1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.PDF

127 800 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo cho quá trình QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học được diễn ra thuận lợi, đạt được hiệu quả cao nhất, Nhà nước thông qua các cơ quan QLNN để tiến hành các hoạt

Trang 1

giáo dục đại học trên thế giới 30

Chương 2: THỰC TRẠNG QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 42

2.1 Thực trạng xây dựng pháp luật về QLNN trong

lĩnh vực giáo dục đại học 42

2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật 51

2.2.1 Về bộ máy tổ chức thực hiện pháp luật về giáo dục đại học 51

2.2.2 Thực trạng quá trình đưa pháp luật về giáo dục đại học vào

2.3 Thực trạng công tác thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật

trong QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học 61

2.4 Đánh giá chung và nguyên nhân của những hạn chế 64

Trang 2

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QLNN BẰNG

PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 69

3.1 Tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục

đại học- yêu cầu cấp bách hiện nay 69

3.2 Quan điểm tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực

giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay 75

3.3 Giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực

giáo dục đại học 85

3.3.1 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học nhằm tạo cơ sở

khoa học cho việc QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực

3.3.2 Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học 95

3.3.3 Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật về giáo dục

3.3.4 Từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý giáo dục đại học 102

3.3.5 Tăng cường công tác pháp chế trong lĩnh vực giáo dục đại học 104

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

QLNN: Quản lý nhà nước

UNESCO: Tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục của Liên Hợp Quốc XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta ngày nay, pháp luật ngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội Việc tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trở thành một trong những yêu cầu cơ bản nhằm bảo đảm ổn định trật tự kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Phát triển giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững QLNN đối với lĩnh vực giáo dục nói chung và lĩnh vực giáo dục đại học nói riêng, do đó, có vai trò thực sự quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay Khi nền kinh tế chuyển

từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, cùng với những lĩnh vực xã hội khác, giáo dục đại học đã có những thay đổi to lớn, đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động QLNN đối với lĩnh vực này Có thể nói, giáo dục đại học của nước ta trong những năm đổi mới đã có bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội Số lượng sinh viên đại học không ngừng gia tăng do nhu cầu học tập ở trình độ cao ngày càng lớn Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và xu hướng xã hội hoá giáo dục đã đa dạng hoá các mô hình đào tạo ở bậc đại học, từ chỗ chỉ có một mô hình đại học công lập thì cho đến nay, chúng ta đã có nhiều mô hình

Trang 5

hoàn toàn mới như đại học dân lập, đại học bán công, đại học tư thục, đại học liên kết với nước ngoài,v.v Các hình thức giáo dục đại học cũng ngày càng trở nên phong phú, tạo rất nhiều cơ hội cho những người có nhu cầu học tập, giúp họ tự do lựa chọn theo học những hình thức phù hợp như học tập chính quy, tập trung, tại chức, đào tạo từ xa, du học tại chỗ,v.v Chất lượng giáo dục đại học ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học mà tuyệt đại đa số được đào tạo tại các cơ sở giáo dục trong nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Tuy nhiên, những thành tựu đó của giáo dục đại học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới Trên thực tế, bên cạnh những khởi sắc như đã nói ở trên, trong lĩnh vực giáo dục đại học đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, gây bức xúc trong xã hội và khiến cho hoạt động của ngành giáo dục trở thành một trong những điểm nóng của toàn xã hội trong thời gian vừa qua Sự buông lỏng quản lý của các cơ quan nhà nước, tình trạng tuân thủ pháp luật chưa nghiêm minh và

xu hướng thương mại hoá giáo dục đã dẫn đến nhiều hiện tượng không lành mạnh trong lĩnh vực giáo dục đại học như “chạy điểm”, thi hộ để vào đại học, mua-bán bằng cấp, chứng chỉ, tuyển sinh vượt quá khả năng đào tạo, cấp văn bằng sai quy chế, chất lượng giáo dục chưa cao,v.v Bên cạnh đó, còn tồn tại những yếu kém, bất cập về cơ chế quản lý, cơ cấu hệ thống, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, học tập, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho giáo dục đại học Những hạn chế đó đã phần nào làm giảm sút niềm tin của người dân đối với lĩnh vực giáo dục đại học, nơi cung

Trang 6

cấp nguồn nhân lực có tri thức cao, phục vụ trực tiếp cho công cuộc xây dựng

và bảo vệ đất nước Một lần nữa, vai trò của nhà nước đối với giáo dục đại học cần phải được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, vai trò đó không thể giảm nhẹ mà phải được tăng cường hơn nữa trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Tình hình nói trên đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu, tìm tòi những giải pháp khả thi, từ đó bảm đảm tăng cường QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt là quản lý nhà nước bằng pháp luật, nhằm góp phần vào sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục nước nhà

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước

bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay để

nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề QLNN bằng pháp

luật trong nhiều lĩnh vực Ví dụ: “Tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với

hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay” (Trịnh Đăng Thanh, Luận án Tiến sĩ

Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004); “Tăng cường

QLNN bằng pháp luật đối với bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn

Kim Thái, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, 2005); “Tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà

nước ở Việt Nam hiện nay” (Lê Văn Trung, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001) Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

ở Việt Nam

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu vấn đề QLNN

trong lĩnh vực giáo dục đại học từ những góc độ khác nhau, như: “Mối quan

hệ giữa vai trò QLNN về giáo dục và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của

Trang 7

đề kiểm định chất lượng giáo dục đại học nước ta” của Phạm Thành Nghị

Tạp chí Giáo dục, số 10/2002, “Thực trạng xã hội hoá giáo dục đại học Việt

Nam” của Nguyễn Công Giáp Tạp chí Giáo dục, số 61/2003; Các công

trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu dựa trên phương diện chuyên môn thuần tuý về quản lý giáo dục hoặc chỉ đề cập đến một vài khía cạnh QLNN đối với giáo dục đại học, mà chưa có công trình nào luận giải một cách toàn diện và có tính hệ thống về những vấn đề pháp lý liên quan đến việc QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học

Mặc dù vậy, có thể nói, tất cả những công trình nêu trên đều là những tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

3 Phạm vi nghiên cứu

QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, trong khuôn khổ có giới hạn, luận văn chỉ tập trung vào một số khía cạnh pháp lý chủ yếu liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo đảm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ những năm đổi mới đến nay, trong đó chủ yếu từ năm 1998, khi Luật Giáo dục đầu tiên được ban hành

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam, từ đó đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Trang 8

+ Phân tích cơ sở lý luận về QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học và luận chứng yêu cầu khách quan của việc tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay

+ Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam từ năm 1998, khi Luật Giáo dục đầu tiên được ban hành

+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Lênin, như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử- cụ thể; bên cạnh đó còn vận dụng một

Mác-số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp luật học so sánh, v.v

6 Điểm mới của luận văn:

Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học Vì vậy, luận văn có những đóng góp mới khoa học cụ thể sau:

- Luận giải và đưa ra các khái niệm, nêu các đặc điểm và nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

Trang 9

- Bước đầu đánh giá được các ưu, khuyết điểm và nghiên cứu công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và công tác kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học của Việt Nam thời gian qua

- Nêu và luận giải một số quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn:

