Đặc điểm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác này 25 1.2.1.. Vị trí, vai t
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
hà thị tuyến
phổ biến pháp luật cho ng-ời nông dân nông thôn
và đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện
xây dựng nhà n-ớc pháp quyền
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THỊ TUYẾN
PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN
VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG ĐIỀU KIỆN
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí úc
HÀ NỘI - 2011
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN
VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
8
1.1 Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật 8 1.1.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật 8 1.1.2 Mục đích, yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 9 1.1.2.1 Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật 9 1.1.2.2 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật 12 1.1.3 Chủ thể và đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật 17 1.1.4 Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật 19 1.2 Đặc điểm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho
người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số và
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác này
25
1.2.1 Đặc điểm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người
nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
25
1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
35
Trang 41.3 Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trong thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền
38
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
45
2.1 Đặc điểm điều kiện Chính trị- kinh tế- xã hội đối với công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông
thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
45
2.2 Thực trạng công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho người
nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
trong thời gian qua
53
2.2.1 Thực trạng về công tác giáo dục pháp luật cho người nông
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
53
2.3 Đánh giá thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
trong thời gian qua
77
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN CỦA
VIỆC TĂNG CƯỜNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
84
3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc tăng cường công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
84
3.2 Phương hướng cụ thể đối với việc tăng cường công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và
đồng bào dân tộc thiểu số
85
Trang 53.2.1 Xây dựng, hoàn thiện thể chế về công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào
3.2.3 Phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ, thực hiện nghiêm
túc giáo dục công dân trong nhà trường
89
3.2.4 Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
90
3.2.5 Phát huy sức mạnh, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
90
3.2.6 Kiểm tra, giám sát; định kỳ sơ kết, tổng kết việc tổ chức
thực hiện kế hoạch
91
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng vào
dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời gian tới
3.3.4 Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc thực hiện hương
ước, quy ước tại cộng đồng dân cư
101
3.3.5 Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua luật tục, phong tục
tập quán
104
3.3.6 Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của các
luật sư, luật gia
108
Trang 63.3.7 Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDPL : Giáo dục pháp luật HĐND : Hội đồng nhân dân PBGDPL : Phố biến, giáo dục pháp luật UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩac
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một trong những công tác quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) PBGDPL là chiếc cầu nối và là phương tiện không thể thiếu trong việc nâng cao tri thức pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội, mặt khác Người quan tâm đặc biệt đến giáo dục ý thức tiến bộ cho nhân dân trong đó bao gồm ý thức về pháp luật, Người kêu gọi:
"Mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc xây dựng nhà nước" Người cũng cho rằng chấp hành pháp luật là nghĩa vụ cao cả của công dân và đòi hỏi công dân phải cùng nhau ra sức giữ gìn trật tự, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V chỉ rõ: "Các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể phải thường xuyên giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật" [10] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội của đường lối đổi mới toàn diện đất nước khẳng định rõ vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật (GDPL):
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước để kể cả các trường phổ thông, đại học, của các đoàn thể nhân dân Cán bộ quán lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức pháp luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện
Trang 10pháp để giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân [11]
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác PBGDPL càng có ý nghĩa quan trọng và được quan tâm nhiều hơn ở mọi cấp, mọi ngành Công tác PBGDPL tốt sẽ giúp mọi người hiểu biết pháp luật, chấp hành pháp luật và luôn có ý thức: "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật", góp phần tích cực trong ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững ở từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: "Phát huy dân chủ đi đôi với gĩư vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật" [15]
Thực hiện Chỉ thị số 32CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Trung ương Đảng về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân", chương trình PBGDPL của Chính phủ từ năm 2008-
2010 và Nghị quyết liên tịch số 01 ngày 07/9/1999 về việc phối hợp PBGDPL cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người Chương trình 212 với đề án "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2008- 2012" trong những năm qua, chính quyền và ngành tư pháp các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện Lực lượng cán bộ làm công tác PBGDPL được kiện toàn, củng cố, ngày càng đảm bảo về số lượng và chất lượng Hình thức và phương pháp tuyên truyền ngày càng phong phú không ngừng được cải tiến phù hợp với từng địa phương Góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, từng bước ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, công cuộc công nghiệp
Trang 11húa, hiện đại húa và thực hiện thắng lợi mục tiờu: "Xõy dựng Nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam của nhõn dõn, do nhõn dõn, vỡ nhõn dõn"
Tuy nhiờn, bờn cạnh những mặt tớch cực và thành tựu đó đạt được, cụng tỏc PBGDPL cũng cũn nhiều tồn tại, hạn chế như: Đội ngũ cỏn bộ làm cụng tỏc này cũn hạn chế, nội dung tuyờn truyền chưa đầy đủ, hỡnh thức, phương phỏp tuyờn truyền chưa mang lại hiệu quả cao Vỡ vậy, việc nghiờn
cứu đề tài, "Tuyờn truyền, phổ biến, giỏo dục phỏp luật cho người dõn nụng thụn và đồng bào dõn tộc thiểu số", mang tớnh cấp thiết, khụng những về lý
luận, mà cũn là đũi hỏi của thực tiễn hiện nay Đặc biệt là trong giai đoạn nước ta đang cú chủ trương xõy dựng nhà nước phỏp quyền XHCN, xõy dựng nụng thụn mới cho vựng nụng thụn, vựng dõn tộc thiểu số
Là người trực tiếp tham gia cụng tỏc tuyờn truyền PBGDPL cho người dõn nụng thụn và đồng bào dõn tộc thiểu số ngay từ khi được tuyển dụng vào Phũng Tư phỏp UBND huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Húa trờn cơ sở cỏc kiến thức tiếp thu được trong quỏ trỡnh theo học khúa đào tạo cao học luật, tụi chọn
