Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI diễn ra vào tháng 5/2012 đã nêu định hướng sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong đó chỉ rõ cần tiếp tục phát huy nhân tố con người
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỪ VĂN TUYÊN
QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lừ Văn Tuyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục viết tắt trong luận văn
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ HIẾN PHÁP 6
1.1 Khái quát về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 6
1.1.1 Quan niệm về quyền con người 6
1.1.2 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người 12
1.2 Hiến pháp và quyền con người 22
1.2.1 Khái niệm về Hiến pháp 22
1.2.2 Mối quan hệ giữa Hiến pháp và quyền con người 24
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUYỀN KINH TẾ , VĂN HÓA, XÃ HỘI QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM 29
2.1 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp trước Hiến pháp 2013 29
2.1.1 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1946 29
2.1.2 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1959 32
2.1.3 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1980 35
2.1.4 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1992 38
2.2 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 45
2.2.1 Quyền kinh tế 46
2.2.2 Quyền văn hóa 48
Trang 42.2.3 Quyền xã hội 50
2.2.4 Một số nhận xét về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 51
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI TRONG HIẾN PHÁP 2013 66
3.1 So sánh các quy định về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 với các bản Hiến pháp trước và quy định của Luật nhân quyền quốc tế 66
3.1.1 Quyền kinh tế 66
3.1.2 Quyền văn hóa 71
3.1.3 Quyền xã hội 75
3.2 Một số kiến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 79
3.2.1 Về bảo hiểm xã hội 82
3.2.2 Bảo đảm an sinh xã hội với một số nhóm yếu thế trong xã hội 86
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
phụ nữ (Convention on the Elimination of All Forms of
Discrimination against Women)
Child, CRC)
Covenant on Civil and Political Rights)
(International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)
Organization)
Human Rights)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền con người là một phạm trù đa diện, kết tinh những giá trị cao đẹp trong nền văn hóa của tất cả các dân tộc Đây không chỉ là “ngôn ngữ chung” mà còn là “sản phẩm chung”, “mục tiêu chung” và “phương diện chung” của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người, mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới
Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các quyền con người đều được ghi nhận trong Hiến pháp ở những mức độ khác nhau Như vậy, với hiệu lực pháp lý tối cao của nó, Hiến pháp đang đóng vai trò là công cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia
Ở nước ta, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội để thông qua Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do, dân chủ
của nhân dân Người chi rõ: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ” [5] Như vậy trong tư tưởng của Người, quyền con người
luôn gắn liền với Hiến pháp, Hiến pháp chính là công cụ để đảm bảo quyền con người Vì vậy, không chỉ trong việc soạn thảo và thông qua Hiến pháp
1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta mà các bản Hiến pháp sau này đều
có những quy định về các quyền con người
Cho đến nay Việt Nam đã có năm bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, và hiện nay là Hiến pháp 2013 Mặc dù ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả năm
Trang 7bản Hiến pháp trên đều đã có quy định về quyền con người, đặc biệt là những quy định về nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế
Hiến pháp năm 1992 được đánh giá là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, phản ánh bản chất nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Hiến pháp năm 1992 cũng đã ghi nhận các quyền con người, quyền công dân cơ bản trong đó có các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Góp phần quan trọng thể chế hóa đường lối của Đảng Tuy nhiên, sau 20 năm thi hành, Hiến pháp năm 1992 đã bộc lộ một số điểm hạn chế không còn phù hợp với tình hình thực tiễn Vì vậy, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 ngày 06 tháng
8 năm 2011 về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI diễn
ra vào tháng 5/2012 đã nêu định hướng sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong đó chỉ rõ cần tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền,
nghĩa vụ cơ bản của công dân
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 Hiến pháp mới được ban hành có một điểm nhân dân cả nước rất đồng tình ủng hộ
và coi đây là một điểm sáng Đó là hiến chương về quyền con người
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam” sẽ góp phần làm sâu sắc hơn cơ sở lý
luận và thực tiễn quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp, qua đó góp phần hiểu sâu hơn về việc hiến định và sự phát triển của nhóm quyền quan trọng này ở Việt Nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền con người là một phạm trù đa diện, đòi hỏi cách tiếp cận và nghiên cứu đa ngành, liên ngành, song tiếp cận và nghiên cứu luật học là một hướng chính Các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người ở Việt Nam những năm gần đây đang phát triển mạnh mẽ Hiện đã có một số công