- Kết quả của luận văn góp phần làm phong phú thêm một số vấn đề lý luận về QLNN bằng pháp luật nói chung và lý luận về QLNN bằng pháp luật đối với giáo dục đại học nói riêng

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng cũng như dành cho những người quan tâm nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến QLNN bằng pháp luật và QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

8 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học 1.1.1.1 Khái niệm QLNN

Quản lý là một hiện tượng xã hội, đồng thời cũng là một dạng hoạt động của con người Hoạt động quản lý chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tập thể, trong một tổ chức để thực hiện những mục tiêu chung Quản lý đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên

và khoa học xã hội như điều khiển học, ngôn ngữ học, khoa học quản lý, khoa học pháp lý, v.v

Về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là hành động điều khiển, tổ chức hoạt động của một cơ quan, đơn vị nào đó [7, tr 1363]

Theo quan điểm của hành chính công, quản lý là việc thực hiện một số chức năng như soạn thảo chính sách, quy hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát

và đánh giá; sử dụng một số kỹ năng như ra quyết định, thông tin liên lạc, đổi mới, giải quyết xung đột và các kỹ năng thương thuyết [62, tr 274]

Dưới góc độ khoa học quản lý, quản lý được định nghĩa là phương thức làm cho những hoạt động được hoàn thành với một hiệu suất cao, bằng và thông qua những người khác [57, tr 3] Nói cách khác, quản lý là một công việc có mục tiêu làm cho một hiện trạng đang ở tình hình hiện nay được chuyển sang trạng thái sắp tới, mà trạng thái sắp tới phải tốt hơn, hiệu quả hơn và có chất lượng hơn so với tình trạng ban đầu

Trang 11

Có thể nói, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà người ta có những định nghĩa khác nhau về quản lý Tuy nhiên, cho đến nay, quan điểm của ngành điều khiển học đang được xem là quan niệm chung nhất về quản lý, theo đó quản lý được hiểu là “sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định Hệ thống được hiểu là những yếu tố cấu thành có những đặc trưng riêng

mà những đặc trưng đó không phải là thuộc tính của mỗi yếu tố riêng rẽ nằm trong hệ thống” [60, tr 85] Quan niệm này không những phù hợp với sự vận động của thiết bị tự động hoá, máy móc cơ giới, với cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước nhất định, tức là cũng phù hợp với quản lý xã hội, bởi trong đó đã xác định tương đối đầy đủ chủ thể, đối tượng và mục đích của hoạt động quản lý

Với quan điểm trên, có thể nói rằng, quản lý xã hội chính là sự tác động

có định hướng lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, làm cho chúng vận động phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích và theo ý chí của người quản lý Do chỗ đối tượng tác động của quản lý xã hội là hành vi của con người, là hoạt động của các cơ quan, tổ chức của con người bao giờ cũng đa dạng, phức tạp nên bản thân quản lý xã hội cũng là một quá trình đa dạng, phức tạp không kém Trong quá trình quản lý xã hội, các chức năng tổ chức luôn đòi hỏi phải được thực hiện một cách hiệu quả, sao cho có thể đạt được những mục đích đề ra trong quá trình hoạt động chung của con người ở khắp mọi nơi, mọi tế bào lớn, nhỏ của xã hội Theo nghĩa này, quản lý xã hội

là một khái niệm rộng bao hàm quản lý các công việc nhà nước và quản lý các công việc của xã hội

Quản lý các công việc của xã hội được thực hiện bởi tất cả các tổ chức

xã hội, các cơ quan xã hội, gia đình, tổ chức tư nhân, v.v và cơ sở của nó là

Trang 12

gọi là “QLNN” theo nghĩa rộng”) được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan nhà nước và dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước, có nghĩa là được ghi nhận, củng

cố bằng pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước QLNN chỉ xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước trong lịch sử nhằm bảo vệ và duy trì quyền lực của giai cấp thống trị trong xã hội Tuy nhiên, QLNN không chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là nhà nước, mà nó còn được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác, chẳng hạn như khi nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu toàn dân, hoặc do các tổ chức, cơ quan xã hội thực hiện khi được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước (hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước), là một trong bốn loại hoạt động cơ bản của nhà nước Đó là những hoạt động chủ yếu do hệ thống các cơ quan nhà nước, mà đứng đầu là Chính phủ thực hiện

Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích QLNN là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật

Tính chất điều hành của quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền

Đặc trưng của hoạt động điều hành là ra văn bản dưới luật mang tính chất pháp lý (hay còn gọi là hoạt động lập quy) Hoạt động chấp hành đồng thời bao hàm sự điều hành, bởi trong đa số trường hợp, thiếu hoạt động điều hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh được

Trang 13

Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy, so với các dạng quản lý xã hội khác, hoạt động QLNN có những đặc điểm khác biệt sau đây:

Thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính

mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước QLNN được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng” Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước

Thứ hai, QLNN là hoạt động, tác động mang tính tổ chức và điều

chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như là một khoa học về sự thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người để thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh là sự tác động của nhà nước trên cơ sở pháp luật và bằng các quyết định quản lý cụ thể nhằm tạo sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người

Thứ ba, QLNN là hoạt động mang tính kế hoạch, tính khoa học, do đó

một mặt công tác QLNN phải có chiến lược, chương trình, kế hoạch, có các chỉ tiêu khả thi và các biện pháp tổ chức hữu hiệu Mặt khác, do đối tượng quản lý, môi trường pháp lý luôn có sự vận động, biến đổi nên QLNN phải

có sự linh hoạt, sáng tạo, ứng biến kịp thời khi hoàn cảnh thay đổi, tránh gò

bó, cứng nhắc nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu quản lý đã được trù liệu từ trước

Thứ tư, QLNN bao gồm những tác động mang tính liên tục lên các quá

trình xã hội, không có sự gián đoạn, ngắt quãng, bởi lẽ ngay chính đối tượng quản lý cũng luôn nằm trong trạng thái vận động thường xuyên, không ngừng Đặc trưng này cho thấy lối làm việc theo “phong trào” hay theo các “chiến dịch” rầm rộ có tính chất ngắn hạn không thể đáp ứng được yêu cầu của hoạt động QLNN Chỉ có sự tác động mang tính nối tiếp mới thúc đẩy sự phát triển

Trang 14

của các quá trình xã hội sao cho phù hợp với tính chất, mức độ cũng như đòi hỏi khách quan do cuộc sống đặt ra

Qua những phân tích trên, có thể nói QLNN (hiểu theo nghĩa hẹp) là

hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, là một loại hoạt động cơ bản của nhà nước, do các cơ quan hành chính nhà nước và bộ máy trực thuộc thực hiện, trong một số trường hợp nhất định có thể được thực hiện bởi các chủ thể khác khi được Nhà nước trao quyền Đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của các cơ quan nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan

hệ cũng như trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

1.1.1.2 Khái niệm QLNN bằng pháp luật

QLNN bằng pháp luật đối với mọi mặt của đời sống xã hội được hiểu là

sự tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên đối tượng quản lý (các quá trình xã hội, các hành vi của con người) nhằm đạt mục tiêu của quản lý thông qua hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện trong cuộc sống

Pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong QLNN Mặc dù Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý của mình thông qua nhiều phương tiện, công cụ quản lý khác nhau, nhưng trong đó pháp luật luôn là công cụ quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN

Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng lớn của thế giới, ở phương Đông cũng như phương Tây, đã nhận thức được vai trò to lớn của pháp luật trong việc cai trị đất nước Chẳng hạn, ở Trung Hoa thời cổ đại, Hàn Phi Tử, đại diện tiêu biểu cho trường phái Pháp gia đã đề cao pháp luật, coi đó là một tiêu

Trang 15

chuẩn để phân biệt đúng sai, là công cụ quan trọng của nhà nước để duy trì trật tự xã hội theo ý chí của mình: “sửa chữa được sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” [29, tr 49]

Trong giai đoạn cách mạng tư sản, sự ra đời và phát triển của lý thuyết

về nhà nước pháp quyền cũng khẳng định, trong hoạt động của nhà nước, pháp luật có vị trí thượng tôn và nhà nước phải thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật

Đối với nhà nước ta, tư tưởng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật tuy được nhận thức muộn, song có thể nói, đó là đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Ngay từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI, khi quyết định xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng ta chỉ rõ: “Quản

lý đất nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý Pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước” [11, tr 120] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng nêu: “Nhà nước ta phải

có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật” [12, tr 19] Như vậy, QLNN bằng pháp luật

là một yêu cầu, đòi hỏi đối với nhà nước Thể chế hoá đường lối của Đảng về việc quản lý đất nước bằng pháp luật, Điều 12 Hiến pháp 1992 (đã được sửa

đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,

không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”

Trong nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN hiện nay, vai trò của pháp luật trong việc QLNN được đảm bảo bởi các yếu tố sau:

Trang 16

- Pháp luật của Nhà nước là pháp luật XHCN, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân lao động, cho nên dễ được mọi người tôn trọng

và thực hiện Đây là một ưu thế quan trọng của công cụ pháp luật trong quản

lý kinh tế- xã hội ở nước ta

- Pháp luật là công cụ do Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của bộ máy nhà nước nên hiệu lực của nó vô cùng mạnh

mẽ, tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội

- Pháp luật ở nước ta có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương của Đảng, theo đó, phương hướng, nội dung và việc tổ chức thực hiện pháp luật được sự chỉ đạo quan trọng của Đảng Đồng thời, nhờ đó, đường lối của Đảng được triển khai một cách nhanh chóng, cụ thể và tiến hành trên quy mô rộng lớn nhất Thực tiễn pháp lý là môi trường để kiểm nghiệm tính đúng đắn

và hiệu quả thực hiện các đường lối, chính sách và quan điểm của Đảng

- Điều quan trọng để pháp luật được coi là công cụ hàng đầu trong QLNN về kinh tế- xã hội không chỉ ở những đặc tính ưu việt của nó mà còn ở chỗ, pháp luật là công cụ chuyển tải và pháp lý hoá nội dung của các công cụ khác vào thực tiễn QLNN Các công cụ khác như kế hoạch, cơ chế, chính sách, các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước, các công cụ đòn bẩy kinh

tế, nếu không được chuyển hoá bằng một hình thức pháp luật nhất định thì hiệu lực và hiệu quả của việc thực hiện chúng sẽ không đảm bảo, thậm chí không thể tiến hành được Điều này có ý nghĩa quan trọng trong một nhà nước pháp quyền, ở đó yêu cầu quan trọng hàng đầu là Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, thông qua pháp luật

Nói tóm lại, QLNN bằng pháp luật là hoạt động quản lý của nhà nước,

sử dụng công cụ quản lý riêng có của nhà nước là pháp luật (thông qua các hoạt động xây dựng luật pháp, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật) để thực

Trang 17

hiện sự tác động điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước lên các quá trình

xã hội và hành vi của con người nhằm tăng cường pháp chế, thiết lập một trật

tự các quan hệ xã hội trong khuôn khổ luật pháp, thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong điều kiện hiện nay, đây còn

là một yêu cầu tất yếu khách quan thể hiện đặc trưng cơ bản trong nội dung hoạt động quản lý đất nước của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân

và vì dân

1.1.1.3 Khái niệm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại

học

Giáo dục đại học không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp

lý, mà còn được nghiên cứu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là khoa học quản lý giáo dục Để tìm hiểu khái niệm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học, trước hết cần phải làm rõ khái niệm giáo dục đại học Giáo dục đại học trước hết phải được xem như một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giáo dục quốc dân và nếu hình dung hệ thống giáo dục quốc dân như một hình chóp nhọn thì giáo dục đại học là phần đỉnh cao của hình chóp giáo dục ấy Phần đỉnh này bao giờ cũng nhỏ hơn phần đáy nhiều

và nó cho thấy rằng trong hệ thống giáo dục quốc dân, càng lên cao thì càng thu hẹp dần, nhất là về số lượng, nhưng đồng thời cũng phản ánh thực tế giáo dục đại học là tinh hoa của giáo dục quốc dân Từ góc độ pháp lý, chúng ta có thể viện dẫn quy định của Điều 38 Luật Giáo dục 2005 về giáo dục đại học như sau:

“Giáo dục đại học bao gồm:

1 Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ

Trang 18

thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;

2 Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;

3 Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học;

4 Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành có chuyên môn đặc biệt”

Mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học sẽ giúp cho người học có được kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành tương ứng để giải quyết những vấn đề thực tế thuộc chuyên ngành được đào tạo Luật Giáo dục năm

2005 còn quy định, mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, có thể thấy, giáo dục đại học là hoạt động giáo dục ở bậc cao,

là sự tiếp nối của giáo dục phổ thông Không thể đồng nhất giáo dục đại học

Trang 19

trường đại học, bởi nội hàm của khái niệm giáo dục đại học rộng hơn, nó bao gồm giáo dục ở các trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Tuy nhiên, trên thực tế, trong cơ cấu số lượng người theo học giáo dục đại học, những người theo học ở trình độ đại học luôn chiếm số lượng áp đảo, tỷ lệ những người theo học ở trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) bao giờ cũng ít hơn do yêu cầu thi tuyển đầu vào cao hơn, chỉ tiêu của các cơ sở đào tạo về loại đối tượng này cũng ít hơn Chính vì vậy, giáo dục ở trình độ đại học luôn giành được sự quan tâm lớn nhất khi người ta bàn tới giáo dục đại học nói chung và nói đến giáo dục đại học thông thường người ta hay nói tới giáo dục ở trình

độ đại học

Giáo dục đại học bao gồm những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, giáo dục đại học là giáo dục sau trung học phổ thông Đó là

đặc điểm cơ bản do tổ chức UNESCO đưa ra và được thừa nhận chung trên toàn thế giới Giáo dục đại học là sự tiếp nối của giáo dục trung học phổ thông ở một trình độ cao hơn, là một bước tiến mới về chất so với giáo dục phổ thông Giáo dục đại học và giáo dục trung học phổ thông có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giáo dục trung học phổ thông là tiền đề, là nền tảng cho giáo dục đại học, còn giáo dục đại học là sự kế thừa của giáo dục trung học phổ thông, nhờ đó giáo dục là một quá trình liên lục, lâu dài và học tập cũng

vì thế mà trở thành mục tiêu suốt đời của người học

Thứ hai, giáo dục đại học hiện được phát triển theo xu hướng xã hội hoá về hình thức và mở rộng về phạm vi, không còn giới hạn ở giáo dục tinh hoa như đại học truyền thống Trước đây, giáo dục bậc đại học chỉ thu hút

một bộ phận nhỏ người theo học bởi tính chất phức tạp và yêu cầu cao của nó đối với người học Không phải ai cũng đáp ứng đủ điều kiện về năng lực cá nhân, về khả năng tài chính và một số đòi hỏi khác để có thể theo đuổi giáo