đề tài "Phổ biến phỏp luật cho người nụng dõn nụng thụn và đồng bào dõn tộc thiểu số trong xõy điều kiện dựng nhà nước phỏp quyền" làm luận văn
tốt nghiệp của mỡnh
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Trong nhiều năm qua, nghiên cứu vũ cụng tỏc tuyờn truyền, PBGDPL cũng đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu Chẳng hạn nh-:
- "Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giỏo dục phỏp luật", Nxb
Văn húa dõn tộc, do Bộ Tư phỏp - Chương trỡnh phỏt triển Liờn hợp quốc,
- "Tăng cường năng lực phỏp luật tại Việt Nam- giai đoạn 2", Dự ỏn
VIE/98/001 năm 2005;
Trang 12- "H-íng dén nghiÖp vô phæ biÕn, gi¸o dôc ph¸p luËt", do Nhµ xuÊt b¶n T- ph¸p, Hµ Néi Ên hµnh n¨m
- "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
và xây dựng con người mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục lý luận,
- "Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam", Luận án
phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai;
- "Giáo dục pháp luật cho dân tộc Khơme Nam Bộ (qua thực tiễn An Giang)", Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Bền;
Lăk - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Trầm
- "Bàn về giáo dục pháp luật" của phó tiến sĩ Trần Ngọc Đường -
Dương Thị Thanh Mai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
Trang 13- "Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hoàng
- "Xã hội hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình mới" của Hồ Viết Hiệp (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000)
- "Xây dựng lối sống theo pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2001, v.v
Tuy nhiên các tài liệu này hoặc mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra khái niệm và lý thuyết về công tác này, hoặc nếu có thì chỉ nghiên cứu trong một phạm vi địa phương nhất định mà chưa bao quát được thực trạng về PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm
vi cả nước Do đó việc nghiên cứu về vấn đề về tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta là rất cần thiết Điều này sẽ được đề cập một cách thấu đáo trong luận văn ở những chương tiếp theo
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số để đề xuất những giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trang 14- Làm rõ các khái niệm, các đặc điểm, mục đích và yêu cầu của công tác tuyên truyền, PBGDPL nói chung và đặc trưng của công tác tuyên truyền PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân công tác tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề: "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong xây dựng nhà nước pháp quyền"
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và công tác PBGDPL, đặc biệt là các đề án về PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo cáo, các số liệu thống kê của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác tuyên truyền PBGDPL
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: lịch sử, lôgíc,
hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội
5 Những đóng góp mới của luận văn
Trang 15- Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận về PBGDPL cho người dân nông thôn và các dân tộc ít người ở miền núi
- Phân tích đánh giá thực trạng PBGDPL, đồng thời rút ra những kinh nghiệm về PBGDPL cho cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc ít người ở miền núi
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường PBGDPL cho cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc ít người ở miền núi
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nói chung, người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta nói riêng Thông qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào công tác tuyên truyền PBGDPL trong thời kỳ đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về công tác pháp luật và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho
người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay,
Trang 16Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản của việc tăng
cường phổ biến giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
PBGDPL là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và GDPL
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của nó
- Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước Trong các văn bản của ta, nghĩa này được sử dụng nhiều hơn nghĩa hẹp
Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức pháp tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
Cả cụm từ PBGDPL có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
- Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường
mà không phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ công chức) PBGDPL bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác PBGDPL:
Trang 18+ Định hướng công tác PBGDPL
+ Lập chương trình, kế hoạch PBGDPL;
+ Áp dụng các hình thức PBGDPL;
+ Triển khai chương trình kế hoạch PBGDPL;
+ Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, sơ kết, tổng kết công tác PBGDPL, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận…về công tác PBGDPL
Trong luận văn này, cụm từ PBGDPL được dùng cả hai nghĩa:
Trong: "Hình thức phổ biến giáo dục pháp luật", PBGDPL có nghĩa hẹp
Trong: "Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật", PBGDPL có nghĩa rộng: 1.1.2 Mục đích, yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.2.1 Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật
- Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh Tuy rằng bản chất pháp luật của nhà nước ta là rất tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng và mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Những quy định của pháp luật đó dù tốt đẹp bao nhiêu chăng nữa mà không được nhân dân biết đến thì vẫn là những trang giấy "Ngủ yên không làm rung động không khí"
Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm
và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ Những người này luôn theo sát những quy định pháp luật mới ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số lượng đối này không phải là nhiều Trong điều kiện trình độ dân trí còn chưa cao, chưa đồng đều, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
Trang 19cho nên các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật
PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân
- Hình thành lòng tin vào pháp luật cho đối tượng
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật Pháp luật được xây dựng là để bảo
vệ cho quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện
Tạo lập niềm tin vào pháp luật và cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng là PBGDPL để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, tuyên truyền về những mặt thuận lợi và khó khăn phức tạp của việc thực hiện và áp dụng pháp luật, những mặt ưu điểm và hạn chế của quá trình điều chỉnh pháp luật
Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thỏa mãn hết, phản ánh hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó tất yếu sẽ có một số ít không được thỏa mãn Chính các yếu tố hạn chế và mặt trái của các quy định pháp luật càng tạo nên
sự cần thiết của công tác PBGDPL để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng
Trang 20tình ủng hộ pháp luật Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội
- Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng
Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận cấu thành của đời sống pháp luật bên cạnh lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật Không có một hoạt động nào của con người lại có thê thực hiện ngoài ý thức con người Cũng không có một văn bản pháp luật, một quan hệ pháp luật nào có thể thực hiện ngoài tâm lý pháp luật và tư tưởng, quan niệm pháp luật của con người
