1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)

127 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với người có công với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ MAI

THANH TRA NGÀNH LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH

VÀ XÃ HỘI (LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2007 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Trang 2

ĐỖ THỊ MAI

THANH TRA NGÀNH LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH

VÀ XÃ HỘI (LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP)

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

MÃ SỐ: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ XUÂN ĐÔNG

HÀ NỘI – NĂM 2007

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA

NGÀNH LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản và các dấu hiệu phân biệt thanh

tra với kiểm tra

7

1.2 Vị trí, vai trò của công tác thanh tra nói chung 12

1.2.1 Vị trí của công tác thanh tra luôn gắn liền với hoạt động quản

lý nhà nước của cơ quan hành pháp

12

1.2.2 Thanh tra là một nội dung, một chức năng thiết yếu của cơ

quan quản lý nhà nước

Trang 4

1.3.1 Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là tổ chức thanh

tra thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội

19

1.3.2 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội là công cụ

không thể thiếu nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của

ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

21

1.3.3 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội góp phần

bảo đảm trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế

23

1.3.4 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội góp phần

củng cố nguyên tắc quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

24

1.4 Mô hình tổ chức thanh tra lao động ở một số nước 25

1.4.2 Một số mô hình tổ chức thanh tra lao động 26

1.4.3 Những kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam 28

Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra ngành Lao động - Thương

binh và Xã hội

32

2.1 Hệ thống văn bản pháp luật về Thanh tra ngành Lao động

- Thương binh và Xã hội

Trang 5

2.2 Thực trạng công tác thanh tra ngành Lao động - Thương

binh và Xã hội (từ năm 2004 đến năm 2006)

38

2.2.1 Khái quát tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra

ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (kể từ khi có Luật

tố cáo

54

2.2.4.1 Hệ thống pháp luật về thanh tra chưa đồng bộ 63

2.2.4.3 Nhu cầu kiểm soát và quản lý ngày càng tăng 66 2.2.4.4 Đội ngũ cán bộ thanh tra còn thiếu yếu và yếu 68 2.2.4.5 Hệ thống cung cấp thông tin về pháp luật cho cán bộ thanh tra

còn hạn chế

71

2.2.4.6 Nhận thức về công tác thanh tra, về pháp luật lao động, thương

binh và xã hội của đối tượng thanh tra còn chưa cao

71

2.2.4.7 Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu 72

Trang 6

2.2.4.8 Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan chưa chặt

chẽ

74

Chương 3: các Giải pháp cơ bản đẩy mạnh công tác thanh tra ngành

Lao động - Thương binh và Xã hội

3.2 Các giải pháp cơ bản đẩy mạnh công tác thanh tra ngành

Lao động – Thương binh và Xã hội

81

3.2.1.1 Sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra theo hướng quy định chi tiết

về thanh tra chuyên ngành

81

3.2.1.2 Tăng mức phạt trong Nghị định 113/2004/NĐ-CP, xây dựng

Thông tư hướng dẫn Nghị định số 04/2005/NĐ-CP

84

3.2.1.3 Bãi bỏ thời hạn thanh tra phải báo trước tại Nghị định

61/1998/NĐ-CP

85

3.2.1.4 Xây dựng một số văn bản pháp luật về thanh tra ngành Lao

3.2.1.5 Phân biệt rõ thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp

tỉnh và Bộ trưởng tại Luật Khiếu nại, tố cáo

Trang 7

3.2.3.1 Tăng số lượng 91

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh phí phục vụ cho công

tác thanh tra

95

3.2.4.1 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị 95 3.2.4.2 Xây dựng, hoàn thiện các phần mềm tin học ứng dụng 96 3.2.4.3 Đảm bảo trang phục, thẻ thanh tra viên và các chế độ khác 97 3.2.5 Tăng cường sự lãnh đạo của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà

nước, Thủ trưởng cơ quan thanh tra

98

3.2.6 Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan 99 3.2.6.1 Phối hợp chặt chẽ với tổ chức Công đoàn, Phòng Thương mại

Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong

việc thực hiện pháp luật lao động

99

3.2.6.2 Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị khác trong việc

thanh tra các chính sách xã hội

3.2.8 Tăng cường hợp tác quốc tế về công tác thanh tra 104

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại Thanh

2.4 Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và xã hội

tại Thanh tra Bộ

51

2.5 Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và xã hội

tại các Sở

52

2.8 Tình hình xử lý thư đơn năm 2006 so với năm 2005 57 2.9 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp năm 2006 tại

Thanh tra Bộ

58

2.10 Kết quả tiếp công dân, xử lý thư đơn và giải quyết khiếu nại, tố

cáo tại các Sở năm 2006

59

2.11 Tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra tại một số địa phương 66

Trang 9

Më ®Çu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh tra là một trong ba nội dung cơ bản (lập quy, tổ chức thực hiện

và thanh tra, kiểm tra) của hoạt động quản lý nhà nước Thông qua thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ phát hiện những hiện tượng tiêu cực và tích cực trong quản lý hành chính nhà nước, từ đó có hướng xử lý đối với những biểu hiện tiêu cực và có tác động phù hợp đối với các hiện tượng tích cực Đồng thời, hoạt động thanh tra giúp cơ quan quản lý nhà nước kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế Vì vậy, thanh tra là một chức năng thiết yếu, một hoạt động không thể thiếu của cơ quan quản lý nhà nước

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội (gọi chung là lao động, thương binh và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc

Bộ quản lý theo quy định của pháp luật Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước có hiệu quả, bên cạnh việc xây dựng chính sách, pháp luật, tổ chức thực hiện, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội còn chú trọng đến công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực Bộ được giao phụ trách

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát

Trang 10

triển của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống thanh tra nhà nước Mỗi năm, thanh tra toàn ngành đã thực hiện hàng vạn cuộc thanh tra ở tất cả các lĩnh vực quản lý, đặc biệt là lĩnh vực lao động, chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo hiểm xã hội, phát hiện và kịp thời chấn chỉnh hàng triệu sai phạm, thu hồi về ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng chi sai đối tượng, chi không đúng mục đích, đóng góp hàng ngàn kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước để sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp

Tuy nhiên, trước sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý nhà nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường, công tác thanh tra của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nhìn chung chưa đáp ứng được so với yêu cầu Nhiều hiện tượng tiêu cực đã và đang xảy ra trong quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước chưa được kịp thời chấn chỉnh như tình trạng vi phạm pháp luật lao động; lập hồ sơ giả, người có công giả để hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước; lừa đảo trong xuất khẩu lao động; sử dụng chưa đúng mục đích nguồn kinh phí từ các chương trình viện trợ nhân đạo… Một

áp lực không kém phần quan trọng là số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng làm cho công tác này bất cập so với thực tế Theo số liệu thống kê đến năm 2006, tổng số doanh nghiệp (không phân biệt loại hình kinh tế) của Việt Nam khoảng trên 24 vạn doanh nghiệp, với hơn bốn chục triệu lao động đang tham gia ở tất cả các thành phần kinh tế Với cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ thanh tra được xây dựng theo các tiêu chí từ những năm 1990 thì công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội không thể đáp ứng được nhu cầu quản lý đó

Vì vậy, đẩy mạnh công tác Thanh tra ngành Lao động – Thương binh

và Xã hội là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn:

Trang 11

“Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội (Lý luận, thực trạng và giải pháp)” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và bài viết liên quan đến Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó đáng chú ý là một số công trình sau:

+ TS Bùi Sỹ Lợi (2005), “Qua đợt thí điểm thanh tra viên phụ trách vùng và phát phiếu tự kiểm tra tại doanh nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã

Lợi, Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, năm 2003

+ Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội”, Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

Trang 12

Lao động – Thương binh và Xã hội cả về mặt lý luận, thực tiễn, tổ chức bộ máy, hoạt động Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được của các công trình trước đó, luận văn này sẽ đưa ra những lý luận cơ bản nhất về thanh tra và thực trạng của Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi cả về cơ sở pháp lý và tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh

* Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận về vị trí, vai trò của công tác thanh tra nói chung và Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói riêng, phân tích một số mô hình thanh tra của các nước trên thế giới, đặc biệt là mô hình

tổ chức thanh tra lao động

- Đánh giá thực trạng hoạt động của Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội kể từ khi có Luật Thanh tra

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

- Về không gian: Trong phạm vi toàn quốc

- Về thời gian: Từ 2004 đến năm 2006

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Xem xét lý luận về thanh tra một cách khách quan dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

* Cơ sở thực tiễn

Dựa trên số liệu của các cuộc khảo sát, các báo cáo năm của Thanh tra

Bộ và Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội về các mặt công tác

từ năm 2004 đến năm 2006

* Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ đặt ra, tác

giả sử dụng những phương pháp sau:

Trang 14

- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp điều tra, khảo sát, so sánh, thống kê

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong việc đẩy mạnh công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội

Thông qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội - là ngành mà bản thân đang công tác

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả các cán

bộ, công chức trong ngành Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc bất cứ ai quan tâm đến công tác thanh tra

7 Kết cấu của luận văn

Với 111 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội

Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội

Chương 3: Các giải pháp cơ bản đẩy mạnh công tác thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA NGÀNH LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÂN BIỆT

THANH TRA VỚI KIỂM TRA

1.1.1 Thanh tra

Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ gốc La tinh (In-spectare)

có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực, do đó hệ quả của thanh tra thường là phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định

Theo Từ điển pháp luật Anh – Việt, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra” [37, tr 203] Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích: Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định – sự tác động

có tính trực thuộc Trong cuốn sách Thuật ngữ Pháp lý phổ thông do Nhà Xuất bản Pháp lý in năm 1986 định nghĩa: Thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà Xuất bản

Đà Nẵng năm 2006 thì “thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [44, tr 914]

Trang 16

Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau:

Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,

Thứ hai: Thanh tra là một hoạt động luôn mang tính quyền lực nhà nước Chủ thể tiến hành thanh tra là cơ quan nhà nước nhân danh quyền lực nhà nước xem xét, kiểm tra tận nơi, tại chỗ hoạt động của đối tượng bị quản

lý nhằm tổ chức, điều hành hệ thống quản lý theo mục đích đề ra

Thứ ba: Thanh tra có tính độc lập tương đối vì thanh tra có thẩm quyền xem xét, đánh giá, xử lý những đơn vị, tổ chức có cùng địa vị pháp lý với mình đồng thời có quyền đưa ra những kiến nghị, kết luận độc lập dựa trên những chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra và chỉ tuân theo pháp luật

Trang 17

1.1.2 Thanh tra hành chính

Là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp [9, tr 9]

1.1.3 Thanh tra chuyên ngành

Là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý [9, tr 9]

1.1.4 Thanh tra theo đoàn

Là hoạt động của đoàn công tác được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân [22]

1.1.5 Thanh tra theo vùng

Là hoạt động của tổ công tác hoặc thanh tra viên tiến hành hoạt động thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi vùng được giao phụ trách và chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan đến công tác thanh tra trên địa bàn vùng [22] Như vậy, thanh tra theo vùng không nhất thiết phải tiến hành thanh tra theo đoàn mà có thể do một thanh tra viên tiến

hành

1.1.6 Thanh tra trực tuyến

Trang 18

Là mô hình thanh tra mà thanh tra viên chỉ phải chịu sự điều hành của

tổ chức thanh tra lao động cấp trên mà không lệ thuộc vào cơ quan hành chính cùng cấp về lãnh đạo, chỉ đạo [22]

1.1.7 Đối tƣợng thanh tra

Là các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động hoặc việc làm bị thanh tra do Đoàn Thanh tra hoặc Thanh tra viên có thẩm quyền thực hiện [11, tr 15]

1.1.8 Kiểm tra

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà Xuất bản Đà Nẵng năm 1997 thì

“kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [40, tr 504] Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học định nghĩa “kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước có phù hợp pháp luật hay không và áp dụng biện pháp bảo đảm, khôi phục sự phù hợp đó khi cần thiết” [16, tr 74] Xét dưới góc độ quản lý nhà nước, khái niệm kiểm tra được hiểu: Là một chức năng quản lý, một khâu trong quy trình quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết quả thực tế thi hành pháp luật, chính sách, chủ trương của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội được giao [44, tr 565]

Như vậy, kiểm tra là một khái niệm rất rộng, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau để chỉ các hoạt động có tính chất và mức độ khác nhau Tuy nhiên có thể chia làm hai loại:

Thứ nhất, kiểm tra mang tính chuyên môn kỹ thuật, ví dụ kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra độ an toàn của máy móc, thiết bị…