Trang 20

dục ở bậc đại học Hơn nữa, những ngành đào tạo của giáo dục đại học không được phong phú và đa dạng như hiện tại, chỉ tập trung ở một số ngành học cơ bản và vì lẽ đó thu hẹp khả năng tiếp cận giáo dục đại học của nhiều người Giáo dục đại học được xem là đỉnh cao của quá trình giáo dục đào tạo và chỉ những thành phần tinh hoa trong xã hội mới có khả năng hưởng thụ nền giáo dục đại học Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cuộc sống đặt ra nhiều yêu cầu mới và trong xu thế đó, giáo dục đại học đã mở rộng cả về quy mô ngành nghề đào tạo cũng như số lượng người được đào tạo Từ chỗ là khu vực của giới trí thức tinh hoa, giáo dục đại học đã dần mang tính đại trà, phổ cập đến người dân trên diện rộng và người ta có nhiều

cơ hội hơn trong việc tiếp cận nền giáo dục bậc cao này

Hai đặc điểm nói trên không hạ thấp yêu cầu cao của tri thức và phương pháp đào tạo đại học, mà đó là bước tiến của kinh tế-xã hội, thể hiện

sự dân chủ hoá đại học và đòi hỏi của dân trí

Thứ ba, giáo dục đại học luôn gắn với giáo dục dạy nghề, là giáo dục dạy nghề bậc cao nhất Mỗi trường đại học đều đào tạo những ngành nghề cụ

thể nhất định Danh mục ngành nghề đào tạo này không cố định, khép kín, mà luôn thay đổi, có tính mở, tuỳ theo yêu cầu của đời sống xã hội Người học theo đuổi giáo dục đại học không chỉ thuần tuý tìm kiếm kiến thức mà quan trọng hơn là trang bị cho mình một nghề nghiệp trong tương lai Việc tách rời giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học sẽ gây khó khăn cho cả cơ sở đào tạo lẫn người học, khi đó giáo dục đại học chỉ là giáo dục kinh viện thuần tuý và

xã hội không thu được lợi ích nào từ giáo dục đại học (trong khi giáo dục đại học là nơi cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội) Mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học cũng là cơ sở nhận thức quan trọng đối với việc QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt là

Trang 21

trong việc tổ chức bộ máy quản lý và sắp xếp cơ cấu nhân sự sao cho phù hợp nhất

Thứ tư, giáo dục đại học luôn gắn chặt cùng nghiên cứu khoa học

Không nghiên cứu khoa học nghiêm túc thì có nghĩa là không phải và không còn là đại học nữa Bản thân giáo dục đại học đã hàm ẩn trong nó ý nghĩa khoa học, nói đến môi trường đại học trước hết là nói đến môi trường nghiên cứu khoa học Trường đại học là nơi nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ khoa học tự nhiên, kỹ thuật cho đến khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu khoa học là một bộ phận không thể tách rời của giáo dục đại học Không thể hình dung môi trường giáo dục đại học mà không có hoạt động nghiên cứu khoa học Giáo dục đại học lấy nghiên cứu khoa học làm cơ sở tồn tại và phát triển, đến lượt mình công tác nghiên cứu khoa học sẽ cho ra đời những sản phẩm phục vụ đắc lực cho hoạt động đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học

Thứ năm, giáo dục đại học mang đậm tính dân tộc, nhưng đồng thời cũng hàm chứa nhiều tính quốc tế Nó là đỉnh cao của tri thức quốc gia, là cửa

ngõ văn hoá, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và là cầu nối đưa tri thức nhân loại của thế giới đến với quốc gia Vai trò của giáo dục quốc gia được đề cao ở hầu khắp các nước trên thế giới và biểu hiện rõ nét nhất của sự

đề cao này chính là thái độ trọng thị của các chính khách, hầu hết các nguyên thủ quốc gia trên thế giới đều chọn trường đại học như một điểm đến lý tưởng trong các chuyến công du để trình bày những bài thuyết trình của riêng họ

Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một khách thể trong hệ thống các khách thể của QLNN Xét từ góc độ quản lý hành chính, giáo dục đại học là một nội dung trong các nội dung của QLNN Xét từ góc

độ hành chính học, QLNN về giáo dục đại học không phải là học thuyết đại

Trang 22

cương về hành chính nhà nước, mà thuộc lý luận về khoa học quản lý hành chính chuyên ngành, gắn với mọi hoạt động có tính chất chuyên môn, nghiệp

vụ Chức năng cơ bản của QLNN đối với giáo dục đại học là hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách đó thông qua hệ thống bộ máy quan chức, công chức và nhân viên hành chính trên cơ sở pháp luật của Nhà nước Giáo dục đại học được xác định là một loại dịch vụ công mà Nhà nước

có trách nhiệm cung ứng cho xã hội, bên cạnh đó còn có sự tham gia của nhiều thành phần khác ngoài Nhà nước Vì vậy, việc thực hiện QLNN đối với giáo dục đại học còn nhằm mục đích ổn định trật tự trong lĩnh vực xã hội này, hạn chế những tác động của các quy luật thị trường, định hướng cho quá trình phát triển của nó phù hợp với sự phát triển của đời sống kinh tế-xã hội trong nước và theo kịp xu thế phát triển của thời đại

Như đã nói ở trên, nhà nước sử dụng nhiều công cụ, phương tiện quản

lý khác nhau để thực hiện chức năng QLNN đối với giáo dục đại học, trong

đó pháp luật được coi là công cụ quan trọng hàng đầu nhờ những thuộc tính tối ưu của nó trong việc quản lý xã hội Việc QLNN về giáo dục đại học chủ yếu dựa vào hệ thống pháp luật để phát triển nền giáo dục đại học là điểm khác biệt quan trọng nhất so với các hoạt động chuyên môn khác của giáo dục đại học như nghiên cứu, giảng dạy QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học chỉ là một nội dung của QLNN bằng pháp luật nói chung Đó là việc Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để tác động lên đối tượng quản lý là

hệ thống các trường đại học nhằm không ngừng đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục, đào tạo, từ đó phát huy vị trí và vai trò của hệ thống các trường đại học trong nền giáo dục quốc dân, góp phần vào

sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn mới

Hoạt động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học được

Trang 23

hiện pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật cũng như bảo vệ pháp luật,

xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của các trường đại học, đảm bảo cho các trường đại học thực hiện tốt hoạt động giáo dục và đào tạo theo đúng thẩm quyền và chức năng của riêng mình Việc tổ chức thực hiện pháp luật nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, giúp cho pháp luật từ văn bản, giấy tờ được hiện thực hoá trong cuộc sống đòi hỏi nỗ lực không chỉ của Nhà nước, mà còn cả nỗ lực của chính các trường đại học, tất cả đều phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật Để đảm bảo cho quá trình QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học được diễn ra thuận lợi, đạt được hiệu quả cao nhất, Nhà nước thông qua các cơ quan QLNN để tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật, đưa hoạt động giáo dục, đào tạo của các trường đại học và hoạt động quản lý của các cơ quan QLNN có thẩm quyền vào khuôn khổ và theo mục tiêu do Nhà nước đặt ra