Sự tồn tại và vận động của pháp luật trong xã hội liên quan chặt chẽ với tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật
Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó tâm
lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật Tâm lý pháp luật là các cảm xúc, tâm trạng, xúc cảm, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, thiếu tính hệ thống,
ví dụ: tình cảm đối với vấn đề công bằng, nỗi sợ hãi trước hình phạt, sự đồng tình hay phản đối với bản án mà Tòa án đã tuyên cho bị cáo Thái độ quan tâm, phẫn nộ hay trung lập lãnh đạm, thờ ơ đối với các hành vi vi phạm pháp luật…đều là những biểu hiện đa dạng, nhạy cảm về tâm lý pháp luật của các
cá nhân Tâm lý pháp luật chịu sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên từ các yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, tôn giáo, tâm lý, tình trạng sức khỏe học vấn, tài chính, các mối quan hệ gia đình,
xã hội…
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái
lý luận, quan điểm khoa học về pháp luật Đó là sự phản ánh, luận giải trong
tư tưởng pháp luật bao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống nhà nước và pháp luật như: vai trò, vị trí, chức năng pháp luật, cách thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật; quan điểm về các loại nguồn pháp luật; các quyền và nghĩa vụ pháp lý…
Trang 21Giữa tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động lẫn nhau So với tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật là bộ phận bền vững hơn, bảo thủ hơn Đồng thời tâm lý pháp luật dưới sự tác động của đời sống xã hội cũng dao động, trong nhiều trường hợp lại thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, chỉ có điều thay đổi theo hướng nào, tích cực hay tiêu cực
PBGDPL không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang
có hiệu lực mà còn phải lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời ủng
hộ, khuyến khích các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi bất hợp pháp PBGDPL nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người đối với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân
1.1.2.2 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật
- Yêu cầu chung đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật
+ Đề cao tính Đảng trong PBGDPL:
Pháp luật và đường lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật Do đó, PBGDPL cũng chính là phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng
Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới Nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được khẳng định Do đó, công tác PBGDPL bao giờ cũng phải đề cập tính Đảng
PBGDPL có thể là phổ biến các văn bản QPPL, có thể tuyên truyền về việc thực hiện và áp dụng pháp luật, phổ biến từ cái chung đến cái cụ thể đều
Trang 22phải đề cao tính Đảng Sự lơ là, coi thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí, phiến diện Bởi vì, đường lối, chính sách của Đảng bao giờ cũng phản ánh quy luật khách quan của quá trình vận động
xã hội, nêu lên những yêu cầu đòi hỏi và đường lối phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội Pháp luật cụ thể hóa đường lối đó, nhưng không phải là cụ thể hóa tất
cả, chi tiết hóa đầy đủ thành các quy định để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Mặt khác, các quan hệ xã hội luôn luôn biến đổi, vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và việc tuyên truyền PBGDPL phải lấy đường lối, chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho các hoạt động đó
+ Đảm bảo tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản PBGDPL có đặc thù riêng không giống với việc tuyên truyền phổ biến
về văn hóa văn nghệ, Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hóa văn nghệ người
ta có thể nhân cách hóa, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục
vụ cho mục đích của họ
PBGDPL khác với các loại hình PBGDPL khác ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự chung được Nhà nước ban hành theo một trình tự thủ tục do luật định, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó Do đó, PBGDPL phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, đảm bảo tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản
- Bảo đảm tính đại chúng: Phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng PBGDPL không những phải xuất phát từ đối tượng được phổ biến, họ đang thiếu cái gì mà còn phải phù hợp với trình độ văn hóa, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc…và sử dụng ngôn ngữ đại chúng, hành văn giản dị, ngắn gọn
Chọn được hình thức phù hợp:
Hình thức DGPL còn phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế
xã hộ nhất định, do đó khi PBGDPL cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế của nơi tiến hành PBGDPL
Trang 23Bảo đảm tính liên tục, tính hệ thống trong việc PBGDPL Bảo đảm tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống pháp luật, trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến văn bản Điều đó giúp đối tượng hiểu vấn đề sâu sắc hơn Bảo đảm tính liên tục nghĩa là theo phương châm: mưa dầm thấm lâu; việc PBGDPL phải được tiến hành liên tục, có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào
Gắn việc PBGDPL với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Điều đó, một mặt phát huy tác dụng của PBGDPL, mặt khác làm tăng hiệu quả PBGDPL
Tóm lại, trong rất nhiều hình thức như vậy, khi tiến hành PBGDPL cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc kết hợp đan xen các loại hình thức
- Yêu cầu đối với người làm công tác PBGDPL
+ Có kiến thức pháp lý nhất định:
+ Có nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác PBGDPL
PBGDPL là một hoạt động mang tính chất xã hội, đối tượng phục vụ
là quảng đại quần chúng nhân dân, do đó một trong các yêu cầu đầu tiên và hết sức quan trọng của người làm công tác PBGDPL là có tinh thần nhiệt tình, tận tụy với công tác
Tinh thần nhiệt tình trong công tác PBGDPL được thể hiện là không quản ngại khó khăn, gian khổ; luôn phấn khởi, hăng say trong công tác, lấy công tác PBGDPL làm niềm vui, niềm say mê; nó không đơn thuần là trách nhiệm được giao phó mà việc PBGDPL cho nhiều người, nhiều đối tượng với chất lượng và hiệu quả là niềm vui của người làm công tác PBGDPL
Người làm công tác PBGDPL còn cần phải tận tụy với công việc, luôn phấn khởi phục vụ cho mọi đối tượng, không quản ngại đối với những vấn đề mới, văn bản pháp luật mới; bản thân luôn phải cố gắng học tập, phấn đấu
Trang 24vươn lên; tích lũy kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, kiến thức chuyên ngành, tài liệu, số liệu, dẫn chứng, chứng minh minh họa để hoàn thành công việc được giao
+ Có khả năng nói và viết:
PBGDPL là truyền đạt thông tin pháp luật và giải thích pháp luật cho người khác, chính vì thế ngôn ngữ nói và viết đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của người làm công tác PBGDPL
Sự kết hợp giữa khả năng nói và viết trong người làm công tác PBGDPL sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác
+ Có khả năng hòa đồng và giao tiếp:
Làm công tác PBGDPL cũng là một công tác vận động quần chúng,
có không đơn thuần là đi thông tin và giải thích pháp luật cho các đối tượng được tuyên truyền
Trước khi thực hiện công tác PBGDPL, người làm công tác PBGDPL cần phải biết đối tượng của mình là ai, họ cần gì, cần ở mức độ nào, công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh vực pháp luật nào và mình phải quan hệ công tác với họ như thế nào?
