1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền bình đẳng về việc làm trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

140 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, tại điều 7 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khẳng định quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là đư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ BÍCH QUYÊN

QUYÒN B×NH §¼NG VÒ VIÖC LµM TRONG PH¸P LUËT QUèC TÕ Vµ PH¸P LUËT VIÖT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN LAN NGUYÊN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Bích Quyên

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục những chữ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 8

1.1 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 8

1.1.1 Khái niệm quyền việc làm 8

1.1.2 Quyền bình đẳng việc làm 14

1.2 NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM 22

1.2.1 Quyền được làm việc 26

1.2.2 Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức 28

1.2.3 Quyền được hưởng mức lương công bằng, hợp lý và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau 30

1.2.4 Quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn vệ sinh 30

1.2.5 Quyền nghỉ ngơi 31

1.2.6 Quyền công đoàn 32

1.2.7 Quyền hưởng an sinh xã hội 33

1.3 BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA XÃ HỘI CỦA QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM 34

1.3.1 Bản chất củ a quyền được làm viê ̣c và quyền bình đẳng về việc làm 34

1.3.2 Nguồn gốc củ a quyền bình đẳng về viê ̣c làm 36

Trang 4

1.3.3 Ý nghĩa xã hô ̣i của quyền bình đẳng về viê ̣c làm 37

1.4 CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 40

1.5 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM

VÀ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI KHÁC 41

Chương 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG

TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 45 2.1 QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC QUY

ĐỊNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC 452.1.1 Quyền bình đẳng về việc làm trong Tuyên ngôn Quốc tế

nhân quyền 452.1.2 Quyền bình đẳng về việc làm trong Công ước về xóa bỏ mọi

hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 472.1.3 Quyền bình đẳng về viê ̣c làm trong các văn bản một số quốc gia 50

2.2 QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC QUY

ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ ILO 522.2.1 Sơ lược về Tổ chức Lao động Quốc tế 52

2.2.2 Quy định quyền bình đẳng về viê ̣c làm của ILO 54

2.3 QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC CÔNG

ƯỚC VỀ QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA 612.3.1 Sơ lược về Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 612.3.2 Quyền bình đẳng về viê ̣c làm trong ICESCR 61

Chương 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG TRONG

LĨNH VỰC VIỆC LÀM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO

ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 69 3.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG

LĨNH VỰC VIỆC LÀM 69

Trang 5

3.1.1 Nhận xét chung 69

3.1.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền bình đẳng trong lĩnh vực việc làm 80

3.1.3 Tính tương thích của pháp luật Việt Nam và pháp luật Quốc Tế về quyền bình đẳng trong lĩnh vực việc làm 91

3.1.4 Những thành tựu thúc đẩy và bảo đảm quyền bình đẳng về viê ̣c làm ở Việt Nam hiện nay 103

3.1.5 Những bất cập trong việc bảo đảm quyền bình đẳng về viê ̣c làm ở Việt Nam hiện nay 107

3.2 GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 112

3.2.1 Những yêu cầu đật ra nhằm đảm bảo quyền bình đẳng việc làm 112

3.2.2 Những kiến nghị trong việc xây dựng pháp luật quyền bình đẳng việc làm 117

3.2.3 Kiến nghị trong việc thực hiện quyền bình đẳng việc làm 122

KẾT LUẬN 127

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BLLĐ: Bộ luật lao động CEDAW: Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất

cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination against Women) ECHR: Hiến chương Xã hội châu Âu

GDP: Tổng thu nhập Quốc nội ICESCR: Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế,

Xã hội và Văn hóa ILO: Tổ chức Lao động quốc tế LĐN: Lao động nữ

LHQ: Liên Hợp Quốc UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng thống kê số LĐN trong các doanh nghiệp tại các

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền được làm viê ̣c là điều kiê ̣n cốt lõi để thực hiê ̣n các quyền con người khác và ta ̣o nên mô ̣t phần quan tro ̣ng, không thể tách rời và tự nhiên của nhân phẩm Mỗi cá nhân đều có quyền được ta ̣o điều kiê ̣n làm viê ̣c để sống có nhân phẩm Quyền được làm viê ̣c cùng lúc đóng góp vào sự tồn tại của cá nhân và gia đình của các cá nhân đó chừng nào con người được tự do lựa cho ̣n và chấp nhâ ̣n công viê ̣c để phát triển bản thân và được thừa nhận trong cộng đồng.[17]

Quyền việc làm là mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng trong những quyền cơ bản của con người được quy định tại điều 23 của UDHR, được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948), và cũng được quy định trong các công ước quốc tế Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16

tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 03 tháng 01 năm 1976

Quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm là mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng trong hê ̣ thống các quyền kinh tế , xã hội cơ bản của con người Quyền này bao gồm các khía ca ̣nh như quyền có viê ̣c làm , quyền tự do lựa ch ọn nghề nghiê ̣p, được trả lương công bằng , xứng đáng, được bảo đảm các điều kiê ̣n lao đô ̣ng an toàn , tôn tro ̣ng nhân phẩm Trước khi được ghi nhâ ̣n trong công ước các quyền về kinh tế , xã hội, văn hóa, quyền này còn được ghi nhận và bảo vệ bởi rất nhiều văn kiện do ILO khởi xướng Một chức năng cơ bản của ILO là thiết lập các chuẩn mực lao động quốc tế bằng việc thông qua các công ước và khuyến nghị bao trùm các lĩnh vực liên quan đến lao động Các chủ đề rất rộng, bao gồm tự do lập hội, sức khỏe người lao động, các điều kiện lao động trong lĩnh vực hàng hải, lao động ban đêm, phân biệt đối xử, lao động cưỡng bức, lao động trẻ em…

Trang 9

Viê ̣c tôn tro ̣ng , bảo đảm và thúc đẩy quyền bình đẳng việc làm là một trong những ưu tiên của hầu hết các quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam, đã có những quy đi ̣nh để đảm bảo quyền bình đẳng về viê ̣c làm được quy đi ̣nh trong hiến pháp, Bô ̣ luâ ̣t dân sự , Bô ̣ luâ ̣t lao đô ̣ng , Luật việc làm , tuy nhiên ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa , vấn đề bình đẳng của người lao đô ̣ng trong lĩnh vực việc làm là một trong những mối quan tâm của các Chính phủ , làm thế nào để thực hiê ̣n đầy đủ các quy đi ̣nh của luâ ̣t pháp quốc tế cũng như là viê ̣c triển khai áp du ̣ng các quy đi ̣nh này trong pha ̣m vi lãnh thổ quốc gia là

mô ̣t trong những thách thức không nhỏ

Viê ̣t Nam là mô ̣t quốc gia có dân số được đánh giá là “dân số trẻ” với trung bình cả nước năm 2011 ước tính khoảng gần 90 triệu người, bao gồm:

Dân số nam 43,47 triệu người, chiếm 49,5% tổng dân số cả nước; dân số nữ 44,37 triệu người, chiếm 50,5%, Dân số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số cả nước; dân số khu vực nông thôn 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011 của cả nước là 51,39 triệu người Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người.[29]

Trong quan hê ̣ lao đô ̣ng quá trình thực hiê ̣n quyền bình đẳng viê ̣c làm

mô ̣t số quy đi ̣nh cũng như viê ̣c thực hiê ̣n các quy đi ̣nh này trong thực tiễn còn

mô ̣t số vấn đề còn chưa được toàn diê ̣n , còn bộc lộ những điểm hạn chế trong viê ̣c: Tiếp câ ̣n viê ̣c làm , xét tuyển lao động , duy trì viê ̣c làm , điều kiê ̣n lao

