Cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân là một quá trình tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của Ngân hàng Nhà nư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Minh Tuấn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Như Quỳnh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 5
1.1 Khái lược về quản lý nhà Nước 5
1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước 5
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước 6
1.2 Khái lược về Quỹ tín dụng nhân dân 9
1.2.1 Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân 9
1.2.2 Đặc điểm Quỹ tín dụng nhân dân 11
1.2.3 Vị trí, vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân 12
1.2.4 Các hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 14
1.3 Các hình thức quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân 15 1.3.1 Sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước 15
1.3.2 Sự quản lý của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương 28
1.3.3 Sự quản lý của Uỷ ban nhân dân các cấp 29
1.4 Cơ sở lý luận và Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân 31
1.4.1 Nội dung pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân 31
Trang 41.4.2 Đánh giá việc ban hành và áp dụng Pháp luật về quản lý nhà nước đôi với
QTDND 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 35
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 35
2.1.1 Giai đoạn thí điểm (1995 - 1999) 35
2.1.2 Giai đoạn tiếp tục củng cố và phát triển (2000 - 2012) 37
2.2 Những kết quả trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 41
2.2.1 Hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, Quỹ tín dụng nhân dân Trung Ương và Uỷ ban nhân dân các cấp 41
2.2.2 Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân 45
2.3 Những hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 47
2.3.1 Công tác tham mưu, triển khai văn bản quy phạm pháp luật 47
2.3.2 Quản lý công tác huy động vốn 49
2.3.3 Quản lý hoạt động sử dụng vốn và an toàn vốn 50
2.3.4 Thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực hiện 55
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 63
3.1 Các quan điểm và định hướng đổi mới hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân 63
3.1.1 Đổi mới phù hợp với tiềm năng và định hướng phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011- 2016 63
Trang 53.1.2 Định hướng đổi mới của Chính phủ đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân 643.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân 653.2.1 Đổi mới phương pháp triển khai cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật 653.2.2 Kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao trình độ cán bộ tại Chi nhánh 673.2.3 Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước của Chi nhánh NHNN tỉnh Bắc Ninh đối với các QTDND 693.2.4 Đổi mới phương pháp thanh tra, giám sát các QTDND 703.2.5 Tăng cường vai trò định hướng, hỗ trợ hoạt động cho các QTDND 743.2.6 Đổi mới mô hình Quỹ tín dụng nhân dân 773.2.7 Nâng cao trách nhiệm về cấp và thu hồi giấy phép hoạt động các QTDND theo thẩm quyền 803.2.8 Nâng cao chất lượng thu thập thông tin và tổng hợp báo cáo trên địa bàn 82KẾT LUẬN 87TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Quỹ tín dụng nhân dân: QTDND
2 Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: QTDNDTW
3 Quỹ tín dụng nhân dân khu vực: QTDNDKV
4 Quản lý hành chính nhà nước: QLHCNN
5 Hợp tác xã tín dụng: HTXTD
6 Hợp tác xã: HTX
7 Ngân hàng nhà nước Việt Nam: NHNNVN
8 Ngân hàng trung ương: NHTW
9 Tổ chức tín dụng: TCTD
10 Uỷ ban nhân dân : UBND
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng số 2.1 Tình hình nguồn vốn của uỹ tín dụng nhân dân trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh
39
2 Bảng số 2.2 Tình hình sử dụng vốn của các QTD tỉnh Bắc Ninh 52
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu dư nợ phân theo ngành kinh tế Bắc Ninh 54
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế xã hội nông thôn, Ban
Bí thư Trung ương Đảng đã cho chủ trương thí điểm thành lập mô hình Quỹ tín dụng nhân dân Ngày 27/7/1993 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 390/TTg cho phép triển khai Đề án thí điểm thành lập QTDND Sau hơn 14 năm triển khai đến nay đã thực hiện được mục tiêu hình thành và phát triển
mô hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng trên địa bàn nông thôn QTDND được thành lập và hoạt động chủ yếu ở địa bàn xã, phường, thị trấn
đã khai thác được nguồn vốn tại chỗ góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống của thành viên, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn Những kết quả đã đạt được trong quá trình thí điểm đã khẳng định chủ trương đúng đắn
về phát triển mô hình QTDND
Đảng ta đã khẳng định, QTDND là một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các loại hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống, hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ trước mắt và lâu dài phải củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, với 26 QTDND cơ sở và chi nhánh QTDND Trung ương hoạt động trên khắp các huyện, thành phố trong tỉnh Hệ thống QTDND tỉnh Bắc Ninh đó và đang có những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn
Trang 9Tuy nhiên, qua quá trình hoạt động hệ thống QTDND còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém như: Tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chưa có sự kế thừa và phát triển bền vững; trình độ quản lý, điều hành còn yếu kém; chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Trong khi cơ chế, chính sách đối với QTDND chưa đồng bộ, môi trường pháp lý cho hoạt động QTDND chưa hoàn thiện; công tác kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ QTDND
và của các cơ quan chức năng chưa được coi trọng Những yếu kém, tồn tại
đó đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển hệ thống QTDND; nguy cơ đổ vỡ vẫn còn nhiều tiềm ẩn Trong đó một trong những nguyên nhân chủ yếu là từ việc quản lý của Nhà nước đối với hệ thống QTDND nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, hạn chế và khắc phục những yếu kém để hệ thống QTDND ngày càng hoạt động hiệu quả hơn, phát triển bền vững hơn, phát huy tốt vai trò to lớn của mình, thực sự là người đồng hành cùng bà con nông dân trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài: " Quản lý nhà nước đối với hoạt động
Quỹ tín dụng nhân dân.” làm đề tài luận văn thạc sỹ, với mong muốn nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước; tổ chức, hoạt động và quản trị Quỹ tín dụng nhân dân, qua đó đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết vấn đề trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và chiến lược huy động của ngành trong thời buổi kinh tế thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, luận văn sẽ nghiên cứu để làm sáng tỏ các mục tiêu sau:
- Tổng quan về quản lý nhà nước
- Tổng quan về quỹ tín dụng và một số vấn đề về hoạt động của QTDND