Trang 19

Thứ hai, kiểm tra hướng vào hành vi của con người, vào hoạt động của

cơ quan, tổ chức, ví dụ kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc chấp hành chính sách, pháp luật; kiểm tra của các tổ chức, đoàn thể đối với thành viên của mình trong việc chấp hành điều lệ của tổ chức đó… Hoạt động kiểm tra này không chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá mà có mục đích là tìm ra các biện pháp tác động làm cho hoạt động của đối tượng bị kiểm tra phát triển đúng hướng của người kiểm tra

Trong hoạt động quản lý, kiểm tra được xem như là một biện pháp, một khâu của quá trình quản lý và có mối quan hệ mật thiết với hoạt động thanh tra

1.1.9 Phân biệt thanh tra với kiểm tra

Dưới góc độ quản lý, giữa kiểm tra và thanh tra có những điểm chung

về chủ thể, đối tượng, mục đích… Do có một số điểm chung đó và một phần

do trình độ hiểu biết, nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên trong thực tế các

tổ chức, cá nhân thường nhầm lẫn hai khái niệm này Vì vậy, việc phân biệt khái niệm thanh tra với kiểm tra có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, góp phần nâng cao nhận thức và hiệu quả của công tác thanh tra Dựa trên các đặc điểm của thanh tra, kiểm tra có thể phân biệt hai khái niệm này tại bảng 1.1

Bảng 1.1: Phân biệt thanh tra với kiểm tra

Nội dung Phức tạp h¬n, s©u s¾c h¬n Thường đơn giản

Chủ thể Cơ quan quản lý nhà nước Đa dạng hơn: cơ quan quản

lý nhà nước, các tổ chức (tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội-nghề nghiệp, ….)

và các cá nhân

Trang 20

Thẩm quyền Cú quyền xử phạt và ỏp

dụng cỏc biện phỏp cưỡng chế thi hành

Khụng cú quyền xử phạt, cưỡng chế mà chỉ cú quyền kiến nghị

Tớnh chất cụng

việc

Đũi hỏi phải cú trỡnh độ, nghiệp vụ cao, khả năng chuyờn sõu

Khụng nhất thiết phải đũi hỏi trỡnh độ nghiệp vụ quỏ chuyờn sõu

Phạm vi hoạt

động

Hẹp hơn, th-ờng có chọn lọc

Rộng, phụ thuộc vào đặc

điểm của chủ thể kiểm tra Trỡnh tự, thủ tục Theo luật định, tuõn theo

trỡnh tự, thủ tục chặt chẽ

Thủ tục đơn giản hơn

Mức độ Theo kế hoạch được

duyệt, hoặc đột xuất

Mang tính thường xuyên, diễn ra liên tục

Mặc dự giữa thanh tra, kiểm tra cú sự khỏc nhau về tớnh chất, đối tượng, thẩm quyền, phạm vi hoạt động, mức độ song giữa cỏc chủ thể tiến hành thanh tra, kiểm tra cú những mối quan hệ ràng buộc, tương hỗ, phối hợp với nhau khi thực thi chức năng, nhiệm vụ của mỡnh, chẳng hạn mối quan hệ giữa thanh tra với kiểm tra của Đảng trong việc phỏt hiện, xử lý những vi phạm của cỏn bộ, cụng chức là đảng viờn… Hiểu theo nghĩa rộng thỡ kiểm tra bao hàm thanh tra, hay núi cỏch khỏc thanh tra là một loại hỡnh đặc biệt của kiểm tra mà ở đú luụn luụn do một loại chủ thể là nhà nước tiến hành và mang tớnh quyền lực nhà nước, với sự độc lập tương đối Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thỡ thanh tra cũng bao hàm kiểm tra Cỏc hoạt động, cỏc thao tỏc nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra thường chớnh là kiểm tra

Như vậy, tất cả cỏc hoạt động của thanh tra, kiểm tra đều hướng tới mục đớch chung là đảm bảo phỏp luật được thi hành nghiờm chỉnh, thống nhất, tăng cường phỏp chế xó hội chủ nghĩa

1.2 VỊ TRÍ, VAI TRế CỦA CễNG TÁC THANH TRA NểI CHUNG

Trang 21

1.2.1 Vị trí của công tác thanh tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan hành pháp

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, Điều 1 Sắc lệnh ghi: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và nhân viên của các Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”

Những năm đầu của Nhà nước Việt Nam non trẻ, quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ của Nghị viện (theo Hiến pháp 1946) và giao cho Hội đồng Chính phủ (theo Hiến pháp 1959) Bắt đầu

từ Hiến pháp năm 1980, công tác thanh tra được xác định là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước Khoản 15 Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng”

Đến Hiến pháp năm 1992, công tác thanh tra, kiểm tra được thể hiện cụ thể qua các Điều 112, 115, 116 và 124, trong đó có những nội dung quy định Chính phủ, các Bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” và “ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó ” Đối với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ “ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó ”

Trang 22

Như vậy, ngay từ ngày đầu tiên thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các tổ chức thanh tra nhà nước luôn luôn được xác định là cơ quan, bộ phận của bộ máy hành chính nhà nước, của Chính phủ, có chức năng kiểm soát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Vị trí của công tác thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý của cơ quan hành pháp, là một nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước Thực hiện nhiệm vụ này, trước hết thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước

tự mình hoặc thông qua các cơ quan chuyên môn và cán bộ thừa hành để tiến hành hoạt động Yêu cầu quản lý ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có những cán bộ chuyên trách để giúp thủ trưởng thực hiện nhiệm vụ, do đó đã hình thành tổ chức chuyên trách về công tác thanh tra

Vị trí, tổ chức của thanh tra nhà nước được quy định trong Luật Thanh tra năm 2004 đã khắc phục được nhiều yếu điểm và những vướng mắc trong hoạt động thanh tra trước đây, góp phần kiện toàn, tăng cường tổ chức và hoạt động thanh tra Theo Luật này, các tổ chức thanh tra nhà nước được thiết lập thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương bao gồm cơ quan Thanh tra Chính phủ (cơ quan của Chính phủ); Thanh tra Bộ (cơ quan thuộc Bộ, ngành); Thanh tra Sở (thuộc các Sở chuyên ngành) và Thanh tra tỉnh, huyện (cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp)