trình nghiên cứu về quyền con người nói chung như: Quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tư liệu thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1993; Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 1997; Tường Duy Kiên, Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam, Hà Nội, 2004; Phạm Văn Khánh, Góp phần tìm hiểu quyền con người, NXB Khoa học xã hội, 2006…
Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản được ghi nhận và bảo đảm trong luật pháp quốc tế và pháp luật của quốc gia Các quyền này được ghi nhận ngay trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm
1948, sau đó được cụ thể hóa tại một trong hai Công ước cơ bản nhất về nhân quyền là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966
Việt Nam cũng đã tham gia Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa từ rất sớm (năm 1982) Mặc dù vậy, do một số lý do khách quan
và chủ quan, việc nghiên cứu về quyền con người nói chung, về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc hiểu biết chưa đầy đủ hoặc sai lệch về nhóm quyền này
Đối với việc nghiên cứu các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người, hiện chúng ta đã có một số công trình nghiên cứu như: Trần Thị Hòe,
Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay, 2002; Nguyễn Duy Sơn, Quyền phát triển của con người Việt Nam trong
sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Trung tâm
Trang 9Thông tin Tư liệu trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2005; Tường
Duy Kiên, Trần Thị Hòe, Bảo đảm quyền của người tiêu dùng trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, 2007; Trần Thị Hòe, Vũ Công Giao, Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công
dân, Khoa luật –ĐHQG Hà Nội, 2011…
Tuy nhiên, các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu góc độ nhất định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung và nhóm quyền này trong pháp luật nói riêng, chưa có đề tài nào đi sâu phân tích và so sánh nội dung các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp trên thế giới và các bản Hiến pháp của Việt Nam Luận văn này sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống đó
4 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng pháp luật và nhân quyền
Trang 10Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn này bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
5 Những nét mới của luận văn
Luận văn làm rõ mối quan hệ giữa Hiến pháp với quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Đánh giá vai trò của Hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền con người
Luận văn cũng nêu và phân tích hệ thống các quyền kinh tế, văn hóa,
xã hội của con người được các Hiến pháp Việt Nam ghi nhận và bảo vệ Trên
cơ sở đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, luận văn nêu
ra những đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về các quyền kinh tế,
xã hội, văn hóa ở Việt Nam
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu là một bản luận văn từ 80-150 trang
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy
và học tập trong các cơ sở đào tạo về luật học, đặc biệt là chuyên ngành pháp
luật về quyền con người và chuyên ngành luật Hiến pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tài được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và
Hiến pháp
Chương 2: Sự phát triển của các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua
các bản Hiến pháp Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong
Hiến pháp 2013
Trang 11Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA,
XÃ HỘI VÀ HIẾN PHÁP 1.1 Khái quát về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
1.1.1 Quan niệm về quyền con người
1.1.1.1 Nguồn gốc về quyền con người
Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người Nó coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm Nó dựa trên một hệ thống toàn cầu giá trị phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống và tạo ra một khuân khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ thời xa xưa đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo
Trong thời kỳ cổ đại, các nhà chính trị, tư tưởng, tôn giáo đã có những
tư tưởng, giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là những nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật….) đề cao sự bình đẳng… Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại có tính hệ thống và nội dung rõ ràng về quyền con người
Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người Đó là những sản phẩm của điều kiện lịch sử kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các cơ
sở kinh tế - xã hội đó Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quan niệm về quyền con người còn phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của tư duy về xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị, của mỗi thời đại nói riêng
Nhìn lại lịch sử, các quốc gia trên thế giới cũng đã hình thành và ban hành pháp luật làm phương tiện cai trị, các văn bản pháp luật từ thời cổ đại
Trang 12thông qua các quy định một phần thể hiện các giá trị quan trọng về lịch sử, văn hóa, pháp lý nhưng một phần cũng phản ánh nhận thức quan niệm về công bằng, giá trị của nhân phẩm, và quyền lợi ích chính đáng của con người
Có thể kể đến như Luật Hammurabi, Luật Manu, Luật Kautilya, Luật Asoka…Ví dụ trong Luật Hammurabi là văn bản luật cổ nhất của nhân loại còn được bảo tồn tốt Bộ luật này được ban hành vào khoảng thập niên 1760 TCN, Bộ luật thể hiện tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm các quyền con người, vì vậy mà vua xứ Babylon là Hammurabi (1810- 1750 TCN) đã nói rằng mục đích của việc ban hành đạo luật
cổ nối tiếng này là để: “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” [30] Bộ