Trang 10- Phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động QTDND trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, nếu hoạt động Quỹ tín dụng chưa đạt hiệu quả cao thì sẽ tìm ra nguyên nhân
- Đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động QTDND phù hợp với thực trạng hoạt động tín dụng
và điều kiện phát triển của Bắc Ninh
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, thống kê số liệu:
Số liệu thu thập từ tài liệu cơ quan quản lý, từ bảng báo cáo quyết toán, bảng tổng kết tài sản, từ tạp chí, tình hình thực tế tại qũy tín dụng nhân dân trên địa bàn tình và các tài liệu khác có liên quan
- Phương pháp phân tích số liệu:
Sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh giữa các số liệu, chỉ tiêu giữa các thời kỳ, phân tích biểu đồ Tất cả đều dựa trên cơ sở các kiến thức đã học
ở trường và số liệu thực tế ở QTDND
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp so sánh
- Các phương pháp của xã hội học pháp luật
- Phương pháp của thống kê xã hội học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước và hoạt động tín dụng của QTDND trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao quát tình hình quản lý, sự phát triển và hoạt động kinh doanh của QTDND trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm
2007 đến nay
5 Kết cấu của luận văn:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với hệ thống
Trang 11quỹ tín dụng nhân dân Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng
nhân dân trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ
thống quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1 Khái lược về quản lý nhà Nước
1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình điều hành các hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ"
Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục
Trang 13tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ
Cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý Nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân là một quá trình tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của Ngân hàng Nhà nước tới các hoạt động tiền tệ và ngân hàng của các QTDND để đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm
Trong mối quan hệ này, chủ thể quản lý là Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là Ngân hàng trung ương và cơ quan thuộc Chính phủ, có thể tác động tới đối tượng bị quản lý thông qua những kế hoạch, chương trình, chính sách, biện pháp và những quyết định hành chính khác [42]
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước cũng là một dạng quản lý nhà nước, vì vậy Quản lý Nhà nước có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ
chức chặt chẽ và tính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước
- Hoạt động Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, tính quyền lực là đặc điểm để phân biệt quản lý nhà nước với các dạng quản lý xã hội khác
- Quyền lực đặc biệt là quyền lực Nhà nước, do chủ thể quản lý nhà nước sử dụng chủ yếu để tác động ra bên ngoài cơ quan nhà nước, mang tính bắt buộc phải thi hành Trong trường hợp cần thiết, chủ thể quản lý nhà nước
có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành
Trang 14- Tính tổ chức chặt chẽ được thể hiện ở một số mặt sau:
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được tổ chức một cách thông suốt
từ Trung ương đến cơ sở, thể hiện tính thứ bậc hành chính chặt chẽ trong tổ chức và hoạt động của nội bộ cơ quan trong toàn bộ hệ thống
Các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Nếu hoạt động không đúng phạm vi quy định là một trong những hành vi làm ảnh hưởng tiêu cực đến tổ chức
Trong quá trình hoạt động các cơ quan Nhà nước phải đảm bảo thực hiện đúng các mối quan hệ: trên, dưới, ngang, dọc theo quy định của pháp luật
Cơ quan nhà nước hoạt động theo quy chế, dựa vào quy chế mẫu của Chính phủ
- Tính mệnh lệnh đơn phương được thể hiện:
Tính mệnh lệnh đơn phương xuất phát từ đặc trưng quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý nhà nước: “quyền năng – phục tùng” Đặc trưng này thể hiện sự không bình đẳng giữa chủ thể và khách thể QLHCNN Sự không bình đẳng được thể hiện:
Chủ thể quản lý nhà nước đơn phương ban hành các mệnh lệnh cá biệt đặt ra các quy định bắt buộc đối với bên kia, buộc bên kia phải phục tùng, đồng thời kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh, quy định ấy
Căn cứ vào quy định của pháp luật để đáp ứng hoặc bác bỏ yêu cầu, kiến nghị khách thể quản lý Trong trường hợp này quyền quyết định vẫn thuộc về ý chí của người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, nếu có sự trùng hợp về ý chí của hai bên thì đó cũng không phải là sự thỏa thuận ý chí
Chủ thể quản lý nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính
Trang 15Trước khi ban hành các quyết định quản lý nhà nước có liên quan trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của khách thể quản lý nhà nước, chủ thể ban hành phải tham khảo ý kiến của khách thể Tham khảo ý kiến không phải là sự thỏa thuận ý chí
Thứ hai: Quản lý nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình , kế
hoạch để thực hiện mục tiêu
Mục tiêu là cái đích mà chủ thể cần phải đạt được ở một thời điểm nhất định, mục tiêu là chức năng cơ bản đầu tiên, là căn cứ để chủ thể đưa ra các hình thức và phương pháp quản lý thích hợp Mục tiêu của quản lý nhà nước
là mục tiêu tổng hợp bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh, ngoại giao Tùy thuộc vào phạm vi quản lý nhà nước của các chủ thể
mà xác định mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu chung của nhà nước Mục tiêu được xác định phải mang tính khách quan, khoa học, khả thi Để thực hiện mục tiêu cần phải vạch rõ lộ trình, chương trình, kế hoạch cụ thể, sát với thực trạng kinh tế - xa hội, hợp với đối tượng quản lý
Thứ ba: Quản lý nhà nước có tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong
điều hành, phối hợp hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức và phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, của cuộc sống con người trong phạm vi quản lý được phân cấp, phân công theo đúng thẩm quyền, theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Chủ động trong quản lý nhà nước là việc chủ thể luôn luôn ở trong trạng thái làm chủ được hoạt động của mình, không để các tình thế khác chi phối Sáng tạo là việc chủ thể có những ý tưởng, tư duy mới, phương pháp làm việc mới với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn, tốt hơn so với tư duy, phương pháp cũ
Linh hoạt là việc của chủ thể quản lý nhà nước ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, xử lý tình huống hành chính nhanh
Trang 16nhạy, phù hợp thực tế, nhưng không trái với quy định của pháp luật
Thứ tư: Quản lý nhà nước có tính liên tục và tương đối ổn định trong tổ
chức và hoạt động
Tính liên tục trong quản lý nhà nước xuất phát từ hoạt động liên tục của khách thể quản lý hành chính nhà nước, xuất phát từ quy trình quản lý nhà nước nói chung và quy trình ban hành, tổ chức thực hiện kiểm tra việc thực hiện quyết định QLHCNN nói riêng
