
hệ thống pháp luật quốc gia đó
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này, khoa học pháp lý đã chia QCN theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người thành các nhóm:
- Nhóm quyền tự do dân chủ về chính trị, bao gồm: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hôị; quyền bình đẳng nam nữ; quyền
tự do ngôn luận; tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền tự do tín nhưỡng
- Nhóm quyền về dân sự (quyền tự do cá nhân), bao gồm: quyền tự do đi lại và cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được
an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện báo, quyền khiếu nại, tố cáo…
- Nhóm các quyền về kinh tế - xã hội, bao gồm: quyền lao động; quyền
tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp và thừa kế; quyền học tập; quyền nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khoẻ; quyền được bảo vệ hôn nhân và gia đình; quyền trẻ em; quyền người già…
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, cho nên QCN được phát triển phong phú hơn cả về nội dung lẫn hình thức Cho nên, trong quá trình phát triển của nhân loại một số QCN mới được xuất hiện như:
- Quyền phát triển: Quyền phát triển được Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp quốc chuẩn bị từ năm 1981, được thông qua tại kỳ họp thứ 41 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc ngày 4/12/1986 dưới hình thức Tuyên ngôn toàn cầu
về phát triển Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc với chủ quyền trên lãnh thổ của mình như: quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền được trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia
Trang 14khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Quyền phát triển là sự hiện thực hoá QCN ở thế hệ thứ ba, khi mà nhiều quốc gia từng ghánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh và đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói nghèo, dốt nát, bệnh tật… vì vậy, họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài chính từ các quốc gia tổ chức khác
- Quyền được sống hoà bình và môi trường trong sạch
Ngày nay, nhân loại đang đứng trước nhiều hiểm hoạ mang tính toàn cầu như hiểm hoạ chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố mang tính quốc tế, khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, những cuộc xung đột tôn giáo, chủng tộc, căn bệnh AIDS đến nay chưa có phương cứu chữa thực sự hiệu quả…Thực trạng đó đã và đang đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của loài người Do đó, yêu cầu về quyền được sống trong một thế giới hoà bình, bền vững đang là vấn đề cấp bách thật sự của các quốc gia, khu vực và cộng đồng trên thế giới Chính vì thế, pháp luật quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn
đề liên quan đến cuộc sống trong hoà bình của con người như là vấn đề loại trừ
vũ khí hạt nhân, ngăn chặn khủng bố, ngăn chặn các cuộc xung đột, thành lập toà án quốc tế để xét xử tội diệt chủng, tội phạm chiến tranh và đến ngày 1/7/2002, Liên hợp quốc đã thành lập Toà án hình sự quốc tế hoạt động một cách thường xuyên, độc lập với liên hợp quốc Bên cạnh đó, do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, loài người đang đứng trước nguy cơ suy thoái và ô nhiễm ngày càng nặng nề
1.1.2 Những điều kiện bảo đảm thực hiện QCN Bảo đảm thực hiện QCN là kết quả tổng hợp của các nhân tố chính trị, kinh
tế, văn hoá giáo dục và pháp luật Những nhân tố này được xem xét với tư cách là những điều kiện, tiền đề cần thiết đảm bảo thực hiện QCN
- Về mặt chính trị, con người sống trong mỗi quốc gia, dân tộc vì thế
QCN chỉ được đảm bảo thực hiện khi dân tộc đó được sống trong độc lập, tự
Trang 15do, không bị áp bức nô dịch, có chế độ chính trị xã hội tiến bộ, dân chủ và ổn định Một đất nước, một dân tộc còn bị nô dịch, nhân dân bị áp bức bóc lột thì không thể có tự do, dân chủ, không thể nói đến việc thực hiện nhân quyền Và
ở đâu còn áp bức, bất công thì ở đó QCN còn bị chà đạp Ngay thời điểm hiện nay, mặc dù QCN đã được long trọng tuyên bố và cụ thể hoá trong nhiều văn kiện quan trọng của Liên hợp quốc, nhưng ở nhiều nơi trên thế giới QCN vẫn
bị vi phạm nghiêm trọng Thế giới vẫn còn các thế lực tham vọng trở thành người điều khiển “trật tự thế giới”, thực chất là duy trì chính sách áp bức, bóc lột đối với các dân tộc khác dưới hình thức và thủ đoạn mới Làm sao có được QCN khi hàng trăm triệu người ở Châu Phi và các nước chậm phát triển lâm vào cảnh đói nghèo, bệnh tật, trong lúc tài nguyên và sức lao động của họ đang làm đầy thêm lợi nhuận cho các công ty tư bản độc quyền Và cũng vì lợi nhuận còn biết bao kẻ tham lam không đếm xỉa đến môi trường sống, môi trường sinh thái, huỷ hoại môi trường chung của loài người Như vậy, điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm thực hiện QCN ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu là các quốc gia, dân tộc phải đuợc sống trong hoà bình, độc lập, tự do, giữ vững ổn định chính trị đất nước; đồng thời phải đấu tranh cho các dân tộc được sống trong thế giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, công bằng, văn minh Đó cũng chính là xu thế tất yếu của thời đại, là đòi hỏi khách quan của nhân loại tiến bộ
Độc lập, tự do, sự ổn định và phát triển của đất nước cũng như QCN có được đảm bảo hay không phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội mà nhân dân mỗi nước lựa chọn Bằng nhận thức và kinh nghiệm lịch sử, nhân dân ta đã tin tưởng rằng chỉ có chế độ XHCN mới đảm bảo chắc chắn nhất, đầy đủ nhất cho việc thực hiện QCN
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị - xã hội với các thiết chế chính trị để đảm bảo thực hiện QCN QCN muốn được tôn trọng và bảo đảm
Trang 16thực hiện đòi hỏi phải có nền dân chủ thực sự Một xã hội mà mọi công dân là chủ nhân, có quyền tham gia công việc của nhà nước và xã hội, thiết chế chính trị đều nhằm phục vụ tự do, hạnh phúc của con người mới thực sự là xã hội tôn trọng và đảm bảo thực hiện QCN Muốn có xã hội như thế thì phải có hệ thống chính trị dân chủ, nghĩa là các tổ chức chính trị trong xã hội ấy phải xây dựng
và thực hiện đường lối chính trị phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân Chỉ
có trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mới hội đủ các yêu tố cần thiết để xây dựng hệ thống chính trị - xã hội và các thiết chế dân chủ ấy
Trong hệ thống chính trị - xã hội XHCN, Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo Nếu Đảng cộng sản thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, lấy chủ nghĩa Mác –Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, không ngừng được chỉnh đốn và đổi mới – thì đó
là yếu tố quyết định trong việc xây dựng hệ thống chính trị dân chủ, đảm bảo thực hiện QCN Bởi vì mục tiêu và ý tưởng của một đảng Mác –xít, của những người cộng sản không có gì khác là tổ chức và lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới XHCN tất cả vì con người, cho con người