PBGDPL là một hoạt động mang tính chất hai chiều, không đơn thuần
là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác PBGDPL mà còn bao gồm cả phản hồi của đối tượng được tuyên truyền Họ
có lắng nghe thông tin về pháp luật hay không? Đổng thời, họ có thể đặt câu hỏi hay thể hiện chính kiến về việc giải thích pháp luật đúng hay không đúng của người giải thích? Sự cọ xát hai chiều về cùng vấn đề được trao đổi sẽ làm cho công tác PBGDPL đạt chất lượng và hiệu quả cao
Chính các yếu tố được nêu và phân tích trên đòi hỏi người làm công tác PBGDPL phải có khả năng hòa đồng và giao tiếp
Trang 25+ Biết tích lũy tư liệu, tri thức
Hoạt động PBGDPL vừa mang tính thời sự vừa mang tính lâu dài Chỉ
có thể tham gia vào hoạt động PBGDPL khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật Để đạt được các điều kiện đó thì người làm công tác PBGDPL cần phải tích lũy tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua để so sánh; đường lối, chính sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và thế giới
+ Có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền:
Hiểu được tâm lý học tuyên truyền chính là hiểu được các quy luật tâm lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật của các đối tượng được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành PBGDPL đối với các đối tượng Trong quá trình PBGDPL còn phải nắm bắt được sự phản ứng, sự tiếp nhận của họ như thế nào về nội dung được tuyên truyền
Sau khi tuyên truyền, PBGDPL cho một loại đối tượng, chủ thể tuyên truyền còn phải biết nghe dư luận xã hội và sự phản ứng tích cực, tiêu cực của các đối tượng được tuyên truyền về nội dung được phổ biến
Tất cả những động thái như vậy, người làm công tác PBGDPL đều phải nắm bắt để dự liệu, để chuẩn bị hành trang cho mình Sự chuẩn bị về kiến thức cho công tác phổ biến, giáo dục là cần thiết, đồng thời người làm công tác PBGDPL còn phải hiểu biết trạng thái tâm lý khác nhau của các đối tượng được tuyên truyền, đó chính là tâm lý học tuyên truyền mà người làm công tác PBGDPL cần phải có
+ Tùy từng vị trí công tác, địa bàn hoạt động, cần phải có những hiểu biết về xã hội, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền nhất định
Pháp luật luôn gắn với đời sống xã hội, nó quan hệ mật thiết tới các hiện tượng khác của xã hội như đạo đức, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền
Trang 26Pháp luật thực chất là các quy tắc xử sự trong các quan hệ xã hội được Nhà nước thừa nhận, do đó nó có mối liên hệ với các phong tục, tập quán khác Chính vì thế khi làm công tác PBGDPL ở từng vùng miền, ở mỗi dân tộc của đất nước, người làm công tác PBGDPL cũng cần phải biết được phong tục tập quán của dân tộc đó và miền vùng đó, để so sánh, để giải thích,
để phân biệt
Những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng sẽ được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật để mọi người tôn trọng thực hiện, mặt khác nhiều quy định của luật pháp khi ban hành đã bao hàm những phong tục, tập quán tốt đẹp
Ngược lại, những phong tục, tập quán còn lạc hậu, bảo thủ thì khi tuyên truyền, PBGDPL cũng cần phải lưu ý kết hợp giải thích có ngọn ngành cho nhân dân để họ vừa tôn trọng pháp luật, vừa hiểu biết thêm về mối quan
hệ giữa pháp luật và phong tục, tập quán, từ đó hạn chế, bài trừ, xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu
1.1.3 Chủ thể và đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật
Trong hoạt động PBGDPL những người (cá nhân, tổ chức) theo chức năng của mình tham gia vào việc truyền thụ phổ biến pháp luật như giảng dạy, trình bày, giải thích pháp luật gọi là chủ thể, những người thụ hưởng, học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là đối tượng
Trang 27Việc xác định chủ thể PBPL có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng PBPL thì chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động PBPL đều tác động một cách có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng cần được phổ biến Trên cơ sở đó, chủ thể xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động PBPL của đối tượng cũng như các yêu cầu, đòi hỏi khách quan đối với chủ thể PBPL trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để tiến hành PBPL một cách có hiệu quả nhất
- Về đối tượng PBPL
Vấn đề đối tượng của PBPL có mối quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi
lẽ chủ thể khi tiến hành hoạt động PBPL thì phải xác định đối tượng là ai, cơ quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp ra sao Việc xác định đúng đối tượng thì chủ thể mới lựa chọn hình thức, nội dung và phương pháp thích hợp Chẳng hạn, nếu đối tượng là CBCC, là người thành thị thì phải vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức PBPL khác với người dân nông thôn và đồng bào dân tộc ít người, có như vậy mới mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác PBPL
Như vậy, đối tượng PBPL có thể là cá nhân công dân, hay cơ quan tổ chức hoặc một nhóm cộng đồng dân cư trong xã hội được tiếp nhận tác động của các hoạt động PBPL một cách trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể PBPL tiến hành nhằm đạt được mục đích đặt ra
Ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm
2012 Quyết định này quy định:
Tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho sáu nhóm đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức; người dân thành phố, người dân nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; cán bộ, chiến
sĩ trong lực lượng vũ trang; thanh thiếu niên; người sử dụng lao