Trải qua 60 năm hoạt động, với nhiều tên gọi và nhiệm vụ, quyền hạn mỗi lúc khác nhau theo yêu cầu của hoạt động quản lý nhưng vị trí công tác thanh tra nhà nước và tổ chức thanh tra nhà nước vẫn thuộc cơ quan hành pháp

Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vị trí của hệ thống thanh tra trong tổ chức bộ máy nhà nước Ý kiến thứ nhất cho rằng: Vị trí của Thanh tra nhà nước phải thuộc cơ quan lập pháp để xem xét việc chấp

Trang 23

hành và điều hành của Chính phủ và các cơ quan công quyền Ý kiến thứ hai: Trong điều kiện đổi mới hiện nay cần tăng cường hoạt động kiểm soát, thanh tra của các Bộ, ngành để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành và lĩnh vực, do đó cần xem xét việc tổ chức thanh tra theo mô hình trực tuyến Ý kiến thứ ba cho rằng: Để đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả cần tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra theo cấp hành chính đủ mạnh bao gồm các lĩnh vực quản lý của nhà nước

Việc xác định vị trí, tổ chức và hoạt động thanh tra ở mỗi quốc gia là khác nhau, trong cùng quốc gia nhưng ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau Nguyên nhân của sự khác nhau về cơ bản phụ thuộc vào thể chế chính trị, thiết chế tổ chức nhà nước, truyền thống pháp lý và yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Vậy ở nước ta, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước trong điều kiện mới theo hướng nào đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện cả

về cơ sở lý luận và thực tiễn, đặt hoạt động thanh tra nhà nước trong việc xem xét hoạt động quản lý nhà nước theo hệ thống chính trị và yêu cầu của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, hoạt động thanh tra nhà nước là một chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, do vậy hình thành hệ thống tổ chức Thanh tra nhà nước

ở các cấp, các ngành để giúp thủ trưởng các ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình là tất yếu

1.2.2 Thanh tra là một nội dung, một chức năng thiết yếu của quản

lý nhà nước

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin thì khi có quản lý là phải

có thanh tra Lê nin cho rằng: Thanh tra và quản lý là một chứ không phải là hai Mục đích của thanh tra là nhằm xây dựng khả năng biết làm, biết thành thạo trong quản lý Như vậy, theo lý luận Mác – Lê nin thì thanh tra là một

Trang 24

chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý, mục đích quản lý sẽ không đạt được nếu thiếu hoạt động thanh tra

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thanh tra cũng dựa trên những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin Vai trò quan trọng của công tác thanh tra được thể hiện trong nhiều bài viết, bài nói, chỉ thị của Bác ở nhiều lúc, nhiều nơi Người nói: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới và thanh tra là để theo dõi, xem xét kế hoạch, chỉ thị, chính sách

đó, các địa phương đã chấp hành như thế nào, nếu họ làm sai hay gặp khó khăn, còn giúp họ làm cho đúng với nghị quyết, chỉ thị của trên đưa xuống” [33] Tai, mắt là bộ phận của cơ thể con người, là phương tiện để nhận thức

và đem lại cho con người tri thức Người đã ví thanh tra như tai mắt của con người, điều đó có nghĩa thanh tra được xem như là một bộ phận hữu cơ cấu thành của quản lý nhà nước, là phương tiện nhận thức của quá trình quản lý Người cũng nhấn mạnh: “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như

có ngọn đèn pha Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra” [18, tr 521]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của thanh tra trong việc quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách quản lý Người cũng chỉ

rõ mục đích của thanh tra là theo dõi, xem xét, việc nào làm chưa đúng giúp

họ làm cho đúng, đó mới là bản chất của công tác thanh tra

Tại các Nghị quyết của Đảng đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác thanh tra trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Chỉ thị số 38/CT ngày 20/2/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Tổ chức Thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng và chính quyền trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà

Trang 25

nước” Trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá VII), Trung ương

3 và Trung ương 7 (khoá VIII), Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X đều khẳng định: Thanh tra là một nội dung quan trọng của quản lý nhằm thiết lập kỷ cương xã hội, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước

Như vậy, từ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin đến quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động có định hướng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang thẩm quyền nhà nước lên các đối tượng bị quản lý Sự tác động đó bao gồm nhiều dạng hoạt động khác nhau, trong đó thanh tra, kiểm tra là một dạng hoạt động không thể thiếu Thanh tra là một nội dung, một mắt xích trong chu trình quản lý nhà nước đó Tại Điều 1 Pháp lệnh Thanh tra

đã quy định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước” [10]

Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

1.2.3 Thanh tra là phương thức bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân

Trang 26

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhà nước có nghĩa

vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội Đồng thời, trong các Văn kiện Đại hội của Đảng đều khẳng định mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam luôn luôn gắn với mục tiêu phát huy quyền dân chủ của nhân dân Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 khẳng định: “Thanh tra là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa” [10]

Mối quan hệ giữa công tác thanh tra với việc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân thể hiện ở chỗ: Thanh tra góp phần ngăn ngừa những hành vi vi phạm quyền dân chủ của nhân dân xuất phát từ các hoạt động công quyền, góp phần tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho quá trình thực hiện quyền dân chủ và đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa nhân dân với Nhà nước

1.2.4 Thanh tra là công tác quan trọng gắn liền với việc tổ chức hoàn thiện bộ máy Nhà nước

Từ thời điểm bắt tay xây dựng, củng cố chính quyền non trẻ và từng bước hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định thanh tra, kiểm tra là một yếu tố cấu thành của quản lý nhà nước, một “công cụ đặc biệt” để kiểm soát công việc của bộ máy nhà nước mà trước hết là phát hiện, phòng ngừa, xử lý các sai phạm của các cơ quan, viên chức Nhà nước

Thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra được coi như một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng

Trang 27

cường lực lượng kiểm soát các hoạt động tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và công dân, bảo đảm hiệu lực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Tóm lại, công tác thanh tra có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước Được xác định là bộ phận của bộ máy hành chính, công tác thanh tra giữ vai trò là một nội dung, một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý; là phương thức phát huy dân chủ, phát hiện, ngăn ngừa

và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; là công tác gắn liền với việc tổ chức hoàn thiện bộ máy nhà nước Vì vậy, công tác thanh tra đòi hỏi sự quan tâm rất lớn từ phía Đảng, chính quyền trong suốt quá trình hoạt động Đó là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của công tác thanh tra

1.3 VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA THANH TRA NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