đô ̣ng, trả công hợp lý hay các điều kiện chấm dứt lao động , hưởng các chính sách bảo hiểm xã hội của người lao động v v Thâ ̣m chí quan hê ̣ lao đô ̣ng xét theo các nhóm lao đô ̣ng dễ bi ̣ tổn thương như lao đô ̣ng nữ , người lao đô ̣ng khuyết tâ ̣t, lao đô ̣ng trẻ em, người lao đô ̣ng cao tuổi, lao đô ̣ng nhâ ̣p cư, hay là lao đô ̣ng tự do cần phải có mô ̣t cơ chế bảo hô ̣ toàn diê ̣n nhằm bảo đảm quyền bình đẳng và đấu tranh chống lại sự phân biệt đối xử không công bằng với họ

Trang 10

Các chính sách của Đảng và Nhà nước đôi khi chưa được hiện thực hóa thành các quy định của pháp luật một cách kịp thời cho nên đã dẫn đến tình trạng có những nơi quyền bình đẳng trong lao động và việc làm của người lao

đô ̣ng bi ̣ ha ̣n chế, cũng có những khu vực dễ bị vi phạm như khu vực kinh tế tư nhân nhưng viê ̣c can thiê ̣p của các cơ quan quản lý vào viê ̣c quản lý lao đô ̣ng lại rất hạn chế Điều đó giải thích phần nào thực tra ̣ng quyền lợi của người lao

đô ̣ng bi ̣ xâm pha ̣m nghiêm tro ̣ng do trình đô ̣ văn hóa và hiểu biết luâ ̣t pháp còn thấp hoặc đôi khi do buộc phải mưu sinh nên phải đồng ý làm việc với những điều kiê ̣n lao đô ̣ng khắc nghiê ̣t đồng thời với mức thu nhâ ̣p rẻ ma ̣t

Nói chung, ở cả góc độ pháp lý và thực tiễn vấn đề quyền bình đẳng việc làm của người lao động còn chưa được thực sự quan tâm một cách đúng mức

Với những lý do trên , tác giả chọn đề tài :“Quyền bình đẳng viê ̣c làm

trong quy đi ̣nh của Pháp luật quốc tế và Pháp luật Viê ̣t Nam ” làm chủ đề

cho luâ ̣n văn tha ̣c sỹ chuyên ngành pháp luâ ̣t về quyền con người nhằm mu ̣c đích khắc phu ̣c những quy đi ̣nh của Pháp Luâ ̣t Viê ̣t Nam để đảm bảo cho tất

cả mọi người đều có quyền bình đẳng việc làm trước tình hình kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển ma ̣nh mẽ Đồng thời nhằm bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luâ ̣t của Viê ̣t Nam hiê ̣n đã có, các giải pháp đảm bảo cho việc thực thi quyền này trong quan hê ̣ lao đô ̣ng ở nước ta

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cuốn sách Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu làm chủ biên do Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân Khoa luật trường Đại học quốc gia Hà Nội quyết định xuất bản số:40 KH-XH/QĐ-NXB ĐHQG quý IV năm 2013

Bài viết của tác giả Phương Liễu về vấn đề bình đẳng giới trong lao

đô ̣ng và viê ̣c làm đăng trên báo Đ ồng Nai ngày 24/4/2012, nô ̣i dung về “ bất bình đẳng trong việc chi trả lương cho lao động nữ, tỷ lệ phụ nữ thất nghiệp ở Viê ̣t Nam cao hơn nam giới [40]

Trang 11

Tuy nhiên:

Theo Bà Nguyễn Phước Mạnh, Trưởng ban nữ công (Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh cho hay, thúc đẩy và thực hiện các quyền của lao động nữ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của chị em luôn là mối quan tâm hàng đầu và là một trong những ưu tiên trong hoạt động nữ công Tuy nhiên, theo bà Mạnh, nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động, Luật Bình đẳng giới đối với lao động nữ, thậm chí ngay từ thông báo tuyển dụng, lao động

nữ thường bất lợi hơn lao động nam, như độ tuổi trẻ hơn, có ngoại hình và thể lực tốt… thậm chí một số doanh nghiệp còn yêu cầu lao động nữ cam kết thời gian lấy chồng và sinh con cùng với các yêu cầu khác về thể trạng Những quy định thiếu bình đẳng này sẽ liên quan đến hôn nhân và việc sinh con của lao động nữ.[40]

Nghiên cứu của tác giả Linda Hill đăng trên Website của Bô ̣ phát triển

xã hội của New Zealand ngày 21 tháng 3 năm 2004 nghiên cứu về quyền được làm viê ̣c và trả lương bình đẳng trong viê ̣c làm ta ̣i Newzeland Tác giả

đề cập đến “quyền được trả lương công bằng , không phân biê ̣t đối xử giữa lao động nam và lao độ ng nữ, các giải pháp trong việc ban hành pháp luật đảm bảo quyền bình đẳng về viê ̣c làm và trách nhiê ̣m của Chính phủ trong viê ̣c bảo đảm, thúc đẩy việc thực hiện các quy định của ILO về việc làm”.[34]

The Guardian, thứ năm 19/8/2010 nghiên cứu về bình đẳng trong trả lương giữa nam và nữ ta ̣i Anh Nô ̣i dung chính của nghiên cứu này chỉ ra

rằng, tại Anh “vẫn tồn tại sự bất bình đẳng về trả lương cho lao động nữ , tỷ

lê ̣ thất nghiê ̣p của nữ giới cao hơn nam giới”.[32]

Nghiên cứu của Jenna Goudreau về bình đẳng trong viê ̣c làm đối với phụ nữ ở Mỹ, ông Tom Abinati, Dân Biểu tiểu bang New York Thượng nghị

sĩ Joseph Robach cho biết: “Tất cả các cá nhân, bao gồm cả phụ nữ, nên được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc Điều này có nghĩa cơ hội bình đẳng cho công việc và việc làm cũng như trả lương như nhau”.[31]

Trang 12

Ngoài ra còn có một số luận văn đã đề cập đến bảo vệ quyền có việc làm của người lao động tuy nhiên trong phạm vi luận văn này tôi đề cập đến vấn đề quyền bình đẳng về việc làm của người lao động trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế

3 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứ u tổng quát về quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm của người lao đô ̣ng ta ̣i Viê ̣t Nam, đánh giá các chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề quyền bình đẳng viê ̣c làm từ đó đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiê ̣n quyền này trong thực tiễn

- Trướ c những thách thức và đòi hỏi của hội nhập kinh tế với thế giới , pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bình đẳng về việc làm của người lao động cần có sự tương thích với các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t quốc tế Mục đích nghiên cứu của luâ ̣n văn này nhằm đưa ra những điểm đã và chưa tương thích đồng thời đề ra các giải pháp trong viê ̣c đảm bảo viê ̣c thực hiê ̣n pháp luâ ̣t

quốc tế ta ̣i Viê ̣t Nam

b Nhiê ̣m vụ nghiên cứu

Để thực hiê ̣n được mu ̣c đích nêu trên , tác giả đưa ra và giả i quyết các nhiê ̣m vu ̣ sau:

- Nghiên cứ u, làm rõ nhận thức về quyền việc làm và quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm

- Nghiên cứu , phân tích khung pháp luật quốc tế về quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm

- Phân tích các quy đi ̣nh của pháp luật quốc tế liên quan đến việc bảo đảm quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm Từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền bình đẳng về viê ̣c làm với các chuẩn mực quốc tế

- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bình đẳng về viê ̣c làm ở Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân của những bất cập trong việc bảo đảm quyền bình đẳng viê ̣c làm

Trang 13

- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng về viê ̣c làm ở Việt Nam trong thực tiễn

- Kiến nghi ̣ hoàn thiê ̣n những vấn đề liên quan đến quyền bình đẳng về viê ̣c làm trong viê ̣c xây dựng pháp luâ ̣t ta ̣i Viê ̣t nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứ u về các vấn đ ề lý luận trong việc xây dựng pháp luật và thực hiê ̣n quyền bình đẳng viê ̣c làm ta ̣i Viê ̣t Nam so sánh với các quy đi ̣nh của Pháp luật quốc tế

- Nghiên cứ u về các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ta ̣i Viê ̣t Nam về quyền bình đẳng viê ̣c làm và viê ̣c thực hiê ̣n các quy đi ̣nh này trong thực tiễn

b Phạm vi nghiên cứu

Trên thực tế quyền viê ̣c làm của người lao đô ̣ng được tổ chức Liên hợp quốc và Tổ chức lao đô ̣ng quốc tế quy đi ̣nh rất nhiều trong các công ước và văn bản luâ ̣t khác nhau Tuy nhiên trong pha ̣m vi của đề tài này tác giả xin đề

câ ̣p đến quyền bình đẳng về viê ̣c làm của người lao đô ̣ng nữ trong các lĩnh vực: Đào ta ̣o, tiếp câ ̣n nguồn thông tin tuyển du ̣ng , các điều kiện tiếp nhâ ̣n viê ̣c làm, các chính sách như lương bổng và điều kiện làm việc và các chính sách phúc lợi xã hội khác

Ngoài ra, nô ̣i dung đề tài còn đề câ ̣p đến quyền bình đẳng về viê ̣c làm đối với các đối tượng thuô ̣c các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội như : Phụ nữ, người cao tuổi, lao đô ̣ng trẻ em , lao đô ̣ng di trú , lao đô ̣ng nông thôn , lao

đô ̣ng là người khuyết tâ ̣t v.v

Trong pha ̣m vi luâ ̣n văn có tham khảo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t của mô ̣t số quốc gia trên thế giới về quyền bình đẳng viê ̣c làm cho người lao đô ̣ng của quốc gia đó

5 Phương pha ́ p và tài liê ̣u nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận : Chủ nghĩa

Trang 14

Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm, quan điểm của cộng đồng quốc tế về quyền bình đẳng viê ̣c làm ; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng viê ̣c làm cho mo ̣i công dân trong xã hô ̣i

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích – tổng hợp,

xã hội học, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm

6 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan pháp luật về quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm

Chương 2: Pháp luật quốc tế về quyền bình đẳng trong lĩnh vực viê ̣c làm

Chương 3: Pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng trong lĩnh vực việc làm giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG

TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

1.1 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC

VIỆC LÀM

1.1.1 Khái niệm quyền viê ̣c làm

Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền thì quyền làm việc cũng như các quyền khác của con người là một giá trị nhân loại được ghi nhận trong Tuyên bố chung về quyền con người do Liên hợp quốc

thông qua ngày 10/12/1948:” Mọi người sinh ra đều có quyền tự do bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Mọi người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em” (Điều 1) Ngoài ra tại điều 25 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người còn quy định rõ:”Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân

và gia đình, về các phương diện ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch

vụ xã hội cần thiết cũng như có quyền được bảo trợ trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống xuất phát từ những hoàn cảnh khách quan mà vượt quá khả năng đối phó của họ”

Quyền làm việc còn là một trong những quyền về kinh tế, xã hội Cụ thể hóa các quyền về việc làm trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), Công ước về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa do Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966, tại khoản 1, điều 6 quy định: „ Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm các quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải

Trang 16

thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này” Tại khoản 2 điều này quy định các quốc gia thành viên thừa nhận rằng:‟ Phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hóa, tạo công ăn, việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân” Như vậy có thể thấy tất cả mọi người đều có quyền làm việc, quyền có cơ hội kiếm sống bằng công việc do chính bản thân họ tự chọn và chấp thuận Quyền làm việc đối với mỗi người là một nhu cầu của cuộc sống để sinh tồn phát triển và hoàn thiện mình [49]

Ngoài ra, tại điều 7 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khẳng định quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm bảo: a) Thù lao cho

tẩ cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thỏa đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ; b) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; c) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; d) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường

kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho các ngày nghỉ lễ [50]

Quyền bình đẳng về việc làm, bao gồm quyền làm việc và quyền tự do việc làm là một trong các quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới Quyền làm việc theo nội dung các văn kiện của Liên hợp quốc rất đa dạng và phong phú Việc làm không những tạo ra thu nhập giúp người lao động nuôi sống bản thân và gia đình mà còn góp phần phát triển xã hội và nhân cách Chính vì thế, bất cứ một

Trang 17

sự phân biệt đối xử nào trong việc tiếp cận và duy trì công việc đều bị nghiêm trị Tự do việc làm và lựa chọn việc làm chốg lại lao động cưỡng bức đã trở thành mối quan tâm của thời đại Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm, có nghĩa phải đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm thực hiện quyền này một cách đầy đủ và hiệu quả „Chính vì vậy trong luật lao động quốc tế, tự do làm việc và tự do lựa chọn việc làm, chống lại lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc đã trở thành một trong bốn vấn đề cơ bản nhất hiện nay” [49]

“Quyền việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm quyền lao động cho công dân là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động”[18] Công dân có sức lao động phải

được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Do đó, hơn bao giờ hết, quyền việc làm có vai trò hết sức quan trọng và việc tìm hiểu về quyền việc làm có ý nghĩa cả trong lí luận và thực tiễn

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Người có việc làm chính là những người hiện đang tham gia các hoạt động đó Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã hội Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định từ phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải quyết các vấn đề cửa quốc gia

Trang 18

Ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế vào hoàn

cảnh Việt Nam, BLLĐ đã định nghĩa “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”[1]

Hiến pháp năm 1992 và điều 35 của Hiến pháp 2013 quy định:

1 Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; 2 Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng , an toàn; được hưởng lương , chế đô ̣ nghỉ ngơi; 3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.[18]

Cụ thể hóa quyền lao động của công dân, Nhà nước đã ban hành BLLĐ trong đó khẳng định rõ: Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không

bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để

có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ

Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Người cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm để tìm việc tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình

Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật

Trang 19

Bên cạnh việc ban hành BLLĐ cụ thể hóa quyền lao động, quyền có việc làm của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện tốt quyền của mình theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta còn ban hành nhiều luật để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền lao động của công dân như: Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ luật dân sự; Luật Thương mại

Ngoài ra, Nhà nước ta còn đề ra hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế xã hội to lớn, đồng bộ với nhiều hoạt động như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm với những hoạt động (thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng người nghèo; giao quyền sử dụng ruộng đất để khuyến khích trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ )

Nhằm bảo đảm quyền lao động cho công dân, Nhà nước đã có một

hệ thống các chủ trương, chính sách thông thoáng đã thu hút được sự đầu

tư của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài Các công ty xuyên quốc gia, các công ty liên doanh xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, giúp người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống cho bản thân và đóng góp công sức cho sự phát triển kinh tế đất nước…

Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động trên cơ sở đó giải quyết nhu cầu việc làm cho mọi đối tượng lao động Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động

Hiến pháp năm 2013 quy định:

Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ

Trang 20

ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.[18]