Trang 28động, người lao động trong các doanh nghiệp; người nước ngoài ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài [6]
1.1.4 Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
- Nội dung PBGDPL
Việc xác định nội dung của PBGDPL là vấn đề đặc biệt quan trọng Bởi lẽ nội dung PBGDPL quyết định hiệu quả của công tác PBGDPL Hay nói cách khác, trên cơ sở mục đích và đối tượng mà xác định nội dung PBGDPL một cách thiết thực và hiệu quả
Từ trước tới nay chưa có một văn bản pháp quy nào quy định về phạm
vi nội dung PBGDPL Tuy nhiên, theo quan điểm của bản thân tôi thì nội dung PBGDPL nói chung là một phạm vi rộng lớn bao gồm kiến thức pháp luật cơ bản như lý luận khoa học về pháp luật, các ngành luật, các văn bản pháp luật thực định Ngoài nội dung của PBGDPL còn bao hàm các thông tin
về việc thực hiện pháp luật, về việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế…và các vấn đề nghiên cứu về điều tra xã hội học pháp luật Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân như thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật, các quy định và thủ tục để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và cá nhân
Tại Điều 32 Dự thảo Luật PBGDPL có quy định:
Điều 32 Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật Nội dung PBGDPL bao gồm:
1.Văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam ban hành hoặc thông qua, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước
2 Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc là một bên ký kết, tham gia
Trang 293 Thông tin về hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật:
a, Thông tin liên quan đến việc xây dựng dự thảo các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam ban hành hoặc thông qua, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước
b, Thông tin về thực tiến tuân theo, thi hành, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
c, Thông tin phản hồi, dư luận xã hội về hoạt động tuân theo, thi hành, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật [5]
Tuy Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục chưa được thông qua, nhưng với
tư cách là một cá nhân công dân, một luật gia tôi đồng tình với nội dung quy định như trên
Trên thực tế, việc xác định nội dung PBGDPL phải dựa trên nhu cầu, điều kiện, đặc điểm của đối tượng giáo dục mới có hiệu quả Trên phương diện lý luận thì việc xác định nội dung PBGDPL do chủ thể quyết định Vì nội dung đó phát sinh từ nhu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, từ yêu cầu của việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Ngoài ra, còn phải căn cứ vào thực trạng ý thức pháp luật của người dân, điều kiện và khả năng tiếp thu của họ để xác định nội dung giáo dục từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cộng nhiều nội dung nhỏ để thực hiện nội dung phong phú đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực pháp luật hơn
- Hình thức, phương pháp PBGDPL
Để đối tượng được PBGDPL tiếp nhận được tri thức pháp luật từ đó làm biến đổi về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung của PBGDPL không thể tự nó đi vào nhận thức Vấn đề là ở chỗ cần phải thông qua các phương thức truyền tải thông tin, các hình thức giao tiếp giữa chủ thể giáo dục vào đối tượng giáo dục khác nhau
Trang 30Việc chủ thể PBGDPL lựa chọn đúng hình thức và phương pháp phù hợp với đối tượng có ý nghĩa quyết định hiệu quả của công tác này Giữa hình thức, phương pháp và nội dung PBGDPL có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động lẫn nhau Hình thức và phương pháp làm cho việc truyền tải nội dung thấm sâu vào nhận thức của đối tượng, nội dung đến lượt nó càng trở nên hoàn thiện hơn, thông qua việc truyền tải thông tin để bổ sung chương trình nội dung PBGDPL
Hiện nay có rất nhiều hình thức để thực hiện tuyên truyền, PBGDPL,
đó là tuyên truyền PBGDPL qua nhà trường, qua báo chí, mạng lưới truyền thanh cơ sở, qua hoạt động hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý và tư vấn pháp luật… Mỗi hình thức tuyên truyền PBGDPL đều có những đặc thù và kỹ năng riêng Chúng ta có thể tham khảo một số hình thức cơ bản sau:
+ Tuyên truyền miệng trong PBGDPL
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu
là phổ biến, giới thiệu các quy định pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghe, hướng cho người nghe hành động theo các chuẩn mực
pháp luật
Tuyên truyền miệng pháp luật có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức tuyên truyền khác; lồng ghép với các hình thức tuyên truyền khác và là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các hình thức tuyên truyền pháp luật Tuyên truyền miệng pháp luật là hình thức chủ yếu được thực hiện thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; là biện pháp chủ yếu của PBGDPL thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo nói, báo hình, qua mạng lưới truyền thanh cơ sở
+ PBGDPL qua mạng lưới truyền thanh cơ sở
So với các hình thức phổ biến, giáo dục khác, hình thức PBGDPL qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có những lợi thế như: Có khả năng truyền tin
Trang 31nhanh, kịp thời; Gần gũi, thân thiết với người dân ở cơ sở; Hoàn toàn chủ động
về thời gian: Có thể lựa chọn thời gian phát thanh một cách phù hợp với thực tế tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân ở địa phương để buổi phát thanh có tác dụng cao; Chủ động trong việc lựa chọn nội dung; Có khả năng tác động tới nhiều đối tượng trong cùng một thời gian, phạm vi tác động rộng; Có thể thực hiện phát thanh được nhiều lần; Tiết kiệm được thời gian, công sức