- Nhà nước cũng là yếu tố quan trọng trong hệ thống chính trị XHCN
cần phải được hoàn thiện với tư cách là điều kiện đảm bảo thực hiện QCN Trong các chủ thể thực hiện QCN Nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng Trong điều kiện Đảng cầm quyền mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thông qua Nhà nước; Nhà nước trực tiếp tổ chức quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật – công cụ sắc bén mà không tổ chức xã hội nào có được Mặt khác, hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước lại diễn
ra liên tục, rộng khắp, trực tiếp hàng ngày với nhân dân; hoạt động của cơ quan
tư pháp trực tiếp đụng chạm đến quyền tự do của nhân dân Như vậy, hoạt động của bộ máy nhà nước vừa trực tiếp vừa hết sức nhạy cảm đối với việc
Trang 17thực hiện, bảo vệ QCN Thực tiễn cho thấy không thể có ngay một bộ máy nhà nước với cơ chế hoạt động hoàn hảo Hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là một quá trình thường xuyên, liên tục, là yêu cầu khách quan trong việc thực hiện, bảo vệ QCN
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Nhà nước nhằm đảm bảo cho nó có khả năng và bắt buộc nó phải tôn trọng, thực hiện và bảo
vệ QCN Loại trừ được sự tuỳ tiện, lạm quyền trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Chúng ta từng chú trọng xây dựng nhà nước trở thành công cụ sắc bén bảo vệ thành quả cách mạng, nhấn mạnh bản chất dân chủ của nhà nước ta, nhưng chưa nhận thức đầy đủ Nhà nước là cơ quan công quyền, thống trị xã hội bằng pháp luật, phục vụ kịp thời nhu cầu lợi ích chính đáng của nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân và đòi hỏi nghĩa vụ ở dân Phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân, tuân thủ pháp luật và thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ QCN, quyền công dân
Hệ thống chính trị xã hội ở nước ta còn bao gồm các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội Hoàn thiện các đoàn thể, tổ chức này cũng tạo điều kiện đảm bảo thực hiện QCN ngày càng tốt hơn Dưới chế độ ta, nhân dân làm chủ thông qua nhà nước và thông qua các tổ chức xã hội Thông qua các tổ chức này nhân dân tham gia xây dựng nhà nước, quản lý nhà nước, thực hiện
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các tổ chức quần chúng ngoài việc thực hiện chức năng của một tổ chức chính trị - xã hội, còn có trách nhiệm kiến nghị với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là thành viên của mình, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích đó khi chúng bị xâm hại Hoạt động của các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước xã hội, là cơ sở chính trị của Nhà nước, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực quản lý của Nhà nước Mặt khác, các tổ chức
Trang 18quần chúng tiến hành giáo dục, quản lý, giúp đỡ các thành viên của các thành viên tạo nên sức ép và đối trọng buộc các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước và các thành viên khác của xã hội phải tôn trọng, thực hiện QCN
Thực tiễn tổ chức, hoạt động của các tổ chức xã hội ở nước ta cho thấy bên cạnh những thành tích, ưu điểm vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém như hoạt động còn hình thức, nặng tính chất phong trào, nội dung hoạt động còn nghèo nàn, còn thiếu chủ động trong việc đấu tranh bảo vê QCN, quyền công dân
Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các tổ chức xã hội trở thành yêu cầu khách quan, bức xúc là điều kiện quan trọng tạo nên động lực
to lớn trong việc thực hiện, bảo vệ QCN ở nước ta
- Về mặt kinh tế: Đảm bảo ổn định, phát triển kinh tế là cơ sở để bảo đảm
và phát triển đối với mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội Vì thế những điều kiện để ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của con người có tính quyết định đối với việc thực hiện hoá các vấn đề liên quan đến bảo đảm QCN, quyền công dân Trong mối quan hệ này, Các Mác đã chỉ rõ: “QCN phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và sự phát triển văn hoá do chế độ kinh tế đó quy định”
Trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay, phát triển năng lực sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân là yêu cầu cơ bản và cấp thiết để thực hiện
có hiệu quả chiến lược QCN, quyền công dân ở nước ta hiện nay Đáp ứng yêu cầu ấy, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; theo định hướng XHCN Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và tập thể làm nền tảng”
Với mục đích của chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ
sở giải phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần
Trang 19kinh tế Cho nên, phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là một đảm bảo quan trọng trong việc thực hiện QCN Bởi vậy, chỉ trên cơ sở đảm bảo được ổn định về đời sống kinh tế, thì các đảm bảo khác về chính trị, văn hoá,
xã hội mới được thực hiện Bởi vì, sự phát triển kinh tế là cơ sở nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, và ngược lại Để đáp ứng yêu cầu đó, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo các chính sách về bảo vệ quyền tự do sản xuất kinh doanh, về chính sách bảo hiểm, bảo hộ người lao động, bảo hộ người tiêu dùng và đặc biệt là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị xâm hại hoặc bị tranh chấp
- Về văn hoá, giáo dục: Thực hiện QCN, quyền công dân còn phụ thuộc
vào sự phát triển văn hoá, giáo dục, trình độ dân trí Mỗi thành viên trong xã hội là chủ thể thực hiện QCN của chính mình và của người khác, vì thế họ phải có trình độ nhận thức về văn hoá, dân chủ, chính trị, pháp luật và các tri thức khác để có khả năng thực hiện và bảo vệ quyền của mình, của người khác, có khả năng nhận thức và thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội Như vậy, phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí giúp cho mỗi công dân có khả năng phát triển trí thức, tự hoàn thiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình Trong chủ nghĩa xã hội nhân dân là người chủ xã hội, QCN, quyền công dân được nhà nước tôn trọng, nhưng nhân dân phải có năng lực, tri thức nhất định mới thực hiện được vai trò chủ nhân xã hội, mới
có khả năng đấu tranh với các hành vi xâm phạm QCN từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước cũng như các thành viên khác của xã hội
Trình độ dân trí càng cao sẽ trở thành áp lực, buộc các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước phải làm việc tốt hơn, đúng pháp luật và tôn trọng con người hơn Đảm bảo thực hiện QCN trong xã hội không chỉ là trừng trị những hành vi xâm hại QCN, điều quan trọng hơn là đảm bảo thực hiện những nội dung QCN đối với mọi thành viên trong xã hội, nếu có vi phạm
Trang 20phải được phát hiện xử lý kịp thời, công minh, từng bước hạn chế đi đến loại trừ những hành vi vi phạm QCN Điều đó chỉ có thể được thực hiện nếu có một nền văn hoá giáo dục phát triển, nâng cao dân trí nhiều mặt, hình thành ý thức pháp luật và nếp sống văn hoá pháp lý trong xã hội