1.3.1 Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội là tổ chức thanh tra thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội (gọi chung là lao động, thương binh và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc

Bộ quản lý theo quy định của pháp luật Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phải tiến hành các hoạt động lập quy, tổ chức thực thi văn bản quy phạm pháp luật và kiểm tra, thanh tra

Trang 28

- Lập quy là hoạt động ban hành các văn bản pháp quy (còn gọi là văn bản dưới Luật) như quyết định, thông tư… để cụ thể hoá luật, thực hiện luật nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội Do đặc thù quản lý của ngành nên hiện nay số lượng các văn bản pháp luật về các lĩnh vực trên là rất lớn và giữ một vai trò quan trọng trong quá trình điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội

- Tổ chức thực thi các văn bản pháp luật là những hoạt động tổ chức, điều hành các hoạt động, đưa pháp luật vào đời sống nhằm giữ gìn trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích của công dân, bảo đảm dân sinh và giải quyết các vấn đề xã hội, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính và công sản để phát triển đất nước Để thực hiện được điều đó Bộ phải tổ chức ra bộ máy cai quản, sắp xếp nhân sự, điều hành công việc quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách của đất nước

- Kiểm tra, thanh tra là hoạt động không thể thiếu trong quá trình quản

lý của các chủ thể quản lý nói chung và của Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội nói riêng Thông qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan thanh tra, kiểm tra sẽ phát hiện những hiện tượng tiêu cực và tích cực trong quá trình quản lý Từ

đó có biện pháp xử lý đối với những biểu hiện tiêu cực và có tác động phù hợp với các hiện tượng tích cực Kiểm tra, thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ có thẩm quyền là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Như vậy, thanh tra, kiểm tra là một trong ba nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Thực chất

ba nội dung này có sự bổ sung và tác động tương hỗ với nhau Hoạt động lập quy sẽ là cơ sở pháp lý để Bộ điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước còn việc tổ chức thực thi các văn

Trang 29

bản pháp luật là hoạt động đưa pháp luật vào cuộc sống, biến những quy định nằm trên giấy thành hành động trên thực tế và để đánh giá mức độ phù hợp của các văn bản cũng như quá trình thực hiện trên thực tế lại cần sự hỗ trợ tích cực của hoạt động thanh tra, kiểm tra Hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ đánh giá việc thực hiện các quy định đó đúng hay sai, phù hợp hay chưa phù hợp để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền huỷ bỏ, sửa đổi hoặc

bổ sung chính sách cho phù hợp Đó là một vòng tròn khép kín của chu trình quản lý hành chính nhà nước mà thanh tra, kiểm tra là điểm kết thúc nhưng cũng lại là điểm khởi đầu cho một chu trình mới: ra quyết định – tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra

Tại Nghị định 31/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ quy định: Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội là tổ chức thanh tra thuộc ngành Lao động, Thương binh và Xã hội; ở Trung ương có Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thanh tra Tổng cục Dạy nghề; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về lao động, thương binh và xã hội trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật

Như vậy, Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội được xác định

là một tổ chức thanh tra thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, thiết lập từ Trung ương xuống địa phương để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của ngành trên phạm vi cả nước

1.3.2 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội là công

cụ không thể thiếu nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 30

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định

và phát triển của xã hội hay nói cách khác quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của mình Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thương binh

và xã hội

Là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước của

Bộ, Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội ra đời như một nhu cầu tất yếu với mục đích giúp Bộ quản lý việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp và quản

lý việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực, bao gồm lĩnh vực lao động, việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, lĩnh vực người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội

Hoạt động của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời sai sót của các ngành, các cấp trong việc thực hiện chính sách pháp luật về lao động, thương binh và xã hội, đồng thời phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, bảo đảm cho chính sách, pháp luật về lao động, thương

Trang 31

binh và xã hội được thực thi một cách có hiệu quả Đồng thời, thanh tra ngành cũng góp phần phát hiện những thay đổi và dự báo những vấn đề sẽ phát sinh

để có biện pháp phòng ngừa kịp thời Do đó thanh tra, kiểm tra giúp cho cơ quan quản lý theo sát và đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội

Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền nhằm phát hiện những thiếu sót, khuyết điểm để có biện pháp chỉ đạo và quản lý tốt nhất, chống lãng phí, tiêu cực và tham nhũng, đồng thời giải quyết kịp thời, dứt điểm những khiếu nại,

tố cáo phát sinh trong lĩnh vực ngành mình phụ trách

Bên cạnh đó, thanh tra ngành còn thực hiện tốt vai trò trong việc làm đầu mối giúp lãnh đạo xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra và thống nhất các chương trình, kế hoạch để phục vụ yêu cầu quản lý điều hành của Bộ, tránh trùng lắp, chồng chéo, nhất là trong hoạt động thanh tra đối với các doanh nghiệp

1.3.3 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế

Việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi sai phạm của

cá nhân, cơ quan có trách nhiệm, của các cá nhân, tổ chức là đối tượng bị quản lý sẽ bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý Qua việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật có tác dụng răn đe, phòng ngừa không để các sai phạm tiếp tục xảy ra trong lĩnh vực ngành quản lý

Mỗi năm, Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã thực hiện hàng vạn cuộc thanh tra ở tất cả các lĩnh vực quản lý, phát hiện và kịp

Trang 32

thời chấn chỉnh hàng triệu sai phạm, thu hồi về ngân sách Nhà nước hàng tỷ đồng chi sai đối tượng, chi không đúng mục đích, đóng góp hàng ngàn kiến nghị đối với cơ quan quản lý để sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp Đồng thời, thông qua thanh tra, cơ quan thanh tra sẽ tư vấn, giúp đỡ các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật

Với việc tổ chức tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại,

tố cáo một mặt tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền dân chủ – quyền

đã được Hiến pháp quy định, mặt khác là hình thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Tất cả các đơn thư gửi đến Bộ đều được xử

lý nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật Những vi phạm pháp luật, vi phạm quy trình, quy phạm trong những lĩnh vực ngành quản lý đều được phát hiện

và xử lý nghiêm minh theo pháp luật, do đó đã bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các tổ chức và công dân, góp phần tăng

cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và hiệu lực quản lý của nhà nước

1.3.4 Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội góp phần củng cố nguyên tắc quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