luật quy định nhiều hình phạt đối với những tội vi phạm tự do ngôn luận, vu khống người vô tội, hay những hành vi xâm phạm quyền sở hữu Đặc biệt tư tưởng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật còn được thể hiện rất rõ nét sức mạnh của hình phạt, khi được thực thi một cách công bằng tương ứng với mức độ phạm tội và bất chấp kẻ bị chừng phạt là con vua hoặc kẻ thù, là bảo
vệ xã hội này và xã hội sau
Trong những giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao pháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được sự phát triển bởi nhiều nhà tư tưởng nối tiếng của nhân loại, và được minh chứng bằng sự ra đời của ngày càng nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về các quyền tự do của con người, quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu
và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế, từ Đại hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251),
Bộ luật về các quyền (the Bill of rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration Independence, 1766) và Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights,
Trang 131789/1791) của nước Mỹ cho đến Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu thế kỷ
XX đến nay Tất cả đã cho thấy pháp luật đã có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người
Có hai trường phái trái ngược nhau về nguồn gốc của nhân quyền mà đôi khi chi phối khá mạnh mẽ quan điểm và cách thức thực hiện quyền con người của các quốc gia Trường phái thứ nhất - những người theo thuyết về
quyền tự nhiên (natural rights) - cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh,
vốn có mà mọi cá nhân từ khi sinh ra đều đã được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ
là con người Do đó, các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào Xuất phát từ thuyết pháp quyền tự nhiên, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tùy tiện tước bỏ các quyền con người Ngược lại, trường phái thứ hai - những
người theo thuyết về quyền pháp lý (legal rights) - cho rằng, quyền con người
không phải là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nó chỉ nảy sinh khi các nhà nước quy định trong pháp luật Xuất phát từ thuyết này, phạm vi, giới hạn của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị
và bị chi phối bởi các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của các xã hội
Thực tế cho thấy, quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ thuyết nào kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ nếu không được thể chế hóa vào pháp luật thì các quyền tự nhiên của con người không thể được thực hiện; song nếu cực đoan hóa vai trò của nhà nước, của pháp luật sẽ dẫn đến tùy tiện, lạm dụng, vi phạm các quyền tự nhiên của con người
Kể từ khi Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận quyền con người vào
Trang 14năm 1948, với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, và nhiều văn kiện chính trị, pháp lý quốc gia về nhân quyền đều thừa nhận nguồn gốc tự nhiên song cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nước và pháp luật trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, từ đó quyền con người đã phát triển như một khuân khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một định hướng nhằm phát triển thế giới tự do khỏi sự sợ hãi và tự do làm điều mong muốn.Trong lời nói đầu
của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 đã nhấn mạnh: “Việc thuần nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa
bình trên thế giới” [9] Như vậy trong lời nói đầu của Tuyên ngôn, quyền con
người được hiểu là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tách rời, không thể chuyển nhượng được của cá nhân Tuyên ngôn không đưa ra định nghĩa về quyền con người mà nói về nội hàm đưa ra các quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc
1.1.1.2 Khái niệm quyền con người
Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của hội nghị thế giới Wien (Áo) về quyền con người năm 1993 và các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948- 1998)
Tuy nhiên cho đến nay cách hiểu về quyền con người vẫn chưa có sự thống nhất, Một mặt, đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người Mặt khác, quyền con người được xem dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật… Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm tất cả các thuộc tính của quyền con người
Trang 15Tùy vào tính chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của văn phòng Cao
ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (OHCHR) Theo định nghĩa này:
Quyền con người (human rights) là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions)
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và
tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [39, tr.8]
Liên quan đến các khái niệm trên, cũng cần lưu ý, thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (theo tiếng thuần
Việt) hoặc nhân quyền (theo Hán - Việt) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” [37], Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học,
đây là hai từ đồng nghĩa, và hoàn toàn có thể sử dụng trong nghiên cứu, và hoạt động thực tiến về quyền con người
Một số tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người cũng không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung quyền con người được hiểu
là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [14, tr.37]
Như vậy, trong hai định nghĩa trên thì quyền con người là những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc, hay quốc gia, dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng không có sự phân biệt đối xử Những quyền này có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời
1.1.1.3 Đặc tính của quyền con người
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các
Trang 16tính chất cơ bản là: “tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau” [14, tr.41]
Các quyền con người đều không thể phân chia và có tính phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền
sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác
Ví dụ, để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cứ (các quyền dân sự chính trị cơ bản), cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền
có mức sống thích đáng…vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ bệnh tật hay mù chữ Vì vậy mà các quyền con người được đảm bảo theo quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước, cam kết, thỏa thuận hoặc tập quán quốc tế Và luật quốc tế cũng đặt ra với các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, và thực hiện các quyền con người cốt yếu để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Xét bản chất và từ lịch sử phát triển của quyền con người, có thể khẳng định nhân quyền là sự kết tinh những giá trị nhân văn cao đẹp nhất trong nền văn hóa của mọi dân tộc Đó là sản phẩm chung của toàn nhân loại, không phải là sáng kiến hay phát minh riêng của bất kỳ giai cấp, dân tộc, quốc gia hay khu vực nào
Từ những tư tưởng về quyền con người xuất hiê ̣n từ rất lâu trong lịch
sử nhân loại , thể hiện qua những bộ luật , thư tịch cổ của nhiều quốc gia và trong các kinh điển của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới Đến thời kỳ Phu ̣c Hưng, những tư tưởng đó được kế thừa, phát triển thành các học thuyết về quyền bởi một số nhà tư tưởng nổi tiếng ở châu Âu Những học thuyết này tác
Trang 17động đến sự ra đời của các văn kiện pháp lý nổi tiếng về nhân quyền, bao gồm Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp (1789) và một loạt Hiến pháp ở châu Âu và Bắc
Mỹ Từ đầu thế kỷ XIX , nhân quyền bắt đầu được đề cập trong một số điều ước của Hội Chữ thập đỏ-Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế , Hô ̣i Quốc liên và Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế , tuy nhiên, chỉ sau sự ra đời của Liên Hợp Quốc (1945), vấn đề nhân quyền mới nổi lên thành một vấn đề chi phối một cách ngày càng mạnh mẽ và toàn diện đời sống chính trị quốc tế Một ngành luật quốc tế mới – luật nhân quyền quốc tế đã ra đời từ sau 1945, do những nỗ lực của Liên Hợp Quốc Hiện nay, ngành luật này đã bao gồm hàng trăm văn kiện, đề cập đến một phạm vi rộng lớn các quyền áp dụng chung cho mọi cá nhân và các quyền đặc thù áp dụng riêng cho một số nhóm xã hội nhất định
Ở thời điểm hiện tại, có thể khẳng định rằng, không một dân tộc, quốc gia nào trên thế giới có thể đứng ngoài sự tác động của luật nhân quyền quốc tế
Xem xét sự phát triển của vấn đề nhân quyền trong lịch sử nhân loại, năm
1977, Karel Vasak đưa ra ý tưởng về ba “thế hê ̣ quyền con người”(generations
XVII-XVIII) thể hiện ở sự ghi nhận các quyền dân sự, chính trị; thế hệ thứ hai (bắt đầu
từ cuối thế kỷ XIX) đánh dấu bằng việc thừa nhận các quyền kinh tế, xã hội, văn
hóa; còn thế hê ̣ thứ ba (bắt đầu từ giữa thế kỷ XX) với đặc trưng là mở rộng sự
ghi nhận các quyền tập thể, tiêu biểu như quyền tự quyết dân tô ̣ c, quyền phát
triển, quyền được sống trong hoà bình
1.1.2 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người
1.1.2.1 Khái quát chung về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
Như đã nêu ở phần trên, nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là thế hệ quyền thứ hai, hướng vào việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội
Trang 18Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống quyền con người Do vậy trong quá trình nghiên cứu về quyền con người, chúng ta không thể đi sâu nghiên cứu quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như một bộ phận cơ bản, thiết yếu trong tổng thể quyền con người Về lịch sử pháp điển hóa quyền con người, các tiêu chuẩn quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được coi là ra đời muộn hơn các quyền dân sự, chính trị Tuy nhiên, về lịch sử nhân loại nói chung, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được quan tâm đề cập đồng thời thậm chí là sớm hơn các quyền dân sự chính trị Bởi điều đó thể hiện ở khát vọng giải phóng con người khỏi đói rét, dịch bệnh…được phản ánh trong nhiều học thuyết, tôn giáo chủ yếu
Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được ghi nhận trong trong pháp luật của nhiều quốc gia thời kỳ Cổ - Trung đại thông qua những quy định về sự bảo vệ nhà nước và cộng đồng đối với nhóm cư dân yếu thế trong xã hội
Theo dòng chảy của lịch sử, chúng được đề xướng và vận động mạnh
mẽ từ cuối thế kỷ XIX, và bắt đầu được quan tâm bởi một số Chính phủ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Các quyền tiêu biểu thuộc nhóm quyền này bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở…
Động lực chính thúc đẩy sự hình thành của nhóm quyền này được cho
là từ cuộc khủng hoảng của xã hội tư bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dẫn tới tình cảnh khốn khổ của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Trong bối cảnh đó, những người theo chủ nghĩa tự do mới đã đưa ra
ý tưởng cải tổ các xã hội tư sản nhằm giảm bớt những bất công xã hội và khoảng cách giữa người giàu và người nghèo Do tác động của cuộc đấu tranh này, một số nhà nước tư sản đã ban hành những chính sách về phúc lợi xã hội
để cải thiện đời sống của người dân Một ví dụ điển hình trong số đó là chính sách xã hội của thủ tướng Đức Bismarck Trên cơ sở Tuyên ngôn Keider