Tính liên tục cần phải bảo đảm tính kế thừa về nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý, đạo lý trong quản lý nhà nước
Tính tương đối trong quản lý nhà nước trước hết phải ổn định về tổ chức bộ máy và nhân sư, về chủ trương, chính sách,… không nên thay đổi liên tục, làm xáo trộn, rối loạn trong quản lý Vì vậy, chủ thể quản lý nhà nước phải bình tĩnh, sang suốt, thận trọng khi đưa ra các quyết định có liên quan dến tính ổn định về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước
Thứ năm: Quản lý nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp
Tính chuyên môn hóa trong quản lý nhà nước xuất phát từ phân công lao động quản lý nhà nước Mỗi bộ phận trong cơ quan, mỗi cán bộ công chức trong từng bộ phận được phân công đảm nhiệm những nhiệm vụ cụ thể phù hợp với chuyên môn mà cán bộ công chức ấy đào tạo Quản lý nhà nước là một nghề mang tính tổng hợp, phức tạp, sáng tạo Vì vậy, cán bộ công chức làm công tác quản lý hành chính nhà nước chẳng những có kiến thức chuyên môn sâu mà còn phải có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực [37]
1.2 Khái lược về Quỹ tín dụng nhân dân
1.2.1 Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân
Ngày 13 tháng 8 năm 2001, Chính phủ đã ra Nghị định số 48 về tổ chức
và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó ta có thể hiểu:
Trang 17" Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống”[5, Điều2]
Trong giai đoạn Quỹ còn được thí điểm thành lập, có 3 cấp đó là Quỹ tín dụng cơ sở, Quỹ tín dụng khu vực và Quỹ tín dụng Trung ương Mỗi Quỹ là một pháp nhân riêng, hoạt động độc lập song được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một hệ thống để điều hòa, phân phối vốn
Hiện nay, QTDND đã được cơ cấu lại theo mô hình gồm QTDND trung ương và các QTDND cơ sở
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của Nhà nước nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên Phạm vi của một quỹ cơ sở thường là địa bàn của một xã, một phường ở nông thôn, do các thành viên là cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện góp vốn Có thể nói quỹ cơ
sở cũng như một ngân hàng, huy động vốn tại chỗ và cho vay các thành viên hoặc người nghèo không phải là thành viên cư trú trên địa bàn hoạt động Từ những quỹ cơ sở này mà quỹ Trung ương được thành lập với chức năng huy động vốn, đại diện cho hệ thống tiếp nhận vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tài trợ cho chương trình tín dụng phát triển nông nghiệp – nông thôn, điều hòa vốn cho các QTDND thành viên và cung cấp các dịch vụ cho toàn hệ thống nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống quỹ tín dụng nhân dân.[11]
Để hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác được tham gia góp vốn vào Quỹ tín dụng nhân dân Trung
Trang 18ương theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010: “ Quỹ tín dụng nhân dân là tổ
chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống" [32, Điều 4]
1.2.2 Đặc điểm Quỹ tín dụng nhân dân
Từ khái niệm và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, có thể rút ra một
số đặc điểm của QTDND như sau:
Thứ nhất: QTDNDN được thành lập do các thành viên (Thể nhân, pháp
nhân) tự nguyện tham gia theo qui định của pháp luật Thành viên tham gia QTDND có quyền sở hữu và quản lý mọi tài sản và hoạt động của QTDND, thành viên vừa là người góp vốn, vừa là người gửi vốn và vay vốn, thành viên được hưởng các dịch vụ và kết quả hoạt động của QTDND
Thứ hai: Phạm vi hoạt động của QTDND chủ yếu ở các địa bàn nông
nghiệp nông thôn, các tụ điểm dân cư gắn với địa bàn hành chính cấp xã phường hoặc liên xã, liên phường, có thể trong phạm vi ngành nghề
Thứ ba: QTDND hoạt động trong một hệ thống liên kết với các QTDND
khác, có hệ thống từ Trung ương đến khu vực (tỉnh) và cơ sở Mỗi QTDND là một đơn vị kinh tế độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thông qua hoạt động điều hoà vốn, tư vấn về kỹ thuật nghiệp vụ, thông tin, đào tạo cán bộ, cơ chế phân tán và an toàn rủi ro, kiểm tra, kiểm soát trong cả hệ thống nhằm đảm bảo hệ thống QTDND phát triển bền vững
Thứ tư: QTDND hoạt động có điều kiện gần và bám sát khách hàng và
thành viên, đây là thế mạnh nhất của QTDND, do đó QTDND có thể nắm bắt được nhu cầu và khả năng của khách hàng và thành viên nhanh nhất so với các Tổ chức tín dụng khác
Trang 19Thứ năm: Qui mô hoạt động, năng lực tài chính của các QTDND thường
nhỏ bé, trình độ quản lý, nhận thức của đội ngũ cán bộ, nhân viên còn hạn chế, bất cập
Thứ sáu: QTDND hoạt động tuân thủ và chịu sự chi phối của Luật Hợp
tác xã và Luật các Tổ chức tín dụng [11]
1.2.3 Vị trí, vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân
Trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước thì nông nghiệp - nông thôn chiếm một vị trí hết sức quan trọng Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5, khoá VII đã đề ra những định hướng cơ bản về mục tiêu, phương hướng, chính sách và các biện pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; trong đó, xác định những yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương lần thứ 5
Nhu cầu vốn cho sản xuất đối với nông nghiệp nông thôn ngày càng lớn
và bức thiết đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Địa bàn nông thôn rộng lớn, yêu cầu sản xuất kinh doanh đa dạng, cần phát huy hoạt động của cả Ngân hàng thương mại và Hợp tác xã tín dụng mới đáp ứng được yêu cầu huy động vốn và cho vay nhất là kinh tế hộ đến tận thôn xã Tuy nhiên các HTXTD ra đời trong thời kỳ bao cấp, xây dựng theo phong trào, tính tự nguyện chưa cao, yếu tố thị trường chưa được quan tâm và cũng chưa tính đến nhu cầu thực tế của nền kinh tế Vì thế, khi Nhà nước tiến hành đổi mới phát triển kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường đi vào hoạt động thay cho cơ chế bao cấp thì các HTXTD này
đã không chuyển hướng kịp với cơ chế mới và không có sự liên kết giúp đỡ lẫn nhau nên lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, hàng loạt HTXTD không
có khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán phải ngừng hoạt động Đến khi
có Pháp lệnh Ngân hàng, HTXTD, Công ty tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã
Trang 20hướng dẫn, điều chỉnh các Hợp tác xã hoạt động theo Luật Trong thời điểm này đã có trên 6000 Hợp tác xã tín dụng không đủ điều kiện đã phải ngừng hoạt động, tập trung thu hồi vốn trả nợ cho dân; trong đó trên 2000 Hợp tác xã tín dụng đã thanh lý, giải thể Đến tháng 6/1993 chỉ có 62 HTXTD, 10 ngân hàng cổ phần nông thôn được điều chỉnh từ gần 100 HTXTD cũ đã được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động là quá ít so với yêu cầu triển khai thị trường tiền tệ, tín dụng ở nông thôn
Mặt khác, ở nông thôn đang xuất hiện các hình thức tín dụng tư nhân, cho vay với lãi suất cao, đó chính là nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất
Tổ chức lại HTXTD theo mô hình mới gọi là Quỹ tín dụng nhân dân nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư, các tổ chức để phục vụ lại chính họ là vấn đề cần thiết nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong nông nghiệp - nông thôn đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ 5 khoá VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng Thành lập Quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình mới góp phần đa dạng hoá Tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn; tạo lập một hệ thống kinh doanh tiền tệ có sự liên kết chặt chẽ bởi lợi ích của mọi thành viên trong hệ thống QTDND, cũng như yêu cầu triển khai thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn
Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng hợp tác, là tổ chức kinh tế đóng vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm và người đầu tư trong phạm vi hoạt động, đã tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho thành viên
và khách hàng gửi vốn và vay vốn, cung cấp các dịch vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện giúp cho thành viên có vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và đời sống
Quỹ tín dụng nhân dân là đầu mối tập trung những nguồn vốn tản mạn,
tiềm ẩn trong dân cư, nhất là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, những người
Trang 21buôn bán nhỏ ở ven đô, để tạo ra quỹ tiền tệ tập trung qua đó cung cấp cho thành viên có nhu cầu về vốn, hỗ trợ cho hệ thống QTDND đảm bảo khả năng chi trả và thanh toán kịp thời và giữ chữ tín với khách hàng
Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ngày một phát triển đã góp phần hạn chế và đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi, nhất là ở nông thôn, những vùng xa xôi hẻo lánh mà các tổ chức tín dụng khác không thể vươn tới được Thông qua quá trình hoạt động của QTDND còn tạo ra môi trường lành mạnh về tiền tệ tín dụng để phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn Quá trình hoạt động của QTDND góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chung, ngoài ra còn giải quyết hài hoà mối quan hệ phân phối giữa nhà nước, QTDND và các thành viên Kết quả kinh doanh của QTDND (nếu có lãi) giúp QTDND thực hiện đầy đủ chính sách thuế đối với nhà nước, ngoài ra QTDND còn giành một phần để tích luỹ nội bộ và chia cổ tức cho thành viên theo vốn góp và kết quả hoạt động [11]
1.2.4 Các hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
Theo quy định tại mục 5 chương IV Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
có thể hiểu hoạt động của QTDND bao gồm:
- Huy động vốn
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
có kỳ hạn của thành viên và ngoài thành viên
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, vay vốn của các tổ chức tín dụng không phải là Quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Hoạt động tín dụng
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay đối với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Việc cho vay hộ nghèo thực hiện theo Điều lệ của Quỹ tín
Trang 22dụng nhân dân, nhưng tỷ lệ dư nợ cho vay đối với hộ nghèo so với tổng dư nợ không được vượt quá tỷ lệ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được cho vay những khách hàng có gửi tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân dưới hình thức cầm cố sổ tiền gửi do chính Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đó phát hành
Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều chỉnh lãi suất và lưu giữ hồ
sơ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện các hoạt động tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và các tổ chức tín dụng khác (trừ các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khác)
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chủ yếu phục vụ các thành viên
1.3 Các hình thức quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
1.3.1 Sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước
Trang 23Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân, mà hiện nay chức năng này do
Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước đảm nhận và hệ thống ngành dọc gồm 64 chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố Công tác quản lý đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân của Ngân hàng Nhà nước được thể hiện ở một số nội dung sau:
- Về công tác xây dựng, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật
Đối với ngành Ngân hàng luôn có cơ chế, chính sách và hướng dẫn riêng rất cụ thể phù hợp với quy mô hoạt động và từng giai đoạn phát triển
của hệ thống QTDND
Song song với việc thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định hoạt động và rất nhiều các văn bản liên quan khác nhằm tạo hành lang pháp lý ban đầu, xây dựng khuôn khổ hoạt động, sự vận hành chung hệ thống Quỹ tín dụng cơ sở trong cả nước
Kết thúc giai đoạn thí điểm, trên cơ sở các quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng, và qua nghiên cứu, tham khảo các chuẩn mực và thông lệ quốc
tế tốt nhất về quản trị, giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định về vốn pháp định đối với các Tổ chức tín dụng, về tổ chức và hoạt động của QTDND; đồng thời Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn Điển hình là Nghị định 48/2001/NĐ-CP, Nghị định 69/2005/NĐ-CP quy định về "Tổ chức
và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân", Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
về "Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng", Quyết định 1328/2005/QĐ-NHNN về "Các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở" Cho đến nay, trong lĩnh vực Ngân hàng, về
cơ bản Quỹ tín dụng nhân dân đã được bình đẳng trong hoạt động và chấp
Trang 24hành pháp luật như các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, trong các loại hình kinh tế: Quỹ tín dụng nhân dân được bình đẳng về mọi quyền và nghĩa
vụ như các Hợp tác xã khác do Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Hợp tác xã điều chỉnh
Cùng với công tác nghiên cứu, ban hành hoặc tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về cơ chế, chính sách, quy chế áp dụng cho các QTDND của Ngân hàng Nhà nước Trụ sở chính (Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng cùng các Vụ, Cục liên quan), công tác phổ biến, triển khai văn bản cũng được Ngân hàng Nhà nước hết sức quan tâm Thực hiện nhiệm vụ được giao, các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức phổ biến và kiểm tra việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Thông qua nhiều hình thức như sao chụp văn bản, tổ chức tập huấn, truyền tin…Hệ thống văn bản pháp luật của ngành, của nhà nước đã được truyền tải một cách rõ ràng và đầy đủ tới các QTDND trong cả nước, qua đó giúp cán bộ tại các QTDND hiểu và nâng cao có ý thức chấp hành pháp luật, đưa hoạt động của quỹ đi đúng hành lang pháp lý, hoạt động an toàn, lành mạnh và hiệu quả Đồng thời, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh , thành phố cũng là đơn vị làm đầu mối tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xây dựng, ban hành các văn bản về hoạt động của QTDND
- Về công tác giám sát tổ chức và cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các QTDND