Để đảm bảo tính toàn diện, hoạt động quản lý nhà nước được tổ chức trên cơ sở vùng, lãnh thổ và ngành chuyên môn nhất định, theo đó hình thành nên hệ thống cơ quan quản lý nhà nước gồm hai loại là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp) và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng (các Bộ, ngành, các Sở)

Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội là công cụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực, ngành nghề chuyên môn Hoạt động thanh tra của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội được tiến hành thường xuyên có

Trang 33

vai trò hết sức quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng kiểm soát chặt chẽ đối tượng quản lý, phát hiện kịp thời những sai sót,

vi phạm trong lĩnh vực được phân công quản lý và có biện pháp xử lý kịp thời

Ngoài ra, Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội còn giúp

cơ quan quản lý nhà nước phát hiện sự chồng chéo trong công tác quản lý giữa các ngành với nhau để từng bước xác định ranh giới quản lý cụ thể giữa các ngành, qua đó đảm bảo việc quản lý vừa không bị chồng chéo, vừa không

bị bỏ sót, nhờ vậy mà phát huy hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý có thẩm quyền riêng Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng làm tròn trách nhiệm của mình thì hoạt động quản lý nhà nước theo lãnh thổ được thực hiện tốt

Nhận định về vị trí và vai trò của thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đối với sự phát triển của ngành, trong bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Thanh tra, Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng nhấn mạnh: “Trong suốt 60 năm xây dựng và trưởng thành, Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội đã thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ được giao

đó là: Thanh tra nhằm phát hiện và chấn chỉnh những sai phạm trong việc thực hiện pháp luật của các cơ quan, đơn vị, cá nhân; xử lý, kiến nghị cơ quan

có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm Qua kết quả thanh tra, có kiến nghị

về bổ sung, sửa đổi chính sách, chế độ cho phù hợp thực tiễn và quá trình phát triển” [32, tr 9]

1.4 MÔ HÌNH TỔ CHỨC THANH TRA LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ NƯỚC 1.4.1 Các mô hình tổ chức thanh tra

Để kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm minh của pháp luật, các nước đều thiết lập cơ chế

Trang 34

kiểm tra, thanh tra, giám sát bằng việc thành lập các cơ quan chức năng đặt tại các vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước Căn cứ vào nhu cầu quản lý, đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, hiện nay trên thế giới phân chia thành các mô hình thanh tra như sau:

Thứ nhất là mô hình Thanh tra Quốc hội (như Thuỵ Điển) Đây là mô hình của các nước có nền kinh tế phát triển, có bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh Vì vậy, Thanh tra Quốc hội có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và giám sát hoạt động của các cán bộ, công chức nhà nước; có quyền tiến hành thanh tra các cơ quan nhà nước, các tổ chức được Nhà nước trao quyền trong mọi hoạt động nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh

Mô hình thứ hai là Thanh tra, giám sát hành chính (như Trung Quốc) Khác với mô hình Thanh tra Quốc hội, mô hình thanh tra, giám sát hành chính không trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước mà trực thuộc Tổng thống hoặc Thủ tướng Chính phủ Hệ thống các cơ quan thanh tra, giám sát hành chính thường tổ chức thành hệ thống từ Trung ương tới địa phương hoặc được tổ chức theo cấp hành chính Tổ chức này có nhiệm vụ giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, thanh tra việc thực hiện pháp luật của các đối tượng thuộc quyền giám sát như cơ quan hành chính nhà nước, công chức nhà nước…

Mô hình thứ ba là Thanh tra, kiểm tra trong các cơ quan hành pháp Theo mô hình này thì tổ chức thanh tra, kiểm tra có thể được thành lập ở Chính phủ hoặc các cấp hành chính và tổ chức thanh tra, kiểm tra được thành lập ở các Bộ, ngành (như Pháp)

1.4.2 Một số mô hình tổ chức thanh tra lao động

Trang 35

Qua nghiên cứu ở một số nước có điều kiện tương tự nước ta thì tổ chức thanh tra lao động là mô hình có nhiều ưu điểm nổi bật mà Việt Nam có thể học hỏi và vận dụng Vì vậy, luận văn tham khảo mô hình tổ chức thanh tra lao động ở 3 nước là Philippin, Thái Lan và Bungari

1.4.2.1 Philippin

Các Văn phòng thanh tra lao động thuộc Vụ Điều kiện lao động (là một trong 6 Vụ chuyên môn thuộc Bộ Lao động và việc làm ở Philippin) không tiến hành thanh tra trực tiếp tại các doanh nghiệp Việc thanh tra tại các doanh nghiệp do các Văn phòng lao động vùng phụ trách Các Văn phòng lao động vùng có bộ máy thanh tra giống hệt như ở Vụ Điều kiện lao động, tức là đều

có thanh tra tiêu chuẩn lao động (thanh tra chính sách); thanh tra chung (thanh tra an toàn – vệ sinh lao động) và thanh tra kỹ thuật (thanh tra kỹ thuật an toàn) Các bộ phận khác trong bộ máy của Vụ điều kiện lao động có các máy móc đo đạc điều kiện lao động sẽ phối kết hợp với thanh tra lao động để tiến hành đo đạc các yếu tố điều kiện lao động Thanh tra ở Philippin đều quy chung về một đầu mối và tập trung dưới sự chỉ đạo của Bộ Lao động – Việc làm nên tránh được sự chồng chéo chức năng thanh tra

1.4.2.2 Thái Lan

Tổ chức của Thanh tra lao động Thái Lan thuộc Cục Bảo hộ lao động

và Phúc lợi quản lý

Thanh tra lao động có nhiệm vụ giám sát, phát triển công tác thanh tra

và bảo đảm về các tiêu chuẩn lao động, tư vấn về phát triển và sửa đổi các vấn

đề về lao động và luật có liên quan, thúc đẩy hiệu lực của luật lao động, xúc

Trang 36

tiến và phát triển hệ thống quan hệ lao động ở các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, tư vấn về các biện pháp cải thiện điều kiện và môi trường lao động, phát triển hệ thống đào tạo cho người lao động, người sử dụng lao động và cán bộ công chức trong lĩnh vực bảo hộ lao động, quan hệ lao động phúc lợi lao động và quản lý nhân sự, thúc đẩy hơn nữa phúc lợi lao động ngoài các quy định của luật pháp, hoàn thiện các hệ thống

biểu mẫu, các phương pháp điều tra thu thập số liệu trong lĩnh vực lao động

Một điểm chung trong hoạt động thanh tra lao động ở Thái Lan và Philippin là soạn mẫu thanh tra lao động dựa trên mẫu chung của Mỹ và các nước tư bản Biểu mẫu thanh tra là những mẫu do cấp có thẩm quyền soạn thảo dưới dạng mẫu chung bắt buộc phải thực hiện và được dùng để tiến hành các cuộc thanh tra ở các doanh nghiệp Biểu mẫu thanh tra giúp cho việc tổng hợp số liệu về thanh tra nhanh chóng, chính xác trên phạm vi tỉnh, vùng và cả nước Tuy nhiên, việc thanh tra theo biểu mẫu làm cho cuộc thanh tra tiến hành nhiều khi cứng nhắc, không phát huy được tính sáng tạo của thanh tra viên