Trang 19(1881), nước Đức dưới sự lãnh đạo của Bismarck đã thiết lập một hệ thống bảo trợ xã hội thống nhất trên toàn quốc mà trọng tâm là bảo hiểm xã hội Từ năm 1919, Hiến pháp của nước này đã quy định quyền được bảo hiểm xã hội trong các trường hợp già yếu, bệnh tật…
Có hai sự kiện tác động hết sức quan trọng đến sự phát triển của nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Sự kiện thứ nhất là sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết vào năm 1917 Ngay từ Hiến pháp 1918, Nước Nga Xô viết đã ghi nhận các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản của con người như quyền có việc làm, quyền học tập, quyền được chăm sóc
y tế… Các quyền này tiếp tục được khẳng định, mở rộng và bổ sung, trở thành một trong những nội dung chính của các Hiến pháp năm 1924, 1936, 1977 của Liên Xô (tương tự là trong Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa) Sự kiện thứ hai là việc thành lập hai tổ chức liên chính phủ quốc tế lớn là Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế, hai tổ chức này, đặc biệt là Tổ chức Lao động quốc tế đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy các quyền về lao động, việc làm của người lao động [14, tr.60]
Cùng với hệ thống quyền con người nói chung, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, với việc Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 Trong vấn đề này, sự đóng góp của
hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa là hết sức to lớn Chính do sự đấu tranh kiên quyết và kiên trì của phe các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên
Xô trên diễn đàn Liên Hợp Quốc trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đã buộc khối các nước tư bản chủ nghĩa phải nhượng bộ, dẫn đến việc Đại hội đồng Liên
Trang 20Hợp Quốc thông qua cả hai công ước về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cùng vào năm 1966 – mà hiện đóng vai trò là hai điều ước nền tảng của luật nhân quyền quốc tế
1.1.2.2 Nội dung cơ bản các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản trong luật nhân quyền quốc tế
Các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội tạo thành ba bộ phận có mối liên kết với nhau trong mối quan hệ tổng thể của một nhóm quyền, đồng thời, tất cả các bộ phận này lại có mối liên kết với một nhóm các quyền về dân sự
và chính trị
Trên thực tế, hiện vẫn còn có những tranh luận xung quanh hệ thống các quyền con người được gọi là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, bởi lẽ một số quyền con người (tùy theo bối cảnh và hoàn cảnh) có thể xếp vào nhiều hơn một nhóm
Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do này đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác
mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 1966)
Dựa trên cách tiếp cận liên kết mà theo đó các quyền kinh tế, văn hóa,
và xã hội được chia thành ba nhóm, cụ thể như sau:
- Nhóm quyền kinh tế (economic rights), bao gồm:
a) Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng
b) Quyền lao động
- Nhóm quyền xã hội (social rights), bao gồm:
c) Quyền được hưởng an sinh xã hội
d) Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thấn
- Nhóm quyền văn hóa (cultural rights), bao gồm:
Trang 21Dưới đây là khái quát nội dung cốt lõi của những quyền này
a) Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng
Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng hàm nghĩa việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế, v.v… cũng như được cải thiện không ngừng điều kiện sống Trong đó quan trọng nhất là quyền có đủ lương thực, thực phẩm và quyền có nhà ở thích đáng
Quyền này được ghi nhận tại Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, trong đó có nêu rằng:
Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình,
về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ [32, Điều 25]
Ngoài ra quyền này còn được ghi nhận tại Điều 11 ICESCR, Điều 27, Công ước quyền trẻ em và một số văn kiện khác Quyền này cũng đồng thời được ghi nhận trong một số văn kiện nhân quyền khu vực (ví dụ, Khoản 1 Điều 12 Nghị định thư bổ sung Công ước của Châu Mỹ về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa)
Uỷ ban giám sát ICESCR đã giải thích nội hàm của quyền có mức sống
Trang 22thích đáng trong các Bình luận chung số 4 (năm 1991), số 7 (năm 1997), số
12 (năm 1999), số 14 (năm 2000) và số 15 (năm 2002)
b) Quyền lao động, việc làm
Quyền về lao động, việc làm là một nội dung quan trọng trong hệ thống các quyền kinh tế, xã hội cơ bản của con người Quyền này bao gồm các khía cạnh như quyền có việc làm, tự do lựa chọn nghề nghiệp, được trả lương công bằng, xứng đáng, được bảo đảm các điều kiện lao động an toàn, tôn trọng nhân phẩm… Trước khi được ghi nhận trong các Điều 6 , 7, 8 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR), quyền này được đề cập trong nhiều công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế Một số khía cạnh của quyền này, cụ thể như vấn đề cấm lao động cưỡng bức, còn được đề cập trong các điều ước quốc tế khác về quyền con người của Liên Hợp Quốc như Công ước về cưỡng bức lao động năm 1930; Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau năm 1957; Công ước vê chính sách việc làm năm 1964; Công ước về quyền dân sự chính trị năm 1966;
c) Quyền được hưởng an sinh xã hội
Nội dung cơ bản của quyền được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội bao gồm các khía cạnh: chăm sóc sức khỏe và trợ cấp cho người lao động
và gia đình khi gặp khó khăn; trợ cấp tàn tật và bảo đảm phúc lợi cho người lao động khi cao tuổi, nghỉ hưu, bệnh tật hoặc bị tai nạn khi làm việc Đối tượng được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội là tất cả mọi người, trong đó đặc biệt chú trọng đến những người cao tuổi, bệnh tật, thất nghiệp, những người góa bụa và trẻ mồ côi