Đi đôi với quyền làm việc, công dân có nghĩa vụ tuân thủ kỷ luật lao động, lao động một cách nghiêm túc và thực hiện các quy tắc an toàn lao động Nhà nước cũng đòi hỏi công dân thực hiện nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng Việc thực hiện tốt các nghĩa vụ trên tạo điều kiện quan trọng để Nhà nước có thể bảo đảm tốt hơn quyền lao động của công dân

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thừa nhận:

Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp; Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không

có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội; Và mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo

vệ các quyền lợi của mình.[10]

Cụ thể hóa các quyền về lao động tại Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR), các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền làm việc:

Trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền

Trang 21

việc làm Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền việc làm, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế,

xã hội và văn hoá, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân.[6]

1.1.2 Quyền bi ̀nh đẳng viê ̣c làm

Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau Năm 1948, LHQ ra Tuyên ngôn toàn thế

giới về quyền con người, khẳng định: "Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền"[10] Câu đầu tiên trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam cũng khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng"[38] Ý tưởng về sự bình đẳng này được trích dẫn từ tuyên ngôn

độc lập của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách

mạng Pháp Điều đó cho thấy “bình đẳng” là một nguyên lý căn bản được chấp nhận bởi mọi quốc gia, mọi dân tộc “Bình đẳng” là một khái niệm

chung của cả nhân loại, nó hướng đến việc khẳng định quyền lợi ngang nhau của mọi người, mọi đối tượng, mọi nhóm người trong xã hội Bình đẳng là mục tiêu phấn đấu của mọi dân tộc, mọi xã hội tiến bộ và là lý tưởng chung của mọi cuộc cách mạng trên thế giới

1.1.2.1 Dưới góc độ luâ ̣t học

Quyền bình đẳng việc làm được hiểu là mỗi người đều có cơ hội như nhau về mặt pháp lý để phát triển khả năng của mình Các quyền bình đẳng việc làm của công dân được tôn trọng và bảo vệ, được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia Trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, mục tiêu quyền bình đẳng việc làm được đặt lên

Trang 22

hàng đầu Lý tưởng bình đẳng việc làm là cơ sở của các chính sách phát triển đất nước, xã hội, bởi xét cho cùng, việc phát triển đất nước là nhằm mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân và điều này sẽ không thể nào đạt được nếu thiếu sự bình đẳng việc làm

Ở Việt nam, quyền bình đẳng việc làm là sự tự do lựa chọn việc làm được và được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và BLLĐ, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại Quyền được có việc làm được Nhà nước ta ghi nhận lần đầu trong Hiến pháp 1959 (Điều 30) và tiếp tục được khẳng định tại Điều 58 của Hiến pháp 1980 Cùng với việc khẳng định quyền được lao động, Hiến pháp còn nhấn mạnh đến nghĩa vụ của mỗi công dân, đó là:

“Người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật”[37]

Đồng thời, Hiến pháp 1980 cũng xác định trách nhiệm của Nhà nước trong

việc tạo cho nhân dân thực hiện quyền có việc làm của mình “Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội…”[37] Điều 58 Hiến pháp năm 1980 quy định về quyền có việc làm của

công dân như sau:

… Công dân có quyền có việc làm Người lao động phải lao động theo quy định của pháp luật Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng của cá nhân và yêu cầu của

xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc [39]

Tiếp đến, quyền lao động tiếp tục được bổ sung ngày càng cụ thể hơn trong Hiếp pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới và toàn cầu hóa

Điều 55 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”.[18]

Trang 23

Tại Hiến pháp 2013 quy định tại điều 35 nêu rõ:

1 Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc

2 Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế đô ̣ nghỉ ngơi

3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.[21]

Trong Bộ luật Dân sự quyền có việc làm được biểu đạt thông qua quyền lao động và được coi là một trong những quyền nhân thân cơ bản của công dân Điều 49 Bộ luật Dân sự quy định về quyền lao động của công dân

như sau: “Cá nhân có quyền lao động Mọi người đều có quyền làm việc, tự

do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”[40] Quyền lao động là một

trong những quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm quyền lao động cho công dân là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội

Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền được lao động của người dân, Nhà nước đã ban hành BLLĐ cụ thể hóa quyền có việc làm, quyền tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp của người lao động BLLĐ cũng là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định Khoản 1 Điều 5 BLLĐ năm 2012 quy định về quyền

có làm việc, tự do lựa chọn việc làm, được hưởng thù lao

Tại bộ luật về việc làm quy định: 1 Mọi người lao động được bình

đẳng về các cơ hội việc làm Không được phân biệt đối xử đối với người lao động vì lý do dân tộc, chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo 2 Người lao động được bảo đảm cơ hội việc làm, làm việc trong điều kiện an toàn

Trang 24

1.1.2.2 Dưới góc độ chính trị học

Quyền bình đẳng việc làm có nghĩa là quyền bình đẳng về cơ hội việc làm, nghĩa là mọi người đều được tạo một cơ hội việc làm như nhau để phấn đấu và vươn lên trong xã hội, nếu ai nỗ lực nhiều hơn, học giỏi hơn, làm việc hiệu quả hơn, tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn Hơn nữa, quyền bình đẳng việc làm cũng bao gồm cả việc tạo điều kiện cho những nhóm người có khó khăn hơn như người nghèo, người già, trẻ em, người tàn tật, dân tộc thiểu

số, người ở vùng sâu vùng xa… giảm bớt những khó khăn của họ Quyền bình đẳng việc làm không có nghĩa là mọi người đều được hưởng các lợi ích như nhau trong việc làm, mà là bình đẳng về điều kiện, cơ hội để phát triển,

áp dụng tài năng của mỗi cá nhân trong xã hội; Quyền bình đẳng việc làm giữa các cá thể trong mỗi cộng đồng và giữa các cộng đồng với nhau

Quyền bình đẳng việc làm là nền tảng, cơ sở và là nguyên lý cơ bản của mọi thiết chế xã hội, mọi quy định, luật lệ Xã hội càng tiến bộ thì tính bình đẳng việc làm giữa mọi công dân càng cao Trong một xã hội dân chủ pháp trị, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, kể cả tổng thống, nếu vi phạm pháp luật cũng phải ra tòa như một thường dân Quyền bình đẳng việc làm là mục tiêu ban đầu và lâu dài của mọi nỗ lực xây dựng xã hội, là thước

đo trình độ văn minh và tiến bộ của một đất nước

1.1.2.3 Dưới góc độ tiếp cận nội dung quyền bình đẳng việc làm

- Quyền bi ̀nh đẳng về viê ̣c làm xét dưới góc độ đào tạo

Muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu về chất lượng lao động ngày càng cao Hiện nay đang có một nghịch lý rất đáng quan tâm là, trong khi việc đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động ngày càng khó khăn, thì lượng lao động

đã qua đào tạo lại thất nghiệp ngày càng tăng Trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu cạnh tranh trên thương trường, buộc các doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ hợp tác thường xuyên với Nhà trường, đồng thời cũng khiến các cơ

Trang 25

sở đào tạo phải chú trọng hơn đến nhu cầu của thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp, để đào tạo sinh viên đáp ứng ngay được với vị trí công việc được tuyển dụng Các hình thức hợp tác có tính khả thi và phổ biến cao là nhà trường cung cấp cho doanh nghiệp những sinh viên tốt nghiệp chất lượng cao theo yêu cầu của doanh nghiệp; Tổ chức đào tạo chuyên sâu và ngắn hạn, cũng như đào tạo chính quy dài hạn theo hợp đồng đặt hàng có quy định nội dung, thời gian và kinh phí cần thiết cụ thể, linh hoạt Ngoài ra, 2 bên có thể hợp tác về trao đổi và tiếp nhận chuyên gia, cố vấn, sinh viên thực tập và các hoạt động và dịch vụ khoa học, ứng dụng triển khai và tư vấn khác…