- Về pháp luật: Đảm bảo thực hiện QCN bằng pháp luật cũng là điều kiện
quan trọng đảm bảo thực hiện QCN, quyền công dân, những tư tưởng, quan điểm tích cực tiến bộ về QCN, những tuyên bố long trọng về nội dung QCN chỉ là không tưởng nếu chúng không được thể chế hoá thành pháp luật, được pháp luật bảo vệ
Thứ nhất, pháp luật là phương tiện chính thức hoá giá trị xã hội của
QCN Quyền – đó là điều mà pháp luật và xã hội công nhận, cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi QCN là những giá trị được xã hội hoá, tức là được xã hội thừa nhận và bảo vệ, phải thông qua phương tiện pháp luật, được biểu hiện dưới hình thức pháp luật Nếu không có sự thừa nhận của xã hội thông qua pháp luật thì những quyền tự nhiên vốn có của con người chưa trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của xã hội, được xã hội phục tùng, được quyền lực nhà nước bảo vệ Trong một nhà nước pháp quyền khi QCN được quy định trong Hiến pháp và Luật sẽ trở thành “tối thượng”, có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với các cơ quan cao nhất của Nhà nước
Như vậy, phương diện pháp luật là phương tiện chính thức hoá giá trị QCN, có thể nói lịch sử QCN là lịch sử nhận thức, đấu tranh cho QCN và được thể hiện trong lịch sử lập hiến của mỗi quốc gia, lịch sử phát triển của các công ước quốc tế về QCN Chỉ thông qua pháp luật QCN mới trở thành ý chí và mục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội
Thứ hai, Pháp luật là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực
hiện và bảo vệ QCN Pháp luật là công cụ của Nhà nước, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội, vì thế, những quy định về QCN, quyền công dân cùng với những thiết chế nhằm thực hiện, bảo vệ nó trong Hiến pháp và pháp
Trang 21luật cũng bắt buộc mọi thành viên của xã hội phải nghiêm chỉnh thi hành kể
cả các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước Mặt khác, tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện, bảo vệ QCN còn thể hiện ở chỗ các quy định vệ QCN trong pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy, cách thức sử dụng những biện pháp giáo dục thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền, nghĩa vụ công dân và những lợi ích hợp pháp của công dân được thực hiện và bảo vệ Hơn nữa, nhờ hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật mà mọi hành vi vi phạm QCN, quyền công dân đều có khả năng bị phát hiện, xử lý
Như vậy, pháp luật với tư cách là công cụ quản lý cơ bản, riêng có của nhà nước sẽ tác động, tổ chức, điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong xã hội hướng đến mục đích là thực hiện, bảo vệ QCN Thông qua pháp luật, nhờ những thuộc tính của pháp luật, QCN được đảm bảo thực hiện một cách nhanh chóng, có hiệu quả, trên quy mô toàn xã hội Không có công cụ, phương tiện nào có được các lợi thế như pháp luật trong việc tổ chức, quản lý
xã hội cũng như trong vấn đề thực hiện, bảo vệ QCN, quyền công dân
Thứ ba, pháp luật tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ,
Ở đây pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà nước mà còn là công cụ, vũ khí của nhân dân trong việc thực hiện, bảo vệ QCN
Pháp luật là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng do đó có thể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra đối chiếu các hành vi từ phía nhà nước và các thành viên khác trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền là lợi ích hợp pháp của mình
QCN, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía các cơ quan, công chức, viên chức nhà nước trong khi thi hành công vụ, có thể bị xâm hại từ phía các
Trang 22thành viên khác của xã hội Nhưng đáng lưu ý là nguy cơ xâm hại từ phía các
cơ quan, tổ chức, công chức, viên chức nhà nước Trong quan hệ với nhà nước, công đân vừa là người chủ nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý, vì thế quyền
và lợi ích hợp pháp của họ dễ có nguy cơ bị xâm hại Sự xâm hại đó có thể do trình độ non kém trong tổ chức, quản lý, do năng lực làm việc, hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm, và cũng có thể do một bộ phận công chức thoái hoá biến chất, vô đạo đức Đó là tình trạng không ai muốn, nhưng nó vẫn tồn tại
Trong hoạt động của bộ máy nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung rất dễ
có nguy cơ làm phương hại QCN, quyền công dân Bởi vì các quyết định quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật đều trực tiếp đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hơn nữa, trong quan hệ với các cơ quan này, với tư cách là người bị quản lý và chịu sự phán quyết, công dân luôn luôn ở vào vị thế bất lợi hơn
Trong điều kiện đó, công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác ngoài pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình Chỉ có pháp luật, bằng các quy định chặt chẽ trong pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công chức, viên chức nhà nước; về quyền, nghĩa vụ công dân - mới tạo cơ sở pháp lý vững chắc để công dân đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng hợp pháp của mình Xét trên phương diện đó, pháp luật là vũ khí, phương tiện của nhân dân; các quy định trong pháp luật không chỉ một chiều tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà còn phải đủ cụ thể, đơn giản, dễ hiểu, tạo điều kiện dễ dàng cho nhân dân sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích của mình
Trang 23Nếu công dân hiểu biết pháp luật, lại có hệ thống tư vấn và dịch vụ pháp lý được tổ chức, quản lý chặt chẽ thì pháp luật là chỗ dựa, là vũ khí lợi hại trong đấu tranh bảo vệ tự do, dân chủ QCN
Thứ tư, Vai trò quan trọng hàng đầu của pháp luật trong việc thực hiện
QCN còn thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật với các điều kiện đảm bảo khác (chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục) Các điều kiện này đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được thực hiện hoá trên quy mô toàn xã hội Và chỉ có như vậy các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện QCN
Về phương diện chính trị: Đường lối chính trị nhằm xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, bảo đảm dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ XHCN và nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân … phải được thể hoá trong Hiến pháp và pháp luật… Hiến pháp quy định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, quy định về tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội… Đó chính là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hướng đích tôn trọng QCN, bảo đảm thực hiện, bảo vệ QCN
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện kiên quyết bảo đảm nhà nước ta là Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, xây dựng nền dân chủ, bảo đảm định hướng XHCN trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, tạo tiền đề, điều kiện bảo đảm thực hiện QCN Cương lĩnh, đường lối, chính sách, các Nghị quyết của đảng muốn trở thành hiện thực phải được thể chế hoá thành pháp luật Như vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, pháp luật trở thành phương tiện hữu hiệu chuyển tải đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, cũng có nghĩa là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội
Trang 24Như vậy, điều kiện bảo đảm thực hiện QCN về chính trị phải được hình thành trong pháp luật, biểu hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành hiện thực và có hiệu lực đối với toàn xã hội Xây dựng hệ thống chính trị dân chủ, trong đó có nhà nước pháp quyền đều phải thông qua những quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật
Phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất, bảo đảm thực hiện và nâng cao chất lượng QCN, là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện QCN Nhưng muốn phát triển kinh tế phải có đường lối, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế đúng đắn và phải được cụ thể hoá trong pháp luật Pháp luật tạo khuôn khổ và môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy mọi tiềm năng, đồng thời đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, hạn chế được các mặt tiêu cực của cơ chế này, gắn việc phát triển kinh
tế với thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn truyền thống bản sắc dân tộc Như vậy, phát triển kinh tế phải quản lý kinh tế bằng pháp luật, mặt khác những nội dung QCN về kinh tế cũng đòi hỏi phải được quy định bằng pháp luật, được điều chỉnh bằng pháp luật trong quá trình phát triển kinh tế
Đường lối phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí cũng được thể chế hoá trong hệ thống pháp luật bảo đảm cho con người phát triển tự do và toàn diện; tạo điều kiện cho công dân được học tập, nghiên cứu, nâng cao kiến thức nhiều mặt Đồng thời, pháp luật tạo ra khuôn khổ, môi trường của nền văn hoá giáo dục mới tiếp thu tinh hoa của nền văn minh nhân loại, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hoá dân tộc Mặt khác, pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ đối với các thành viên xã hội, góp phần hình thành văn hoá pháp lý ở mỗi công dân và trong toàn xã hội, làm cho mọi người biết sống và làm việc theo pháp luật, biết bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình, biết tôn trọng quyền và lợi ích của người khác
Trang 25Thứ năm, pháp luật là phương tiện thực hiện sự cam kết và hoà nhập
giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế bảo đảm thực hiện QCN ở mỗi quốc gia và trên bình diện quốc tế
Trong điều kiện phát triển của thời đại, nhiều nội dung cụ thể của QCN cũng như việc thực hiện và bảo vệ QCN đòi hỏi phải có sự đấu tranh, hợp tác giải quyết, phối hợp hành động của nhiều quốc gia hoặc của cộng đồng quốc tế Đấu tranh chống tội phạm, giải quyết vấn đề môi trường, giải trừ vũ khí hạn nhân, vũ khí hoá học, giải quyết đói nghèo và các vấn đề xã hội, thực hiện quyền sống trong hoà bình, quyền của phụ nữ, của trẻ em, giải quyết các vấn đề nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, xung đột vũ trang; quyền của các nhóm dễ tổn thương khác (quyền tàn tật, người thiểu số…) đều là những vấn đề đòi hỏi sự hợp tác, chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Không phải ngẫu nhiên mà sau Tuyên ngôn QCN của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1948 có hàng loạt các Công ước quốc tế về QCN đã được thông qua Điều đó, chứng tỏ cộng đồng quốc tế không thể lẩn tránh những vấn đề bức xúc về QCN đã trở nên có tính toàn cầu
Trách nhiệm của mỗi quốc gia đã tham gia, ký kết các Công ước, các Tuyên bố của các Hội nghị quốc tế về QCN phải tìm mọi biện pháp thực hiện các cam kết nêu trong các Công ước và Tuyên bố đó Mỗi nước phải cụ thể hoá những quy định của pháp luật quốc tế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước mình, hoà nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế Sửa đổi hệ thống pháp luật của quốc gia phù hợp với những tiêu chuẩn của các Công ước quốc tế đã tham gia, ký kết là thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm thực hiện bảo vệ QCN đối với công dân trước cộng đồng quốc tế
Hơn nữa, trong điều kiện giao lưu và quan hệ giữa các nước ngày càng
mở rộng (ngoại giao, kinh tế, học tập nghiên cứu, hợp tác lao động, tham quan du lịch, quan hệ hôn nhân…) vấn đề thực hiện, bảo vệ QCN của nước ngoài và công dân nước mình ở ngoài nước đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, cần có sự phối hợp giải quyết trước hết là lĩnh vực pháp luật Việc ký kết
Trang 26các hiệp định tương tự tư pháp sẽ tạo cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề QCN trong điều kiện có xung đột pháp luật
1.1.3 Mối quan hệ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm QCN 1.1.3.1 Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng phản ánh quá trình nhận thức ngày càng toàn diện, đúng đắn, đầy đủ và cụ thể về tư tưởng nhà pháp quyền trong lịch sử nhân loại cũng như quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
Từ lý luận, thực tiễn xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tôn trọng,
thực hiện và bảo vệ QCN
Hai là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực sự
của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực thuộc về nhân dân
Ba là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước được tổ
chức và hoạt động trên cơ sở của Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Nhà nước định
ra luật pháp và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương
xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm pháp luật, vi phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân
Bốn là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trang 27Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước chịu trách
nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình và bảo đảm cho công dân thực hiện các nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội
Sáu là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực hiện
đường lối đối ngoại rộng mở dựa trên các nguyên tắc hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi
Bảy là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và việc bảo đảm QCN
Tất cả bảy đặc trưng cơ bản trên của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam xét đến cùng đều nhằm phục vụ cho mục đích duy nhất, tối cao là bảo đảm hạnh phúc của con người; tôn trọng, thực hiện và bảo vệ QCN trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật Hiện nay, chúng ta đang từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân Chỉ khi có một Nhà nước như vậy mới có thể phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo quyền sống, quyền được làm việc, được lao động, được học hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội Nó ảnh hưởng tới sự lành mạnh của nền dân chủ, tới cuộc sống và số phận của từng người dân, tới chiều hướng phát triển của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta
là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.”
Giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước là mối quan hệ chính trị
cơ bản để xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Cơ sở để giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Trong đó Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn
Trang 28trọng giá trị cao nhất là con người; Nhà nước đề ra pháp luật, đồng thời phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm cho công dân được chống lại chính sự tuỳ tiện của Nhà nước Điều đó có nghĩa là “Nhà nước phải tạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên những điều kiện quy định trong Hiến pháp và pháp luật” Mặt khác, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất Do đó, Nhà nước phải đảm bảo cho công dân sự an toàn pháp
lý, được hưởng các quyền và tự do cơ bản đó vi phạm, kể cả từ phía các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ Chính vì vậy, một mặt Nhà nước
đề ra pháp luật, mặt khác, chính Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, những người có chức vụ đều có nghĩa vụ bắt buộc phải tuân thủ triệt để pháp luật, không có một tổ chức Nhà nước hoặc công chức nào được đặt mình đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật Mọi người và mọi tổ chức hợp pháp đều bình đẳng trước pháp luật Cùng với nguyên tắc này, Nhà nước ta tiến tới thực hiện nguyên tắc không cấm, tất nhiên phải trong khuôn khổ của nền đạo đức XHCN và tôn trọng lợi ích của xã hội và của người khác Nguyên tắc này bảo đảm một mặt chống lại biểu hiện lộng quyền, lạm quyền và mặt khác chống những hành vi tự do, vô chính phủ
Giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước là xây dựng chế độ trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân (cá nhân), tức là giữa một bên là người đại diện quyền lực Nhà nước và một bên vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quyền lực Nhà nước Ở đây, Nhà nước xác định cho mình, cho các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ trách nhiệm pháp lý rõ ràng về các hành vi của họ Công dân được đảm bảo quyền và khả năng bắt buộc cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ phải chấp hành pháp luật, thực thi trách nhiệm của mình đối với họ
Muốn giải quyết mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước thì Nhà nước phải đặt mục tiêu của mình là phục vụ lợi ích chính đáng của dân Hơn nữa,
Trang 29việc của đất nước là việc của dân, cho nên muốn làm việc của đất nước thì phải tập hợp rộng rãi, phát huy đầy đủ khả năng và trí tuệ của toàn dân để cùng lo việc nước Đồng thời phải xây dựng một cơ chế để nhân dân kiểm soát có hiệu quả đối với các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước Liên quan tới vấn đề này, phải từng bước hoàn thiện chế độ dân chủ đại diện, nhưng cần hết sức coi trọng việc phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, tạo thành thói quen tốt trong sinh hoạt xã hội
Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước của dân, do dân bầu ra Do
đó, một khi Nhà nước không còn vì dân, nghĩa là nó không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân có quyền bày tỏ sự bất tín nhiệm đối với nói Đó là cơ sở để Bác Hồ nói rằng: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”
Trong các chế độ cũ, Nhà nước là bộ máy của giai cấp bóc lột dùng để thống trị và áp bức nhân dân; cho nên viên chức, quan lại tự xưng là cha mẹ dân, đè đầu cưỡi cổ dân Trong chế độ dân chủ XHCN, người chủ Nhà nước
là nhân dân; người cán bộ Nhà nước là do dân lựa chọn, được nhân dân ủy quyền, là “công bộc”; làm cán bộ là “làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng” Trong các cơ quan Nhà nước, cán bộ vừa là lãnh đạo, vừa là người hướng dẫn của nhân dân Do đó, “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không có ai dẫn đường” Chính vì vậy, trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ, Đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa
là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân Là người đầy tớ, cán bộ phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lo trước thiên
hạ, vui sau thiên hạ… Là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi và trọng dụng những người hiền
Trang 30tài, đức độ Bởi vậy, người thay mặt và người đại diện cho dân phải là người
có đức, có tài, phải vừa “hiền” lại vừa “minh”
Pháp luật đúng đắn, khoa học sẽ là cơ sở quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời pháp luật còn có tác dụng ngăn chặn tình trạng lạm dụng quyền lực của các cơ quan nhà nước và các cá nhân được nhà nước trao quyền Việc thực thi luật pháp phải triệt để, nghiêm minh, và đặc biệt "nhà cầm quyền chỉ được làm những gì pháp luật cho phép"
1.2 Cơ sở lý luận của việc bảo đảm QBC của bị can, bị cỏo
1.2.1 Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo
TTHS là một quá trình bao gồm một loạt các hoạt động được sắp xếp theo một trình tự nhất định, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Có thể nói, bị can, bị cáo luôn là trung tâm trong số những người tham gia TTHS, bởi vì hầu như mọi hoạt động tố tụng đều hướng tới việc làm rõ các vấn đề liên quan đến việc phạm tội hay không phạm tội của họ
Bị can là người đã có quyết định khởi tố hình sự
Bị cáo là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử
Khái niệm bị can, bị cáo được xác định theo những giai đoạn khác nhau của TTHS, nhưng có một điểm chung là đều bắt đầu bị buộc tội, song chưa bị coi là người có tội Theo quy định của Hiến Pháp năm 1992 thì “Người bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi họ có một bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tóa án” Do đó, để có thể có thái độ đối xử đúng đắn với bị can,
bị cáo, cần có nhận thức đúng đắn rằng bị can, bị cáo là công dân liên quan đến vụ án hình sự mà họ đang ở trong vòng TTHS theo quy định của pháp luật Khi đã coi bị can, bị cáo là công dân có nghĩa là pháp luật vẫn công nhận
họ còn quyền công dân, QCN, trừ những quyền bị pháp luật TTHS tạm thời hạn chế hoặc tạm thời tước bỏ