Quyền được hưởng an sinh xã hội được quy định trong UDHR đã nêu
rằng: “… mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội…” [32, Điều 22]; Điều 9 ICESCR có nêu một cách ngắn gọn rằng, “các quốc gia thành
Trang 23viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội” [19, Điều 9]; Điều 26, Công ước về quyền trẻ
em; Điều 11, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
và nhiều điều ước quốc tế khác
d) Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần
Sức khỏe được hiểu bao gồm cả về thể chất và tinh thần ở mức độ cao nhất có thể được Trên thực tế có rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, ví dụ như đói nghèo, dịch bệnh, môi trường sống, dịch vụ y tế,
vệ sinh cá nhân… Do đó, trách nhiệm bảo đảm quyền về sức khỏe không chỉ thuộc về nhà nước mà còn về các cá nhân
Với ý nghĩa như vậy, trong những năm gần đây, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Ngày 11 tháng 5 năm 2000, Uỷ ban Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã thông qua khuyến nghị chung về vấn đề này Tiếp đó, tại kỳ họp thứ 49 của
Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 22 tháng 4 năm 2002 cũng đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ của Báo cáo viên đặc biệt về quyền được những tiêu chuẩn cao nhất cho sức khỏe, thể chất và tinh thần của tất cả mọi người
Thực tế, quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe mang ý nghĩa là một quyền cơ bản của con người lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện thành lập của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sau đó được pháp điển hóa
trong UDHR, theo đó “mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết… Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” [32, Điều 25]
Quy định của Điều 25 UDHR sau đó được cụ thể hóa trong các Điều 7,11,12 ICESCR; Điều 10,12,14 CEDAW, Điều 24 CRC, Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Tuyên bố
Trang 24Viên và Chương trình hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai năm 1993 Ngoài ra, quyền về sức khỏe còn được ghi nhận trong một số văn kiện khi vực về quyền con người, chẳng hạn như Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961 sửa đổi (Điều 11), Hiến chương châu Phi
về quyền con người và các quyền của các dân tộc năm 1981 (Điều 16), Nghị định thư bổ sung Công ước Châu Mỹ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1988 (Điều 10)…
e) Quyền được giáo dục
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 26 UDHR, trong đó nêu rõ:
Mọi người đều có quyền được học tập, Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông và giao dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng Mục tiêu của giáo dục, trong
đó nêu rõ: Giáo dục phải nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng với các quyền và tự do cơ bản của con người Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hòa bình Theo Khoản 3 Điều này, cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ [32, Điều 26]
Điều 26 UDHR được cụ thể hóa trong các Điều 13 và 14 ICESCR Điều 13 ICESCR đề cập đến quyền được giáo dục nói chung, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được học tập Các quốc gia nhất trí rằng giáo dục phải hướng vào việc phát triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân phẩm nhằm tăng cường sự tôn trọng các quyền
Trang 25và tự do cơ bản của con người Các quốc gia cũng nhất trí rằng giáo dục cần giúp mọi người tham gia hiệu quả vào xã hội tự do, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc và các nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo, cũng như nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động duy trì hòa bình của Liên Hợp Quốc
Liên quan đến Điều 13 ICESCR, Uỷ ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích một cách khá toàn diện và chi tiết về quyền này trong Bình luận chung số 13 (năm 1999) Theo văn kiện này, mọi hình thức giáo dục, cho
dù là công lập hay tư thục, chính quy hay không chính quy, đều phải hướng tới những mục tiêu được xác định trong Điều 13 (Khoản 1) ICESCR Mặc dù mức độ và cách thức thực hiện quyền này phụ thuộc vào điều kiện hiện tại của mỗi quốc gia thành viên, song mỗi quốc gia cần bảo đảm giáo dục dưới mọi hình thức và ở tất cả các cấp
Điều 14 cụ thể hóa vấn đề quyền phổ cập giáo dục tiểu học, theo đó, mỗi quốc gia thành viên Công ước mà lúc trở thành thành viên chưa thể bảo đảm thực hiện được việc giáo dục tiểu học phổ cập và miễn phí trong phạm vi lãnh thổ nước mình hoặc các cùng lãnh thổ khác thuộc quyền tài phán của nước mình, cam kết, trong vòng hai năm sẽ lập ra và thông qua một kế hoạch hành động chi tiết, nhằm thực hiện từng bước nguyên tắc giáo dục tiểu học phổ cập và miễn phí cho mọi người trong một khoảng thời gian hợp lý đã được ấn định trong kế hoạch đó
Liên quan đến Điều 14 ICESCR, Uỷ ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích thêm trong Bình luận chung số 11 (năm 1999) Theo Uỷ ban, yêu cầu bắt buộc nêu trong nội dung của quyền này hàm ý không một bậc phụ huynh, người giám hộ pháp lý hoặc quốc gia nào có thể chối bỏ trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em có thể tiếp cận giáo dục ở bậc cơ sở Yêu cầu miễn phí hàm ý giáo dục cơ sở phải luôn rộng mở cho mọi trẻ em và không được yêu
Trang 26cầu trẻ em hay các bậc phụ huynh, người giám hộ pháp lý phải đóng bất kỳ một khoản học phí nào Việc quy định một số khoản phí gián tiếp (ví dụ như thu lệ phí xây dựng mà được ngụy trang dưới hình thức tình nguyện đóng góp, hoặc quy định mua và mặc đồng phục có giá cao của nhà trường….) là vi phạm yêu cầu này
f) Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 27 UDHR Theo Điều này:
Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sang tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả [32, Điều 27]
Điều 15 ICESCR cụ thể hóa nội dung Điều 27 UDHR, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều có quyền:
a) Được tham gia vào đời sống văn hóa; b) Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó; c) Được bảo
hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình [19, Điều 15]
Theo khoản 3, Điều 15 của Công ước, các thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tụ do không thể thiếu được đối với nghiên cứu khoa học
và các hoạt động sáng tạo Các khoản 2 và 4 Điều 15 nêu rõ, để thực hiện đầy
đủ quyền này các quốc gia thành viên Công ước phải thực thi nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển, phổ biến khoa học và văn hóa, bảo đảm quyền tham gia hoạt động văn hóa
Theo Uỷ ban về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa của Liên Hợp
Trang 27Quốc, các quốc gia thành viên cần phải cung cấp thông tin về việc tạo lập quỹ cho việc thúc đẩy, phát triển văn hóa và tham gia rộng rãi vào đời sống văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện, rạp chiếu phim, các hình thức biểu diễn nghệ thuật truyền thống…
Liên quan đến Điều 15 ICESCR, Uỷ ban quyền kinh tế, xã hội, văn hóa chưa có Bình luận chung nào đề cập Điều này Bởi vậy, nhận thức về nội dung của quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học hiện vẫn giới hạn ở các quy định trong các Điều 15 ICESCR và Điều 27 UDHR
Liên quan chặt chẽ đến quyền văn hóa và hưởng thụ các kết quả của các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó
Thứ nhất, Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do cá nhân, tìm kiếm và nhận thông tin về phát triển khoa học vào đời sống và áp dụng như là kết quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật
Thứ hai, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền của cá nhân được hưởng thụ các phúc lợi từ tiến bộ khoa học đó Điều 15, khoản 4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng quy định trách nhiệm của nhà nước khuyến khích, phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, văn hóa…
1.2 Hiến pháp và quyền con người
1.2.1 Khái niệm về Hiến pháp
Có nhiều quan điểm và định nghĩa về Hiến pháp Theo từ điển luật
Black’s Law Dictionnary, Hiến pháp là “luật tổ chức cơ bản của một quốc gia hay một nhà nước thiết lập các thể chế và bộ máy của chính quyền, xác định phạm vi quyền lực của chính quyền, vào bảo đảm các quyền và tự do của công dân” [38]
Như vậy, hiểu một cách khái quát, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của
Trang 28một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân
Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với Hiến pháp Vị trí tối cao của Hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc nhất chủ quyền của nhân dân và về nguyên tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý dân) Điều này khác với các đạo luật bình thường chỉ do quốc hội (nghị viện) gồm những người đại diện do dân bầu và ủy quyền xây dựng
Một trong những chức năng cơ bản của Hiến pháp là bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Thông qua Hiến pháp, người dân xác định những quyền gì của mình mà nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện, cùng những cách thức để bảo đảm thực hiện, cùng với những cách thức để bảo đảm thực thi những quyền đó
Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao, Hiến pháp là bức tường chắn quan trọng nhất để ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, cũng như là nguồn tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình bị vi phạm Hiệu lực bảo
vệ quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp còn được phát huy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ thể như thông qua hệ thống tòa án tư pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay Tòa án Hiến pháp…
Trong nhà nước quân chủ chuyên chế không tồn tại Hiến pháp bởi ở nhà nước đó, quyền lực của nhà vua là tối thượng Khổng Tử từng có một câu
nói nổi tiếng “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” [47] Ý nói vua bảo
thần phải chết, thần không chết thì đó là bất trung Như vậy, ở đây con người
đã bị tước đi quyền tự nhiên vốn có và căn bản nhất đó là quyền được sống
Trang 29Vì vậy nhà nước dân chủ ra đời, trong đó mọi người dân có thể tự do bày tỏ tư tưởng, ý kiến và quan điểm về các vấn đề của đất nước và bản thân mình mà không sợ hãi bị đàn áp hay trừng phạt, quyền lực nhà nước hoàn toàn thuộc về nhân dân thì mới có Hiến pháp Để thể hiện và bảo vệ chủ quyền của nhân dân, thông thường Hiến pháp chỉ có thể được thông qua với sự chấp thuận của nhân dân (qua trưng cầu ý dân) Thêm vào đó, Hiến pháp thường quy định các nguyên tắc bầu cử (tự do phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín) như
là phương thức để nhân dân ủy quyền cho các thiết chế đại diện Ngoài ra, việc quy định các cơ chế, thiết chế giám sát, kiểm sát quyền lực (giữa các cơ quan nhà nước và giữa nhân dân với nhà nước) trong Hiến pháp cũng là những cách thức để bảo đảm quyền lực của nhân dân Hiến pháp quy định rõ những việc nhà nước được thực hiện, không được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện vì lợi ích của người dân Tất cả những hành vi vi phạm Hiến pháp phải được ngăn chặn và xét xử kịp thời Như vậy, bản chất của Hiến pháp xét đến cùng chính là nhằm bảo vệ quyền con người
1.2.2 Mối quan hệ giữa Hiến pháp và quyền con người