Để xây dựng mối quan hệ bền vững và hiệu quả giữa đào tạo và việc làm, cũng như bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm, các cơ sở đào tạo có thể

bổ sung thêm những nội dung và hình thức hợp tác khác như: Nhà trường trực tiếp hoặc phối hợp với bên thứ ba thực hiện cung cấp các “gói” dịch vụ hỗ trợ công nghệ, chuyển giao công nghệ, đào tạo chuyên gia, tạo việc làm thêm cho sinh viên theo hợp đồng hoặc theo đề nghị cụ thể cho từng trường hợp mục tiêu riêng biệt cụ thể của mỗi bên v.v… Nếu chúng được triển khai nghiêm túc trên thực tiễn thì sẽ rất có lợi cho việc bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm trên thực tế

Như vậy sự hợp tác giữa đào tạo và việc làm đã, đang và sẽ tiếp tục mang lại lợi ích hấp dẫn và đầy tiềm năng cho tất cả các bên Về phía người

sử dụng lao động, việc tham gia vào quá trình đào tạo như một hình thức đầu

tư phát triển, sẽ khiến người sử dụng lao động có thêm quyền và cơ hội lựa chọn (và nâng cấp) các “sản phẩm” - lao động chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu, giảm bớt thời gian và chi phí đào tạo lại Ngoài ra, người sử dụng lao động còn có thêm cơ hội quảng bá hình ảnh của mình với xã hội Về phía cơ

sở đào tạo, sự hợp tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, người được đào tạo có đầu ra vững chắc, và nhất là góp phần phát hiện, phát triển và

Trang 26

trọng dụng nhân tài cho người sử dụng lao động và đất nước, giảm thiểu được các tiêu cực và kém hiệu quả trong hoạt động giáo dục Đồng thời, giúp cơ sở đào tạo tăng tự chủ hơn về tài chính, cũng như sử dụng hiệu quả vốn đầu tư…

Về phía người được đào tạo, sự hợp tác sẽ cho phép họ tự điều chỉnh nhận thức, nâng cao động lực và kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thực tiễn cuộc sống, tăng cơ hội tìm việc và giảm thiểu những phí tổn học hành cả về tài chính, thời gian và tâm sức… Ngoài ra, bên cạnh cơ hội có được học bổng của người sử dụng lao động tài trợ, khi có cơ sở tin cậy về triển vọng nơi làm việc và yêu cầu nghề nghiệp tương lai, rất có thể người được đào tạo và gia đình sẽ tự nguyện tăng học phí và đầu tư nhiều, sâu, hiệu quả hơn cho các môn, trường học có uy tín và thương hiệu tốt mà họ lựa chọn Đây cũng là cơ hội để cơ sở đào tạo có thể đưa ra các “gói dịch vụ” đào tạo khác nhau, đa dạng về nội dung, phương thức và công nghệ truyền tải, cũng như về mức học phí phù hợp với nhu cầu và năng lực của người học và người sử dụng lao động, từ đó cải thiện chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật và thu nhập tài chính, cũng như thương hiệu của cơ sở đào tạo

Về tổng thể xã hội, sự hợp tác này còn cho phép tăng hiệu quả đầu tư

xã hội trong đào tạo và việc làm nói riêng, trong đầu tư phát triển nói chung, giảm bớt tình trạng thất nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường theo hướng kinh tế tri thức và phát triển bền vững, nhất là dưới góc độ chất lượng phát triển và định hướng con người như nhân

tố trung tâm của quá trình phát triển Sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo và người

sử dụng lao động không thể diễn ra đơn phương, đơn điệu, đơn giản và nhất thời, lại càng không nên để chúng diễn ra một cách hạn hẹp, khô cứng, hình thức và tự phát, mà phải không ngừng mở rộng và đa dạng hóa cả về các đối tác, danh mục, nội dung, hình thức và tăng cường hoạt động xúc tiến hợp tác

Trang 27

- Quyền bi ̀nh đẳng viê ̣c làm xét dưới góc độ tiếp nhận viê ̣c làm

Quyền làm việc có nghĩa là các cá nhân được lựa chọn nghề nghiệp mà không sự can thiệp của chính quyền Việc làm cưỡng bức, dù ở bất kỳ hình thức nào, cũng đều không được chấp nhận Tuy nhiên, việc tham gia thị trường lao động sẽ là vô nghĩa nếu các điều kiện làm việc ở mức không chấp nhận được Tiền công và môi trường làm việc phải đạt mức độ nhất định để quyền làm việc có ý nghĩa thực sự Cũng có thể nói tương tự quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp trong mối quan hệ với quyền được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp Quyền tự do lựa chọn sẽ không thể tồn tại nếu người thất nghiệp không được bảo vệ, có thể coi quyền làm việc là điều kiện tiên quyết cho việc bảo vệ chống lại nạn phân biệt đối xử, quyền tự do lập hội và các quyền khác của người lao động

- Quyền bi ̀nh đẳng về viê ̣c làm xét dưới góc độ điều kiê ̣n lao động

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh tế, tổ chức thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất

Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động Đối với quá trình công nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ, lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn đến người lao động Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu

tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức khỏe người lao động

Quyền bình đẳng việc làm được thể hiện qua những chế độ phụ cấp khi người lao động làm việc trong những điều kiện lao động khác nhau Cụ thể

Trang 28

như, người lao động làm việc trong môi trường độc hại sẽ được hưởng những phụ cấp độc hại ngoài tiền lương mà những người làm việc ở điều kiện bình thường không được hưởng

- Quyền bi ̀nh đẳng về viê ̣c làm xét dưới góc độ thu nhập

Một trong những quyền cơ bản và quan trọng của người lao động khi tham gia quan hệ lao động chính là quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống Bởi đây chính là mục tiêu của người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động Họ tham gia vào quan hệ lao động với mong muốn có được nguồn thu nhập ổn định đảm bảo đời sống của bản thân và các thành viên trong gia đình

Thực chất của mối quan hệ giữa tiền lương, thu nhập và việc làm là mối quan hệ giữa ăn và làm hay cái được hưởng và cái làm ra hay xét trong phạm

vi toàn xã hội là tiêu dùng và sản xuất Giữa tiền lương, thu nhập và việc làm

có một điểm gắn kết như sợi dây ràng buộc, đó là quá trình lao động Quá trình lao động gồm nhiều hoạt động lao động, sử dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm Quá trình lao động đã làm hao phí sức lao động của người lao động để tạo ra sản phẩm nên người lao động phải được nhận một khoản tiền để bù đắp lại lượng lao động đã hao phí trong quá trình lao động, đó là tiền lương Đây chính là cái mà người lao động được hưởng sau khi đã sử dụng sức lao động của mình tạo ra sản phẩm Lao động sản xuất ra của cải vật chất, còn tiền lương và thu nhập là giá cả trả cho sức lao động đã bỏ ra để lao động làm

ra của cải vật chất đó Như vậy, người lao động sử dụng sức lao động để làm

ra sản phẩm và họ được hưởng một lượng tiền gọi là tiền lương tương ứng với sức lao động họ đã bỏ ra