Theo quy định tại Quyết định số 24/2006/QĐ-NHNN ngày 06/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quy định rõ vai trò quản lý Nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép, chấp thuận việc mở, chấm dứt hoạt động của Sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch, điểm giao dịch của
Trang 25Quỹ tín dụng nhân dân và việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn
Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định cấp
giấy phép đối với Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương; chấp thuận việc mở,
chấm dứt hoạt động của Sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện của Quỹ
tín dụng nhân dân Trung ương Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cấp, thu hồi giấy phép và
chấp thuận việc mở, chấm dứt hoạt động phòng giao dịch, điểm giao dịch và
việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập của các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên
địa bàn [16]
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, công tác cấp giấy phép luôn
được tiến hành thận trọng, đi sâu vào chất lượng chứ không chạy đơn thuần
chỉ chạy theo số lượng Theo đó, chỉ tiến hành cấp giấy phép sau khi đã điều
tra kỹ lưỡng những điều kiện về năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo quỹ, năng lực tài chính cũng như điều kiện phù hợp với thực
tế tại địa bàn Trong đó, đặc biệt quan tâm đến năng lực của bộ máy điều hành
quỹ Người quản trị điều hành có vai trò quyết định, chọn người có trí tuệ, có
đạo đức nghề nghiệp để dẫn dắt hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, là cơ
hội để giữ hoạt động của QTDND ổn định, an toàn và hiệu quả Ngoài các
kiến thức cơ bản về nghiệp vụ giỏi, cần thêm các yêu cầu khác, đó là: nắm
chắc pháp luật về kinh tế, về ngân hàng, về hệ thống QTDND, hiểu biết các
quy định, thể chế của ngành Có khả năng phân tích tình huống trước khi đưa
ra quyết định, đảm bảo quyết định có chất lượng cao nhất nhằm hạn chế
những thiếu sót, sai lầm của cấp dưới
Song song với việc cấp giấy phép thành lập QTDND, Ngân hàng Nhà
nước luôn đặc biệt quan tâm đến việc kiện toàn tổ chức các QTDND, công
tác củng cố nhân sự, cán bộ điều hành tại các Quỹ tín dụng nhân dân cũng
Formatted: Font: 14 pt, Expanded by 0.1 pt
Trang 26được tăng cường trên cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn cả về chuyên môn,
nghiệp vụ, cả về năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có ý
thức tuân thủ pháp luật, có uy tín, tận tuỵ gắn bó với sự nghiệp phát triển của
QTDND Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đề xuất, kiến nghị các
QTDND thực hiện thay thế những cán bộ có phẩm chất, năng lực yếu kém,
từng bước hạn chế tình trạng kiêm nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt Tại
nhiều địa phương, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố đã chỉ đạo
các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xây dựng quy hoạch cán bộ trình cấp uỷ,
chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho cán bộ đang làm việc tại QTDND
được học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cũng
như cho các cán bộ tại các QTDND chuẩn bị thành lập đáp ứng đủ tiêu
chuẩn chuyên môn theo quy định
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Nhà nước luôn giám sát chặt chẽ
về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, theo đó phối hợp chặt
chẽ với các Bộ Ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc xử
lý, kiên quyết thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các quỹ tín dụng
nhân dân có những biểu hiện vi phạm như: hoạt động sai mục đích đã được
ghi trong điều lệ và các nội dung hoạt động đã được ghi trong giấy phép; hoặc
có những biểu hiện vi phạm pháp luật mà Ngân hàng Nhà nước xét thấy
không thể tiếp tục duy trì hoạt động; hoặc một số quỹ hoạt động yếu kém, có
nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán không thể củng cố
vươn lên được…
- Về công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các QTDND
Là một loại hình tổ chức tín dụng nên trong quá trình hoạt động Quỹ tín
dụng nhân dân cũng sẽ gặp phải những rủi ro phổ biến của một tổ chức tín
dụng như: rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro đạo đức, tài
sản… Tuy nhiên, so với các loại hình tổ chức tín dụng khác, Quỹ tín dụng
Formatted: Font: 14 pt
Trang 27nhân dân thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro, đổ vỡ hơn bởi những đặc thù riêng biệt của hệ thống này, đó là:
Thứ nhất: Các QTDND hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho
vay đối với các thành viên ở các khu vực nông nghiệp, nông thôn là nơi mặt bằng kinh tế, trình độ còn thấp, sản xuất, kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro (do phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan như thời vụ, thiên tai, giá cả…); Trong khi đó quy mô hoạt động, năng lực tài chính của các QTDND thường nhỏ bé, trình độ quản lý, nhận thức của đội ngũ cán bộ, nhân viên còn hạn chế, bất cập [19]
Thứ hai: Cơ sở vật chất nhìn chung còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ khó
đảm bảo các điều kiện về an toàn kho quỹ, giao thông, liên lạc không thuận lợi gây khó khăn cho hoạt động [11]
Thứ ba: Các QTDND là các pháp nhân độc lập về kinh tế, hoạt động
riêng lẻ trên địa bàn nhiều vùng khác nhau nhưng lại có cùng một tên gọi, chung một biểu tượng, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động kinh doanh, đồng thời khả năng “miễn dịch”, tự bảo vệ của mỗi QTDND còn rất hạn chế Vì vậy khi một QTDND gặp khó khăn thì khả năng lây lan sang các QTDND khác trong hệ thống là rất cao, nếu không có giải pháp xử lý kịp thời thì nguy cơ đổ vỡ dây truyền trong hệ thống là khó tránh khỏi[11]
Trước thực tiễn phát triển của hệ thống QTDND cũng như thách thức, khó khăn mà hệ thống này phải đối mặt trong quá trình hoạt động, việc tạo lập
ra môi trường hoạt động an toàn và ổn định cho các QTDND là hết sức cần thiết Do đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống QTDND đóng vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần đảm bảo an toàn cho từng QTDND và cả hệ thống QTDND đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
Luật ngân hàng quy định thanh tra ngân hàng là thanh tra chuyên ngành
Trang 28về ngân hàng, thuộc bộ máy của Ngân hàng nhà nước, đây là một công cụ quan trọng để Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác 5 năm sau ngày thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Ban thanh tra ngân hàng trực thuộc ngân hàng quốc gia (tiền thân của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước ngày nay) cũng đã được thành lập bởi một Nghị định của Chính phủ - Nghị định số 169/NĐ-CP ngày 12/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ Trải qua hơn 5 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, hệ thống Thanh tra ngân hàng nhà nước đã lớn mạnh không ngừng cả về tổ chức bộ máy, nhân