Trang 31Từ quan điểm coi bị can, bị cáo là công dân đang ở trong vòng tố tụng, chưa bị coi là người có tội, nên khi tiến hành các biện pháp điều tra, các cơ quan có thẩm quyền phải trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Quan điểm đó được thể hiện trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta quy định là trong hoạt động phòng, chống tội phạm không phải phát hiện, xử lý triệt để tội phạm mà gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp danh dự, nhân phẩm của con người, dù đó là những người đang bị buộc tội
Pháp luật nước ta nghiêm cấm việc đánh đập, bức cung, nhục hình đối với người bị buộc tội, người đang bị kết án, người có tội Đấu tranh để loại trừ tội phạm ra khỏi đời sồng xã hội nhưng không nhằm mục đích loại bỏ con người thực hiện tội phạm, tức là đấu tranh với hành vi phạm tội, chứ không phải đấu tranh, đàn áp cá nhân người phạm tội
Do pháp luật TTHS cũng như pháp luật hình sự nghiêm cấm việc xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người phạm tội, người bị buộc tội, cho nên khi tiến hành các hoạt động TTHS không được thực hiện các hành vi xâm hại đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, không được xâm phạm đến tư cách, danh dự nhân phẩm của cá nhân; chẳng hạn trong khi hỏi cung bị can, pháp luật nghiêm cấm dùng các lời nói, cử chỉ mang tính chất miệt thị, nhục mạ; không được sử dụng các bí mật đời tư không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội, các dị tật về thể chất, tinh thần của bị can; trong thực hiện điều tra không được thực nghiệm lại những điều có thể làm nhục, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người và ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục Nói chung, bất kỳ hoạt động trong giai đoạn nào của TTHS đều phải triệt để tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của bị can, bị cáo
Khi tham gia vào các hoạt động TTHS, bị can, bị cáo có vị trí đặc biệt, vì
họ là bên luôn tìm cách gỡ tội nhằm chống lại bên buộc tội đó là cơ quan công
Trang 32tố, cơ quan xét xử Bị can, bị cáo là người hiểu rõ nội dung, bản chất của vụ án hình sự có tính chất quyết định đến tiến trình giải quyết vụ án và tính chính xác của vụ án hình sự Vì vậy, pháp luật TTHS nước ta đã quy định khá đầy đủ, chi tiết về vị trí, vai trò, các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị can, bị cáo
Pháp luật và thực tiễn TTHS nước ta cho thấy, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan điều tra, cơ quan công tố, cơ quan xét xử luôn đứng về một phía (buộc tội); bị can, bị cáo thuộc về bên bị buộc tội, do đó, họ phải tự bảo vệ mình Để có thể bình đẳng với bên buộc tội thì điều đương nhiên
là bị can, bị cáo phải có quyền được bào chữa Mục đích của TTHS là tìm ra bản chất, sự thật của vụ án hình sự và trên cơ sở đó Tóa án đưa ra phán quyết thích hợp để xử lý người phạm tội Thông thường, sự thật của vụ án hình sự chỉ
có thể được xác định khi trong quá trình chứng minh tội phạm có sự cọ xát giữa những ý kiến khác nhau bao gồm những ý kiến, chứng cứ buộc tội và những ý kiến, chứng cứ gỡ tội (bào chữa) Buộc tội và bào chữa là hai mặt đối lập nhưng luôn song song tồn tại trong quá trình thống nhất, đó là tranh tụng trong TTHS Điều đó cho phép khẳng định rằng một đòi hỏi tất yếu, có tính nguyên tắc của TTHS là: ở đâu có buộc tội thì ở đó phải có gỡ tội (bào chữa) Trong TTHS, tranh tụng thực chất là một quá trình xác định sự thật khách quan của vụ
án, đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích TTHS và bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS có thể thực hiện một cách có hiệu quả nhất chức năng của mình ở tất cả các giai đoạn TTHS Tranh tụng không chỉ thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo của luật TTHS, là phương tiện
để bảo vệ các quyền công dân trong TTHS mà còn chi phối và định hướng cho mọi hoạt động và hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia TTHS
Nguyên tắc tranh tụng đã được ghi nhận trong pháp luật TTHS của nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, nguyên tắc này được thể hiện một cách
Trang 33gián tiếp, qua nhiều điều luật Ở mức độ khái quát nhất, nguyên tắc này bao gồm các nội dung cơ bản sau đây
- Tranh tụng là bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên (buộc tội và gỡ tội);
có nghĩa là hai bên được pháp luật TTHS dành cho các quyền tố tụng và phương tiện ngang nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
- Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi có sự phân định rõ chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử của tòa án
Chức năng buộc tội của bị can, bị cáo thuộc về cơ quan điều tra, cơ quan xét xử, người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của họ), cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích liên quan
Chức năng bào chữa thuộc về người bị buộc tội và người bào chữa của họ
1.2.2 QBC của bị can, bị cáo
12.2.1 Khái niệm QBC của bị can, bị cáo
Thực tế khách quan cho thấy, việc buộc tội đối với một người tất yếu dẫn đến làm phát sinh nhu cầu bào chữa của người đó Song không phải cứ có nhu cầu bào chữa là được đáp ứng ngay QBC QBC chỉ xuất hiện trên cơ sở nhu cầu của việc bào chữa đó được các nhà lập pháp cho là thiết yếu và quy định trong luật TTHS Nội dung và phạm vi QBC tùy thuộc vào quy định luật pháp của mỗi quốc gia
Trong số những người tham gia TTHS thì bị can, bị cáo có vị trí, vài trò đặc biệt Họ là người bị các cơ quan tiến hành TTHS xem xét nhằm buộc tội, nhưng họ chưa bị coi là có tội theo nghĩa đầy đủ, bởi vì theo quy định của pháp luật hiện hành, một người chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi bản án của tòa án kết tội đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật Trong nhiều trường hợp, quá trình TTHS đã dẫn đến việc kết luận là họ vô tội, hoặc khi có tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoặc có chứng cứ chứng minh
Trang 34tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của họ ở mức độ thấp hơn Do vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong các trường hợp nêu trên, Điều 11, Bộ Luật TTHS quy định nguyên tắc:
“Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” QBC của bị can, bị cáo là quyền mà pháp luật dành cho họ trong TTHS để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự
Khác với những người tham gia tố tụng khác, bị can, bị cáo đã tham gia vào tố tụng thì họ luôn phải chịu sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng và rất có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế Một số cơ quan tiến hành tố tụng có xu hướng tìm cách hạn chế việc sử dụng các phương tiện bảo vệ hợp pháp của bị can, bị cáo càng lâu càng tốt (ví dụ như hạn chế bị can, bị cáo gặp luật sư, không thông báo cho họ biết mình có những quyền gì ) để tránh sự phiền phức và mau chóng buộc tội được họ Trong điều kiện đó, việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị can, bị cáo là rất khó khăn và trong nhiều trường hợp phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự công minh của người tiến hành tố tụng
Qua các thời kỳ lịch sử, QBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được coi là một phần của QCN và được ghi nhận trong đạo luật của nhiều quốc gia Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10-12-1948 của Đại hội đồng liên hợp quốc quy định “1 Mỗi bị cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là
vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi bảo đảm hiện bộ cần thiết 2 Không ai bị coi là phạm tội về bất cứ hành động hoặc không hành động nào đã xảy ra vào thời điểm mà theo luật quốc gia hay luật quốc tế không cấu thành một tội hình sự”
Tương tự như vậy, không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được áp dụng vào thời điểm hành vi phạm tội được phát hiện”
Ở một số nước theo trường phái pháp luật Ănglô - Xắcxông, TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án hình sự được chuyển sang tòa án Theo
Trang 35đó, vấn đề bào chữa như một chức năng tố tụng xuất hiện từ thời điểm ấy Ở một số nước khác, TTHS cũng được coi là bắt đầu từ thời điểm khởi tố vụ án, nhưng pháp luật chỉ quy định QBC là quyền thuộc về bị cáo
Quan điểm của một số nhà nghiên cứu pháp lý hình sự Liên Xô (cũ) cho rằng, bào chữa là “Tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bị can” Theo
đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khái niệm QBC của bị can rộng hơn, bao trùm
cả QBC của bị cáo, bởi vì bất cứ bị cáo nào cũng đã là bị can, xong không phải
bị can bào cũng là bị cáo Quan điểm này đã được nhiều người ủng hộ
Một số nhà khoa học pháp lý hình sự cho rằng, chức năng bào chữa trong TTHS còn rộng hơn nữa, tức là bao hàm cả vấn dề không phải là buộc tội Những nhà khoa học này cho rằng: “Trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân tham gia tố tụng với tư cách khác nhau trong
đó có người bị hại cần bảo vệ lợi ích khỏi sự xâm hại có thể xảy ra” (Kucova K.PH “Quyền và bảo vệ các lợi ích trong TTHS Xô Viết”)
Ở Việt Nam, một số nhà khoa học pháp lý hình sự quan niệm: “QBC như một quyền năng tố tụng thuộc về người bị tình nghi phạm tội và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án” Theo tác giả Phạm Hồng Hải, QBC thuộc về bốn loại người: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bị kết án
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm về QBC trong TTHS đã được hiểu rất khác nhau Dù sao, ta cũng thấy rằng, nhu cầu bào chữa có thể xuất hiện, tồn tại ở tất cả các giai đoạn TTHS, kể cả giai đoạn tiền khởi tố và giai đoạn thi hành án
Các luật gia Việt Nam và thế giới đều khẳng định, việc buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phải do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo những thủ tục luật định và phải dựa trên những chứng cứ đúng đắn, hợp pháp và có căn cứ, nhằm mục đích không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Việc buộc tội đối với một người tất yếu dẫn đến sự hạn
Trang 36chế đối với một số quyền tự do về thân thể, đi lại và các quyền cơ bản khác của người đó Vì vậy, nếu buộc tội đối với người mà thực tế là người đó vô tội thì cũng có nghĩa là cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm QCN Tuy nhiên, dù cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội một người nào đó dựa trên các chứng cứ hợp pháp thì vẫn phải có nghĩa vụ bảo đảm các quyền mà pháp luật quy định cho họ (ví dụ như cho bị can, bị cáo được bày tỏ thái độ của mình đối với lời buộc tội, được chứng minh là mình vô tội, đưa ra những căn cứ để minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội ), tức là phải bảo đảm cho bị can, bị cáo có quyền được bào chữa Với nhận thức như vậy, pháp luật TTHS Việt Nam đã quy định nguyên tắc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo và coi đó là một trong những phương tiện bảo đảm QCN và quyền này không bị hạn chế bởi bất cứ
cá nhân, cơ quan, tổ chức nào
Từ sự phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về QBC trong TTHS
như sau: QBC trong TTHS là tổng hợp các quyền năng TTHS của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ
sự buộc tội đối với họ của các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án hình sự
Theo quan niệm nói trên thì QBC của bị can, bị cáo là một phần của QBC trong TTHS Họ có thể tự mình thực hiện quyền năng này hoặc nhờ người khác trợ giúp nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ việc buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng
1.2.2.2 Các hình thức bào chữa của bị can, bị cáo
a) Tự mình bào chữa
QBC của bị can, bị cáo trong TTHS trước hết là quyền của chính bị can, bị cáo mà pháp luật TTHS cho phép họ sử dụng để tự chống lại việc buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng Nội dung của QBC này bao gồm: quyền được đưa ra những căn cứ hoặc nhận xét chứng cứ, đề xuất ý kiến v.v
Trang 37Bộ luật TTHS nước ta quy định cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo QBC của họ Điều đó có nghĩa là, các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm cho bị can, bị cáo những điều kiện sau:
+ Được giao nhận bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra;
+ Được thông báo về nội dung kết luận giám định;