Quyền bình đẳng về việc làm được biểu hiện thông qua thu nhập như sau: Tốc độ năng suất lao động tăng thì tốc độ của thu nhập tăng, những người lao động có năng lực hơn sẽ nhận được mức thu nhập cao hơn Không phân biệt giới tính, dân tộc, màu da,… mọi người lao động đều được hưởng thu nhập tùy thuộc

Trang 29

vào khả năng làm việc của mình Việc bảo đảm quyền về thu nhập và đời sống của người lao động được thể hiện trên các phương diện như:

Việc đảm bảo thu nhập tối thiểu khi tham gia quan hệ lao động và được khuyến khích đảm bảo quyền lợi ở mức cao hơn so với quy định của pháp luật

Lương tối thiểu ”là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” ( Điều 91 BLLĐ năm 2012) Đặc biệt,

pháp luật lao động còn ghi nhận về lương tối thiểu vùng và lương tối thiểu ngành Trong đó, mức lương tối thiểu vùng được quy định dựa trên nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động; còn lương tối thiểu ngành được xác

định thông qua thương lượng tập thể.(khoản 2, 3 điều 91 BLLĐ năm 2012)

1.2 NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM

Quyền bình đẳng việc làm bao gồm:

Bình đẳng trong việc thực hiện quyền lao động, tìm kiếm việc làm và học nghề; bình đẳng trong giao kết và thực hiện hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động; bình đẳng giữa lao động nam và LĐN trong các cơ quan, doanh nghiệp Quyền bình đẳng trong lao động được ghi nhận và khẳng định trong BLLĐ và các văn bản pháp luật về lao động ở nước ta hiện nay Để bảo đảm việc thực hiện bình đẳng trong lao động, BLLĐ năm 2012 quy định nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu

da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.[1]

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương

Trang 30

lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Đây là nguyên tắc pháp lý quan trọng tạo cơ sở xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện quyền làm việc Nguyên tắc này chi phối toàn bộ mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình lao động từ khâu ký hợp đồng lao động, thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên đến việc giải quyết các tranh chấp lao động

BLLĐ năm 2012 quy định: “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau”[1] Quan hệ lao động

giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập bằng hợp đồng lao động Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Việc kí kết hợp đồng lao động phải tuân theo nguyên tắc: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết Người lao động và người sử dụng lao động được tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội Việc giao kết hợp đồng phải dựa trên các nguyên tắc sau: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động

Để việc giao kết hợp đồng bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực, pháp luật lao động quy định người sử dụng lao động

Trang 31

phải cung cấp thông tin cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu Đồng thời, người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu

Bên cạnh đó, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 cũng khẳng định về quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm bảo

Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thoả đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho

họ và gia đình họ; Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh;

Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức

vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.[6]

Quyền có việc làm và được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng thù lao công bằng, hợp lý là một nhóm quyền cơ bản liên quan đến lĩnh vực lao động, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được đảm bảo điều kiện lao động hợp lý, được trả thù lao hợp lý, được đình công, quyền được nghỉ ngơi…

Tuyên ngôn nhân quyền 1948 quy định:

Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi

Trang 32

và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp; Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không

có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội… [10]

Cụ thể hóa quyền có việc làm, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948, Điều 6 Công ước quốc tế về những quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa 1966 (được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1996, có hiệu lực ngày 23/3/1976) đã xác định rõ: Mọi người quyền làm việc và cam kết sẽ ban hành những biện pháp để bảo đảm quyền này Quyền làm việc bao gồm quyền có cơ hội sinh sống nhờ công việc, quyền tự do nhận việc hay lựa chọn việc làm

Điều 7 Công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

1966 khẳng định về quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt với những bảo đảm: Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thoả đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ Tiền lương tương xứng và công bằng cho các công việc có giá trị ngang nhau không phân biệt đối xử Đặc biệt phụ nữ được bảo đảm có những điều kiện làm việc tương xứng như nam giới, làm việc ngang nhau được trả lương ngang nhau Có điều kiện làm việc an toàn và không hại đến sức khoẻ Có cơ hội thăng tiến đồng đều cho mọi người và chỉ căn cứ vào thâm niên và khả năng Có quyền nghỉ ngơi và giải trí; được ấn định hợp lý số giờ làm việc, kể cả những ngày nghỉ định kỳ

có trả lương và những ngày nghỉ lễ có trả lương

Theo quan điểm đã được đưa ra trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966, quyền có

Trang 33

việc làm được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng thù lao công bằng có những nội dung chính sau: Mọi người đều có quyền làm việc; Mọi người đều

có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp; Những người làm các công việc như nhau được trả công ngang nhau mà không có sự phân biệt đối xử; Mọi người lao động đều được hưởng chế độ thù lao thỏa đáng, công bằng và đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho bản thân và gia đình

Về cơ bản, có thể hiểu quyền bình đẳng về việc làm là những quyền của con người trong lĩnh vực lao động liên quan đến điều kiện lao động, và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng

1.2.1 Quyền được làm việc

Quyền được làm việc hay còn gọi là quyền về việc làm hiểu theo nghĩa rộng, là một nhóm quyền cơ bản trong lao động Nên lưu ý là quyền làm việc

không đồng nghĩa với quyền có việc làm ”Quyền được làm việc là cốt lõi để thực hiện các quyền con người khác và tạo nên một phần quan trọng, không thể tách rời và tự nhiên của nhân phẩm”[52]

Quyền về việc làm là yếu tố cơ bản bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người và là điều kiện để thực hiện các quyền có tính chất ”sinh kế” như quyền

có lương thực, thực phẩm, áo quần, nhà ở thêm nữa, vị thế trong công việc của một người có thể tác động đến sự hưởng thụ các quyền khác của họ có liên quan đến y tế, giáo dục Quyền về việc làm cũng là yếu tố cơ bản để bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của con người Không có việc làm đối với người có khả năng lao động không khác gì đẩy người đó ra rìa xã hội Do vị trí và tầm quan trọng của nó, quyền làm việc đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế như trong Các văn kiện của Liên hợp quốc (UN) Trước hết, điều 23 (1) Tuyên ngôn về quyền con người (UDHR) quy định:”

Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được

Trang 34

hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp”[10]

Cụ thể hóa quyền về làm việc trong UDHR, Công ước các quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) tại điều 6, khoản 1 quy định các quốc gia

thành viên ”thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này.” Tại khoản 2 quy đinh các quốc gia thành viên thừa nhận rằng: ” Phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách

và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội

và văn hóa, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân”

Quyền được làm việc theo tinh thần các văn kiện của Liên hợp quốc, rất rộng rãi và khá toàn diện Đó là quyền của mỗi người được quyết định tự

do chấp nhận và lựa chọn việc làm Việc làm phải là công việc chính đáng, trong đó người lao động được tôn trọng các quyền cơ bản của con người Công việc phải tạo ra thu nhập cho phép người lao động nuôi sống bản thân và gia đình họ Bất cứ một sự phân biệt đối xử nào trong việc tiếp cận và duy trì công việc dựa trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo đều bị nghiêm cấm Cá nhân có quyền tiếp cận với hệ thống bảo đảm giải quyết việc làm và không bị đuổi việc một cách không công bằng Quyền làm việc còn bao gồm việc tạo cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được

đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn,, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng quyền làm việc, tức là phải đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm thực hiện quyền này một cách đầy

đủ và hiệu quả Ngoài ra, các văn kiện của Liên hợp quốc cũng quan tâm đến

Trang 35

các đối tượng đặc biệt trọng việc thực hiện quyền làm việc như phụ nữ, trẻ

em, người tàn tật, lao động nhập cư [49]