sự, quy mô và chất lượng hoạt động Đây là một cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng có bộ máy hoàn chỉnh nhất (từ Trung ương tới các chi nhánh tỉnh, thành phố), quy mô biên chế lớn nhất (khoảng 700 người) và nguồn lực hoạt động đồ sộ nhất, với phương thức, quy trình, các công cụ, kỹ năng, năng lực thanh tra giám sát ngày càng phát triển
Mô hình tổ chức quản lý bằng công cụ thanh tra, giám sát ngân hàng được thể hiện tổng quát qua sơ đồ sau:
Các chi nhánh NHTM tỉnh, TP
Thanh tra, giám sát chi nhánh NHNN
Các NHTM
Cơ sở
Trang 29Hiện nay theo quy định của Chính phủ, Thanh tra, giám sát Ngân hàng được tổ chức hệ thống từ Trung ương đến địa phương Tại Trung ương có Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; tại 64 tỉnh, thành phố có Thanh tra chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, trực thuộc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng Theo đó, việc giám sát, thanh tra trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác Ngoài ra, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng còn thực hiện chức năng thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép thành lập
và hoạt động của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác
Đối với các tổ chức tín dụng nói chung và các QTDND nói riêng tại mỗi địa phương chịu sự thanh tra, giám sát trực tiếp của thanh tra, giám sát ngân hàng (TTGSNH) thuộc bộ máy Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố Thanh tra chi nhánh Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm quản
lý, chỉ đạo hoạt động thanh tra của Giám đốc chi nhánh NHNN trên địa bàn, đồng thời chịu sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo đó, đối với các QTDND nói riêng, thanh tra, giám sát chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm:
- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra trực tiếp (thanh tra tại chỗ) đối với các QTDND trên địa bàn theo định kỳ, đột xuất Công tác thanh tra hiện nay
Trang 30chủ yếu là đánh giá sự tuân thủ của các QTDND đối với các quy định của Luật và các văn bản quy phạm pháp luật Theo đó hoạt động của thanh tra ngân hàng đã hướng vào các vấn đề trọng tâm: quản trị điều hành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, đảm bảo an toàn vốn, tài sản, an toàn kho quỹ, xử lý nợ quá hạn, quản lý tài chính, Qua đó có thể thấy được toàn bộ những ưu nhược điểm và tồn tại trong công tác chấp hành những cơ chế, quy chế, luật pháp, đánh giá tình trạng của QTDND trong một thời gian nhất định Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra đã yêu cầu các QTDND kịp thời chỉnh sửa, khắc phục các tồn tại, vi phạm và phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát nội bộ để ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động[38]
Công tác thanh tra, giám sát đã bắt đầu chuyển từ chỉ thực hiện “thanh tra tuân thủ” sang kết hợp với “thanh tra rủi ro”, “thanh tra tổng hợp”; giám sát từ xa và cảnh báo sớm đang được coi trọng và nâng cao chất lượng Thanh tra giám sát ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố cũng thực hiện việc giám sát hoạt động của các QTDND thông qua hệ thống thông tin báo cáo, chương trình giám sát từ xa Nội dung giám sát chủ yếu là việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của QTDND, chất lượng tài sản, khả năng sinh lợi của QTDND Thông qua giám sát, yêu cầu các QTDND có biện pháp đảm bảo duy trì các tỷ lệ an toàn trong hoạt động, nâng cao chất lượng tài sản Có Hiện nay hoạt động giám sát từ xa được tiến hành hàng tháng và được thực hiện qua mạng máy tính, kết quả hoạt động giám sát từ xa còn có tác dụng hỗ trợ tốt để Thanh tra Ngân hàng thực hiện công tác thanh tra tại chỗ
Công tác kiểm soát đặc biệt đối với quỹ tín dụng được thực hiện nghiêm túc, tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước xử lý nghiêm các vi phạm
và các cá nhân có liên quan nhằm tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Về công tác định hướng, hỗ trợ hoạt động cho các QTDND
Trang 31Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện, định hướng và hỗ trợ hoạt động cho các QTDND
Dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, cuối năm 2005 đã thành lập Hiệp hội QTDND, nhằm thực hiện vai trò đại diện vào bảo vệ thành viên trước pháp luật, tham gia với các cơ quan nhà nước về các chính sách đối với
hệ thống, tổ chức đào tạo cán bộ, tư vấn về luật pháp, cơ chế chính sách, trợ giúp về nâng cao trình độ và ứng dụng công nghệ thông tin cho các hội viên Nhằm củng cố nhiệm vụ của QTDTW trong việc điều hòa vốn trong hệ thống, cho vay đối với các QTDND cơ sở trên địa bàn đồng thời đảm bảo khả năng chi trả cho các QTDND gặp khó khăn, Ngân hàng Nhà nước quy định
về sử dụng vốn của QTDTW như sau: bảo đảm ưu tiên đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của các QTDND cơ sở thành viên; việc cho vay đối tượng khác, tức ngoài hệ thống không được vượt quá 50% tổng nguồn vốn hoạt động Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện hỗ trợ QTDNDTW thông qua hình thức tái cấp vốn với thời hạn phù hợp để Quỹ trung ương hỗ trợ thanh khoản cho Quỹ cơ sở Trong trường hợp đặc biệt, khi QTDTW không
có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho các QTDND cơ sở trên địa bàn, thực hiện ủy quyền của Thống đốc, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực tiếp thực hiện nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn đối với QTDND cơ sở, nhằm hỗ trợ các quỹ đảm bảo khả năng thanh toán, đưa hoạt động của quỹ an toàn và ổn định Hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các QTDND nhằm mục đích đảm bảo vốn khả dụng, sự vận hành trôi chảy, hiệu quả của hệ thống và để thực hiện trách nhiệm của mình với tư cách là “Người cho vay cuối cùng”
- Về công tác đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ
Năng lực và trình độ cán bộ thấp sẽ không thể giúp QTDND một mặt hoạt động đúng theo quy định của pháp luật và mặt khác vươn lên cạnh tranh
Trang 32so với các ngân hàng thương mại khác được Con người là yếu tố quyết định mọi thành công, vì thế QTDND sẽ bị tụt hậu nhanh chóng nếu không có được đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ Bởi vậy trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QTDND Việc hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo cán bộ QTDND được thực hiện một cách bài bản và có hệ thống
Thông qua Hiệp hội QTDND, hỗ trợ tư vấn và cung cấp các phần mềm
về công nghệ thông tin cho các QTDND, thông qua hoạt động tín dụng, đã tư vấn về quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…
Trong những năm qua, nhiệm vụ đào tạo chuẩn hóa cán bộ của hệ thống QTDND theo Quyết định số 31/2006/QĐ-NHNN ngày 18/7/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước (Vụ Các TCTD Hợp tác) lên kế hoạch triển khai thực hiện, đến đầu quý 3/2009 đã chính thức được chuyển giao cho Hiệp hội QTDND Việt Nam Theo đó, Hiệp hội QTDND chịu trách nhiệm phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Ngân hàng Nhà nước thực hiện xây dựng chương trình cụ thể về công tác hướng dẫn nghiệp vụ, đào tạo, đào tạo lại cán bộ làm việc trong hệ thống QTDND nhằm nâng cao kiến thức về nghiệp vụ ngân hàng, thường xuyên bổ túc các nghiệp vụ mới về chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ, đối ngoại…để đội ngũ cán bộ đủ trình độ triển khai các nghiệp vụ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập Từ năm 1999 đến nay, công tác đào tạo nghiệp vụ QTDND được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với hình thức Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn kinh phí đào tạo (giai đoạn từ 1999 đến 2002)
và hỗ trợ một phần kinh phí (giai đoạn từ 2003 đến 2007) Đội ngũ cán bộ QTDND được đào tạo đã phát huy tốt kiến thức chuyên môn được trang bị, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu của Chỉ thị 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị về củng cố, hoàn
Trang 33thiện và phát triển hệ thống QTDND
Từ năm 2008, để các QTDND dần dần độc lập và tiếp cận thị trường, không ỷ lại vào Ngân hàng Nhà nước, công tác hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ QTDND được thực hiện căn cứ vào yêu cầu đào tạo nghiệp vụ mà các QTDND đăng ký, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố làm đầu mối tổng hợp nhu cầu gửi Vụ Các Tổ chức tín dụng Hợp tác (hiện nay là Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân) để có kế hoạch tổ chức các lớp đào tạo Theo đó, các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm phối hợp với Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân, Học viện ngân hàng (phía Bắc), Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh (phía Nam) tổ chức các lớp đào tạo cán
bộ cho QTDND theo kế hoạch được giao
Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố làm đầu mối tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố xây dựng chiến lược quy hoạch, đào tạo,
sử dụng và quản lý cán bộ QTDND nhằm thực hiện tiêu chuẩn hóa các chức danh chủ chốt như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, Kế toán trưởng, Trưởng ban kiểm soát và cán bộ nghiệp vụ của QTDND, bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Về công tác thông tin báo cáo
Qua nhiều giai đoạn đổi mới, cải tiến, hệ thống mẫu biểu báo cáo đã có
xu hướng gọn nhẹ hơn, đã loại bỏ được nhiều chỉ tiêu báo cáo thống kê trùng lặp, vì vậy giảm được số lượng chỉ tiêu báo cáo mà các QTDND phải gửi đến Ngân hàng Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thông tin của các đơn vị Nếu như trước đây, số lượng chỉ tiêu báo cáo mà các đơn vị phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước các cấp là hơn 32.000 chỉ tiêu, thì theo chế độ thông tin báo cáo hiện hành (thực hiện theo Quyết định số 477/2004/QĐ-NHNN ngày 28/4/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành
Trang 34Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước
và các tổ chức tín dụng và Quyết định số 1747/2005/QĐ-NHNN ngày 01/12/2005 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Chế độ báo cáo thống kê
áp dụng đối với các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 477), Ngân hàng Nhà nước chỉ còn quy định khoảng 3.500 mã chỉ tiêu báo cáo Tuy số lượng chỉ tiêu báo cáo giảm nhiều nhưng vẫn đảm bảo thu thập được các thông tin cơ bản, phản ánh khá đầy đủ các mặt hoạt động của các QTDND, đáp ứng yêu cầu về chỉ đạo, điều hành của Ngân hàng Nhà nước
Với sự nỗ lực và chủ động khắc phục khó khăn về tổ chức cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ tin học của Ngân hàng Nhà nước và các QTDND, công tác thống kê đã có bước đổi mới cơ bản, giảm tải phần lớn các thao tác thủ công trong công tác báo cáo thống kê, đồng thời có tính bảo mật cao Các quy định về báo cáo công tác định kỳ được quy định rõ ràng về nội dung cho từng loại báo cáo (báo cáo tuần, tháng, quý, 6 tháng đầu năm và báo cáo năm), có phân biệt rõ ràng giữa nội dung báo cáo của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước với nội dung báo cáo của các tổ chức tín dụng nói chung và hệ thống QTDND nói riêng, tạo thuận lợi cho việc tổng hợp, đánh giá tình hình hoạt động của các đơn vị Đồng thời, theo sự phân cấp trong việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố làm đầu mối tiếp nhận, phân tích, tổng hợp báo cáo của các QTDND trên địa bàn Định kỳ tổng hợp truyền file báo cáo về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cung cấp thông tin giúp Thống đốc nắm bắt khá đầy đủ, kịp thời các mặt hoạt động ngân hàng, đặc biệt là nắm bắt những vấn đề phát sinh trong hoạt động ngân hàng ở các tỉnh, thành phố, trên cơ sở đó kịp thời chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương, góp phần đảm
Trang 35bảo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước
1.3.2 Sự quản lý của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
Do hoạt động của QTDND chủ yếu ở khu vực nông thôn nên quy mô hoạt động của QTDND nhỏ, huy động vốn tương đối khó khăn; mục tiêu hoạt động chủ yếu tương hỗ giữa các thành viên và không vì mục tiêu lợi nhuận nên tiềm lực tài chính hạn chế, khả năng tự bảo vệ của Quỹ tín dụng nhìn chung còn yếu; các khoản cho vay chủ yếu phục vụ khu vực nông nghiệp - nông thôn nên chứa đựng nhiều rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng Bởi vậy, đối với các QTDND, muốn đáp ứng yêu cầu thường xuyên có tiền mặt trả tiền gửi cho khách hàng mà quỹ khả dụng thấp, một giải pháp duy nhất là thực hiện sự liên kết với nhau hỗ trợ lẫn nhau tiền mặt qua tổ chức trung gian
đó là QTDTW Trong hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, tại một Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở có vốn tiền mặt tạm thời chưa sử dụng đem gửi vào QTDTW để tạo nguồn đáp ứng chi trả của quỹ tín dụng cơ sở khác theo
cơ chế cho vay điều hòa vốn Tại QTDTW, nhận tiền gửi của quỹ tín dụng này cho vay quỹ tín dụng khác, thực chất là tập trung tiền mặt ở các quỹ tín dụng tạm thời chưa sử dụng đem cho vay các quỹ tín dụng có nhu cầu chi trả trước cho khách hàng
Để cho hoạt động của cả hệ thống QTDND hiệu quả và an toàn thì trước hết cần phải xác định rõ vai trò lãnh đạo, đầu mối của QTDTW Hiện nay, số vốn do các QTDND cơ sở đóng góp vào QTDTW mới chỉ chiếm tỷ trọng 7,45% tổng số vốn điều lệ Do đó, Nhà nước đã phải hỗ trợ 83 tỷ đồng, tương đương 72,8% Còn lại là phần đóng góp của các ngân hàng thương mại nhà nước (khoảng gần 20%) Với cơ cấu vốn như trên, hiện nay QTDTW là một tổ chức tín dụng chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước và chuyển tải những định hướng hoạt động cho các QTDND cơ
sở [34]
Trang 36Do đó, QTDTW là một tổ chức hợp tác do các QTDND cơ sở xây dựng nên để tương trợ và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống QTDND QTDTW là một đầu mối của hệ thống QTDND và giữ vai trò điều hòa vốn cho các QTDND cơ sở thành viên Đến nay, trong cả nước có
25 chi nhánh QTDTW ở các tỉnh làm nhiệm vụ điều hòa vốn trong toàn hệ thống, thực hiện cho vay các QTDND cơ sở trên địa bàn, đồng thời, đảm bảo khả năng chi trả cho các QTDND gặp khó khăn, với những dự án vốn vay trung và dài hạn của các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp, QTDTW
đã phổ biến và triển khai đến các QTDND có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện cần thiết [34]
1.3.3 Sự quản lý của Uỷ ban nhân dân các cấp
Quản lý nhà nước đối với Quỹ tín dụng nhân dân ở mỗi cấp chính quyền là khác nhau Do đó trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền cũng khác nhau Cụ thể:
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với QTDND theo những nội dung sau:
Phối hợp với NHNN và các Bộ, ngành có liên quan chỉ đạo, đôn đốc các QTDND hoạt động tại địa phương thực hiện Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Chỉ đạo và giám sát việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các QTDND cơ sở, QTDND Trung ương hoặc chi nhanh QTDND Trung ương có trụ sở đóng trên địa bàn tỉnh Tạo điều kiện giúp đỡ các QTDND trong việc xử lý các vướng mắc trong quá trình hoạt động
Quyết định giải thể bắt buộc đối với những QTDND cơ sở vi phạm pháp luật
Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý theo thẩm quyền các hành vi
vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của QTDND và của thành viên QTDND
Trang 37Đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách nhằm phát triển hệ thống QTDND
Chỉ đạo ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giám sát, giúp đỡ QTDND triển khai thực hiện phương án củng cố, chấn chỉnh hoạt động, đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự phát triển an toàn, hiệu quả của QTDND trên địa bàn
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển QTDND ở địa phương mình
Xem xét đề nghị của ủy ban nhân dân xã, phương, thị trấn để có văn bản chấp thuận hay không chấp thuận QTDND cơ sở
Chỉ đạo các Ban, ngành có liên quan trong việc xử lý những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động của QTDND
Giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo, các hành vi vi phạm pháp luật về QTDND; bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của QTDND trong phạm vi, quyền hạn được giao
Chỉ đạo ủy ban nhân dân xã , phường, thị trấn giám sát, giúp đỡ QTDND
cơ sở triển khai thực hiện phương án củng cố, chấn chỉnh hoạt động, đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự phát triển an toàn, hiệu quả của QTDND trên địa bàn
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với QTDND cơ sở được tổ chức và hoạt động trên địa bàn theo các nội dung sau:
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập QTDND cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 38Xem xét Đề án thành lập và phương án hoạt động QTDND cơ sở của các sáng lập viên về việc đồng ý hay không đồng ý thành lập QTDND cơ sở Trường hợp đồng ý phảo có văn bản đề nghị ủy ban nhân dân cấp huyện về việc thành lập QTDND cơ sở
Có trách nhiệm tham gia xem xét bố trí cán bộ quản trị, kiểm soát, điều hành của QTDND cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ của QTDND cơ sở làm việc ổn định, hiệu quả
Chỉ đạo các Ban, ngành có liên quan trong việc xử lý những tồn tạo, vướng mắc trong hoạt động của QTDND cơ sở
Giám sát, giúp đỡ QTDND cơ sở triển khai thực hiện phương án củng
cố, chấn chỉnh hoạt động đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn, hiệu quả của QTDND trên địa bàn; chịu trách nhiệm về những hậu quả do tập thể hoặc cá nhân mình quản lý gây ra cho QTDND cơ sở [38]
1.4 Cơ sở lý luận và Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
1.4.1 Nội dung pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân là một tổ chức tín dụng, hoạt động theo sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng Theo đó: Luật Các tổ chức tín dụng quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Luật này áp dụng đối với các đối tượng sau đây: Tổ chức tín dụng; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; Tổ chức,
Trang 39cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng
Theo Quy định của Luật các tổ chức tín dụng: Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài
chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Trong đó: Quỹ tín dụng nhân dân là tổ
chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống
Luật các tổ chức tín dụng quy định cụ thể về điều kiện cấp Giấy phép Thành lập và hoạt động của Tổ chức tín dụng Trong khi đó đối với điều kiện cấp Giấy phép Thành lập và hoạt động của QTDND lại do quy định của NHNN Tương tự như vậy, trong luật Các Tổ chức tín dụng có quy định về cơ cấu tổ chức và quản trị điều hành của Tổ chức tín dụng là Hợp tác xã, trong luật Hợp tác xã cũng có quy định này Do đó có sự chồng chéo trong quy định của pháp luật
Ngoài ra, trong hoạt động của QTDND còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật: Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Thanh tra năm 2010 , Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, NHNN, các Bộ có liên quan, UBND như: Các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của NHNN, Nghị quyết của UBND về việc cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của QTDND; về Tổ chức và hoạt động của QTDND;
về Quy định tiêu chuẩn của thành viên, người điều hành QTDND; Quy chế quản lý vốn, hướng dẫn xây dựng Điều lệ QTDND
Trang 40Có thể nói, do QTDND là một tổ chức tín dụng nên chịu sự điều chỉnh của nhiều loại văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật do tính chất hoạt động, cơ cấu tổ chức của loại hình này
1.4.2 Đánh giá việc ban hành và áp dụng Pháp luật về quản lý nhà nước đôi với QTDND
Chúng ta có thể thấy, ý thức chấp hành và thi hành pháp luật ở Việt nam chưa cao điều này có lý do xuất phát từ trình độ phát triển còn thấp của
xã hội Việt nam Nó thể hiện bởi ý thức còn tuỳ tiện, coi thường pháp luật của người dân Việt Nam Ngay cả những cơ quan ban hành hay thực thi pháp luật nhiều khi cũng vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi ý thức trên Điều đó được thể hiện như các văn bản quy phạm pháp luật nhiều khi ban hành tuỳ tiện, không đúng luật, không đồng bộ, có khi chồng chéo và mâu thuẫn nhau Hay các văn bản quy phạm pháp luật không có tính khả thi hay tính khả thi không cao Những ý thức trên và biểu hiện của nó tạo cơ chế dung túng cho sự tuỳ tiện, không chấp hành pháp luật, luật pháp không phù hợp đẫn đến rủi ro pháp lý trong hoạt động rất cao Một môi trường pháp lý như vậy đã và sẽ không thể tạo điều kiện thuận lợi cho các QTDND phát triển
Hiện nay hệ thống QTDND đang chịu sự quản lý nhà nước của nhiều
cơ quan quản lý khác nhau cũng như của nhiều các văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luậ khác nhau Đây là một điều thuận lợi cung là điều khó khăn cho hoạt động của QTDND bởi hoạt động của QTDND là hoạt động liên quan đến tiền tệ- ngân hàng, là một trong những hoạt động có tính rủi ro cao
và ảnh hưởng tương đối lớn đến sự phát triển kinh tế Do vậy với sự quản lý chặt chẽ sẽ tạo sự an toàn trong hoạt động Tuy nhiên cũng không tránh khỏi
sự chồng chéo trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chịu ảnh hưởng của những văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật nhiều khi
đã lỗi thời, không còn phù hợp mà chưa kịp chỉnh sửa