1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

129 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ như hành vi dùng kinh phí được cấp, hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học để mua xe ôtô phục vụ mục đích cá nhân; ngụy tạo các bằng chứng về khả năng của mình trong việc thực hiện nhiệm v

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Khoa luật

NGUYỄN HỮU QUÂN

THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CễNG NGHỆ

Chuyờn ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và phỏp luật

Mó số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bựi Xuõn Đức

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU QUÂN

THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG

TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ

1.1.2 Chủ thể của tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ

1.2.1 Tham nhũng diễn ra dưới dạng gây khó khăn cho người khác

khi giải quyết công việc

31

1.2.2 Tham nhũng diễn ra dưới dạng mang lại quyền, lợi ích cho chủ

thể khác một cách bất hợp pháp

32

1.2.3 Tham nhũng diễn ra dưới dạng gian lận, trốn tránh pháp luật và

các tiêu chuẩn, các thoả thuận

33

1.2.4 Tham nhũng diễn ra dưới dạng thông đồng, móc ngoặc 35

Chương 2: NHẬN DIỆN THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN

CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.3 Tham nhũng trong giai đoạn triển khai nhiệm vụ khoa học

Trang 4

2.4.2 Hành vi tham nhũng trong hoạt động đánh giá, nghiệm thu cấp

nhà nước

71

2.5 Một số đặc điểm rút ra qua nghiên cứu nhận diện tham

nhũng trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

73

2.6 Những khó khăn khi xác định hành vi tham nhũng trong

việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

83

Chương 3: NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ VÀ GIẢI PHÁP

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN

CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

86

3.1 Nguyên nhân tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm

vụ khoa học và công nghệ

86

3.1.1 Tham nhũng do chế độ thù lao đối với những người thực hiện

nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa tương xứng

86

3.1.2 Tham nhũng do cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí dành cho

nghiên cứu khoa học và công nghệ chưa phù hợp

3.2.1 Làm mất cơ hội nghiên cứu của các nhà khoa học khác 97

3.2.3 Làm tha hoá đội ngũ trí thức, ảnh hưởng xấu đến giá trị đạo

đức và chuẩn mực xã hội

100

3.2.4 Cản trở nỗ lực đổi mới, phát triển khoa học và công nghệ 102

3.3 Phương hướng, giải pháp phòng, chống tham nhũng trong

việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

103

3.3.1 Xu hướng phát triển của tham nhũng trong việc thực hiện các

3.3.2 Một số giải pháp phòng, chống tham nhũng trong việc thực

hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam

105

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là quốc nạn không chỉ của riêng một quốc gia nào Cuộc chiến chống tham nhũng đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra mọi lúc, mọi nơi, ở tất cả các quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, tham nhũng được xác định là “cản trở những nỗ lực đổi mới, tác động tiêu cực tới sự phát triển của đất nước, bóp méo các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm gia tăng khoảng cách giàu, nghèo Nghiêm trọng hơn, tham nhũng còn làm xói mòn lòng tin của nhân nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước và đe dọa sự tồn vong của chế độ ta” [37]

Nhận thức được những tác hại đó, thời gian qua, đặc biệt là từ 1998 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản về vấn đề phòng, chống tham nhũng Quyết tâm phòng, chống tham nhũng được khẳng định mạnh mẽ qua việc Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (tháng 11 năm 2005, chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2006)

Những năm gần đây, khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong những lĩnh vực được Nhà nước quan tâm đầu tư lớn Hàng năm, lĩnh vực này được đầu tư khoảng 2% tổng chi ngân sách nhà nước (tương đương 0,5% GDP), trong đó có một phần không nhỏ dành cho nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, cơ chế quản lý các nhiệm vụ KH&CN không ngừng được đổi mới theo hướng tích cực, phù hợp với thực tiễn Không thể phủ nhận những thành tựu phát triển về mọi mặt của đất nước do kết quả của việc đầu tư cho KH&CN đem lại nhưng cũng vẫn tồn tại thực tế là, nhiều đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chưa đem lại hiệu quả, chậm hoặc

Trang 7

không được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống, hoặc bị thất bại, gây lãng phí, thất thoát kinh phí , mà một trong những nguyên nhân là kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học đã bị "sử dụng sai mục đích, sai chế độ quy định"

Thực chất, các hành vi được coi là "sử dụng kinh phí sai mục đích, sai chế độ quy định" hết sức đa dạng Ví dụ như hành vi dùng kinh phí được cấp,

hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học để mua xe ôtô phục vụ mục đích cá nhân; ngụy tạo các bằng chứng về khả năng của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN để chiếm đoạt kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học; lập hợp đồng khống và sử dụng hoá đơn, chứng từ giả để hợp thức hóa kinh phí một cách bất hợp pháp; "làm lại" một đề tài nghiên cứu khoa học để lấy kinh phí nhiều lần; "xin - cho" các đề tài, dự án KH&CN để vụ lợi

Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Ví dụ, ngay cùng một hành vi "lập hợp đồng khống và sử dụng hoá đơn chứng từ giả để hợp thức hóa kinh phí", có quan điểm cho rằng đó là điều bình thường, có quan điểm coi đó chỉ là vi phạm quy chế, nhưng quan điểm khác lại quy kết và khẳng định đó là hành vi vi phạm nghiêm trọng - tham nhũng Thực tế cũng cho thấy rằng, nhận thức về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng nói chung, trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng của một bộ phận không nhỏ các chủ thể có liên quan còn ở mức độ hạn chế Họ coi tham nhũng là hành vi phức tạp, khó hiểu hoặc là một vấn đề chẳng bao giờ liên quan đến mình, đơn

vị mình Một trong những lý do chính là chưa có các quy định, chưa có hệ thống khái quát các hành vi cụ thể để làm cơ sở tham khảo xác định tham nhũng trong lĩnh vực này

Mặt khác, nhiều hành vi có dấu hiệu vi phạm nhưng bản chất vụ việc thực ra là do cơ chế quản lý không còn phù hợp với thực tiễn khiến chủ thể buộc phải vi phạm để thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả ("tình ngay lý gian") Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã từng đánh giá: "Tham nhũng ở

Trang 8

Một vấn đề quan trọng nữa là việc phòng ngừa tham nhũng trong lĩnh vực KH&CN được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng (Điều 25) mới chỉ dừng ở mức độ quy định chung:

"- Việc xét, tuyển chọn, giao trực tiếp, tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN và việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN phải được tiến hành công khai

- Cơ quan quản lý KH&CN, đơn vị nghiên cứu KH&CN phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản hỗ trợ, viện trợ, đầu tư, các khoản thu từ hoạt động KH&CN"

Tức là phạm vi điều chỉnh mới chỉ đề cập đến "đầu vào và đầu ra" của nhiệm vụ với chủ thể chính là cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu mà chưa tiếp cận vấn đề sâu hơn ở quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Như vậy, nghiên cứu về tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là việc làm thiết thực, cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề phòng, chống tham nhũng đang ngày càng được quan tâm Những năm gần đây đã có nhiều văn bản pháp quy, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tham nhũng và phòng chống tham nhũng Việc nhận diện tham nhũng trong một số lĩnh vực cụ thể như xây dựng, kế hoạch và đầu tư đã được một số chuyên gia, nhà khoa học của Viện Khoa học Thanh tra thực hiện, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào chuyên sâu về tham nhũng trong nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài:

"Tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN" làm luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Với quan điểm "Phòng còn hơn chống" và "Biết để phòng, tránh" thì việc nghiên cứu về tham nhũng trong thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, gợi ý

Trang 9

một số giải pháp phòng, chống dưới góc độ quản lý nhà nước là nhằm cụ thể hóa và có góc nhìn sâu, rộng hơn về vấn đề này, góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan để chủ động phòng, tránh, chống tham nhũng, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra và phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu KH&CN là hoạt động đang từng bước được xã hội hóa nên các nhiệm vụ KH&CN cũng hết sức đa dạng, được thực hiện bởi nhiều nguồn kinh phí khác nhau Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ xác định và điều chỉnh tham nhũng ở khu vực công (liên quan đến quyền lực công và tài chính công) nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Đó cũng chính là các nhiệm vụ KH&CN được thực hiện chủ yếu hiện nay, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ tham nhũng hơn cả

Nhiệm vụ KH&CN được thể hiện và tổ chức thực hiện dưới nhiều loại hình khác nhau, do nhiều cơ quan được phân cấp quản lý như: chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước; chương trình nông thôn - miền núi; đề tài,

dự án độc lập cấp nhà nước (do Bộ KH&CN quản lý), đề tài, dự án các cấp như cấp bộ, tỉnh, cơ sở…

Việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN bao gồm hai hình thức:

- Hình thức thực hiện các chương trình nghiên cứu KH&CN Chương trình KH&CN gồm một số đề tài, dự án KH&CN nên việc thực hiện chủ yếu

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Đề tài là phương pháp hệ thống, tổng hợp, điều tra xã hội học, phân tích, so sánh để nhận diện tham nhũng trong các giai đoạn thực hiện nhiệm vụ KH&CN bằng việc khái quát, hệ thống hoá các hành vi, đưa ra đặc điểm, nhận định nguyên nhân và hậu quả của tham nhũng Trên cơ sở đó, gợi ý một số giải pháp phòng, chống dưới góc độ quản lý nhà nước

Đề tài đã tiến hành một cuộc điều tra xã hội học về nhận thức và quan điểm đối với tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN mà đối tượng là cán bộ của 63 sở KH&CN trên cả nước, nhằm đảm bảo tính khách quan của một số nhận định, kết luận nêu trong Đề tài

Ngoài ra, Đề tài có sử dụng tư liệu và viện dẫn quan điểm của một số nhà khoa học, nhà quản lý trong lĩnh vực KH&CN

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đã phân tích và làm rõ nguyên nhân, hậu quả, đặc điểm và

xu hướng phát triển của tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Trên cơ sở đó đưa một số giải pháp phòng, chống tham nhũng nhằm từng bước hạn chế tệ nạn này

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách để phòng, chống và xử lý các hành vi tham nhũng cụ thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương và Kết luận

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tham nhũng trong việc thực hiện

các nhiệm vụ KH&CN

Trang 11

Chương 2: Nhận diện tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ

KH&CN

Chương 3: Nguyên nhân, hậu quả và giải pháp phòng, chống tham

nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN

Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, hành vi tham nhũng nói chung

và trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng là một hiện tượng xã hội, có tính chất phức tạp Vì vậy, không một công trình nghiên cứu nào có thể phản ánh đầy đủ thực trạng, lý giải được rõ ràng các nguyên nhân và đề xuất được hệ thống giải pháp hữu hiệu để loại bỏ hoàn toàn Đề tài này chỉ góp thêm một tiếng nói, dựa trên việc phân tích và khái quát các hành vi vi phạm đã và có thể xảy ra trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN để nhận diện, tìm hiểu nguyên nhân, nâng cao nhận thức về tham nhũng trong lĩnh vực này cho các chủ thể có liên quan để chủ động phòng, tránh và chống tham nhũng, đồng thời cũng gợi ý một số giải pháp phòng, chống tệ nạn này dưới góc độ quản lý nhà nước

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Khái niệm và chủ thể của tham nhũng trong hoạt động khoa học và công nghệ

1.1.1 Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội phức tạp và có sức lan tỏa mạnh

mẽ Nó gây tổn hại đến sự công bằng, dân chủ trong xã hội bởi các tác động xấu ảnh hưởng tới việc sử dụng các nguồn lực và quyền lực của Nhà nước cũng như phá hoại các hoạt động quản lý của Nhà nước Thậm chí, có ý kiến còn ví "đó là một loại vi-rút có khả năng làm què quặt các chính phủ, làm mất

uy tín của các tổ chức công và các tập đoàn tư nhân, có ảnh hưởng mang tính phá hoại đến nhân quyền của người dân, do vậy hủy hoại xã hội cùng với sự phát triển của nó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân dân, đặc biệt là những người nghèo" [35]

Tệ nạn này diễn ra ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, tiềm lực kinh tế và có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi nào có sự hiện diện của yếu tố quyền lực công, từ người cung cấp các dịch vụ công đến các nhà hoạch định chính sách, đảm bảo thực thi chính sách pháp luật của mỗi quốc gia Thậm chí trong giai đoạn hiện nay, khi xu thế toàn cầu hoá đang chiếm

ưu thế và sự hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới được coi "là thước đo

vị thế, là tấm vé bước lên con tàu tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia" thì tham nhũng cũng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ mỗi nước

Cho đến nay, tham nhũng chưa được định nghĩa rõ ràng và đạt được sự thống nhất giữa các quốc gia, thậm chí trong một quốc gia Ở Áo, tham nhũng được hiểu "là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột" Ở Đức lại quan niệm "tham

Trang 13

nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành" Ở Thụy Sỹ, "tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước Đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân" In-đô-nê-xi-a định nghĩa tham nhũng đơn giản là "việc dùng các chức vụ trong bộ máy chính quyền để phục vụ cho mục đích cá nhân một cách trái pháp luật"

Dưới góc độ quốc tế, Ngân hàng thế giới định nghĩa "tham nhũng là sự lợi dụng chức vụ công để tư lợi" Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) coi "tham nhũng là sự lợi dụng chức vụ, vai trò và nguồn lực công

để trục lợi cá nhân" Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) - tổ chức phi chính phủ

đi đầu trong những nỗ lực chống tham nhũng coi "tham nhũng là hành vi vi phạm của công chức trong khu vực công, dù là chính trị gia hay công chức dân sự, trong đó họ làm giàu một cách không đúng đắn hoặc bất hợp pháp cho bản thân hay cho người thân của mình bằng cách lạm dụng quyền lực công đã giao cho họ"

Trong “Tools to support transparency in local govermance”(công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương), TI đã nêu một định nghĩa của Klitgaard, MacLean, Abaroa và Parris, được nhiều định chế quốc tế và học giả sử dụng như sau: “Tham nhũng có nghĩa là lạm dụng chức

vụ cho lợi ích riêng” Chức vụ là một vị trí công tác dựa trên cơ sở niềm tin,

mà từ đó một người được nhận một thẩm quyền hành động nhân danh một định chế nào đó

Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) thì tham nhũng được định nghĩa đơn giản hơn, trong một phạm vi hẹp, đó là “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”

Trang 14

Tuy nhiên, dù quan niệm về tham nhũng trên thế giới không giống nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm, coi đó là hành vi sử dụng quyền lực công nhằm mưu lợi cá nhân một cách bất hợp pháp

Ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt thì "tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của" [44] Đây là một khái niệm tương đối đơn giản về một vấn đề phức tạp Quan niệm này xuất phát từ chính bản thân cụm từ "tham nhũng" gồm 2 yếu tố: tham và nhũng "Tham" là hám lợi, tư lợi, vụ lợi; "nhũng" là lợi dụng quyền hành, chức trách được giao để sách nhiễu, nhũng nhiễu nhằm thỏa mãn lòng tham Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, quan niệm về tham nhũng cũng có những sự khác biệt nhất định

Thời kỳ phong kiến, với đặc thù vương quyền và thần quyền tối thượng đều nằm trong tay nhà vua, hệ thống quan lại từ trung ương đến địa phương (theo phẩm hàm) đều có quyền hành và ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống người dân Nguồn sống của triều đình và bộ máy giúp việc chủ yếu trông và các loại sưu thuế do người dân đóng góp, trong đó, một phần khá lớn được chuyển về hoàng cung, phần còn lại do các quan địa phương thay mặt triều

đình nắm giữ, quản lý ở tại địa phương Chính vì vậy, đặc thù tham nhũng

của hệ thống quan lại trong giai đoạn này chủ yếu là nhận hối lộ và biến tài

sản công thành tài sản riêng Quan niệm và các hành vi tham nhũng cũng

được đề cập trong nhiều điều luật cụ thể Tất nhiên, thuật ngữ "tham nhũng" chưa được sử dụng để xác định cho các tội danh cụ thể mà chỉ là những tội mang tính chất lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi qua mối quan hệ với

dân hoặc với công quỹ

Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1998 (trước khi Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng được ban hành), nhiều quy định về phòng, chống tham nhũng được Nhà nước ban hành nhưng một định nghĩa chính thức về tham nhũng vẫn chưa có Tham nhũng chủ yếu thể hiện qua nhiều tội danh cụ thể trong pháp luật hình sự với hình phạt khá nghiêm khắc

Trang 15

như các quy định về tội tham ô tài sản XHCN trong Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, tội nhận hối lộ trong Pháp lệnh Trừng trị tội hối lộ… Tuy nhiên, đặc trưng “chức vụ, quyền hạn” và “vụ lợi” của hành vi tham nhũng đã hình thành và dần rõ nét

Tham nhũng lần đầu tiên được định nghĩa chính thức và cụ thể trong một văn bản pháp luật, đó là Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000) Theo đó, tham nhũng được hiểu là "hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, hối

lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức" Với định nghĩa này, các hành vi tham nhũng được xác định cụ thể gồm:

- Tham ô tài sản XHCN;

- Nhận hối lộ;

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi;

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

Tương ứng với các hành vi này là các loại tội tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự

Cũng theo quy định của Pháp lệnh Chống tham nhũng, người có chức

vụ, quyền hạn được xác định rõ là cán bộ, công chức; sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân và Quân đội nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nước; cán bộ xã, phường, thị trấn và

Trang 16

xác định là các hành vi nêu trên nếu xảy ra trong khu vực công, khu vực nhà nước Đó cũng là điểm khác biệt cơ bản với quan niệm về tham nhũng của các quốc gia phát triển trên thế giới đang có xu hướng quan niệm tham nhũng bao gồm cả khu vực tư nhân

Trong dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng do Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI (tháng 6/2005), tham nhũng được định nghĩa là “hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi” Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là “người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức được thành lập theo pháp luật hoặc điều lệ của tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, người được giao thực hiện một công vụ, nhiệm vụ và có quyền hạn khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ đó” Như vậy, khái niệm tham nhũng đã được mở rộng hơn, không chỉ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức của nhà nước mà còn gồm của cả người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp ngoài nhà nước Nghĩa là, tham nhũng theo pháp luật được xác định bao gồm cả khu vực tư

Tuy nhiên, trước khi Luật phòng, chống tham nhũng được thông qua cũng có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về tham nhũng

Có ý kiến cho rằng quan niệm về tham nhũng cần xác định là hành vi có đủ 3 yếu tố "quyền lực", "vụ lợi" và "xảy ra ở khu vực công" như trong Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 là phù hợp Ý kiến khác cho rằng quan niệm về tham nhũng cần mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước Có ý kiến đề nghị coi tham nhũng còn bao gồm cả hành vi của những người không có chức vụ, quyền hạn nhưng do có mối quan hệ với người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng mối quan hệ này để vụ lợi

Luật Phòng, chống tham nhũng được ban hành năm 2005 đã xác định

"Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức

vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi"

Trang 17

Ngoài các hành vi tham nhũng đã được Pháp lệnh đề cập, nhiều hành vi tiêu cực cũng đã được Luật bổ sung và xếp vào hệ thống các hành vi tham nhũng, bao gồm:

- Tham ô tài sản: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý

- Nhận hối lộ: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận lợi ích vật chất (của hối lộ) do đã hoặc sẽ làm hay không làm một việc có lợi cho bên đưa hoặc theo yêu cầu của bên đưa hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vượt quá quyền hạn được giao nhằm chiếm đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì

vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao làm trái công vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vượt quá quyền hạn được giao làm trái công

vụ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác

Xét về bản chất, lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi cũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ vì vụ lợi nhưng có điểm khác là chủ thể đã vượt quá quyền hạn của mình hay nói cách khác, chủ thể đã thực hiện việc làm không thuộc thẩm quyền và nội dung việc làm đó là sai Tuy nhiên, ở trường hợp lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi thành nhiệm vụ, công vụ nội dung việc làm của chủ thể là sai nhưng việc làm đó thuộc phạm vi chức trách của chủ thể Trường hợp lạm quyền có tính nguy hiểm cao hơn, vì hành vi đã vượt quá phạm vi chức trách

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian

Trang 18

thức nào để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu hoặc làm, cấp giấy tờ giả nhằm mục đích vụ lợi

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đại diện cho cơ quan, tổ chức, địa phương thông qua việc đưa hối lộ, môi giới hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được lợi ích cá nhân

Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ Nhưng hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm) vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng

- Lợi dụng chức vụ quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của nhà nước

vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhưng đã lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ lợi ích công Hành vi này bao gồm:

sử dụng tài sản của Nhà nước vào việc riêng; cho thuê tài sản của Nhà nước, cho mượn tài sản của Nhà nước; sử dụng tài sản của Nhà nước vượt quá chế

độ, định mức, tiêu chuẩn (khoản 2 Điều 3 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP

Trang 19

ngày 20/10/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng)

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn thể hiện sự cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm

vụ, công vụ nhằm đòi hỏi, ép buộc công dân, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân khác phải nộp những khoản chi phí ngoài quy định hoặc phải thực hiện những hành vi khác vì lợi ích của người thực hiện hành vi nhũng nhiễu (khoản 3 Điều 3 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng)

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã không thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà pháp luật buộc phải làm để được trao một lợi ích nhất định nào đó

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật, cản trở quá trình phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật thông qua các hình thức như thư tay, điện thoại, nhắc nhở, bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền

Như vậy, có thể thấy rằng, không chỉ trong cộng đồng quốc tế mà ngay

cả ở nước ta vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng Nhìn chung, tồn tại hai khái niệm phổ biến sau:

Tham nhũng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi hành vi của bất

kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người khác

Trang 20

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…) nhưng không phải là cán bộ, công chức, viên chức; chủ thể của hành vi tham nhũng cũng có thể là người thuộc khu vực tư nhân

Theo nghĩa hẹp và là khái niệm chính thống được pháp luật Việt Nam quy định (Luật Phòng, chống tham nhũng) thì tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi; người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà nước, tức là ở các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị hay nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Quan niệm về tham nhũng như vậy có lý do là để bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng tập trung vào những hành vi tham nhũng phổ biến nhất, đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm đồng thời hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới chính sách khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế -

xã hội

Ngoài ra cũng có quan điểm cho rằng, nếu chiếu theo định nghĩa chung của quốc tế mà xét, có lẽ gần hết hệ thống cán bộ, công chức Việt Nam đều mắc tội tham nhũng Tính chính xác của quan điểm này còn phải xem xét nhưng đó là một nhận xét đáng để suy nghĩ Bởi vì ở các nước, khi mức lương

cơ bản của công chức nói chung đã đáp ứng đủ những nhu cầu bình thường thì tham nhũng chủ yếu là để nói về những quan chức muốn làm giàu bất chính Còn ở Việt Nam, khi đồng lương trên giấy tờ không đủ để chi trả những nhu cầu thiết yếu (ăn, ở, đi lại, học hành ) và nguồn thu nhập ngoài lương cao hơn nhiều lần so với cái gọi là lương thì cần phân biệt công chức tham nhũng thành hai loại: loại thứ nhất là tham nhũng tệ hại cần lên án, làm không tốt chỉ tìm cách gian lận, móc ngoặc để bòn rút của công, gây khó dễ cho tổ chức, cá nhân để vụ lợi Loại thứ hai là buộc phải tham nhũng để tồn tại hoặc có ý thức làm nghiêm túc, làm tốt nhưng cơ chế bất hợp lý nên tìm cách để đối phó

Trang 21

Việc quan niệm và xác định rõ ràng về tham nhũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó là tiền đề, là cơ sở để nhận diện, phát hiện, xử lý và có những giải pháp phù hợp nhằm từng bước kiềm chế tham nhũng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực có tính chất đặc thù như hoạt động nghiên cứu KH&CN

1.1.2 Chủ thể của tham nhũng trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Nhiệm vụ KH&CN được pháp luật hiện hành (Điều 14 Nghị định số

81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2008 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật KH&CN) quy định là: "Những vấn đề KH&CN cần được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương

có thể độc lập hoặc thuộc chương trình KH&CN

Chương trình KH&CN bao gồm một nhóm các đề tài, dự án KH&CN, được tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KH&CN cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn"

Hiện nay có các hình thức nhiệm vụ sau: chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước; chương trình nông thôn - miền núi (Bộ KH&CN quản lý);

đề tài, dự án độc lập cấp nhà nước (Bộ KH&CN quản lý); đề tài, dự án các cấp như cấp bộ, tỉnh; đề tài, dự án theo Nghị định thư…; đề tài hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ (quy định tại Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh

Trang 22

Các nhiệm vụ KH&CN được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học

Về lý luận, nghiên cứu thường được mô tả là một quy trình tìm hiểu tích cực, cần cù và có hệ thống nhằm khám phá, lý giải và xem xét các sự kiện Sự điều tra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo ra các ứng dụng thực tế thông qua các định luật và giả thuyết Thuật ngữ nghiên cứu cũng được sử dụng để mô tả việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn và nó thường liên quan đến khoa học và các phương pháp khoa học

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm

những điều mới mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới

và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới [33]

Nói một cách khác, nghiên cứu khoa học là tìm cái mới, "dò dẫm" tìm cái chưa biết, phát triển tri thức để giải quyết một vấn đề chưa có sẵn giải pháp Quá trình tìm tòi, sáng tạo ấy không thể bảo đảm thành công tuyệt đối,

vì thường có những yếu tố bất ngờ, định tìm cái này lại ra cái khác Bản chất của nghiên cứu khoa học là khai phá, sáng tạo, thực hiện vai trò dự báo, định hướng cho xã hội

Tùy theo trình độ phát triển, ở các góc độ tiếp cận khái quát khác nhau

có thể chia hoạt động nghiên cứu khoa học theo các tiêu chí: chức năng (truyền thống), tính thông tin (hiện đại)… Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu khoa học thường được phân loại theo sản phẩm (thông thường), gồm nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai

Hoạt động nghiên cứu khoa học có những đặc điểm nổi bật là tính mới, có thông tin, sự kế thừa và cả rủi ro Những đặc điểm này tạo nên và khẳng định giá trị của hoạt động nghiên cứu, nhưng đồng thời tiềm ẩn nguy

cơ nảy sinh các hành vi tiêu cực nói chung và tham nhũng nói riêng Ví dụ, sự

Trang 23

kế thừa thường được biện minh cho hành vi "đạo văn"; hoặc sự rủi ro thường

bị lợi dụng để che dấu, lý giải cho việc tham ô, thất thoát tài sản (kinh phí) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Chủ thể của hành vi tham nhũng trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là những người được Nhà nước giao nhiệm vụ, quyền hạn trong việc

thực hiện chương trình và đề tài, dự án KH&CN Theo quy định của Luật KH&CN, Nghị định số 81/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN, Quy chế Tổ chức quản lý hoạt động Chương trình KH&CN ban hành kèm theo Quyết định số 18/2006/QĐ-BKHCN, được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 23/2006/QĐ-BKHCN, những người này gồm:

Ban chủ nhiệm Chương trình và tổ thư ký giúp việc cho ban chủ

nhiệm Ban chủ nhiệm có chủ nhiệm, một phó chủ nhiệm và các ủy viên ban

chủ nhiệm Chương trình Thư ký ban chủ nhiệm Chương trình gồm có thư ký chuyên môn và thư ký hành chính;

Giám đốc, các phó giám đốc và các cán bộ, nhân viên của Văn phòng các chương trình;

Chủ nhiệm đề tài, dự án và người đại diện của tổ chức chủ trì;

Thành viên các hội đồng: Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ, Hội đồng tuyển chọn, Hội đồng xét duyệt đề cương, Hội đồng nghiệm thu kết quả, hội đồng khoa học khác

Căn cứ theo vị trí, vai trò tham gia việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, có thể chia thành các nhóm chủ thể sau:

- Nhóm chủ thể quản lý KH&CN

Đây là nhóm chủ thể có nguy cơ cao nhất và có thể dễ dàng trở thành trung tâm của chuỗi liên kết tham nhũng trong hoạt động khoa học Một trong những nguyên nhân của tham nhũng là cơ chế "xin - cho" đã tồn tại từ lâu, tuy nhiên hiện nay trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đã đề cập khái

Trang 24

tìm các tổ chức, cá nhân có chức năng và khả năng nghiên cứu để “mời” làm chủ trì, chủ nhiệm đề tài, dự án với mục đích giải ngân cho hết số kinh phí dành cho nghiên cứu KH&CN Tất nhiên, khi đã triển khai các nhiệm vụ thì

họ cũng có tỷ lệ phần trăm nhất định theo quy ước ngầm được gọi là "luật bất thành văn"

Vi phạm của nhóm chủ thể này khá phổ biến nhưng lại tinh vi, kín kẽ, phức tạp và rất khó phát hiện bởi có sự liên kết giữa các cá nhân có quyền lực trong bộ máy quản lý hoạt động KH&CN và các đầu mối, chủ thể khác

- Nhóm chủ thể Hội đồng tư vấn KH&CN

Theo thống kê chưa đầy đủ, hệ thống đánh giá hiện nay đưa ra kết quả các đề tài, dự án được đánh giá nghiệm thu xuất sắc và khá với tỷ lệ khoảng 90% [42] Tuy nhiên, các kết quả đã nghiệm thu được áp dụng trong thực tế rất khiêm tốn Điều đó cũng nói lên rằng có một số khá lớn các nhiệm vụ KH&CN được nghiệm thu nhưng thực chất không có giá trị Hệ thống đánh giá so với hiệu quả thực sự mang lại trong thực tế như vậy dễ dàng triệt tiêu các nghiên cứu khoa học nghiêm túc, làm lãng phí cơ hội, kinh phí và thời gian của hoạt động nghiên cứu khoa học

Phương thức đánh giá hiện nay chủ yếu dựa vào các hội đồng tư vấn khoa học nhưng chưa có cơ chế kiểm soát phù hợp nên rất dễ xảy ra tham nhũng Nhìn chung, các hội đồng đều làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm nhưng hiện nay cũng đã xuất hiện tình trạng “móc ngoặc” ngầm giữa các cá nhân (vì nhiều người vừa là thành viên xét duyệt ở hội đồng này lại vừa tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN ở hội đồng khác) để tránh phản biện độc lập các vấn đề về khoa học, đặc biệt trong khoa học xã hội Nói một cách khác, ở vị trí là thành viên hội đồng tư vấn, một cá nhân có thể tác động vào quyết định của cấp có thẩm quyền qua vai trò tư vấn đã được pháp lý hóa của mình

- Nhóm chủ thể thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN

Trang 25

Chủ thể thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN là những người trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các nội dung nghiên cứu Đây là nhóm phổ biến nhất và đúng nghĩa "thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu" nhất Theo quy định hiện hành, tùy theo cấp của nhiệm vụ mà các chủ thể đăng ký thực hiện phải có học hàm, học vị nhất định (ví dụ đối với nhiệm vụ cấp nhà nước, người chủ trì thường phải có học vị tiến sỹ), nhưng tối thiểu phải tốt nghiệp đại học Do vậy

có thể nói, đặc điểm nổi bật của chủ thể thực hiện nhiệm vụ KH&CN có hành

vi tham nhũng chỉ là những trí thức - nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau

Nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của các chủ thể nêu trên được Bộ trưởng Bộ KH&CN giao cho, cụ thể là:

Nhiệm vụ và quyền hạn của thành viên trong Ban Chủ nhiệm Chương trình được quy định tại các điều 4, 5, 6 và 7 của Quy định về tổ chức và hoạt động của Ban chủ nhiệm Chương trình ban hành kèm theo Quyết định số 2855/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2006 của Bộ trưởng Bộ KH&CN Trong đó có một số nhiệm vụ, quyền hạn có khả năng chi phối, ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, cụ thể là:

- "Chủ nhiệm Chương trình: quy định các biện pháp lãnh đạo và điều

hành hoạt động, chế độ làm việc của các thành viên trong Ban chủ nhiệm; chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên trong Ban chủ nhiệm Chương trình; quyết định các vấn đề về hoạt động của Chương trình

- Phó chủ nhiệm Chương trình: giúp Chủ nhiệm Chương trình thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ nhiệm Chương trình; được uỷ quyền điều hành công việc của Ban chủ nhiệm Chương trình khi Chủ nhiệm Chương trình vắng mặt

- Uỷ viên Ban chủ nhiệm Chương trình: giúp Chủ nhiệm Chương trình

giải quyết các công việc theo sự phân công và được uỷ quyền thay mặt Ban

Trang 26

- Thư ký chuyên môn: giúp Ban Chủ nhiệm Chương trình hướng dẫn xây dựng nội dung các hợp đồng thực hiện đề tài, dự án thuộc Chương trình; hình thành danh sách dự kiến thành viên các hội đồng KH&CN trong việc tư vấn xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, xét chọn, thẩm định và đánh giá nghiệm thu các đề tài, dự án của Chương trình; các nhiệm vụ chuyên môn khác do Ban chủ nhiệm Chương trình giao

- Thư ký hành chính: giúp Ban chủ nhiệm Chương trình lập dự toán kinh phí hàng năm cho hoạt động của Ban chủ nhiệm Chương trình; lập và lưu giữ hồ sơ tài liệu của Chương trình; theo dõi tiến độ thực hiện đề tài, dự

án thuộc Chương trình; các nhiệm vụ khác do Ban chủ nhiệm Chương trình giao”

Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng các Chương trình nói chung và những người đại diện có thẩm quyền của Văn phòng nói riêng (gồm giám đốc, các phó giám đốc và các nhân viên) được quy định tại Điều 2 Điều lệ tổ chức và hoạt động của Văn phòng các Chương trình được ban hành kèm theo Quyết định số 2685/QĐ-BKHCN ngày 8/12/2006 của Bộ trưởng Bộ KH&CN Trong đó có một số nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh tiêu cực như: tổng hợp kế hoạch và nhu cầu kinh phí hàng năm từ ngân sách nhà nước của các Chương trình trên cơ sở đề xuất của các Ban chủ nhiệm Chương trình để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; cùng Ban chủ nhiệm Chương trình ký hợp đồng nghiên cứu; thực hiện các thủ tục cấp kinh phí để thực hiện hợp đồng; tổ chức nghiệm thu, thanh lý hợp đồng; tổng hợp kế hoạch mua sắm trang thiết bị của các Chương trình để trình Bộ KH&CN phê duyệt; bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý, điều hành của các Chương trình; giúp các Ban chủ nhiệm chương trình tổ chức hoạt động tư vấn và các công việc có liên quan; phối hợp với các Ban chủ nhiệm Chương trình theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện và sử dụng ngân sách của các đề tài, dự án thuộc các Chương trình; theo dõi, kiểm tra tình hình huy động và sử

Trang 27

dụng các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước theo dự toán của các đề tài,

dự án thuộc các Chương trình đã được phê duyệt; phát hiện, xử lý theo thẩm quyền những vướng mắc, sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện các Chương trình và báo cáo Bộ KH&CN; đề xuất biện pháp xử lý và báo cáo Bộ trưởng quyết định với những trường hợp vượt quá thẩm quyền; tiếp nhận, tổng hợp các văn bản, đề xuất, kiến nghị của các Ban chủ nhiệm Chương trình về những vấn đề liên quan đến xây dựng, tổ chức quản lý hoạt động của

các Chương trình để trình Bộ KH&CN quyết định

Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức chủ trì được quy định tại Điều 8

Quyết định 18/2006/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN Các nhiệm vụ, quyền hạn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để tham nhũng gồm: Cùng Chủ nhiệm

đề tài, dự án ký kết với Ban chủ nhiệm Chương trình và Văn phòng các

Chương trình ký hợp đồng thực hiện đề tài, dự án; quản lý kinh phí được cấp,

cấp đủ và đúng tiến độ kinh phí từ các nguồn kinh phí đã cam kết trong hợp đồng; tổ chức đấu thầu, mua sắm và quản lý trang bị, thiết bị của đề tài, dự án theo quy định hiện hành; tổ chức quản lý, khai thác, chuyển giao các kết quả của đề tài, dự án và được hưởng các quyền lợi từ các hoạt động trên theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ nhiệm đề tài, dự án được quy định tại Điều 9 của Quyết định số 18/2006/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN

Trong đó có một số nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiềm ẩn nguy cơ nảy

sinh tiêu cực như: tổ chức thực hiện đề tài, dự án; chủ động sử dụng kinh phí

và thực hiện thanh, quyết toán kinh phí của đề tài, dự án theo quy định hiện hành; kiểm tra, đôn đốc các tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp trong việc thực hiện đề tài, dự án theo hợp đồng; thực hiện việc công bố, giao nộp, chuyển giao kết quả thực hiện đề tài, dự án theo quy định hiện hành

Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên các hội đồng được quy định cụ

Trang 28

định thành lập hội đồng Theo đó các thành viên hội đồng có quyền tư vấn, đưa ra các ý kiến chuyên môn của mình, cho điểm và chịu trách nhiệm về việc tư vấn đối với các vấn đề thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong các giai đoạn xác định nhiệm vụ, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ và đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ

Như vậy, tiếp cận dưới góc độ như phạm vi nghiên cứu của Đề tài đã nêu có thể hiểu tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao nêu trên, vì vụ lợi Đây

là một yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng Nếu các chủ thể không lợi dụng những nhiệm vụ, quyền hạn đó thì không cấu thành hành vi tham nhũng trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN Ví dụ, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học là viện trưởng một viện nghiên cứu nào đó đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi diện tích đất đai được phân phối Nhưng chức

vụ, quyền hạn đã lợi dụng không thuộc phạm vi những nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong nghiên cứu khoa học thì không phải là tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, mà hành vi đó có thể là tham nhũng trong các lĩnh vực khác

Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn

đó để vụ lợi đều là hành vi tham nhũng Nghĩa là có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác Ví dụ, chủ nhiệm một dự án phát triển loại cây có chất gây nghiện (cây gai dầu) để phục vụ sản xuất công nghiệp, nhưng trong quá trình triển khai đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện

dự án để chiết xuất thành chất ma tuý thì đó là hành vi sản xuất trái phép các chất ma tuý và là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, mặc

dù theo đúng khái niệm thì hành vi này cũng cấu thành hành vi tham nhũng

Trang 29

"Lỗi" là yếu tố quan trọng nhất và không thể thiếu của hành vi vi phạm

"Lỗi" thể hiện thái độ, ý chí của chủ thể tham nhũng Chủ thể của hành vi tham nhũng nói chung và trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng "lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi" nên hành vi này luôn là hành vi

cố ý Có thể hành vi diễn ra dưới dạng hành động hoặc không hành động

Mục đích của hành vi tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN là vụ lợi Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh

thần mà chủ thể tham nhũng đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua tham nhũng

Lợi ích vật chất khá đa dạng như tiền bạc, tài sản, đất đai, cổ phiếu…

và mục đích vụ lợi là làm giàu cho bản thân Tuy nhiên, xác định mục đích vụ lợi của hành vi tham nhũng là vấn đề khó khăn đối với một lĩnh vực đặc thù như nghiên cứu khoa học Bởi vì ở Việt Nam hiện nay, kinh phí dành cho hoạt động này chủ yếu từ ngân sách nhà nước, do vậy việc quản lý và sử dụng phải tuân thủ pháp luật về ngân sách với các thủ tục hành chính phức tạp Điều đó mâu thuẫn với đòi hỏi phải có sự thông thoáng, sáng tạo, khó định lượng, khó đánh giá tính hiệu quả của hoạt động nghiên cứu khoa học Ví dụ, một đề tài khi thực hiện điều tra khảo sát thực tế qua hình thức khám bệnh tại địa phương, số lượng mẫu được duyệt là 600 người Tuy nhiên trong thời gian triển khai, địa phương đã xảy ra lụt lội khiến kinh phí phục vụ tăng 1,5 lần, nếu

bỏ dở giữa chừng thì việc điều tra khảo sát sẽ thất bại, nếu tiếp tục thì nội dung chi khác của đề tài sẽ phải giảm đi để bù kinh phí cho cuộc điều tra Chủ nhiệm

đề tài đã cùng với cơ sở y tế địa phương làm hợp đồng khám bệnh khống cho thêm 300 người nữa, lấy tiền chênh lệch bù cho khoản kinh phí đã thực chi Do vậy, việc xác định tham nhũng trong lĩnh vực này thường phải căn cứ chủ yếu vào nội dung vụ việc cụ thể

Lợi ích tinh thần có thể là các danh hiệu, học hàm, học vị… và khá phổ

Trang 30

khác biệt so với hành vi tham nhũng trong các lĩnh vực khác Nghiên cứu khoa học là điều kiện để đạt được một số danh hiệu và nâng cao học hàm, học vị… qua đó là cơ hội mà nhiều trường hợp chủ thể tham nhũng trục lợi cho bản thân về chức vụ, vị trí công tác, việc làm

Thông thường thì người được hưởng lợi ích là chủ thể hành vi tham nhũng, nhưng cũng có trường hợp người được hưởng lợi ích từ hành vi tham nhũng lại là người thân (vợ, con, họ hàng…) hoặc đồng nghiệp, tập thể đơn vị công tác của người đó Trong nghiên cứu khoa học, hiện tượng đồng nghiệp, tập thể đơn vị công tác hưởng lợi ích của hành vi tham nhũng khá phổ biến và biểu hiện là việc tồn tại các "quỹ phúc lợi" công đoàn của cơ quan, đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là các tổ chức KH&CN Các tổ chức công đoàn thường sử dụng quỹ này để chia cho cán bộ, công chức hàng tháng dưới dạng tiền ăn trưa, ngày lễ, tết… và một phần thu nhập đáng kể thêm vào lương Nhiều nơi tiền thu nhập dạng này còn nhiều hơn cả tiền lương Thực tế "quỹ phúc lợi"

đã tồn tại hợp pháp từ thời bao cấp nhưng đến nay đã biến tướng nhiều Để có tiền cho quỹ phúc lợi, ngoài một số nguồn thu được từ các hợp đồng dịch vụ,

đi công tác nước ngoài… còn phần lớn tiền có được từ các nhiệm vụ KH&CN trích lại tỷ lệ phần trăm nhất định, sau đó chủ nhiệm sẽ làm khống chứng từ, hoá đơn sao cho hợp lý Vì vậy, trường hợp này có thể coi người có chức vụ, quyền hạn được hưởng lợi ích gián tiếp từ hành vi tham nhũng

1.2 Các dạng tham nhũng trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Dạng tham nhũng là hình thức biểu hiện bên ngoài của các hành vi tham nhũng Tuỳ thuộc các tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể chia tham nhũng thành các dạng khác nhau Căn cứ vào mục đích hành vi, có thể chia thành dạng tham nhũng về vật chất và tham nhũng về tinh thần; nếu căn cứ vào chủ thể được hưởng lợi ích có thể chia thành dạng tham nhũng trực tiếp

và tham nhũng gián tiếp Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu của đề

Trang 31

tài có thể chia tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN thành các dạng sau:

1.2.1 Tham nhũng diễn ra dưới dạng gây khó khăn cho người khác khi giải quyết công việc

Dạng tham nhũng này thể hiện là chủ thể hành vi đã gây khó khăn khi giải quyết công việc để buộc chủ thể khác thuộc phạm vi giải quyết công việc phải mang lại cho mình lợi ích nào đó

Đối với tham nhũng nói chung, nhóm các hành vi này khá phổ biến Nó mang tính điển hình của hình thức lạm dụng quyền lực công để vụ lợi Trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, dạng tham nhũng này nảy sinh chủ yếu trong các khâu mang tính quản lý hành chính như: thu nhận và kiểm tra hồ sơ tham gia tuyển chọn; kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách và triển khai các nội dung nghiên cứu; thực hiện các thủ tục cấp kinh phí; hướng dẫn xây dựng nội dung các hợp đồng thực hiện nhiệm vụ; phát hiện, xử lý các sai sót trong quá trình tổ chức triển khai…

Biểu hiện của dạng tham nhũng này thường là hành vi "nhũng nhiễu" Chủ thể tham nhũng cố tình áp dụng, vận dụng các quy định hành chính một cách máy móc hoặc cố tình hiểu không đúng bản chất của các quy định ấy để gây khó khăn cho những người khác (đặc biệt là các nhà khoa học vốn rất ngại tiếp xúc với các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp) để họ mang lại cho mình những lợi ích nhất định Tuy nhiên, rất khó chứng minh các hành vi tham nhũng dạng này vì việc xác định "gây khó khăn" chủ yếu mang tính định tính, hoặc nếu có chứng minh được thì hành vi đó cũng chỉ bị coi là làm việc "quá nguyên tắc"

Thực tế hiện nay cho thấy, nhóm các hành vi dạng này cản trở khá nhiều quá trình tiếp cận việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của các nhà khoa học Nhiều nhà khoa học cảm thấy bức xúc và khó khăn khi muốn tham

Trang 32

đề chuyên môn mà từ các thủ tục phức tạp cùng với những biểu hiện "nhũng nhiễu" của các chủ thể có thẩm quyền Những khó khăn, phức tạp ấy thường giải quyết được bằng việc mang lại những lợi ích vật chất nhất định Có những nhà khoa học còn đề cập đến việc, muốn thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học thì trước hết phải biết "nghiên cứu phương pháp tiếp cận cách xin đề tài" [72], tức là cách "bôi trơn" các khâu xét duyệt để được nhận đề tài nghiên cứu

1.2.2.Tham nhũng diễn ra dưới dạng mang lại quyền, lợi ích cho chủ thể khác một cách bất hợp pháp

Các hành vi thuộc nhóm này thể hiện mối quan hệ qua lại của các lợi ích liên quan đến nhau Chủ thể của hành vi tham nhũng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mang lại quyền, lợi ích cho chủ thể khác một cách không chính đáng để nhận được lợi ích trong tương lai Nhóm hành vi thuộc dạng này có thể diễn ra phổ biến ở tất cả các khâu và đối với hầu hết các nhóm chủ thể trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN Tuy nhiên, do đặc thù của các nhóm chủ thể khác nhau nên biểu hiện và lợi ích mà các nhóm chủ thể đó hướng tới cũng có sự khác nhau Nhóm chủ thể làm công tác quản

lý và nhóm chủ thể thực hiện nhiệm vụ chủ yếu hướng tới lợi ích vật chất như tiền bạc, tài sản được mang lại một cách trực tiếp Nhưng đối với nhóm chủ thể hội đồng tư vấn thì ít hướng tới lợi ích vật chất trực tiếp mà thường thông qua việc tạo điều kiện cho nhau có đề tài, dự án; đề tài, dự án có tổng kinh phí thực hiện lớn; hoặc nâng điểm trong quá trình đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ của nhau Tất cả được thực hiện theo kiểu "có đi có lại" Tuy nhiên, lợi ích mà chủ thể hành vi tham nhũng nhận được trong tương lai không chỉ là lợi ích mà người đó trực tiếp hưởng, mà còn có thể là người thân, họ hàng hoặc đồng nghiệp, tổ chức của người tham nhũng được hưởng (gián tiếp)

Trang 33

1.2.3 Tham nhũng diễn ra dưới dạng gian lận, trốn tránh pháp luật

và các tiêu chuẩn, các thoả thuận

Dạng tham nhũng này diễn ra chủ yếu đối với hình thức nhiệm vụ là các đề tài, dự án KH&CN Chủ thể hành vi tham nhũng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện gian lận nhằm trốn tránh pháp luật và các tiêu chuẩn, định mức hoặc các thoả thuận đã cam kết để đạt được những lợi ích

nhất định Gian lận trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN diễn ra ở 2

quá trình: quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu (phần chuyên môn) và quá trình thực hiện chi tiêu, mua sắm phục vụ nghiên cứu (phần tài chính)

Trong quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu (phần chuyên môn),

gian lận thường được thể hiê ̣n dưới 3 hình thức:

- Hình thức "giả mạo", tứ c là bi ̣a đă ̣t dữ kiê ̣n để đa ̣t đươ ̣c mô ̣t thành tích khoa ho ̣c , nhằm giành lợi thế trong cô ̣ng đồng khoa ho ̣c Hình thức giả mạo mang đến hậu quả là đưa ra mô ̣t quan điểm sai lê ̣ch về đ ối tượng nghiên cứu Thực tế thì người có hành vi v i pha ̣m trong trường hợp này không nhằm vào mục đích đưa r a quan điểm sai lê ̣ch đó, mà chủ yếu nhằm có được những lợi ích nhất định cho cá nhân Với sự giả ma ̣o này , chủ thể hành vi vi phạm đã làm mọi người nghĩ và đánh giá rằng người đó đã có mô ̣t thành tích khoa ho ̣c

Hâ ̣u quả là cô ̣ng đồng được n hâ ̣n nhữ ng thông tin sai lê ̣ch Ví dụ có một nhà

đi ̣a chất, muốn chứng minh quan điểm đi ̣a chất sai lệch của mình đã cố ý ném

mô ̣t số cổ sinh vâ ̣t hoá tha ̣ch vào khu vực được cho ̣n làm đối tư ợng nghiên cứu, rồi họ đã đưa ra mô ̣t báo cáo sai lệch về khu vực này

- Hình thức "xuyên tạc", tứ c là làm biến dạng dữ kiện để mô tả vấn đề khoa ho ̣c theo ý muốn chủ quan của mình Xét cả về hai phương diện , hâ ̣u quả xã hội và thực thể tri thức khoa h ọc, loại hành vi này có mức đô ̣ nghiêm trọng tương tự hành vi giả mạo Nếu như sự giả ma ̣o thể hiê ̣n thái đô ̣ vô trách nhiê ̣m đối với tri thức khoa ho ̣c thì hành vi xuyên tạc thể hiện thái độ cố ý

Trang 34

làm sai lệch khách thể theo một ý đồ k hông lành ma ̣nh từ phía chủ quan của nhà khoa học

- Hình thức "nhào nặn " dữ kiê ̣n, nhằm vào viê ̣c tô hồng hoă ̣c bôi đen sự kiê ̣n theo ý muốn chủ quan , thâ ̣m chí làm đảo ngược n ội dung khoa ho ̣c về đối tươ ̣ng nghiên cứu Nhào nặn dữ kiê ̣n cũng dẫn tới sự huỷ hoa ̣i thực thể tri thức khoa ho ̣c theo mô ̣t đi ̣nh hướ ng chủ quan của nhà khoa học [48]

Trong quá trình thực hiện chi tiêu, mua sắm phục vụ nghiên cứu (phần

tài chính), gian lận thường được thể hiện dưới 2 hình thức:

- Hình thức "giả mạo", tức là chủ thể tham nhũng bịa ra một con người,

một sự vật hay hiện tượng nào đó đã tham gia hoặc diễn ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để có cơ sở rút và chiếm đoạt tiền, tài sản dành cho nghiên cứu Hình thức này thường biểu hiện qua việc mua các hóa đơn khống, sử dụng chữ ký giả trong các chứng từ thanh, quyết toán… nhằm hợp thức hóa nội dung chủ thể tham nhũng đã bịa ra

- Hình thức "khai khống", là việc chủ thể đã kê khai khối lượng công việc hoặc trang thiết bị phục vụ nghiên cứu cao hơn số lượng thực tế sử dụng hoặc đã xảy ra nhằm rút và chiếm đoạt số tiền, tài sản chênh lệch đó Hình thức này xảy ra khá phổ biến trong tham nhũng nói chung và trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng Việc chứng minh hành vi qua hình thức này khó khăn hơn so với hình thức "giả mạo" vì thực tế đã có sự vật, hiện tượng xảy ra, mặt khác tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học cũng thường bị lợi dụng để biện minh cho việc khai khống

Gian lận trong quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu chủ yếu nhằm đạt được lợi ích về tinh thần, còn gian lận trong quá trình thực hiện chi tiêu mua sắm phục vụ nghiên cứu chủ yếu nhằm đạt được lợi ích về vật chất Tuy nhiên, việc xác định như vậy cũng mang ý nghĩa tương đối vì trong nhiều trường hợp, gian lận về phần chuyên môn là hình thức che dấu gian lận về phần tài chính, tức là chủ thể tham nhũng đã có hành vi gian lận trong nghiên

Trang 35

cứu để hợp thức hóa phần hóa đơn, chứng từ tài chính đã khai khống Hoặc cũng có trường hợp, chủ thể tham nhũng gian lận về phần tài chính để nhằm đạt được lợi ích về tinh thần Ví dụ như trường hợp chủ thể tham nhũng đã ngụy tạo, khai khống nhiều nội dung chi nhằm đưa mức kinh phí dành cho nghiên cứu lên rất cao (mà mức kinh phí thường tỷ lệ thuận với tầm quan trọng và quy mô của nhiệm vụ KH&CN) để được đánh giá, ghi nhận tầm

quan trọng và khả năng nghiên cứu khoa học của mình

1.2.4 Tham nhũng diễn ra dưới dạng thông đồng, móc ngoặc

Dạng tham nhũng này là nhóm các hành vi thoả thuận giữa các bên để đạt được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cho mỗi bên bằng cách gây thiệt hại cho bên thứ ba Trong trường hợp này, đó là lợi ích của tập thể, của Nhà nước

Các hành vi thuộc nhóm này thể hiện quan hệ ràng buộc của các lợi ích

có mối liên quan đến nhau, thể hiện tương đối rõ nét trong thực tế Có 2 hình thức phổ biến là:

Thỏa thuận ngầm với nhau để nâng cao giá trị hợp đồng: là việc các

bên (đại diện tổ chức chủ trì, chủ nhiệm đề tài và những bên liên quan khác) thỏa thuận ngầm với nhau nâng cao hơn giá trị thực tế của các hợp đồng nghiên cứu, hợp đồng mua bán thiết bị, máy móc phục vụ nghiên cứu… do Nhà nước đầu tư kinh phí để hưởng tiền chênh lệch

Thỏa thuận ngầm với nhau trong việc xác nhận tham gia thực hiện nhiệm vụ Quy định về quản lý nhiệm vụ KH&CN hiện nay coi việc xác nhận

tham gia thực hiện của các chủ thể có liên quan trong việc phối hợp triển khai các nội dung nghiên cứu là sự cam kết đảm bảo nhân lực, vật lực KH&CN Việc xác nhận như vậy được coi như cơ sở để tuyển chọn và giao nhiệm vụ Các xác nhận đó phần nào thể hiện quy mô, tính chất việc thực hiện đề tài và cũng đồng nghĩa với quy mô và số lượng kinh phí được giao để thực hiện nhiệm vụ Thoả thuận ngầm với nhau giữa các bên tham gia có thể tạo cho đề

Trang 36

tài số kinh phí lớn hơn mức cần thiết và các bên sẽ có được khoản tiền chênh lệch đó

Ngoài các nhóm nêu trên còn một số hành vi vi phạm khác được thực hiện trong giai đoạn tuyển chọn, kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu… Ví dụ, hành vi của chủ nhiệm hoặc đại diện tổ chức chủ trì đưa hối lộ cho người có thẩm quyền trong giai đoạn kiểm tra thực hiện hoặc giai đoạn nghiệm thu đề tài Tuy nhiên, những hành vi đó được điều chỉnh chủ yếu bởi pháp luật hình

sự và nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của Đề tài nên các nội dung đó không được trình bày trong luận văn

* *

*

Tóm lại, tham nhũng và phòng, chống tham nhũng có một quá trình lịch sử lâu dài Công tác phòng, chống tham nhũng trên tất cả các lĩnh vực của Việt Nam ngày càng được quan tâm hơn trong quá trình hội nhập quốc tế

KH&CN dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cũng mở rộng, phát triển Đồng thời các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực này cũng có thể nảy sinh đa dạng và phức tạp Nó là hệ quả tất yếu nếu đặt những đặc thù riêng của hoạt động nghiên cứu khoa học trong một cơ chế quản lý, điều hành chưa hợp lý

Do vậy việc nghiên cứu hệ thống các vấn đề mang tính lý luận về tham nhũng trong nghiên cứu khoa học là cần thiết để xem xét, nhận diện và đánh giá hiện tượng này Đó cũng là cơ sở lý luận để có thể hình thành các giải pháp nhằm từng bước phòng, chống các hành vi tiêu cực nói chung và tham nhũng nói riêng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN

Trang 37

Chương 2 NHẬN DIỆN THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Tham nhũng là hành vi tiêu cực gắn với yếu tố quyền lực Do vậy, việc nhận diện và phát hiện đối với tham nhũng nói chung trên thực tế rất hạn chế

Để có số liệu tương đối chính xác về tham nhũng, chỉ có thể thông qua các bản án đã có hiệu lực pháp luật với việc thống kê các tội danh thuộc nhóm tội

về tham nhũng Nhưng đó chỉ là con số rất nhỏ (khoảng 5%) so với thực trạng tham nhũng bởi vì nhiều vụ việc không được đưa ra xử lý về hình sự [41]

Trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, mặc dù các phương tiện thông tin đại chúng nêu rất nhiều về vấn đề "tham nhũng, lãng phí trong nghiên cứu khoa học" nhưng thực tế chỉ có một số ít vụ việc được xem xét và nếu có xử lý cũng chỉ là áp dụng các biện pháp tài chính hoặc hành chính Theo thống kê chưa đầy đủ của Thanh tra Bộ KH&CN thì trong 3 năm từ 2006-2008, lực lượng Thanh tra KH&CN của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước

đã tiến hành thành tra 298 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh nhưng chỉ có 23 nhiệm

vụ bị kết luận là có vi phạm Các vi phạm thường được nhận định chung là

"sai quy chế", "gây thất thoát" hoặc "vi phạm quy định về quản lý tài chính" Gần đây nhất, vào tháng 3/2009 Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phát hiện ra dấu hiệu tham nhũng trong việc triển khai các nhiệm vụ KH&CN ở Viện Thú y Trung ương do Viện trưởng và một số cán

bộ khác của Viện thực hiện Có thể nói, đây là lần đầu tiên một vụ việc có dấu hiệu tiêu cực trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN bị phát hiện và

bị xác định trách nhiệm tham nhũng

Xem xét trên phương diện mức độ tham nhũng chúng ta thấy rằng, thực chất tham nhũng, lãng phí trong nghiên cứu khoa học là một vấn đề ít