+ Được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại;
+ Được tự đọc hoặc nghe lại biên bản hỏi cung và ký nhận vào từng trang biên bản Nếu cuộc hỏi cung được ghi âm thì sau khi kết thúc cuộc hỏi cung bị can được quyền nghe lại băng ghi âm;
+ Được có người phiên dịch khi bị can là người nước ngoài hoặc người
dân tộc (khi cần thiết); v.v
Bị can, bị cáo có quyền chứng minh sự vô tội của mình hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bằng những căn cứ, lý lẽ của mình, hoặc chứng minh về sự thiếu chính xác đối với các chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra để buộc tội mình Cơ quan tiến hành tố tụng phải coi các căn cứ, lý lẽ đó là có giá trị tương đương với các chứng cứ buộc tội khi xem xét, cân nhắc các tình tiết của vụ án
Nhằm bảo đảm các điều kiện nêu trên, pháp luật TTHS nước ta quy định ngay sau khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải thông báo cho người bị khởi tố với tư cách bị can biết họ bị khởi tố về tội gì cũng như các quyền, nghĩa vụ đối với họ Từ đó, bị can có điều kiện lựa chọn, quyết định nội dung và biện pháp bảo vệ mình
Trong quá trình tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để
bị can, bị cáo có thể xuất trình tài liệu, căn cứ; tham gia nhận xét, đánh giá các chứng cứ của vụ án liên quan tới họ, đặc biệt là các chứng cứ buộc tội Họ
Trang 38được nhận xét, đánh giá về tính xác thực, giá trị pháp lý của các chứng cứ buộc tội và nếu các chứng cứ này có nguồn gốc không rõ ràng, được thu thập không đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định thì bị can, bị cáo có quyền đề xuất việc xác minh, kiểm tra lại bằng các biện pháp tố tụng như giám định lại, giám định bổ sung, lấy thêm lời khai người làm chứng, thực nghiệm điều tra để kiểm tra các giả thuyết Nếu tất cả những yêu cầu,
đề xuất này là chính đáng, hợp pháp thì phải được các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đáp ứng một cách nghiêm túc và nhanh chóng
Vì các lý do nêu trên, tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật TTHS đã quy định bị can có các quyền: được biết mình bị khởi tố về tội gì; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy
định của Bộ luật này; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa…
b) Nhờ người khác bào chữa
Nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị buộc tội, đặc biệt là bị can, bị cáo, pháp luật TTHS Việt Nam ngày càng đề cao vai trò của người bào chữa Những quy định của pháp luật về bào chữa, ngoài ý nghĩa nhân đạo, còn làm tăng khả năng làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của vụ
án Sự có mặt của người bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự sẽ đối trọng, buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện công việc của mình nghiêm túc, thận trọng hơn, qua đó áp dụng pháp luật chính xác hơn, hạn chế tối đa những sai sót xảy ra trong quá trình tố tụng
Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS, người bào chữa có thể là: + Luật sư;
+ Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Bào chữa viên nhân dân
Trang 39Về luật sư: đây là người hoạt động bào chữa hoặc tư vấn pháp luật
chuyên nghiệp, tham gia hoạt động trong các đoàn luật sư, được pháp luật cho phép thực hiện việc bào chữa trong giai đoạn điều tra, xét xử Luật sư chỉ trở thành người bào chữa khi họ tham gia TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo Luật sư không chỉ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo mà họ còn có vai trò là người góp phần tích cực vào việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật, góp phần thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
Về người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo: ngoài việc có thể nhờ
luật sư bào chữa cho mình, bị can, bị cáo còn có thể thông qua người đại diện hợp pháp của mình để thực hiện QBC nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình Pháp luật TTHS nước ta quy định, trong trường hợp bị can là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần
mà không thể tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ theo luật định thì phải có người đại diện hợp pháp cho họ khi tham gia tố tụng
Về bào chữa viên nhân dân: theo quy định của Bộ luật TTHS, bào chữa
viên nhân dân được hiểu là người được một tổ chức, đoàn thể xã hội thuộc Mặt trận tổ quốc Việt Nam hoặc các tổ chức thành viên của Mặt trận cử ra để bào chữa cho bị can là thành viên của tổ chức mình Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể quy định của Bộ luật TTHS
về hoạt động của bào chữa viên nhân dân
Bào chữa viên nhân dân khi tham gia tố tụng để bào chữa cho bị can, bị cáo sẽ được pháp luật quy định cho những quyền nhất định, đồng thời phải chấp hành các nghĩa vụ theo quy định tại các điều 57, 58 Bộ luật TTHS
Để bảo đảm việc bào chữa được khách quan, tránh thiên lệch, khoản 2 Điều 56 Bộ luật TTHS quy định những người sau không được bào chữa:
Trang 40- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người
đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch
Ngoài ra, khoản 3 Điều 56 còn quy định: một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bào chữa dù là luật sư, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo hay là bào chữa viên nhân dân, muốn thực hiện nhiệm vụ bào chữa đều phải được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật và chấp nhận để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa trong vụ
án do cơ quan tiến hành tố tụng đó thụ lý Tuy vậy, việc người bào chữa có được tham gia vào quá trình tố tụng hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của bị can, bị cáo Điều 57 Bộ luật TTHS quy định: “Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn” Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ yêu cầu cử người bào chữa nếu bị can,
bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa trong những trường hợp sau:
1 Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được qui định tại Bộ luật hình sự
2 Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm