1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang

107 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ PHƯƠNG

T¡NG C¦êNG TR¸CH NHIÖM C¤NG Tè TRONG HO¹T §éNG

§IÒU TRA ë VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N TØNH B¾C GIANG

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN TOẢN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Phương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 7

1.1 Một số khái niệm có liên quan 7

1.1.1 Quyền công tố 7

1.1.2 Thực hành quyền công tố 14

1.2 Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra 20

1.2.1 Nhiệm vụ và đặc điểm cơ bản của hoạt động điều tra 20

1.2.2 Phạm vi, nội dung và đặc điểm của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra 23

1.2.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra 27

1.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; pháp luật về thực quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân 28

1.3.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra 28

1.3.2 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra 32

Kết luận Chương 1 47

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG

HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012 48 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang và ảnh

hưởng đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn 48

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 48 2.1.2 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với

việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn 50

2.2 Thực trạng tổ chức, hoạt động thực hành quyền công tố trong

hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến năm 2012 52

2.2.1 Khái quát tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

Bắc Giang 52 2.2.2 Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều

tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến năm 2012 56

Kết luận Chương 2 66 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM

CÔNG TỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG THỜI GIAN TỚI 67 3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác thực hành quyền

công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 67 3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm công tố trong

hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thời gian tới 71

Trang 5

3.2.1 Một số giải pháp chung về nhận thức đúng đắn trách nhiệm công

tố trong hoạt động điều tra 71

3.2.2 Giải pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thời gian tới 76

3.3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang 90

Kết luận Chương 3 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự KSV: Kiểm sát viên

VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 2.1: Tổng số Kiểm sát viên, cán bộ của Viện kiểm sát nhân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với chức năng được

quy định tại Điều 137 của Hiến pháp năm 2013, theo đó, “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [34, tr.57] Điều 1 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của hiến pháp và pháp luật” [32, tr.1]

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra những yêu cầu cơ bản về cải cách tư pháp đối với các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân Nghị quyết Đại hội lần thứ

XI của Đảng nhấn mạnh phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra Vì vậy việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố

có ý nghĩa rất quan trọng; là một trong những yếu tố cơ bản để giải quyết các

vụ án hình sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm đạt kết quả, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội

Như vậy, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nền công tố mạnh Khi thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân

có trách nhiệm lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Phải bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, đầy đủ,

Trang 9

xử lý nghiêm minh, có căn cứ pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời không để làm oan người vô tội Đây là hai mặt của vấn đề trong công tác công tố và để góp phần làm tốt nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra Vì vậy, có thể nói rằng đây là nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị giam giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật Đồng thời, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; kịp thời phát hiện, khắc phục và xử lý những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra

Chức năng thực hành quyền công tố cùng với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng riêng có của Viện kiểm sát và có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội Kết luận của đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác của ngành kiểm sát năm 1967 đã nhấn mạnh:

Công tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ Nhà nước nào Không có cơ quan Nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử

có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, đảm bảo làm tốt [41]

Trang 10

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố Bởi vậy, thực chất của việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra là tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát

để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật

Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận

và thực tiễn thông qua hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trên một địa bàn cụ thể; đồng thời, đề xuất một số giải pháp

để nâng cao chất lượng của hoạt động này, tác giả chọn đề tài "Tăng cường

trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhất là hoạt động tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thời gian qua, đã có một số công trình

nghiên cứu được công bố như:

- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, TS Lê Hữu Thể chủ biên, NXB Tư pháp, 2005;

- “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra theo cải cách tư pháp”, Chuyên đề tập huấn, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát

điều tra án hình sự về trật tự xã hội – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao;

- “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Đỗ Văn Đương, Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2006;

- “Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Phạm Hồng Hải, Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2006

Trang 11

Ngoài ra, còn có một số bài viết khác của các tác giả đăng trên tạp chí Kiểm sát, tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Tòa án

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, nghiên cứu sâu về thực tiễn tăng cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và

thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn tăng cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra của hai cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang hiện nay

Để đạt được mục đích trên, phải triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra;

- Khảo sát và đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến năm 2012;

- Xác định các quan điểm, đề xuất các giải pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố và thực trạng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang

Trang 12

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang Thời gian nghiên cứu, khảo sát trong 05 năm, từ năm 2008 đến năm 2012

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành, trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Đồng thời, luận văn còn sử dụng một số phương pháp của một số bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh, tọa đàm trao đổi…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ, hoàn thiện một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố, thực hành quyền công tố và mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát Đồng thời, đánh giá khái quát thực trạng thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua; đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 13

Chương 1 Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong hoạt

động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2 Thực trạng thực hành quyền công tố trong hoạt động điều

tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm

2008 đến năm 2012

Chương 3 Một số giải pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong

hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thời gian tới

Trang 14

1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố

"Công tố" là từ ghép Hán - Việt, được hình thành bởi hai từ đơn "công"

và "tố" Theo Đại từ điển tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư" [51, tr.453], còn "tố" có nghĩa là "nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người" [51, tr.459]; "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" [51, tr.1663]

Như vậy, có thể thấy công tố là một khái niệm đề cập đến các nội dung

về điều tra, truy tố, buộc tội người phạm tội trước Tòa án Trong đó bên thực hiện buộc tội là nhân danh Nhà nước, nhân danh lợi ích công để tố cáo, đưa người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Khác với tư tố, là tự mình nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố cáo, khởi kiện ra Tòa án để đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi cho riêng mình

Quyền công tố là một khái niệm pháp lý Ở Việt Nam chế định quyền công tố chưa được giải thích chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mới chỉ đề cập trong các bài giảng, các luận văn, đề tài khoa học và một số sách, tạp chí nghiên cứu luật học Nhưng trên thực tế quyền năng công tố đã được thực hiện từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, khi đó chức năng công tố thuộc hệ thống Tòa án do các Thẩm phán buộc tội đảm nhiệm Sau đó trong các Tòa án đều có bộ phận

"Công tố viện" chuyên thực hiện chức năng công tố Công tố viện do Công tố

Trang 15

ủy viên phụ trách Tại phiên họp ngày 29/4/1958 kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa

I đã quyết định chia tách và thành lập một số cơ quan nhà nước, trong đó có việc thành lập Tòa án tối cao và hệ thống tòa án, thành lập Viện công tố Trung ương và hệ thống Viện công tố Cả hai cơ quan tách khỏi Bộ Tư pháp

và đều là các cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn ngang Bộ trực thuộc Chính phủ Ngày 01/07/1959 Chính phủ ban hành Nghị định 256/TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức Viện công tố Trung ương và hệ thống Viện công tố, đây

là tổ chức tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân Tại phiên họp ngày 15/7/1960, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa II đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và ngày 26/7/1960 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố luật này Kể từ đó đến nay quyền công tố do Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm

Thuật ngữ “Quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp

1980, sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002

Hiện nay, vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố Có thể khái quát lại một số quan điểm về quyền công tố như sau:

Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm

sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố

“Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với

hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân Theo họ, công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một

quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát” [18, tr 85-87]

Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát và như vậy là không chính xác

Trang 16

bởi vì thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức

năng hoàn toàn độc lập của Viện kiểm sát nhân dân Mặc dù trong quá trình thực hiện hai chức năng này, có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan

hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, trong mọi hoạt động thực hiện chức năng của Kiểm sát viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật Vì vậy, không thể phủ nhận tính độc lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy không thể đồng nhất chúng

Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước

đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; Ở Việt Nam, quyền này được giao cho Viện kiểm sát nhân dân” [18, tr.19] Quan điểm này có thể coi

là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của ngành kiểm sát và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự,

về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác

Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…)

Quan điểm thứ ba cho rằng, “quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà

nước đối với các cá nhân, tổ chức đó vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm

Trang 17

hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kinh tế, vi phạm hình sự Và quyền công

tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó” [20, tr.82-88] Theo

quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia và nhiều quan hệ pháp luật khác nhau Với tính cách là một quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Theo quan điểm trên, quyền công tố trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thể ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, hình sự), quyền tham gia tố tụng từ tất bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế ), quyền yêu cầu Toà án hoặc tự mình điều tra xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án

Quan điểm thứ tư:

Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [1, tr.40]

Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong

tố tụng hình sự; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất Viện kiểm sát nhân dân, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được

Trang 18

điểm khác nhau Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập Hoặc là đánh đồng quyền công

tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…

Từ những phân tích ở trên, để xây dựng được khái niệm quyền công tố chính xác, khoa học thì phải dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các quy định hiện hành của pháp luật và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp Việt Nam Theo tác giả, việc xây dựng khái niệm quyền công tố cần phải dựa trên những nguyên tắc sau:

- Quyền công tố phải là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra

đời của Nhà nước và thay đổi theo bản chất của Nhà nước Được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân), nhằm xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan Viện kiểm sát phải có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa

- Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, với đối

tượng là tội phạm và người phạm tội mà không có trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, hành chính

- Quyền công tố chỉ do một cơ quan thực hiện và phải độc lập với

quyền xét xử của Tòa án Quyền công tố phải được thể hiện bằng những hoạt động cụ thể ở trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, từ khởi tố, điều tra, đến đưa vụ án ra xét xử

Trang 19

Theo đó, có thể định nghĩa quyền công tố như sau: Quyền công tố là quyền của Nhà nước, giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc xác định tội phạm,truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trước Tòa

án và bảo vệ việc buộc tội tại phiên toà

1.1.1.2 Đối tượng, nội dung và phạm vi quyền công tố

* Đối tượng của quyền công tố là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó như nhằm buộc tội người phạm tội để trừng phạt nhằm bảo đảm trật tự xã hội và trật tự pháp luật, nhằm bảo đảm lợi ích chung cho xã hội… Do còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố, nên tất yếu còn tồn tại nhận thức khác nhau về đối tượng, nội dung

và phạm vi của quyền công tố điển hình có thể kể đến một số quan điểm sau:

- Quan điểm xác định đối tượng của quyền công tố và sự tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia

tố tụng Quan điểm này là kết quả của sự đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật

- Quan điểm cho tằng đối tượng của quyền công tố là các hành vi vi phạm pháp luật; quan điểm này xuất phát từ nhận thức coi quyền công tố là quyền của Nhà nước cáo buộc cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật và đưa ra các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa

- Quan điểm coi quyền công tố là quyền Nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi

vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung, lợi ích Nhà nước thì lại cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội và những vụ việc xâm hại đến lợi ích chung trong lĩnh vực dân sự, hành chính, lao động

Từ quan điểm nhận thức về quyền công tố đã trình bày ở trên, tác giả luận văn cho rằng đối tượng của quyền công tố chỉ có thể là: tội phạm và người phạm tội

Trang 20

* Nội dung của quyền công tố

Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm khác nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của quyền công tố

là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện tội phạm

* Phạm vi quyền công tố

Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố nên cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (phạm vi về không gian, phạm vi về thời gian)

- Phạm vi về thời gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công tố không chỉ bị giới hạn bó hẹp trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn bao trùm cả trong các lĩnh vực tư pháp khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động Bên cạnh đó có quan điểm cho rằng phạm vi của quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự và không thể có trong các lĩnh vực tố tụng khác Do đó tác giả cho rằng quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội; do đó quyền công tố không thể tồn tại ở lĩnh vực nào khác ngoài lĩnh vực tố tụng hình sự

- Phạm vi về thời gian cho rằng quyền công tố xuyên suốt cả quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tức là nó bắt đầu khi tội phạm xảy ra và chỉ kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án

Từ quan điểm của mình về quyền công tố tác giả luận văn đồng tình với

ý kiến cho rằng phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi việc buộc tội không còn nữa Và khi việc buộc tội không còn nữa thì không còn lý do gì để cho rằng quyền công tố vẫn kéo dài đến khi người phạm tội chấp hành xong bản án

Trang 21

1.1.2 Thực hành quyền công tố

1.1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố

Cũng như khái niệm về quyền công tố, khái niệm thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi của nó còn có nhiều cách hiểu khác nhau

Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Tòa, tranh tụng tại phiên tòa và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định của Tòa án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ) Để thực hiện được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các phương pháp khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó

là thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến

pháp và pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất Viện kiểm sát Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân

Từ những phân tích nêu trên có thể xác định phạm vi và nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát như sau:

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và được thực hiện từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật

Trang 22

1.1.2.2 Phạm vi thực hành quyền công tố

Xét về nguyên tắc thì phạm vi thực hành quyền công tố đồng nhất với phạm vi của quyền công tố; tức là bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Như vậy cũng có nghĩa là khi tội phạm xảy ra đòi hỏi quyền công tố phải được phát động để đảm bảo mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện

xử lý theo pháp luật

Để có cơ sở phát động quyền công tố đòi hỏi phải trải qua một giai đoạn chuẩn bị nhằm thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xảy ra, như: Tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác tội phạm; tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị tạm giữ… và mục đích của giai đoạn này là nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để làm cơ sở khởi tố hay không kết thúc vụ án hình sự và thực hành quyền công tố chỉ thực sự phát sinh khi

có quyết định kết thúc vụ án Nhưng trên thực tế việc kết thúc vụ án không thể bao trùm hết được số vụ tội phạm xảy ra (thậm chí số vụ tội phạm xảy ra không được phát hiện khởi tố còn chiếm một tỷ lệ không nhỏ so với số vụ tội phạm được khởi tố) Do đó, trong khi thực hành quyền công tố chỉ phát sinh khi có quyết định khởi tố vụ án thì quyền công tố luôn “treo trên đầu” đối với tất cả những người thực hiện tội phạm nhưng chưa bị phát hiện khởi tố điều tra Điều này cũng cho thấy rõ ràng phạm vi quyền công tố luôn rộng hơn so với phạm vi thực hành quyền công tố Tuy về nguyên tắc như đã phân tích ở trên quyền công tố luôn bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản

án có hiệu lực pháp luật Nhưng trên thực tế, trong những trường hợp cụ thể, quyền công tố có thể kết thúc ở giai đoạn tố tụng sớm hơn Đó là khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật ra quyết định

Trang 23

đình chỉ vụ án, bị can (theo quy định của pháp luật Việt Nam thì đó là các trường hợp quy định ở khoản 2 Điều 105, Điều 107 BLTTHS; Điều 19, Điều

25, khoản 2 Điều 169 BLHS…) và khi quyền công tố chấm dứt thì thực hành quyền công tố cũng chấm dứt

Như vậy có thể khẳng định phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không

bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự

1.1.2.3 Nội dung thực hành quyền công tố

Nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng những biện pháp được pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 2/1/2008, Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân được xác định như sau:

* Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, truy tố:

+ Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi

tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can Việc khởi tố

vụ án hình sự được thực hiện khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm Theo quy định tại Điều 104 của BLTTHS năm 2003 thì, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, bị can bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các

cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ

Trang 24

đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển Trên thực tế, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can chủ yếu do Cơ quan điều tra các cấp tiến hành, Viện kiểm sát chỉ ra quyết định khởi tố vụ án trong một số trường hợp nhất định Tuy vậy, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được quyền khởi tố vụ

án hình sự một cách độc lập, không chịu sự ràng buộc về mặt cơ chế tố tụng của bất kỳ một cơ quan nhà nước nào

Viện kiểm sát cũng có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn

có tội phạm khác; có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đồng thời, Viện kiểm sát cũng có quyền kháng nghị đối với những quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ của Hội đồng xét xử

Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát để xem xét phê chuẩn trong thời hạn 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định khởi tố Viện kiểm sát sẽ xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố nếu quyết định khởi tố đó không có căn cứ và trái pháp luật trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan đến việc khởi tố của Cơ quan điều tra

+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi cần thiết có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật Kiểm sát viên có thể trực tiếp đề ra yêu cầu điều tra bằng lời trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra Đối với những trường hợp khác, khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có

Trang 25

văn bản nêu rõ vấn đề cần điều tra Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi xét thấy cần thiết như khác hoạt động hỏi cung bị can, lấy lời khai bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất, thực nghiệm điều tra

+ Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật Khi có căn cứ và xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn như bắt bị can để tạm giam, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, bắt bị can để tạm giam, tạm giam, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đối với một số quyết định khác của Cơ quan điều tra như lệnh khám xét,…

+ Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự Khi phát hiện thấy Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án thuộc một trong các trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên có quyền đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình xem xét để yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên

+ Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án, nếu các quyết định đó được ban hành mà không

có căn cứ pháp lý, không đúng trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền theo quy định của pháp luật Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra truy

nã bị can khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu

Trang 26

+ Quyết định truy tố bị can ra Tòa án để thực hiện việc xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật Nhiệm vụ, quyền hạn này được Viện kiểm sát nhân dân thực hiện trong giai đoạn truy tố,

cụ thể là:

Nếu xác định có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định truy tố bị can, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng quyết định truy tố sang Tòa

án để thực hiện việc xét xử

Nếu phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát nhân dân không tự mình bổ sung được, hoặc có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác, hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung

Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 169 BLTTHS thì Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định đình chỉ vụ án

Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 169 BLTTHS thì Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định tạm đình chỉ vụ án

Cơ quan điều tra cũng có quyền đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra nhưng các quyết định này đều phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát Qua kiểm sát, nếu Viện kiểm sát phát hiện việc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ đó không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ để phục hồi điều tra hoặc ra quyết định hủy bỏ và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra

Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố còn thể hiện qua các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên (Điều

36, 37 BLTTHS năm 2003)

Trang 27

* Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử:

+ Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa

+ Tham gia xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm

+ Thực hiện luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

+ Tranh luận với bị cáo, với người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm

+ Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình

sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị

+ Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản

án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật

+ Kiến nghị với Tòa án yêu cầu khắc phục các vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử; nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm thì khởi tố về hình sự

+ Tạm đình chỉ thi hành án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

+ Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, ra quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

+ Khởi tố về hình sự khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và người phạm tội trong quá trình kiểm sát xét xử các vụ án hình sự

1.2 Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra

1.2.1 Nhiệm vụ và đặc điểm cơ bản của hoạt động điều tra

1.2.1.1 Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động điều tra

Hoạt động điều tra bắt đầu từ khi xảy ra sự kiện, vụ việc có tính hình sự

và kết thúc khi Cơ quan điều tra hoàn thành việc điều tra, kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc vụ án bị đình chỉ Hoạt động điều tra có thể

Trang 28

chấm dứt khi có căn cứ chấm dứt thực hành quyền công tố hoặc có thể tiếp tục trong những trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, điều tra lại

Hoạt động điều tra có nhiệm vụ thu thập chứng cứ làm rõ sự thật khách quan của vụ án, kể cả chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội Kết quả xác minh

tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu là cơ sở

để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, quyết định việc khởi tố vụ án, khởi

tố vụ can; quyết định hạn chế quyền công dân đối với người phạm tội, thay đổi giai đoạn tố tụng hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng Tác động của kết quả điều tra đến hoạt động công tố không chỉ giới hạn ở số lượng, chất lượng chứng cứ mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm, áp dụng pháp luật của Cơ quan điều tra Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự có thể dẫn đến truy tố, xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm

1.2.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động điều tra

Hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra (như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại…) Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí mật Việc giữ bí mật điều tra là yêu cầu nghiệp vụ, một nguyên tắc được luật định có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc điều tra, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật về cả nội dung, phương pháp để thu

Trang 29

thập tin tức về hoạt động của tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội lẩn trốn, nhằm phòng ngừa tội phạm

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của Cơ quan Viện kiểm sát Điều này được thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho Viện kiểm sát để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của

Cơ quan điều tra …)

Tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra cho phù hợp, nhưng các vụ án đều trải qua những thủ tục chung như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lập hồ sơ vụ án hình sự, đề nghị truy

tố người phạm tội hoặc đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật

Phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm vi những vẫn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định Để xác định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì Cơ quan điều tra phải làm

rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan Chẳng hạn, để xác minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật chứng, lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng…)

Hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể; do đó, nếu không thực hiện nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, có thể dẫn đến xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Trang 30

1.2.2 Phạm vi, nội dung và đặc điểm của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

1.2.2.1 Phạm vi thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội đã đặt ra yêu cầu khi có sự kiện phạm tội xảy ra thì phải thực hành quyền công tố, khởi tố vụ án, mở cuộc điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp không có tội phạm thì quyền công tố bị triệt tiêu, theo đó chấm dứt mọi hoạt động tố tụng Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và duy trì trật tự pháp luật, sự ổn định xã hội Thực hành quyền công tố gắn liền với việc tiến hành các hoạt động điều tra, tức là bất cứ khi nào

và ở đâu, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra (như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can ) thì khi đó Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố

Điều kiện chấm dứt thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra (khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của BLTTHS):

+ Không có sự việc phạm tội (khoản 1) thì không được khởi tố vụ án

hình sự; nếu đã khởi tố thì phải hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì không có đối tượng tác động của quyền công tố;

+ Hành vi không cấu thành tội phạm (khoản 2) là hành vi tuy có dấu hiệu tội phạm nhưng quy mô hành vi hoặc quy mô hậu quả của hành vi không lớn, chưa đủ cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự (như trộm cắp, đánh bạc dưới 2 triệu đồng mà không có các yếu tố cấu thành khác);

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3) Trường hợp này, nếu đã khởi tố bị can thì phải hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc đình chỉ điều tra bị can;

+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình

Trang 31

chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4) Vì sự việc đã quyết tụng, do đó luật định đối với những người này không được điều tra, truy tố, xét xử lần 2 cũng

về tội đó hoặc dưới một tội danh khác;

+ Khi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự (khoản 5) (Điều 23 của BLHS năm 1999 và Điều 45 của BLHS năm 1985, vì thực tế có những trường hợp truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội phạm nào đó theo Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng đến nay mới xử

lý do bắt được bị can trốn) Hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự thì dù

có phát hiện người phạm tội cũng không được khởi tố, điều tra, truy tố đối với

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 7 của Bộ luật hình sự, thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra chấm dứt khi có một trong những căn

cứ như sau:

+ Khi có hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian, có điều luật quy định một tội phạm mới không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó được ban hành, trừ trường hợp luật có quy định khác

+ Khi Bộ luật hình sự có điều luật xóa bỏ một tội phạm Tức là hành vi

đó không bị coi là tội phạm trong Bộ luật hình sự

Như vậy, phạm vi thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra bắt đầu từ khi có sự kiện phạm tội xảy ra, khởi tố vụ án đến khi chấm dứt hoặc

Trang 32

thay đổi giai đoạn tố tụng (hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, kết thúc điều tra,

Cơ quan điều tra đề nghị truy tố bị can hoặc vụ án bị đình chỉ hoặc Viện kiểm sát truy tố bị can ra tòa)

Nhận thức về phạm vi bắt đầu và kết thúc thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra như vậy là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành

và tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một

số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm công tố:

Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ

án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ… [12]

1.2.2.2 Nội dung thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội Để đạt được mục đích, yêu cầu đó, pháp luật hiện hành quy định cho Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

có quyền năng pháp lý là xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trực tiếp ra các quyết định tố tụng trong việc: Khởi

tố vụ án, khởi tố bị can; Áp dụng các biện pháp cưỡng chế (bắt, tạm giữ, tạm giam; truy nã bị can, khám xét); Yêu cầu điều tra để thu thập chứng cứ buộc tội, gỡ tội một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật; Huỷ bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; Quyết định việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; quyết định việc truy tố bị can

Trang 33

Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các thủ tục tố tụng, ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can…, nhưng việc ra các quyết định tố tụng đó không có nghĩa Cơ quan điều tra cũng thực hành quyền công tố, mà trách nhiệm theo luật định thì thực hành quyền công tố thuộc chức năng của VKS với tư cách cơ quan quyết định cuối cùng việc khởi tố hay không khởi tố vụ

án, khởi tố bị can (xét phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố không có căn cứ

và trái pháp luật của Cơ quan điều tra) Khi Viện kiểm sát không chấp nhận việc khởi tố thì yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ và ra quyết định không khởi

tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố, điều tra mà xác định không có tội phạm hoặc không có căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với bị can thì vụ án phải đình chỉ và chấm dứt mọi hoạt động tố tụng

Thực hiện đúng, đầy đủ các quyền năng pháp lý trên đây là bảo đảm quan trọng để nâng cao trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra

1.2.2.3 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra có những đặc điểm

- Thực hành quyền công tố bao gồm hành vi và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định Các quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Các quyết định tố

Trang 34

tụng của Viện kiểm sát đều được gửi cho những người có liên quan theo quy định của pháp luật