và tiền của vì không phải tập trung dân tại một điểm để phổ biến pháp luật
+ PBGDPL qua báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống
xã hội, báo chí ở Việt Nam gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện
kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy
tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
+ PBGDPL qua mạng internet:
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên mạng Internet là một hình thức tuyên truyền hiện đại nhằm truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung các quy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời, tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu Có nhiều cách thức khác nhau để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet, dưới đây là một số mô hình, cách thức tuyên truyền phổ biến
Ưu điểm của hình thức này là có thể hướng tới phổ biến pháp luật cho nhiều đối tượng, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau như học sinh, sinh viên, cán
bộ, công chức, doanh nhân, công nhân… Đây là một lợi thế lớn của Internet
so với các hình thức tuyên truyền, PBGDPL khác
+ PBGDPL qua xét xử tại Tòa án:
Giáo dục pháp luật qua hoạt động xét xử được ghi nhận trong Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, bằng hoạt động của mình:
Trang 32Tòa án giáo dục cho mọi người ý thức tôn trọng pháp luật, rèn luyện thói quen tuân thủ pháp luật, cần làm cho mọi người tin rằng bất cứ sự vi phạm pháp luật nào cùng sẽ bị Tòa án và xã hội lên án, giáo dục mọi công dân ý thức tham gia vào hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm [36]
Giáo dục pháp luật qua hoạt động xét xử là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có chủ định và có kế hoạch của các chủ thể giáo dục (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Thư ký tòa án, Giám định viên) đến các đối tượng giáo dục (những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa) nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, trạng thái xúc cảm, tình cảm pháp luật đúng đắn là cơ sở cho hành vi, ứng xử phù hợp với yêu cầu của pháp luật
+ PBGDPL thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở:
PBGDPL thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở là việc các Hòa giải viên bằng hoạt động hòa giải của mình hướng dẫn, giải thích và cung cấp các kiến thức pháp luật, tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật
+ Lồng ghép PBGDPL qua hoạt động Tư vấn pháp luật:
Tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch
vụ pháp lý giúp cho các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của một điều luật, một văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những quy định pháp luật có liên quan mà còn là việc sử dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm của các chuyên gia pháp luật Như vậy, người thực hiện
tư vấn phải sử dụng lao động trí óc của mình để đưa ra một lời khuyên, giúp khách hàng có một hướng giải quyết đúng đắn
Trang 33+ PBGDPL qua Trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn và một số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn khác theo quy định của pháp luật Mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực hiện công bằng xã hội
+ PBGDPL qua câu lạc bộ pháp luật:
Câu lạc bộ pháp luật được xác định là một hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật có hiệu quả, phù hợp với mọi đối tượng và địa bàn dân cư khác nhau Thực tiễn những năm qua cho thấy, mặc dù số lượng Câu lạc bộ pháp luật được thành lập chưa nhiều, nhưng tác dụng, hiệu quả, sức lan tỏa tích cực của mô hình này là không nhỏ trong đời sống cộng đồng dân cư Điều này được khẳng định trước hết vì Câu lạc bộ là nơi quy tụ, tập hợp đông đảo thành viên tham gia nhằm giao lưu, học hỏi, tạo một diễn đàn, sân chơi bổ ích và lành mạnh để cùng trao đổi, nắm bắt kiến thức pháp luật và vận dụng pháp luật
+ Biên soạn sách pháp luật:
Sách pháp luật là một loại tài liệu phổ biến pháp luật Phổ biến pháp luật thông qua văn hóa đọc của người đọc sách là hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật đặc thù Đặc trưng của hình thức này là truyền bá những nội dung, kiến thức pháp luật thiết yếu trong đời sống cho mọi người thông qua việc đọc sách Người dân có thể chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp cận kiến thức pháp luật qua việc đọc sách, nghiên cứu sách để đáp ứng nhu cầu của bản thân
Trang 34+ Thi tìm hiểu pháp luật:
Thi tìm hiểu pháp luật là hình thức thi do cơ quan nhà nước, các tổ chức, các doanh nghiệp tổ chức nhằm động viên, khuyến khích đối tượng tìm đọc, nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đối tượng và nâng cao dân trí pháp lý
Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL, là cầu nối chuyển tải những nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hóa pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả
Thi tìm hiểu pháp luật là một trong những hình thức tuyên truyền, PBGDPL hấp dẫn, có hiệu quả cao, được sử dụng nhiều
1.2 Đặc điểm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số và quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về công tác này
1.2.1 Đặc điểm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
Giáo dục là "quốc sách hàng đầu", là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta Nhà nước " thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình nội dụng kế hoạch giáo dục GDPL là một chương trình và kế hoạch của sự nghiệp giáo dục nói chung ở nước ta, giáo dục ở nước ta là thống nhất, không
có nền giáo dục cho từng tỉnh hoặc thành phố và vì vậy, GDPL không có "con đường"đi riêng cho mỗi tỉnh thành Giáo dục nói chung và GDPL nói riêng ở từng miền, từng vùng, địa phương không nằm ngoài cái "chung" đó, song thực tế thực hiện giáo dục chỉ ra tính phong phú đa dạng của công tác quan trọng này Để công tác giáo dục được thực hiện có hiệu quả cần xác định rõ đặc điểm của GDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở những vùng, miền, địa phương có điều kiện kinh tế- văn hóa - xã hội đặc biệt khó khăn
Trang 35Đặc điểm thứ nhất: Đối tượng GDPL ở đây là người nông dân nông thôn và đồng bào sân tộc thiểu số sống trên phạm vi cả nước Việt Nam
Như vậy, đối tượng PBGDPL ở đây chủ yếu là người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số mà không phải là cán bộ công chức Người dân và đồng bào ở đây là những người đủ 6 tuổi trở lên, có hộ khẩu thường trú và tạm trú tại một địa bàn nhất định Họ là nông dân, công nhân, là người lao động khác ở các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội trong phạm vi một địa phương nhất định Đây là đối tượng có tính "phổ biến" trong đó có GDPL cho học sinh trong nhà trường từ cấp tiểu học đến phổ thông trung học Đặc điểm này khác với GDPL nói chung, khác với GDPL trong nhà trường, khác với GDPL trong các trường cao đẳng, đại học và dạy nghề, GDPL cho CBCC hoặc GDPL cho công nhân
Cơ cấu của đối tượng là người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi cả nước Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng cao nguyên Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng , mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng
có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam
Đa số nhân dân các dân tộc ít người đều không biết tiếng nói và chữ viết của người Kinh, đây là hạn chế lớn nhất khi tiếp thu những tri thức pháp luật
Tâm lý của người dân tộc ít người thường hay tự ti, bảo thủ, bao gồm cả
tư tưởng cục bộ địa phương, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân
Trang 36cư, dòng họ có phong tục tập quán riêng biệt Nhân dân các dân tộc ít người vẫn còn sử dụng hệ thống luật tục Luật tục mang tính khu vực, điển hình ở nước ta phải kể đến là Luật tục của đồng bào các dân tộc Tây nguyên, đặc biệt
là Luật tục Ê đê M’Nông Luật tục tác động mạnh mẽ đến đời sống của đồng bào, có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực xã hội Luật tục có tính tiến bộ, tích cực được Nhà nước thừa nhận và cộng đồng dân cư tự giác tuân theo Ngược lại, những hủ tục nặng nề, lạc hậu như thách cưới, tang ma, lấy nhiều vợ (tục nối dây)…khi tiến hành PBGDPL phải chú ý và thận trọng có phê phán nhưng hết sức khéo léo, tế nhị đối với những hủ tục lạc hậu này
Ở nông thôn Việt Nam, gia tộc đóng vai trò rất quan trọng Nếu phương Tây coi trọng vai trò của cá nhân thì phương Đông coi trọng vai trò của gia đình
và gia tộc Nhưng nếu xét ở phương đông với nhau, Trung Quốc xem gia đình nặng hơn gia tộc thì ở Việt Nam gia tộc lại quan trọng hơn gia đình Mỗi gia tộc
đều có trưởng họ (hay còn gọi là tộc trưởng), nhà thờ họ, gia phả, giỗ họ,
Ở nhiều làng, hầu hết dân cư ở làng đó đều có quan hệ họ hàng với nhau Việc đó còn lưu lại dấu ấn trong tên của rất nhiều làng hiện nay như:
làng Đặng Xá (xá = nơi ở, Đặng Xá = nơi ở của họ Đặng), Châu Xá, Lê Xá, Tương truyền Chử Đồng Tử sinh ra ở làng Chử Xá, huyện Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên Ở Tây Nguyên còn phổ biến tình trạng các thế hệ của một gia tộc sống tập trung trong một mái nhà dài, bên trong nhà đó được chia thành từng ngăn nhỏ cho các gia đình Một nhà như thế có thể chứa đến hơn trăm người
Còn ở phần lớn miền quê Việt Nam hiện nay vẫn có gia đình có đến ba (tam đại đồng đường) hay bốn (tứ đại đồng đường) thế hệ cùng chung sống
Vì gia tộc có vai trò quan trọng nên tôn ti của từng người cũng rất
được coi trọng Ở Việt Nam hệ thống tôn ti trong gia tộc được phân biệt rất
chi li tới 9 thế hệ (gọi là cửu đại):
Việc thờ cúng, lễ tết trong gia tộc cũng tuân thủ theo nguyên tắc cửu đại này Nghĩa là khi người có vai "Tôi" còn sống thì người ở vai này có trách
Trang 37nhiệm tham gia thờ cúng (nếu người vai trên đã chết), lễ tết (nếu người vai trên còn sống) những người có vai từ "Kỵ" trở xuống đến người có vai "Cha" Những người có vai "Con", "Cháu", "Chắt", "Chút" của người đó vẫn có trách nhiệm phải tuân thủ
Người đàn ông lớn nhất trong gia đình chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên (nếu người ở vai trên không còn sống), chỉ khi người này mất đi thì việc thờ cúng sẽ chuyển sang người con trai lớn (đích tôn) Trong trường hợp, người đàn ông không có con trai thì việc thờ cúng tổ tiên sẽ chuyển sang người chú kế cận và nguyên tắc trên lại áp dụng cho gia đình người chú
Trong khi đó ở các nước khác, ví dụ trong tiếng Anh, chỉ có từ cho ba đời, các đời trước và sau nữa chỉ thêm tiền tố vào một trong ba từ đó Ngoài
ra còn có những danh từ chỉ riêng những người họ hàng xa hơn như: "chú" (em trai của "bố"), "cậu" (em trai của "mẹ"), "cô" (em gái của "bố"), "dì" (em gái của "mẹ"), "thím" (vợ của "chú"), "mợ" (vợ của "cậu"), "bác" (anh hay chị của "bố" và của "mẹ"); một vài vùng có thể có cách gọi biến tướng đi như: anh của bố, mẹ đều gọi bằng "bác", còn chị của bố, mẹ lại vẫn gọi là "cô" - như ở Thanh Miện (Hải Dương), Kiến An (Hải Phòng) - hoặc anh, chị của bố gọi là "bá" còn anh, chị của mẹ gọi là "bác" hay ngược lại v.v Tôn ti rất được