Bình đẳng trong việc thực hiện quyền lao động, tìm kiếm việc làm và học nghề có nghĩa là mọi công dân đều có quyền có việc làm, có quyền tự do lựa chọn việc làm và học nghề mà không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, nguồn gốc gia đình, chính trị, thành phần kinh tế Pháp luật lao động quy định công dân có quyền làm việc cho bất kì người sử dụng lao động nào và ở bất cứ nơi nào mà pháp luật không cấm Người lao động nếu

đủ tuổi theo quy định của pháp luật lao động, có khả năng lao động đều có

quyền tự do lựa chọn, tìm kiếm việc làm phù hợp với bản thân và được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động Người lao động có thể trực tiếp liên hệ với người sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình

BLLĐ năm 2012 quy định người lao động có các quyền sau đây: “Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử…”[1] Người lao động có trình độ chuyên

môn, kĩ thuật cao được Nhà nước và người sử dụng lao động ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để không ngừng phát huy tài năng có lợi cho doanh nghiệp và cho đất nước Những ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao không bị coi là phân biệt đối xử trong sử dụng lao động

1.2.2 Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức

Lao động cưỡng bức, xét về mặt lịch sử, có nguồn gốc từ xa xưa từ chế

độ nô lệ, nơi nô lệ chỉ được coi là một ”công cụ biết nói”, một loại tài sản mà chủ có thể tự do sở hữu, khai thác và trao đổi, Trong chế độ đó, nô lệ chẳng những không được tự do về thân thể mà họ còn bị đánh đập, thậm chí bị giết nếu không thực hiện các hoạt động lao động mà chủ nô yêu cầu Khi xã hội

Trang 36

phát triển, quyền con người được bảo vệ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật thì việc chiếm hữu, buôn bán và sử dụng nô lệ bị coi là bất hợp pháp Tuy nhiên, mặc dù đã bị lên án ở khắp nơi nhưng những hình thức nô lệ vẫn đang tồn tại ở chỗ này hay chỗ khác, với nhiều biến tướng mới Hiện nay ở một số quốc gia, vũng lãnh thổ, vì nhiều lý do khác nhau, tình trạng bất cóc và buôn bán người, bắt và giam cầm trái phép người khác để buộc họ phải lao động, hiện tượng ép buộc bán dâm, hiện tượng cưỡng ép kết hôn, buộc người khác lao động để trừ nợ vẫn tồn tại Do vậy cùng với việc khẳng định quyền được làm việc, các văn kiện pháp lý quốc tế cũng khẳng định quyền tự do khoong

bị lao động cưỡng bức

Trong UDHR, vấn đề cấm lao động cưỡng bức được bao hàm trong

điều 4, ”không ai bị giữ làm nô lệ, hoặc bị nô dịch, chế độ nô lệ và buôn bán

nô lệ dưới tất cả các hình thức đều bị cấm” ICCPR tại ghi nhận lại điều này

và khẳng định thêm tại điều 8, khoản 1 (a) ‟ không được đòi hỏi bất kỳ người nào phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức” Xóa bỏ lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức còn được thể hiện ở Công ước về ”xóa bỏ phân biệt đối

xử chống lại phụ nữ” năm 1979 (CEDAW), trong đó điều 6 yêu cầu các quốc gia thành viên ”phải tiến hành mọi biện pháp thích hợp, kể cả pháp lý để xóa

bỏ tất cả các hình thức mua bán phụ nữ và bóc lột mại dâm phụ nữ”.Điều quy định này được ngầm hiểu là một bộ phận của các quy định về cấm nô lệ và cưỡng bức lao động

Công ước về quyền trẻ em, năm 1989 (CRC) có thể coi là một công cụ hiệu quả nhất để chống lại các hình thức tương tự nô lệ hướng vào bảo vệ các nạn nhân là trẻ em khỏi các nguy cơ bị cưỡn bức lao động, bóc lột tình dục kể

cả việc buôn bán trẻ em, lôi cuốn trẻ em vào xung đột vũ trang

Tại các văn kiện của ILO, xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc là một trong những nguyên tắc quan trọng bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của

Trang 37

con người, thuộc chức năng của ILO Để thực thi chức năng này, ILO đã thông qua 2 công ước cơ bản là công ước số 29 (1930) về ” Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” và công ước số 105 (1957) về ‟xóa bỏ lao động cưỡng bức‟

1.2.3 Quyền được hưởng mức lương công bằng, hợp lý và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau

Tiền công nói chung và tiền lương nói riêng không đơn thuần chỉ là một vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị xã hội Tiên lương được cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động quan tâm và nhìn chung được trả theo quy luật cung cầu sức lao động trên thị trường cũng như năng xuất lao động xã hội đạt được ở mỗi thời kỳ Ở tầm quốc tế, nguyên tắc trả lương công bằng, hợp lý trả công ngang nhau cho những công việc như nhau được đề cao Đồng thời, vấn đề tiền lương tối thiểu cũng được quan tâm điều chỉnh đảm bảo để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ Tại điều

24 (2) UDHR quy định”2 Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; 3 Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm đảm bảo sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội ” Điều

7 ICESCR khẳng định về quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm bảo: ”a Thù lao cho tất

cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thỏa đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ”

1.2.4 Quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn vệ sinh

Được làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh, có thời gian làm việc, quy trình làm việc hợp lý, hay còn gọi là được làm việc trong những điều kiện phù hợp với nhân văn, là một quyền quan trọng của người lao động

Trang 38

Quyền được bảo đảm điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh nằm trong quyền làm việc nói chung được tuyên bố tại điều 23 (1) UDHR”1 Mọi người đều

có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp‟

ICESCR tại điều 7 khẳng định ”các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt bảo đảm những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; Điều 12 quy định quyền về sức khỏe, tại khoản 2 (b) cũng yêu cầu các quốc gia thành viên thi hành các biện pháp để thực hiện quyền này cần thiết phải ”cải thiện tất cả các yếu tố trong vệ sinh môi trường và điều kiện vệ sinh nơi làm việc”

1.2.5 Quyền nghỉ ngơi

Quyền được nghỉ ngơi và thư giãn có liên quan trực tiếp đến quyền về sức khỏe – một quyền cơ bản của con người được đề cập tại điều 25, khoản 1 UDHR và điều 12 (1) (2) ICCPR và trở thành một bộ phận của quyền sức khỏe Quyền nghỉ ngơi góp phần hiện thực hóa quyền về sức khỏe cũng như các quyền con người khác Trong lĩnh vực lao động, quyền nghỉ ngơi và thư giãn thuộc về điều kiện lao động và sử dụng lao động, liên quan trực tiếp đền quyền làm việc và được hưởng thù lao Việc điều tiết thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi thư giãn cũng là cần thiết nhưng về nguyên tắc pharhi đảm bảo được tính hài hòa và hợp lý

Trước hết, điều 24 UDHR tuyên bố:” Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và thư giãn, kể cả quyền được giới hạn hợp lý số giờ làm việc và được hưởng những ngày nghỉ có định kỳ có hưởng lương” [10]

Điều 7 ICESCR cũng tái khẳng định quyền nghỉ ngơi và có thời gian rảnh rỗi của mọi người, theo đó các quốc gia thành viên của công ước, ngoài việc công nhận quyền của mọi người hưởng những điều kiện làm việc công

Trang 39

bằng và thuận lợi, còn đặc biệt đảm bảo ”d Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho nhữn ngày nghỉ lễ”[7]