1.4.2.3 Bungari

Thanh tra lao động Bungari là một hệ thống thanh tra trực tuyến, trực thuộc Bộ trưởng Bộ Lao động và Chính sách xã hội Tổng Thanh tra lao động

do Bộ trưởng Bộ Lao động và Chính sách xã hội bổ nhiệm

Ngoài thanh tra lao động thuộc Bộ, ở Bungari có 28 cơ quan thanh tra lao động vùng trực thuộc Tổng Thanh tra lao động, Giám đốc Thanh tra lao động vùng do Tổng Thanh tra lao động bổ nhiệm Thanh tra lao động thuộc

Bộ có chức năng chủ yếu là hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra cho thanh tra lao động vùng Thanh tra lao động vùng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra

Trang 37

Cơ quan thanh tra lao động vùng hoạt động tương đối độc lập (chỉ chịu sự chỉ đạo của Tổng Thanh tra lao động) và có hiệu quả

Tổ chức thanh tra lao động trực tuyến có ưu điểm nổi bật là thanh tra viên chỉ chịu sự điều hành của tổ chức thanh tra lao động cấp trên, không lệ thuộc vào cơ quan hành chính các cấp về lãnh đạo, chỉ đạo… nên các quyết định, kết luận thanh tra có độ chính xác cao nhưng việc áp dụng hình thức tổ chức này rất khó vì đòi hỏi đầu tư lớn về văn phòng làm việc, phương tiện đi lại, trang thiết bị phục vụ cho thanh tra viên tại mỗi vùng… Đây là mô hình

mà thanh tra lao động ở nước ta đang hướng tới

1.4.3 Những kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam

Trong điều kiện có sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, tính chuyên nghiệp ngày càng thể hiện hiệu quả của nó Vì vậy, cần tổ chức

bộ máy công tác thanh tra lao động phải mang tính chuyên nghiệp cao, có tính độc lập tương đối

Trước hết phải khẳng định rằng, thanh tra lao động ở Thái Lan và Philippin có thuận lợi hơn nhiều so với thanh tra lao động Việt Nam Họ không phải đảm nhiệm thanh tra về chính sách xã hội như ở nước ta Tổ chức

hệ thống thanh tra lao động ở Philippin và Thái Lan có một số nét tương đồng, đó là hệ thống thanh tra lao động thống nhất Chính sự thống nhất dẫn đến thanh tra lao động ở hai nước này không có sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ

Ở Philippin, các cơ chế, chính sách liên quan hoặc hỗ trợ cho thanh tra lao động đều do Văn phòng thanh tra lao động trực thuộc Vụ Điều kiện lao động đưa ra Thanh tra Bộ không trực tiếp thanh tra ở doanh nghiệp Thanh tra Bộ chỉ thực hiện chức năng quản lý, tư vấn cho việc sửa đổi chính sách,

Trang 38

hướng dẫn thực hiện, thanh kiểm tra việc thực hiện cũng như tổng hợp báo cáo từ các Văn phòng lao động vùng Ở Thái Lan cũng vậy, chỉ khác ở chỗ việc đề ra chính sách là chức năng, nhiệm vụ của Vụ Thư ký thường trực, thanh tra lao động không thực hiện chức năng này Ngoài ra, ở Thái Lan còn

có thêm bộ phận Tổng Thanh tra có chức năng, nhiệm vụ thanh tra công chức nhà nước khi có vụ việc xảy ra Bộ phận này trực thuộc Vụ Bảo hộ lao động

và phúc lợi của Bộ Lao động và phúc lợi xã hội

Ở Philippin, thanh tra lao động được phân bố theo 15 vùng, thanh tra lao động ở mỗi vùng phụ trách một số tỉnh Thanh tra lao động vùng trực thuộc Văn phòng lao động vùng Trái lại, ở Thái Lan, thanh tra lao động được phân bố theo 75 tỉnh (trừ Băng Cốc do Vụ Bảo hộ lao động và Phúc lợi phụ trách trực tiếp), mỗi tỉnh có một Sở Lao động và thanh tra lao động trực thuộc

Sở này Điểm mới ở đây là các Văn phòng lao động vùng hoặc Sở Lao động tỉnh đều trực thuộc một cách toàn diện đối với Bộ Lao động, kể cả về mặt chuyên môn, nhân sự, tài chính và các vấn đề khác mà không chịu ảnh hưởng của chính quyền địa phương Điều này cho phép Bộ Lao động thực hiện việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và luân chuyển cán bộ được dễ dàng, có khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới hiện nay cho thấy mô hình tổ chức trực tuyến là mô hình mang lại hiệu quả cao Tại Bungari, trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng có bộ máy cơ quan thanh tra như ở nước ta Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tổ chức thanh tra của Bungari được thực hiện theo hình thức trực tuyến, cả nước chia làm 26 vùng

Bộ trưởng Bộ Lao động bổ nhiệm Tổng Thanh tra Lao động Trung ương Hoạt động thanh tra từ chỗ chỉ thực hiện được bình quân (một thanh tra viên)

Trang 39

11 đến 12 cuộc thanh tra mỗi năm thì sau khi xác lập hệ thống thanh tra trực tuyến đã đạt mức 100 cuộc thanh tra một năm

Từ ba mô hình tổ chức thanh tra lao động của các nước như phân tích trên, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm tổ chức thanh tra lao động ở Việt Nam:

- Hoạt động thanh tra theo vùng là bước khởi đầu, chuẩn bị để tiến tới

tổ chức thanh tra trực tuyến Phương thức thanh tra theo vùng hoặc thanh tra trực tuyến có những ưu điểm rõ rệt so với phương thức thanh tra theo đoàn: tính linh hoạt của hoạt động thanh tra cao, không chồng chéo, gọn nhẹ, số lượng doanh nghiệp được kiểm soát nhiều hơn, nâng cao trách nhiệm cá nhân của thanh tra viên, đồng thời khắc phục được tình trạng chênh lệch khá lớn về trình độ, nghiệp vụ của thanh tra viên thuộc cơ quan thanh tra lao động trung ương với thanh tra viên thuộc cơ quan thanh tra lao động địa phương

- Sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra lao động trung ương với cơ quan thanh tra lao động các cấp và các cơ quan khác chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn

- Sự độc lập của thanh tra viên phụ trách vùng đối với chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan rõ nét hơn so với thanh tra theo đoàn

Tóm lại: Sau khi nêu và phân tích một số khái niệm cơ bản, luận văn đã đưa ra các dấu hiệu để phân biệt thanh tra với kiểm tra Luận văn đi sâu xem xét các vấn đề lý luận về vị trí, vai trò của công tác thanh tra nói chung và vị trí, vai trò của Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trong hoạt động quản lý nhà nước của ngành Luận văn khẳng định: Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động trọng tâm và chủ yếu nhất của quản lý nhà nước, trong đó thanh tra là một khâu không thể thiếu trong chu trình quản lý hành chính nhà nước Từ Chủ nghĩa Mác - Lê nin đến tư tưởng Hồ Chí Minh,

Trang 40

từ các Văn kiện của Đảng đến pháp luật của Nhà nước đều khẳng định vị trí, vai trò của thanh tra trong hoạt động quản lý nhà nước Hoạt động thanh tra không những có mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà còn phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, đồng thời phát huy nhân tố tích cực, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Nằm trong hệ thống của ngành thanh tra và là tổ chức thanh tra của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã thực sự là chiếc cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp và người dân, xứng đáng “là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị Với vị thế của mình, Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là công cụ không thể thiếu nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội; góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế và củng cố nguyên tắc quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoạch định chính sách và đảm bảo cho các chính sách, pháp luật của nhà nước, của ngành trong lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của ngành

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoá VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
8. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992)
Tác giả: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Luật Thanh tra (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thanh tra
Tác giả: Luật Thanh tra
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10. Pháp lệnh Thanh tra, Nxb Tư pháp, 1998. Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học và bài báo của các tác giả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Thanh tra
Nhà XB: Nxb Tư pháp
11. Nguyễn Xuân Bân (2000 (Chủ biên)), Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra Chính sách Lao động, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra Chính sách Lao động
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
12. Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội (1999), Thuật ngữ Lao động - Xã hội, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Lao động - Xã hội
Tác giả: Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 1999
15. Đại học Luật Hà Nội (1998), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, tập 1, NxB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 1998
16. Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
17. Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt (1998)
Tác giả: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1998
18. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. Phạm Văn Khanh (1998), Thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra bộ, ngành, chuyên ngành ở nước ta- những vấn đề đặt ra và giải pháp, Đề tài cấp Bộ, Thanh tra Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra bộ, ngành, chuyên ngành ở nước ta- những vấn đề đặt ra và giải pháp
Tác giả: Phạm Văn Khanh
Năm: 1998
20. TS. Bùi Sỹ Lợi (2003), “Các điều kiện và giải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo Đoàn sang thanh tra viên phụ trách”. Đề tài cấp Bộ, Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các điều kiện và giải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo Đoàn sang thanh tra viên phụ trách”
Tác giả: TS. Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2003
21. TS. Bùi Sỹ Lợi (2005), “ Qua đợt thí điểm thanh tra viên phụ trách vùng và phát phiếu tự kiểm tra tại doanh nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Qua đợt thí điểm thanh tra viên phụ trách vùng và phát phiếu tự kiểm tra tại doanh nghiệp”
Tác giả: TS. Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2005
22. TS. Bùi Sỹ Lợi (2006), “ Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp”
Tác giả: TS. Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2006
23. Trần Đức Lượng (2000), Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Thanh tra Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Tác giả: Trần Đức Lượng
Năm: 2000
24. Tổ chức Lao động quốc tế (2004), Thanh tra lao động hướng dẫn chuyên ngành, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh tra lao động hướng dẫn chuyên ngành
Tác giả: Tổ chức Lao động quốc tế
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân biệt thanh tra với kiểm tra - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 1.1 Phân biệt thanh tra với kiểm tra (Trang 19)
Bảng 2.1: Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại Thanh tra Bộ - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.1 Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại Thanh tra Bộ (Trang 56)
Bảng 2.2: Kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại các Sở - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.2 Kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại các Sở (Trang 59)
Bảng 2.3: Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công   năm 2006 tại Thanh tra Bộ - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.3 Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công năm 2006 tại Thanh tra Bộ (Trang 62)
Bảng 2.4: Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và  xã hội tại Thanh tra Bộ - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.4 Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và xã hội tại Thanh tra Bộ (Trang 63)
Bảng 2.5: Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và xã hội tại các Sở - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.5 Kết quả thanh tra thực hiện chính sách người có công và xã hội tại các Sở (Trang 65)
Bảng 2.6: Kết quả tiếp công dân tại Bộ - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.6 Kết quả tiếp công dân tại Bộ (Trang 68)
Bảng 2.7: Kết quả xử lý thƣ đơn tại Thanh tra Bộ   TT - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.7 Kết quả xử lý thƣ đơn tại Thanh tra Bộ TT (Trang 69)
Bảng 2.8: Tình hình xử lý thƣ đơn năm 2006 so với năm 2005   Phân loại  theo tính - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.8 Tình hình xử lý thƣ đơn năm 2006 so với năm 2005 Phân loại theo tính (Trang 70)
Bảng 2.9: Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp năm 2006   tại Thanh tra Bộ - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.9 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp năm 2006 tại Thanh tra Bộ (Trang 71)
Bảng 2.10: Kết quả tiếp công dân, xử lý thƣ đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các Sở năm 2006 - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.10 Kết quả tiếp công dân, xử lý thƣ đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các Sở năm 2006 (Trang 73)
Bảng 2.11: Tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra tại một số địa phương - Thanh tra ngành lao động - thương binh và xã hội (lý luận, thực trạng và giải pháp)
Bảng 2.11 Tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra tại một số địa phương (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w