tôn trọng, một người ít tuổi, xếp theo vai vế, có thể là "ông" của một người nhiều tuổi - Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi (tục ngữ)
Đặc điểm thứ hai: Chủ thể GDPL cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Chủ thể PBGDPL là người truyền thụ, hướng dẫn, giải thích pháp luật cho nhân dân Nếu PBGDPL là một dạng tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN thì trách nhiệm về tình hình thực hiện pháp luật trước hết thuộc về các cơ quan nhà nước PBGDPL cho nhân dân vì thế là nhiệm vụ của nhà nước Ở địa phương Hội đồng nhân dân quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật
Trang 38Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp Như vậy, UBND là chủ thể tuyên truyền GDPL cho nhân dân Thực hiện nhiệm vụ này UBND giao cho Sở Tư pháp, phòng Tư pháp ở địa phương
Các Sở tư pháp đều có phòng Tuyên truyền và GDPL Việc tổ chức lực lượng thực hiện tuyên truyền GDPL ở các địa phương có những loại chủ thể giống nhau, nhưng cũng có những loại chủ thể GDPL cụ thể khác nhau Người làm công tác PBGDPL đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 05/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định về Báo cáo viên pháp luật
Các luật sư, luật gia không phải là CBCC có nghĩa họ hành nghề chuyên trách Chủ thể này cần phải đưa họ vào trong đội ngũ báo cáo viên pháp luật bởi họ có trình độ pháp lý vững và thông qua hoạt động tư vấn, bào chữa các luật gia, luật sư đã góp phần hết sức quan trọng vào công tác GDPL
Ngoài những quy định cho chủ thể PBGDPL nói chung thì đối với công tác PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số đòi hỏi phải có kiến thức về phong tục tập quán, tiếng nói chữ viết của người dân địa phương Đó là điểm cần và đủ để chủ thể thực hiện tốt công tác PBGDPL cho các đối tượng của mình
Đặc điểm thứ ba: Nội dung GDPL cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc ít người
Đối với đối tượng là người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay theo tôi cần tập trung phổ biến, giáo dục một số nội dung cụ thể như sau:
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người công dân
- Các chế độ, chính sách mà Đảng và nhà nước đặc biệt ưu tiên cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 39- Các đạo luật cơ bản: Luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình, Luật biên giới hải đảo, bảo vệ phát triển rừng, phòng chống ma túy, pháp luật về hôn nhân gia đình, phát huy tập quán tốt đẹp, tăng cường tình làng nghĩa xóm tại cộng đồng dân cư.…
- GDPL về đoàn kết các dân tộc, đoàn kết toàn dân
Ngoài những nội dung nêu trên, chủ thể PBGDPL cần hướng dẫn nhân dân thực hiện đúng tập quán tốt đẹp, các luật tục còn phù hợp với pháp luật, hương ước, quy ước tại cộng đồng dân cư Đồng thời chỉ ra cho nhân dân thấy được những hủ tục lạc hậu, những luật tục trái với lợi ích của cộng đồng
và pháp luật của nhà nước trong giai đoạn mới hiện nay
Đặc điểm thứ tư: Các hình thức và phương pháp giáo dục
Về các hình thức hay "mô hình" hoặc "con đường" GDPL ở nước ta thực chất chưa có các hình thức giáo dục được xác định ổn định về mặt lý luận vẫn đang trong giai đoạn tìm tòi thử nghiệm Thành tựu về giáo dục học
ở nước ta đã tổng kết có tính giáo khoa về giáo dục công dân trong đó có chỉ dẫn "con đường giáo dục ý thức công dân" bao gồm:
- Giáo dục thông qua giảng dạy pháp luật trong nhà trường
- Giáo dục thông qua các dạng hoạt động xã hội như xây dựng gia đình văn hóa hay các cuộc vận động có tính phong trào trong nhân dân
- GDPL thông qua các lễ hội
- Tổ chức các sinh hoạt đoàn thể
Trang 40- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hấp dẫn và có thưởng Đó là những "con đường" chung nhất được vận dụng trong GDPL Đối với đồng
bào dân tộc thiểu số ở vùng núi, nhóm tác giả trong tác phẩm: "Một số vấn đề
về giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", đã nêu các hình
thức (mô hình) GDPL sau đây:
- Giáo dục pháp luật thông qua công tác hòa giải
- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động báo chí tuyên truyền
- Giáo dục pháp luật thông qua một số loại hình trường học
- Giáo dục pháp luật thông qua các sinh hoạt truyền thống
Các hình thức GDPL kể trên mang tính phổ biến có thể áp dụng rộng rãi ở các vùng miền, các dân tộc ở miền xuôi cũng như ở miền ngược Các hình thức này áp dụng ở vùng nông thôn và miền núi sẽ phù hợp và có hiệu quả cao
Ở mỗi một hình thức giáo dục việc sử dụng các phương pháp giáo dục
ở từng nơi đối với từng loại đối tượng sẽ khác nhau Đặc điểm nổi bật là việc dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc sẽ hiệu quả hơn dùng tiếng nói người Kinh và chữ quốc ngữ Người dân tộc trực tiếp làm công tác hòa giải hoặc giảng dạy pháp luật hoặc tổ chức các lễ hội dân tộc sẽ có hiệu quả hơn Các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, đài phát thanh, truyền hình, được sử dụng ở nông thôn và miền cũng như những đặc điểm riêng biệt như tiếng nói, hình ảnh và các yêu cầu về kỹ thuật phù hợp với địa hình nông thôn, rừng núi Nếu như ở thành phố vô tuyến truyền hình là phương tiện chuyển tải thông tin là chủ yếu thì ở nông thôn và miền núi Radio casetes lại
là phương tiện truyền thông phổ biến phù hợp với đồng bào dân tộc ít người
vì có những địa phương vùng sâu vùng xa lưới điện quốc gia chưa tới, vô tuyến chưa sử dụng được v.v Bởi vì đa số thời gian trong một ngày, nhân dân lao động làm việc ở những nơi không có vô tuyến thì thường họ sẽ mang bên mình một chiếc Radio để có thể theo dõi tin tức thời sự ở mọi lúc, mọi