1.2.6 Quyền công đoàn

Quyền công đoàn là quyền có tính chất tập thể của người lao động, hiểu đầy đủ thì quyền công đoàn bao gồm quyền được thành lập, tham gia công đoàn, được thương lượng tập thể và được đình công Quyền tự do công đoàn của người lao động, xét về tổng thể chỉ là một khía cạnh của quyền tự do lập

hội của con người nói chung được tuyên bố tại điều 20 của UDHR”1 Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa; 2 Không ai bị

ép buộc phải tham gia bất cứ tổ chức nào” [10]

Tại UDHR nêu khái quát quyền công đoàn tại điều 23, khoản 4: ”mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình” [10]

ICPPR ghi nhận tại điều 22 khoản 1:‟ Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Tại khoản 3 của điều này còn nhấn mạnh ” không có một quy định nào của điều này cho phép các nước tham gia công ước năm

1948 của Tổ chức lao động quốc tế vè tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội tiến hành những biện pháp lập pháp hoặc hành pháp làm phương hại đến những đảm bảo nêu trong Công ước đó”.[2]

Năm 1948, ILO đã thông qua Công ước số 87 về ”quyền tự do hoeepj hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức”, theo đó những người lao động và những người sử dụng lao động không hề phân biệt, đều không phải xin phép trước mà vấn có quyền hợp thành những tổ chức theo sự lựa chọn của mình,

có quyền gia nhập tổ chức đó với điều kiện duy nhất là theo đúng điều lệ của

tổ chức hữu quan

Trang 40

1.2.7 Quyền hưởng an sinh xã hội

Được hưởng an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng là quyền quan trọng của con người trong đó có người lao động Thời gian đầu thế kỷ 19 trách nhiệm bảo đảm các quyền xã hội được chia sẻ giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước.Dần dần, trách nhiệm này căn bản được chuyển cho nhà nước, trên nguyên tắc an sinh xã hội là phổ quát, công bằng và không phân biệt đối xử Trước khi tuyên ngôn về quyền con người được thông qua thì pháp luật của tất cả các nước Bắc Âu và hầu hết các nước Châu Âu có những bảo đảm các quyền xã hội của người dân

Trong điều 22 của UDHR quyền được hưởng an sinh xã hội được đề

cập ”Với tư cách là thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội cũng như được thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội

và văn hóa không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống

tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia” [2]

Năm 1952, ILO đã thông qua công ước số 102 về ”quy pham tối thiểu

về an sinh xã hội”, trong đó đưa ra 9 dạng trợ cấp, bao gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già (hưu), trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất Công ước số 102 cũng định ra các tiêu chuẩn để tính việc chi trả định kỳ ( trong đó có biểu thụ hưởng mẫu) cũng như các trường hợp ngừng trợ cấp Các quốc gia phê chuẩn công ước này phải áp dụng ít nhất 3 dạng trong số 9 dạng trợ cấp nói trên, trong đó phải bao gồm: Hoặc trợ cấp tuổi già hoặc trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp hoặc trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tiền tuất Việc lựa chọn dạng trợ cấp để áp dụng tùy thuộc vào từng quốc gia nhưng nhìn chung, chỉ có thể ở mức cao hơn các quy định trong

Công ước chứ ko được thấp hơn [49]

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động thương binh xã hội (2010), Công ước số 100 của ILO về chế độ thù lao công bằng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau năm 1951, tr.62, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 100 của ILO về chế độ thù lao công bằng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau năm 1951
Tác giả: Bộ Lao động thương binh xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2010
2. Bộ Tư pháp (2012), Một số kiến thức pháp luật về quyền con người – Quyền Dân sự và Chính trị (tập 1), Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (Xuất bản tháng 12 năm 2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến thức pháp luật về quyền con người – Quyền Dân sự và Chính trị (tập 1)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Vụ phổ biến giáo dục pháp luật
Năm: 2012
3. Bộ Tư pháp, Vụ phổ biến Giáo dục Pháp luật (2012), Một số kiến thức pháp luật về quyền con người – Quyền Dân sự và Chính trị, (tập 1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến thức pháp luật về quyền con người – Quyền Dân sự và Chính trị
Tác giả: Bộ Tư pháp, Vụ phổ biến Giáo dục Pháp luật
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
4. Chính phủ (2010), Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015”, Cổng thông tin điện tử Chính phủhttp://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=93347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015”
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Chính phủ
Năm: 2010
5. Chủ tịch nước (2000), Quyết định số 169/QĐ/CTN ngày17/11/2000 về việc phê chuẩn công ước 182 của tổ chức Lao động quốc tế, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Namhttp://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340712&cn_id=562614 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 169/QĐ/CTN ngày17/11/2000 về việc phê chuẩn công ước 182 của tổ chức Lao động quốc tế
Tác giả: Chủ tịch nước
Nhà XB: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
6. Phạm Thị Kim Dung (2012), Đặc san tuyên truyền pháp luật, (03), Vụ phổ biến Giáo dục Pháp luật - Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san tuyên truyền pháp luật
Tác giả: Phạm Thị Kim Dung
Năm: 2012
7. ??i H?i ??ng LHQ (1966), Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, (nga?y 16 tháng 12 n?m 1966) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
Tác giả: i H?i ??ng LHQ
Năm: 1966
8. Đại hội đồng LHQ (2011), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ của năm 1979, tr.125, NXB lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ của năm 1979
Tác giả: Đại hội đồng LHQ
Nhà XB: NXB lao động xã hội
Năm: 2011
9. Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
10. Đại học Quốc Gia Hà Nội (2011), Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của ??i H?i ??ng Liên Hi?p Qu?c ngày 10 tháng 12 n?m 1948, tr. 48, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của ??i H?i ??ng Liên Hi?p Qu?c ngày 10 tháng 12 n?m 1948
Tác giả: Đại học Quốc Gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2011
11. ILO (2010), Công ước số 100 về chế độ thù lao công bằng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau, 1951, tr.62, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 100 về chế độ thù lao công bằng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
12. ILO (2010), Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc năm 1957, 1982, tr.83, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc năm 1957
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
13. ILO (2010), Công ước số 111 về phân biê ̣t đối xử trong viê ̣c làm và nghề nghiê ̣p 1958, tr.113, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 111 về phân biê ̣t đối xử trong viê ̣c làm và nghề nghiê ̣p 1958
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
14. ILO (2010), Công ước số 122 về chính sách việc làm năm 1964, tr.114, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 122 về chính sách việc làm năm 1964
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
15. ILO (2010), Công ước số 138 qui định tuổi tối thiểu được đi làm việc năm 1973, tr.76, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 138 qui định tuổi tối thiểu được đi làm việc năm 1973
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
16. ILO (2010), Công ước số 158 về chấm dứt lao động theo đề xuất của người sử dụng lao động chủ động năm 1982 , tr.303, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 158 về chấm dứt lao động theo đề xuất của người sử dụng lao động chủ động năm 1982
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
17. ILO (2010), Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp năm 1998, tr.382, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp năm 1998
Tác giả: ILO
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2010
18. Quốc Hội (1992), Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủhttp://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=1671 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Chính phủ
Năm: 1992
19. Quốc Hội (2006), Luật bình đẳng giới, Cổng thông tin điện tử Chính phủ http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=2897 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bình đẳng giới
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Chính phủ
Năm: 2006
23. Chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000716&articleId=10038382. Truy câ ̣p ngày 14/5/2014 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Bảng thống  kê  số LĐN trong các doanh nghiệp tại các - Quyền bình đẳng về việc làm trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Bảng 3.1 Bảng thống kê số LĐN trong các doanh nghiệp tại các (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w