Trang 38

được dư luận quan tâm Chống tham nhũng, lãng phí chủ yếu vẫn được tập trung vào một số ngành xây dựng cơ bản Nhiều người vẫn cho rằng, tham nhũng trong xây dựng cơ bản, nhất là các công trình giao thông, công cộng có

tỷ lệ cao nhất, có thể lên tới 30-40% Nhưng theo phân tích của một số nhà khoa học, mỗi đề tài nghiên cứu khoa học thất thoát vì tham nhũng, lãng phí khoảng 40% tổng kinh phí [54] Trên thực tế, vụ tiêu cực ở Viện Thú y Trung ương cho thấy, chỉ riêng trong năm 2005 và 2006, Viện đã thực hiện tổng số

45 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nhưng có 19/45 đề tài nghiên cứu không

có sản phẩm; nhiều đề tài bị buông lỏng quản lý, làm trái nguyên tắc (về khoa học và tài chính), gây tổn thất cho ngân sách nhà nước khoảng 4,3 tỉ đồng, trong đó thất thoát, thiệt hại gần 1,557 tỷ đồng và gây lãng phí trên 2,757 tỷ đồng tiền ngân sách Ví dụ, đề tài "Thử nghiệm vắc-xin cúm gia cầm" đã bị chủ nhiệm sử dụng chứng từ khống để thanh toán số tiền 405 triệu đồng trong tổng số kinh phí của đề tài là 805 triệu đồng, hay đề tài "Nghiên cứu phương pháp duy trì các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E.Coli nhằm ổn định hiệu lực vắc-xin phù đầu lợn" chỉ có 169 triệu đồng có hoá đơn, chứng từ hợp pháp để thanh toán trong tổng số kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu là 430 triệu đồng [69] Như vậy, tỷ lệ bị thất thoát đều hơn 50%, thậm chí nếu hiểu theo nghĩa rộng, tức là có đầu tư nhưng không mang lại chút kết quả nào thì “thất thoát còn có thể lên tới 100%” [76]

Trong phạm vi các nhiệm vụ cụ thể, có ý kiến cho rằng, trước đây KH&CN của nước ta kém phát triển là do kinh phí hạn hẹp (Nhà nước thường cấp không quá 1 tỷ đồng cho mỗi đề tài) nhưng mấy năm gần đây, kinh phí cho mỗi đề tài đã gấp 2-4 lần so với những năm trước, nhưng kết quả đạt được thì không có khác biệt đáng kể Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu KH&CN đã tăng lên nhiều so với 10-15 năm trước và chắc chắn còn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo nhưng thành tựu đạt được có lẽ

Trang 39

chỉ là “nâng cao thêm trình độ cán bộ chứ không mang lại kết quả gì đáng kể cho nền kinh tế quốc dân” [60]

Quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN gồm nhiều giai đoạn với trình tự, thủ tục khác nhau nên các hành vi tiêu cực nói chung và tham nhũng nói riêng trong các giai đoạn cũng có tính chất và biểu hiện khác nhau

2.1 Tham nhũng trong giai đoạn xác định nhiệm vụ KH&CN

Xác định các nhiệm vụ KH&CN là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào kế hoạch, chiến lược phát triển, định hướng ưu tiên

để xác định (đề ra) các nhiệm vụ KH&CN Theo phân cấp và nhu cầu xã hội, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó bao gồm:

Chính phủ quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; các hướng KH&CN ưu tiên; các nhiệm vụ KH&CN chủ yếu của Nhà nước cùng phương án phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đó;

Thủ tướng Chính phủ quyết định triển khai thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ trực tiếp cho sự chỉ đạo, điều hành và theo các yêu cầu cấp thiết khác;

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan khác của Nhà nước căn cứ vào các hướng KH&CN ưu tiên, các nhiệm vụ KH&CN chủ yếu của Nhà nước và căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương, cơ sở, doanh nghiệp để xác định nhiệm vụ KH&CN của bộ, ngành, địa phương mình;

Các tổ chức KH&CN căn cứ vào phương hướng ưu tiên phát triển KH&CN của nhà nước, nhu cầu của xã hội, chức năng được giao và lĩnh vực hoạt động KH&CN của mình để xác định các nhiệm vụ KH&CN;

Các doanh nghiệp căn cứ vào hướng ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để xác định các nhiệm vụ KH&CN

Trang 40

Để xác định chính xác các nhiệm vụ KH&CN, phù hợp với thực tiễn và nhu cầu cuộc sống, các chủ thể nêu trên thành lập Hội đồng KH&CN để tư vấn trong việc xác định nhiệm vụ KH&CN về mục tiêu, nội dung các chương trình, đề tài, dự án KH&CN Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng gồm chủ tịch, hai thành viên là uỷ viên phản biện và các thành viên khác gồm:

1/2 là đại diện cho các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất - kinh doanh, các tổ chức khác có liên quan;

1/2 là nhà KH&CN trong lĩnh vực KH&CN có liên quan

Thành viên của Hội đồng phải là các chuyên gia có uy tín, khách quan,

có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu sâu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ được giao tư vấn xác định nhiệm vụ Nhiệm vụ của Hội đồng là phân tích, đánh giá, kiến nghị về mục tiêu, yêu cầu và kết quả dự kiến của nhiệm vụ KH&CN

Trên thực tế, việc xác định nhiệm vụ KH&CN là cơ sở để Nhà nước tập trung đầu tư kinh phí (thường là những khoản tiền rất lớn) cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Xét dưới một góc độ nào đó có thể nói, thành viên Hội đồng là chủ thể có khả năng định hướng cho nguồn tiền đó "chảy" vào các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể thông qua hình thức xác định nhiệm vụ KH&CN Hầu hết thành viên Hội đồng đều là những chuyên gia trong một ngành, một lĩnh vực nhất định và thường thuộc biên chế hoặc

có mối liên hệ mật thiết với tổ chức KH&CN nhất định Hiện nay, các tổ chức KH&CN đang dần được trao tự chủ nhưng đồng thời cũng phải chịu sức ép

về kinh phí hoạt động và phát triển nên các tổ chức đó rất muốn (và thường tìm mọi cách) được thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, nghĩa là có thêm nguồn kinh phí lớn để hoạt động

Chính vì vậy, tham nhũng trong việc xác định các nhiệm vụ KH&CN chủ yếu là việc thành viên Hội đồng đề xuất những nhiệm vụ KH&CN mà cơ

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị "về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội.CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
7. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1998), Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1998
11. Chính phủ (1999), Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
13. Chính phủ (2006), Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
14. Chính phủ (2006), Nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
15. Chính phủ (2007), Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 67/2006/QĐ-TTg ngày 21/3/2006 phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 67/2006/QĐ-TTg ngày 21/3/2006 phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
18. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006) Quyết định số 2658/QĐ-BKHCN ngày 08/12/2006 về việc thành lập và Điều lệ hoạt động của Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2658/QĐ-BKHCN ngày 08/12/2006 về việc thành lập và Điều lệ hoạt động của Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước
19. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Quyết định số 2855/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2006 về việc ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2855/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2006 về việc ban hành Quy định về tổ chức và hoạt động của Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà nước
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
20. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Quyết định số 1870/QĐ-BKHCN ngày 22/8/2006 phê duyệt danh mục các chương trình khoa học và công nghệ trong điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1870/QĐ-BKHCN ngày 22/8/2006 phê duyệt danh mục các chương trình khoa học và công nghệ trong điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
21. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Quyết định số 24/2006/QĐ- BKHCN ngày 30/11/2006 Quy định việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 24/2006/QĐ-BKHCN ngày 30/11/2006 Quy định việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
25. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 10/2007/QĐ- BKHCN ngày 11/5/2007 ban hành Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 11/5/2007 ban hành Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
26. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 11/2007/QĐ- BKHCN ngày 04/6/2007 về việc ban hành Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 11/2007/QĐ-BKHCN ngày 04/6/2007 về việc ban hành Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn cấp Nhà nước
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
27. Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ (2004), Thông tư liên tịch số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 20/8/2004 hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được ngân sách Nhà nước hỗ trợ và có thu hồi kinh phí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 20/8/2004 hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được ngân sách Nhà nước hỗ trợ và có thu hồi kinh phí
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2004
28. Bộ Tài chính (2005), Thông tư số 91/2005/TT-BTC ngày 18/10/2005 về quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 91/2005/TT-BTC ngày 18/10/2005 về quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
29. Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách Nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
30. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 của Bộ Tài chính về quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 của Bộ Tài chính về quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
33. Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản KH&KT
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w