- Các hoạt động công tố là nhân danh quyền buộc tội nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng Viện kiểm sát mỗi cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra cấp trên không có quyền rút, hủy bỏ các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra cấp dưới

- Thực hành quyền công tố có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra Tuy cùng một chủ thể tiến hành là Viện kiểm sát nhưng thực hành quyền công tố nhằm vào việc buộc tội, gỡ tội; yêu cầu bắt, giam giữ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội, còn hoạt động kiểm sát điều tra hướng đến sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra; nếu phát hiện

có hành vi vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm

- Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố tuy vẫn phải thực hiện việc xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội đối với người phạm tội nhưng thực hiện quyền buộc tội Nhà nước vẫn là chủ yếu Trong khi đó bào chữa là hoạt động xã hội để thực hiện quyền bào chữa (mục đích gỡ tội) của công dân theo quy định của pháp luật

1.2.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, từ năm 1960 đến nay, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội

phạm và người phạm tội

Trang 35

Cùng với thực hành quyền công tố, hoạt động kiểm sát điều tra cũng được thực hiện từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm sát việc khởi tố, trong suốt quá trình điều tra cho đến khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố người phạm tội hoặc vụ án bị đình chỉ Hoạt động kiểm sát điều tra vẫn tiếp tục khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung Khi thực hiện kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Điều tra viên chấm dứt vi phạm, khôi phục trật tự pháp luật bị vi phạm

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời Kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra phải tuân theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra theo quy định; là căn cứ pháp lý để Viện kiểm sát thực hiện tốt quyền công

tố trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, chống oan, chống lọt và vi phạm pháp luật Ngược lại, thực hiện đúng đắn, kịp thời quyền công tố sẽ khẳng định vị thế, thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra tội phạm; tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy hoạt động kiểm sát điều tra bảo đảm quá trình điều tra tuân thủ đúng pháp luật, việc điều tra phải khách quan, toàn diện và đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh

1.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; pháp luật về thực quyền công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân

1.3.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra

Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến trách nhiệm công tố trong tố tụng hình sự, nhất là trong hoạt động điều tra nhằm kịp thời phát hiện, xử lý, giáo

Trang 36

dục người phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không được làm oan người vô tội Ngay từ khi thành lập ngành, các đồng chí Lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước đã có những chỉ đạo, kết luận rất quan trọng

về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân

Phát biểu của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị tổng kết công tác Kiểm sát toàn quốc năm 1967:

Ngành Kiểm sát là một trong những công cụ của Nhà nước dân chủ nhân dân, có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, tăng cường chuyên chính đối với bọn phản cách mạng, tăng cường kỷ luật xã hội trong quần chúng nhân dân Nói đến kiểm tra việc tuân theo pháp luật, cần chú trọng trước hết kiểm tra việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, bởi vì sự vi phạm của một số công dân nào đó đối với pháp luật có lẽ không tai hại bằng những sự lạm quyền của các cơ quan chính quyền, các cơ quan

quản lý kinh tế, văn hóa và của những người có trách nhiệm thi

hành pháp luật Nếu những người này làm sai pháp luật thì chẳng

những vi phạm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, mà còn làm

trái chủ trương, chính sách là sinh mạng của Đảng, là linh hồn của pháp luật Nhà nước; điều đó sẽ đánh vào nguồn gốc sức mạnh của chế độ ta là sự tín nhiệm và ủng hộ của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Vì vậy, trước hết phải bảo đảm sự tôn trọng pháp luật một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ của các cơ quan Nhà nước, của những người thay mặt nhân dân nắm quyền hành chính và công việc quản

lý kinh tế, văn hóa, xã hội

Trang 37

Để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trong nhân dân, ngành Kiểm sát cần kiểm tra các vụ bắt giam và xét xử một cách sáng suốt, thận trọng Đối với những hành vi phạm pháp của một số công dân, cần có biện pháp xử lý thích đáng, kiên quyết không xử oan một người ngay, nhưng cũng không để lọt một kẻ có tội….[41, tr.21-22]

Kết luận của đồng chí Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác của ngành Kiểm sát năm 1967:

Ngành Kiểm sát trong tình hình mới đã nâng cao ý thức trách nhiệm và nhiệt tình công tác và hướng toàn bộ công tác kiểm sát vào việc bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường chuyên chính, bảo đảm dân chủ với nhân dân, phục vụ tốt các công tác trung tâm của Đảng và Nhà nước ngành Kiểm sát

đã có nhiều cố gắng và tiến bộ mới trong việc đẩy mạnh công tác công tố Do sử dụng tốt quyền công tố, có Viện kiểm sát đã kiên quyết không phê chuẩn bắt giam những trường hợp không đáng bắt giam, đã đề nghị ngành công an đi sâu hơn nữa vào một số vụ án phản cách mạng; đã minh oan cho một số người bị truy tố và xét xử oan về tội giết người Trong công tác công tố, ngành Kiểm sát đã chú trọng kết hợp chặt chẽ hai mặt trừng trị và tích cực phòng ngừa Không có cơ quan Nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát

để sử dụng quyền công tố Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt [41, tr.25]

Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Tăng cường trách nhiệm pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt,

Trang 38

giam, giữ… sai sót trong công tác bắt giam giữ ở địa phương nào thì trước hết Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó phải chịu trách nhiệm” [9]

Để hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; khắc phục những vi phạm quyền tư do, dân chủ của công dân, nhằm tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp

trong thời gian tới đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của VKS trong thực hiện tốt

quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị quyết nêu rõ:

Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công

tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng, nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai

phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ…[12]

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 chỉ rõ: “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” [14]; đến Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định cần: “tăng cường trách nhiệm công

tố trong hoạt động điều tra” “gắn công tố với hoạt động điều tra” [17] Đây

là những kết luận mang tính chất định hướng hết sức quan trọng về trách nhiệm của VKS trong thực hành quyền công tố đấu tranh phòng, chống tội phạm ở giai đoạn điều tra

Như vậy, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta suốt hơn 50 năm qua Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, công nghệ thông tin, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, tính chất, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, tiềm ẩn nguy

Trang 39

cơ gây bất ổn định chính trị, trật tự xã hội, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra để ngăn ngừa tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không để xảy ra các trường hợp oan, sai

1.3.2 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Điều 112 BLTTHS, trong

đó Điều 112 của BLTTHS quy định chung về các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và cũng là trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gồm:

1) Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố

bị can theo quy định của Bộ luật này; 2) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; 3) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên

có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; 4) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; 5) Huỷ bỏ các quyết định không

có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; 6) Quyết định việc truy tố bị can; quyết định

đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án [33]

Trang 40

1.3.2.1 Trách nhiệm công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên, mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận và kiểm tra, xác minh nguồn tin (tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức, công dân cung cấp hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng…) để ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp chưa có quyết định khởi tố vụ án thì các biện pháp điều tra chưa được tiến hành, trừ những biện pháp khẩn cấp không thể trì hoãn được như bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể Không thể đồng nhất giai đoạn khởi tố vụ án với việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đó chỉ là thủ tục, biện pháp tố tụng cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án

Toàn bộ những thủ tục liên quan đến khởi tố vụ án hình sự được quy định từ Điều 100 đến Điều 109 của BLTTHS năm 2003, có những đặc điểm

cơ bản sau:

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo

về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến; đồng thời quản lý, xác minh toàn bộ các tố giác, tin báo về tội phạm (nguồn để khởi tố)

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động này của Cơ quan điều tra nhưng không có quyền xác minh tố giác, tin báo về tội phạm

- Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là có sự kiện phạm tội xảy ra hoặc sự việc có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ

sở sau: Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan, tổ chức; Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Các cơ quan có thẩm quyền tố tụng trực tiếp

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
2. Chính phủ (2002), Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/3/2002 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/ TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/3/2002 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/ TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
3. Trần Thái Dương (1994), “Quyền tư pháp và quyền kiểm sát”, Tạp chí kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tư pháp và quyền kiểm sát”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Trần Thái Dương
Năm: 1994
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1986
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/ TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/ TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn về quyền công tố
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1999
19. Đỗ Văn Đương (1999), "Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 1999
20. Phạm Hồng Hải (1999), "Bàn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng số Kiểm sát viên, cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân - Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.1 Tổng số Kiểm sát viên, cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w