Như vậy, có thể thấy, vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học có một ý nghĩa hết sức to lớn trong điều kiện phát triển nền kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và đó là một nhiệm vụ rất khó khăn mà Nhà nước phải gánh vác với những thử thách lớn lao Thành công hay thất bại trong hoạt động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học sẽ là yếu tố mang tính quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục đại học nước nhà, thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước đi lên, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.1.2 Đặc điểm của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

Trang 24

QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác hoặc cá nhân có thẩm quyền dựa vào các quy định của pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Hoạt động đó có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học được thực hiện chủ yếu bởi chủ thể là nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân- đó là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Quan hệ giữa các cơ quan QLNN và các trường đại học là mối quan hệ

giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hệ thống các cơ quan QLNN về giáo dục đại học bao gồm:

- Chính phủ thống nhất QLNN về giáo dục, Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa

vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình giáo dục đại học; hàng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục, trong đó có giáo dục đại học

- Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về giáo dục đại học; Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan được chính phủ gia chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội Đây là nhiệm vụ thể hiện rõ chức năng quản lý của Bộ liên quan đến các hoạt động phát triển giáo dục quốc dân

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện QLNN về giáo dục theo thẩm quyền

- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 25

- Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Với tư cách là chủ thể quản lý mang tính công quyền, Nhà nước có các chức năng quản lý cơ bản sau:

Thứ nhất, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động giáo dục và

đào tạo của các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Thứ hai, định hướng sự phát triển của các trường đại học trong nền giáo

Ngoài ra, các chủ thể khác không phải là Nhà nước cũng có thể tham gia vào việc QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học khi được Nhà nước trao quyền

Hai là, đối tượng của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học là trường đại học, trường cao đẳng và viện nghiên cứu thực hiện công tác giáo dục đại học trên cơ sở hợp tác với trường đại học bất kỳ, nhưng chủ yếu là các trường đại học Trường đại học là một loại hình cơ sở

giáo dục, nằm trong hệ thống các loại hình cơ sở giáo dục của trật tự thứ bậc giáo dục quốc dân, bắt đầu từ cấp giáo dục mầm non

Trường đại học được xác định trước hết là một tổ chức mà hoạt động chính là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học Trong bất luận trường hợp

Trang 26

nào, trường đại học cũng không được coi là một tổ chức kinh doanh, hoạt động vì mục đích lợi nhuận Cũng giống như các loại hình cơ sở giáo dục khác, yếu tố phi lợi nhuận là tiêu chí hàng đầu để xác định địa vị của một trường đại học Xuất phát từ chỗ bản thân giáo dục (trong đó có giáo dục đại học) không được coi là hàng hoá thuần tuý trong nền kinh tế thị trường nên trường đại học gắn liền với yếu tố phi lợi nhuận Ngay tại các nước phát triển như Mỹ và Canada, vốn có truyền thống về phát triển các trường đại học tư từ rất sớm và hệ thống các trường đại học tư ở đây có quy mô nhất thế giới thì giáo dục đại học vẫn chưa bao giờ được coi là hàng hoá thuần tuý Tuy có đến 50% trường đại học tư, nhưng số lượng người theo học tại các trường đại học này chỉ chiếm 20% tổng số sinh viên toàn quốc, các sinh viên còn lại phải theo học trường công của các bang và liên bang Điều đó cho thấy dịch vụ đặc biệt này chỉ được cung ứng một cách hạn chế, có giới hạn cho dù nhu cầu học tập và khả năng đáp ứng có thể lớn hơn nhiều Rõ ràng, giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường, nếu được đưa ra cung cấp dưới hình thức hàng hoá thì đó cũng là một loại hàng hoá đặc biệt, được lưu thông theo cơ chế đặc biệt, được cung ứng bởi nhà cung ứng đặc biệt và đối tượng hưởng thụ- người tiêu dùng- cũng hết sức đặc biệt, bởi lẽ sản phẩm của giáo dục đại học là con người có tri thức, trình độ chuyên môn cao, được đào tạo theo một quy trình chặt chẽ với thời gian tương đối dài và chỉ riêng đặc điểm này cũng cho thấy tính chất đặc biệt của “mặt hàng giáo dục đại học”

Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, người ta phân loại các trường thuộc hệ thống giáo dục đại học thành các nhóm nhất định

Dựa vào tiêu chí cơ quan chủ quản, chúng ta có:

- Các trường đại học và cao đẳng trực thuộc sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Trang 27

- Các trường đại học và cao đẳng trực chịu sự quản lý trực tiếp của các

Bộ và cơ quan ngang Bộ khác

- Các trường cao đẳng thuộc thẩm quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Các trường cao đẳng trực thuộc Sở Giáo dục-Đào tạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong số này chủ yếu là các trường cao đẳng sư phạm

- Các trường đại học, cao đẳng chịu sự quản lý của các cơ quan, tổ chức khác

Trên cơ sở phạm vi quản lý, tầm quan trọng và tính chất đào tạo, hệ thống giáo dục đại học bao gồm các loại trường sau:

- Đại học quốc gia: Đại học quốc gia là các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung các chuyên gia hàng đầu trong cả nước Mỗi đại quốc gia bao gồm các thành viên là các trường và khoa trực thuộc Đại học quốc gia do Thủ tướng quyết định thành lập và có quy chế hoạt động riêng

- Đại học vùng: được tổ chức theo khu vực địa lý, có vai trò là trường đại học đầu tàu trong khu vực Mục tiêu của các trường đại học vùng là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong vùng

- Đại học chuyên ngành: đây chủ yếu là các trường đại học đơn ngành, đào tạo các chuyên gia thuộc những ngành nghề chuyên biệt

- Học viện: là các cơ sở giáo dục đại học không chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mà trực thuộc các đơn vị chủ quản khác (hầu hết là các Bộ và cơ quan ngang Bộ)

Trang 28

- Các trường cao đẳng: là cơ sở giáo dục đại học có chức năng đào tạo trình độ cao đẳng

- Trường đại học và cao đẳng bán công: loại hình này không được duy trì trong Luật Giáo dục năm 2005 nữa và đang có xu hướng chuyển đổi các cơ

sở giáo dục đại học bán công sang loại hình tư thục

- Trường đại học và cao đẳng dân lập: là các trường do cộng đồng dân

cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động

- Trường đại học, cao đẳng tư thục: do các tổ chức xã hội- nghề nghiệp,

tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảm đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước

- Trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài: do nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên

Việc thành lập hoặc cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia tách, giải thể nhà trường đối với trường đại học do Thủ tướng quyết định; đối với trường cao đẳng, trường dự bị dân tộc thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; đối với trường cao đẳng nghề thuộc thẩm quyền Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề

Trang 29

Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ sở giáo dục đại học, theo quy định của pháp luật hiện hành, cũng giống như của cơ sở giáo dục ở những cấp đào tạo khác Tuy nhiên, các cơ sở giáo dục đại học còn có những nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù, khác biệt với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, chẳng hạn như nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế-xã hội của địa phương và đất nước; thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Khi thực hiện những nhiệm vụ đó, các cơ sở giáo dục đại học được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, vay tín dụng theo quy định của pháp luật, được quyền liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với sử dụng, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường; được sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật

Ba là, QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học thể hiện

sự đề cao vai trò của công cụ pháp luật trong hệ thống các công cụ, phương tiện Nhà nước sử dụng để quản lý xã hội Pháp luật là một trong

những cơ sở quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động của toàn bộ quyền lực nhân dân cũng như của những bộ phận cấu thành và thực hiện quyền lực nhân dân, của cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân trong thực tế Hơn nữa, pháp luật còn là đại lượng của công bằng, lẽ phải, đáp ứng yêu cầu về tính khách quan, hợp lý, dân chủ và nhân đạo

Trong hoạt động QLNN, Nhà nước sử dụng nhiều hình thức và công cụ khác nhau nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để góp phần mang lại hiệu quả

Trang 30

vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và trên hết, phụ thuộc chặt chẽ vào nhận thức của chủ thể quản lý Trong một thời gian tương đối dài, ở nước ta công

cụ pháp luật không được coi trọng theo đúng nghĩa của nó và do đó đã không phát huy tác dụng Bước sang thời kỳ đổi mới, cùng với những chuyển biến

về tư duy quản lý nói chung, tư duy quản lý trong lĩnh vực giáo dục đại học nói riêng đã có những thay đổi đáng kể Pháp luật đã trở thành công cụ quan trọng hàng đầu trong việc QLNN đối với lĩnh vực giáo dục đại học ở nước ta hiện nay

Pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học là một hệ thống các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này Trong hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục đại học, Luật Giáo dục là văn bản có tính pháp lý cao nhất, là văn bản luật do Quốc hội ban hành Cùng với Luật Giáo dục, còn có các văn bản pháp luật khác (là các văn bản dưới luật) cụ thể hoá các nội dung của Luật Giáo dục liên quan đến giáo dục đại học, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giáo dục đại học, bao gồm các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, các Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Thông tư, Thông

tư liên tịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định, Chỉ thị của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo; Các văn bản pháp luật này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục đại học

Bên cạnh công cụ pháp luật, QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học còn chú trọng phát huy những giá trị tích cực của các quy phạm

xã hội khác trong việc điều chỉnh hành vi của con người, đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao đạo đức

Bốn là, QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược là xây dựng và triển khai thành công quốc

Trang 31

sách giáo dục Giáo dục được nhận thức là quốc sách hàng đầu và phát triển

sự nghiệp giáo dục là một chiến lược lâu dài của nước ta Điều đó được xác định trong các văn kiện của Đảng cũng như các văn bản pháp luật của Nhà nước Tác động vào giáo dục là tác động vào con người ở phương diện phát triển trí tuệ, năng lực của con người

Mục đích quản lý giáo dục nói chung mang tính tổng quát, còn mục đích quản lý giáo dục đại học mang tính cụ thể Mục đích của quản lý giáo dục nói chung ở nước ta là phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển giáo dục quốc dân, phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước, đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Giáo dục đại học có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục đích quản lý luôn là cái mà nhà quản lý muốn hướng tới thông qua hoạt động của mình Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, hoạt động QLNN phải nhằm tạo ra được môi trường tốt nhất để mọi người hưởng thụ nền giáo dục đại học, bảo đảm cho cơ sở giáo dục đại học hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ và bảo đảm thi hành quyền học tập hiến định, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và điều kiện của mỗi người

1.2 Nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học là việc xây dựng

pháp luật nhằm thể hiện ý chí và quyền lực của Nhà nước đối với hoạt động giáo dục đại học, đồng thời bảo đảm thực hiện pháp luật, từ đó phát huy được

vị trí, vai trò của giáo dục đại học trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ quan niệm trên, có thể nói rằng, nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học bao hàm 3 phương diện chính sau

Trang 32

đây: xây dựng pháp luật, sử dụng pháp luật thông qua hoạt động triển khai tổ chức thực hiện pháp luật và thực hiện kiểm tra, thanh tra, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật cũng như xử lý những vi phạm trong việc thực thi hệ thống pháp luật đó Nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học

có được triển khai đạt kết quả hay không phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, tính hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật

Theo quy định tại điều 36 của Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001), Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có giáo dục đại học, về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Cụ thể hoá nguyên tắc đó của Hiến pháp, Điều 14 Luật Giáo dục 2005 đã quy định:

“Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi

cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục” Trong lĩnh vực giáo dục đại học, thông qua công cụ quản lý là pháp luật, Nhà nước thực hiện những công việc cụ thể như sau:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học;

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học;

- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đại học; tiêu chuẩn giảng viên đại học; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường đại học;

Trang 33

việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục đại học;

- Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục đại học;

- Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục đại học;

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại học;

- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đại học;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục đại học;

- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục đại học;

- Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục đại học;

- Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục đại học;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục đại học; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giáo dục đại học

Trong những nội dung nói trên thì việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học có vai trò quan trọng hàng đầu vì đó là cơ cho việc tạo lập và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giáo dục và đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học cũng như hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý

Trang 34

Tóm lại, nội dung QLNN đồng thời cũng là nội dung của hoạt động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học Các nội dung đó rất đa dạng và phức tạp, nhưng tựu trung lại vẫn là 3 nhóm chính: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Các chương sau của luận văn sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu theo những nhóm nội dung chính yếu này

1.3 Những xu hướng QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học trên thế giới

Giáo dục đại học ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có những nét đặc trưng khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước, nhưng có thể thấy rõ 2 khuynh hướng khác biệt như sau: giáo dục đại học các nước phát triển quan tâm đến những thách thức của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức, phát triển “nguồn nhân lực trí thức”, “doanh nghiệp trí thức”, “hệ thống quản lý tri thức”,v.v Trong khi đó, giáo dục đại học ở các nước đang phát triển lại quan tâm đến việc tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, tin học hoá đào tạo và quản lý các trường đại học, phát triển hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, tranh thủ hợp tác quốc tế để tăng cường nội lực của mình,v.v Một điểm dễ nhận thấy ở hầu hết các nước trên thế giới là sự phân biệt giữa trường công và trường tư, tuy nhiên sự phân biệt này phần lớn dựa vào mức độ đóng góp của xã hội (chủ yếu là của người học) đối với nguồn tài chính của nhà trường, chứ không có ý nghĩa về mặt sở hữu, tức là không có nghĩa trường công là hoàn toàn của nhà nước và trường tư thuần tuý là của tư nhân Nói cách khác, dù là trường công hay trường tư thì vẫn luôn nhận được sự hỗ trợ của nhà nước về mặt tài chính

và đương nhiên cả hai mô hình đào tạo này đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, mà trong đó pháp luật là công cụ quan trọng nhất

Trang 35

Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học nhằm tạo điều kiện hội nhập quốc tế nhanh và mạnh hơn nữa, việc tham khảo kinh nghiệm QLNN bằng công cụ pháp luật ở các nước trên thế giới, qua đó có sự nghiên cứu, học hỏi

và rút ra những bài học cần thiết thực sự là một việc nên làm

Nghiên cứu hoạt động QLNN bằng pháp luật đối với lĩnh vực giáo dục đại học tại một số quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể thấy những điểm đáng chú ý sau:

Một là, trong công tác xây dựng pháp luật, hầu hết các nước đều có Luật Giáo dục điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học Luật Giáo dục được

xem là luật chung, quy định những nguyên tắc chung nhất điều chỉnh hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có giáo dục đại học Bên cạnh luật chung còn có các luật chuyên ngành về giáo dục đại học và các luật khác có liên quan, tạo thành một hệ thống pháp luật chặt chẽ và tương đối hoàn chỉnh trong lĩnh vực giáo dục đại học

Chẳng hạn, tại Cộng hoà Liên bang Nga (sau khi Liên Xô tan rã), pháp luật giáo dục đại học nằm trong hệ thống pháp luật giáo dục chung của liên bang, song cũng có vị trí độc lập tương đối Luật Giáo dục Liên bang Nga năm 1992 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ giáo dục cho người dân, đối với đại học công lập thì nhà nước sẽ cấp ngân sách (miễn học phí và cấp học bổng) cho 30% tổng số sinh viên đã qua thi tuyển; số trường đại học công lập còn lại có thu học phí, nhưng đều mang tính chất “phi lợi nhuận”, một số hoạt động khác của trường đại học ngoài chức năng giáo dục thì có thể tuân theo các luật khác ngoài luật giáo dục, nhưng trường đại học vẫn không thể là “tổ chức thương mại” [2, tr.46] Bên cạnh Luật giáo dục chung của liên bang còn có Luật liên bang về giáo dục đại học và sau đại học, trong đó có đề ra những chuẩn quốc gia trong lĩnh vực

Trang 36

này Chức năng cơ bản của pháp luật Liên bang Nga về giáo dục đại học được xác định là: phân định thẩm quyền trong lĩnh vực giáo dục đại học giữa các cơ quan chính quyền trung ương và các cơ quan quản lý giáo dục đại học; bảo đảm và bảo vệ quyền học tập của công dân được quy định trong Hiến pháp; xây dựng và bảo đảm về mặt pháp lý cho các hoạt động giáo dục đại học cũng như sự phát triển tự do trong khuôn khổ pháp luật của các trường đại học; xác định quyền, nghĩa vụ của các thể nhân, quyền hạn và trách nhiệm của các pháp nhân khi tham gia vào các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giáo dục đại học Tính dân chủ trong pháp luật của Liên bang Nga về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng có những điểm đáng ghi nhận: tính dân chủ gắn liền với tính công khai, được thể hiện trong pháp luật của nhà nước

và điều lệ của chính các trường đại học; tính dân chủ không chỉ giới hạn trong nội bộ ngành giáo dục, vai trò giám sát của công dân đối với công tác quản lý giáo dục của nhà nước ngày càng được nâng cao; công dân ngày càng có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia hoạt động giáo dục ở trình độ cao Hoạt động giáo dục đại học tuân thủ nghiêm khắc các nguyên tắc quốc gia trong hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo dục, đặc biệt là nguyên tắc “tự do, đa nguyên trong giáo dục, quản lý giáo dục theo tính chất dân chủ, xã hội-nhà nước Tính tự trị của các cơ sở giáo dục” Có thể nói tinh thần cơ bản có tính chất chỉ đạo trong chính sách quản lý nhà nước của Liên bang Nga đối với nền giáo dục quốc dân, trong đó có giáo dục đại học, chính là tính dân chủ hoá sâu sắc gắn với tính nhân bản và nhân văn, kế thừa và phát huy các truyền thống giáo dục tốt đẹp được xây dựng từ thời Xô viết trước đây, đồng thời thích nghi với những xu thế giáo dục tiến bộ trên thế giới trong hiện tại Một phần nhờ những cải cách liên tục về mặt pháp luật đối với giáo dục đại học nên hiện nay, chất lượng giáo dục đại học của Nga vẫn được thế giới đánh giá cao, nhất là các nước phát triển ở phương Tây

Trang 37

Vương quốc Bỉ áp dụng mô hình quản lý giáo dục kiểu Pháp và cũng

có một hệ thống các đạo luật về giáo dục tương đối hoàn thiện, ngoài luật chung còn có những đạo luật chuyên ngành về giáo dục Pháp luật về giáo dục đại học của Bỉ có tính ổn định cao, đa số văn bản luật này được ban hành từ rất lâu nhưng vẫn có hiệu lực đến ngày nay Có thể kể tên một số luật về giáo dục đại học như Luật về bảo vệ những học vị cấp cao (được ban hành ngày 11/9/1933), Luật bắt buộc sinh viên các trường đại học quốc gia, các cơ sở giáo dục cao đẳng quốc gia tương đương với các trường đại học về việc khám sức khoẻ để phát hiện bệnh lây (ngày 31/12/1949), Luật về giáo dục sư phạm phối hợp (ngày 30/4/1957), Luật về giáo dục nghệ thuật đối với nhiều cấp học, trong đó có bậc đại học (ngày 14/5/1955), Luật về kiểm tra sức khoẻ trong các nhà trường (ngày 21/3/1964), Những quy định cụ thể của pháp luật chuyên ngành cũng xác định rõ đối tượng và phạm vi điều chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tế Ví dụ như Điều 1 của Luật về bảo vệ những học vị cấp cao quy định: “Không có người nào được chấp nhận

để thi học vị phó tiến sĩ nếu người ấy không có một trong những điều kiện được luật phối hợp này quy định về dự thi tốt nghiệp phó tiến sĩ về triết và văn, phó tiến sĩ khoa học, phó tiến sĩ về khoa học tự nhiên và y học, phó tiến

sĩ kỹ sư dân sự hay phó tiến sĩ kỹ sư về nông học; nhà vua quyết định một trong các điều kiện đó mà thí sinh phải thực hiện” (Sự tham dự của nhà vua vào việc quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đại học là một điểm khác biệt của Bỉ vì nước này vẫn duy trì chế độ quân chủ lập hiến, các quy định của pháp luật về giáo dục luôn có sự hài hoà trong việc điều chỉnh quyền hạn và nhiệm vụ giữa nhà vua và chính phủ)

Tại Thái Lan, Luật Giáo dục được ban hành năm 1999 Cơ quan trung ương chuyên trách về quản lý giáo dục có tên là Bộ Giáo dục, Tôn giáo và Văn hoá Bộ này có trách nhiệm phân quyền về quản lý và điều hành giáo dục

Trang 38

liên quan đến các vấn đề về học thuật, ngân sách, tổ chức nhân sự và tổng hợp một cách trực tiếp tới các cơ sở giáo dục, trong đó có các trường đại học Theo quy định của Luật Giáo dục Thái Lan hiện hành, tất cả các cơ sở giáo dục đại học có thẩm quyền cấp văn bằng phải có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động không hạn chế Các trường đại học có thể phát triển hệ thống quản lý và điều hành một cách linh hoạt, tự do về chương trình giảng dạy, dưới sự giám sát của hội đồng nhà trường, phù hợp với Luật cơ sở giáo dục (điều chỉnh hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc tất cả các cấp) Thái Lan cũng đang trong quá trình tổ chức lại hệ thống quản lý giáo dục theo nguyên tắc thống nhất trong chính sách và đa dạng trong việc thực thi, tiến hành phân cấp quản lý tới các trường đại học Pháp luật về giáo dục của Thái Lan cũng dành sự quan tâm đúng mức tới khu vực giáo dục tư nhân, đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học tư nhân Bên cạnh đó, Thái Lan còn có sự kết hợp giữa QLNN về giáo dục đại học với việc quản lý giáo dục về dạy nghề tư nhân

Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều có Luật Giáo dục Nước Mỹ cho tới năm 2000 mới ban hành Luật Giáo dục, còn trước đó hơn 200 năm kể

từ khi lập quốc (1776), nước này đã không có Luật Giáo dục thống nhất trong toàn liên bang để điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học Điều này có thể được lý giải một phần từ sự hình thành các trường đại học ở Mỹ Hầu hết các trường đại học của Mỹ đều do tư nhân, các tập đoàn kinh doanh, thành lập, trong đó nổi tiếng nhất là trường đại học Havard Các khoản kinh phí hoạt động của nhà trường chủ yếu là từ đóng góp của các cá nhân hảo tâm, các cựu sinh viên của trường và của các tổ chức xã hội khác Nhà trường có thẩm quyền cấp văn bằng giáo dục đại học và chất lượng tấm bằng thường gắn liền với tên tuổi của trường, được kiểm định bằng chính cuộc sống Người Mỹ quan niệm rằng xã hội, chứ không phải nhà nước, mới là người có vai trò quyết định giá trị tấm bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Vì lẽ đó, bản thân mỗi

Trang 39

trường đại học phải tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình, tự xây dựng

“thương hiệu” của mình và phải chịu sự giám sát chặt chẽ, sự định giá khắt khe của xã hội Bởi vậy, nhà nước liên bang gần như được giải phóng khỏi trách nhiệm điều chỉnh lĩnh vực giáo dục đại học và do đó, không cần thiết phải ban hành Luật Giáo dục (tuy nhiên, mỗi bang cũng có thể ban hành Luật Giáo dục riêng) Sau này, cùng với sự thành lập Bộ Giáo dục liên bang (1979), vai trò của nhà nước trong việc quản lý giáo dục đã được nhận thức lại và năm 2000, Luật Giáo dục áp dụng thống nhất trong toàn liên bang đã được ban hành

Hai là, trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật, các nước đều có sự phân cấp quản lý mạnh mẽ cho chính quyền địa phương và các trường đại học, ngày càng nâng cao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học Tuy

vậy, nhà nước vẫn giữ quyền kiểm soát và thống nhất quản lý hệ thống giáo dục đại học trong toàn quốc

Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hoá trong lĩnh vực giáo dục, có sự phân cấp và phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền địa phương các bang và các quận trong công tác quản lý giáo dục, đồng thời nền giáo dục của quốc gia này mang tính thị trường rất cao trong hoạt động đào tạo Chính quyền liên bang không trực tiếp quản lý giáo dục đại học mà giao quyền cho chính quyền các bang Mặc dù Hoa Kỳ được thành lập từ năm

1776, nhưng hơn 200 năm sau, vào năm 1979, Bộ Giáo dục liên bang mới được thành lập Cơ quan này chỉ tập trung thực hiện một số chức năng chính như xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục quốc gia; quản lý và điều phối các chương trình trợ giúp của liên bang dành cho công tác giáo dục mà trước đây thuộc chức năng của Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi; quản lý và giám sát các khoản tài trợ dành cho các trường đại

Trang 40

2000 Bộ Giáo dục liên bang của Hoa Kỳ không thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp và toàn diện về các mặt giáo dục đối với toàn bộ hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Chính quyền các bang, các quận và các trường đại học có tính tự chủ rất cao trong việc quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với Luật liên bang và các đạo luật của từng bang Trách nhiệm QLNN về giáo dục thuộc về chính quyền các bang và các quận giáo dục (là các đơn vị hành chính về quản

lý giáo dục), 90% kinh phí cho giáo dục do các bang và các quận giáo dục cấp Các đạo luật và điều lệ liên bang được ban hành nhằm kiểm tra và giám sát các bang trong việc phân cấp nguồn kinh phí này ở từng bang và cho từng đối tượng (là các trường đại học cụ thể); kiểm tra và giám sát nội dung cũng như phương pháp giảng dạy cho sinh viên các trường đại học Trong phạm vi của từng bang, các cơ quan quản lý giáo dục của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn, từ xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển giáo dục của bang đến công tác phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên, nội dung, chương trình đào tạo của các loại hình giáo dục trên cơ sở pháp luật liên bang

và pháp luật của từng bang Bên cạnh đó, các cộng đồng, các cơ quan lập pháp địa phương cũng có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý nhà nước

về giáo dục Các hội đồng bang, mà đứng đầu là Thống đốc bang, có quyền lực thực sự trong việc quyết định những vấn đề về phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục của bang; xem xét và thông qua các đạo luật, các quy định có liên quan đến hệ thống giáo dục của bang mình, trong đó có giáo dục đại học; quản lý tổ chức nhân sự của cơ quan quản lý giáo dục cấp bang, có quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan quản lý giáo dục

đó

Ở Hoa Kỳ, chính quyền địa phương, nơi có trụ sở của trường đại học, còn có vai trò rất tích cực trong việc quản lý giáo dục đại học Chính quyền

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh (2004), “Một số kinh nghiệm phát triển và cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc”, Tạp chí Giáo dục, (84), tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm phát triển và cải cách giáo dục đại học ở Trung Quốc”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2004
2. Nguyễn Như Ất (2005), “Dịch vụ giáo dục ở Việt Nam hiện nay: vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, (8), tr. 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ giáo dục ở Việt Nam hiện nay: vấn đề và giải pháp”, "Tạp chí Thông tin khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Như Ất
Năm: 2005
3. Nguyễn Trần Bạt (2005), Suy tưởng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy tưởng
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005
4. Nguyễn Thị Bình, “Mấy vấn đề về giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Báo Nhân dân, ngày 14/5/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, "Báo Nhân dân
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), Từ Bộ Quốc gia Giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Bộ Quốc gia Giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1999
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Báo cáo tình hình thi hành Luật Giáo dục trong 5 năm 1998-2003 và những nội dung cần sửa đổi, bổ sung đối với các quy định của Luật Giáo dục, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thi hành Luật Giáo dục trong 5 năm 1998-2003 và những nội dung cần sửa đổi, bổ sung đối với các quy định của Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI- Kinh nghiệm các quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI- Kinh nghiệm các quốc gia
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Thống kê giáo dục và đào tạo năm học 2004-2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê giáo dục và đào tạo năm học 2004-2005
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và bộ máy nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2002
18. Phạm Văn Đồng (1999), Về vấn đề giáo dục- đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục- đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
19. Trần Khánh Đức (2003), “Đặc trưng và mô hình quản lý giáo dục ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Thông tin Khoa học và Giáo dục, (102), tr. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng và mô hình quản lý giáo dục ở một số nước trên thế giới, "Tạp chí Thông tin Khoa học và Giáo dục
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2003
20. Trần Ngọc Đường (1998), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
21. Nguyễn Công Giáp (2003), “Thực trạng xã hội hoá giáo dục đại học Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục, (61), tr. 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng xã hội hoá giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Giáp
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w