Hiến pháp và quyền con người có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời, thể hiện qua một số khía cạnh sau
1.2.2.1 Quyền con người tạo động lực cho sự phát triển của Hiến pháp
Từ lịch sử phát triển của quyền con người, có thể thấy tư tưởng về quyền con người gắn với những quyền tự nhiên vốn có của con người Trong
Bộ luật Hammurabi (1810 – 1750 TCN); Hiến chương Magna Carta (1251)
và Bộ luật về các quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn độc lập (1776) của Hoa Kỳ…Những văn kiện này đều ghi nhận các quyền con người một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp là các quyền tự nhiên
Ví dụ, theo Lời nói đầu của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền từ do và
Trang 30mưu cầu hạnh phúc” [15, tr.115] Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra đã tự do và bình đẳng về các quyền…” [15, tr.119] Như vậy, ở đây các quyền và tự do được coi là những
quyền tự nhiên, vốn có của con người, không phải là do nhà nước ban phát cho mới có được
Trong lịch sử pháp điển hóa quyền con người trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, một cấu phần của Hiến pháp (Đại Hiến chương Magna Carta, Bộ luật về các quyền của nước Anh), hoặc sự ra đời của Hiến pháp ở nhiều quốc gia (Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của Pháp) đều phản ánh ảnh hưởng của lý thuyết quyền con người là các quyền tự nhiên
Như vậy, tư tưởng về quyền con người nói chung, các quyền tự nhiên của con người nói riêng có mối liên hệ rõ ràng và trực tiếp đến sự hình thành
và phát triển của Hiến pháp trên thế giới
1.2.2.2 Quyền con người là những quy định không thể thiếu trong Hiến pháp
Mặc dù bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới (Hiến pháp Hoa Kỳ 1787), không bao hàm các quy định về quyền con người, nhưng trên thực tế, trước khi bản Hiến pháp này được thông qua, các phe trong Hội nghị lập hiến lúc đó đã đạt được thỏa thuận rằng ngay sau đó Quốc Hội Mỹ sẽ xem xét và thông qua các quy định bổ sung về quyền con người Kết quả là 10 điều đầu tiên bổ sung Hiến pháp 1787 đã được thông qua, tất cả đều có nội dung về quyền con người, gọi là Bộ luật về quyền của nước Mỹ
Ở châu Âu cùng thời kỳ đó, chỉ trong vòng 35 năm (từ năm 1795 đến 1830), hơn 70 bản Hiến pháp của các quốc gia trong chấu lục đã được thông qua Tất cả đều quy định các quyền con người như đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 của nước Pháp và Bộ luật nhân quyền của nước Mỹ [13, tr.286]
Trang 31Như vậy, quyền con người, quyền công dân trở thành một cấu thành quan trọng, một nội dung cơ bản trong các bản Hiến pháp trên thế giới
Một nhà nghiên cứu đã nhận định rằng: “Nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thì cũng không thể có bản thân Hiến pháp…” [11, tr.148]
Từ khi Luật nhân quyền quốc tế ra đời cùng với Liên Hợp Quốc thì thực
tế trong các bản Hiến pháp của các quốc gia đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, và đây là chế định không thể thiếu trong Hiến pháp
1.2.2.3 Hiến pháp có vai trò bảo vệ quyền con người
Các quyền con người không phải là quà tặng của thượng đế, hay sự ban phát của Nhà nước mà là kết quả lao động và đấu tranh của bản thân quần chúng lao động Do vậy, các quyền con người phải được ghi nhận, khẳng định trong pháp luật, và phải được bắt đầu từ Hiến pháp, bởi ở mọi quốc gia trên thế giới, Hiến pháp đều được coi là đạo luật gốc của quốc gia, là nền tảng để xây dựng các đạo luật thông thường khác
Khi Hiến pháp có những quy định về quyền con người, thì chính là điều kiện để các quyền con người được tôn trọng và bảo vệ, là điều kiện để cụ thể hóa các chế đinh, quy phạm Hiến pháp về quyền con người
Hiện nay, hầu hết các quyền con người theo luật nhân quyền quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, tuy với mức độ khác nhau Như vậy với hiệu lực tối cao của nó, Hiến pháp đang đóng vai trò
là công cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia
Nếu như các quyền dân chủ, các quyền dân sự, chính trị luôn được đề cập đầu tiên trong Hiến pháp các quốc gia ví dụ như quyền bầu cử, ứng cứ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền làm chủ của người dân thì nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cũng là nhóm quyền không thể thiếu trong Hiến pháp
và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau… vì nếu các quyền kinh tế, văn hóa, xã
Trang 32hội có liên quan như quyền giáo dục, chăm sóc sức khỏe, y tế không được đảm bảo thì các quyền ứng cử, bầu cử ít có ý nghĩa với những người mù chữ, những người nghèo khổ, ngược lại việc bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa,
xã hội đều gắn liền với sự phát triển của các quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội là yếu tố nền tảng thúc đẩy các điều kiện sống về kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi người dân
Hiến pháp bảo vệ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các hình thức sau:
Thứ nhất, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Toàn bộ
hệ thống cơ quan nhà nước, mọi người dân phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp Vì vậy, ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp đồng nghĩa với việc buộc các cơ quan nhà nước, mọi cá nhân, công dân đều phải tuân thủ và thực hiện
Cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp trong tất cả quá trình
từ thành lập, tổ chức hoạt động đến thực thi các chức năng do Hiến pháp trao cho trên cơ sở nhân dân làm chủ Hiến pháp là căn cứ để nhà nước ban hành các đạo luật cụ thể với mục đích bảo vệ tối đa các quyền con người
Thứ hai, Hiến pháp quy định sự chế ước quyền lực giữ các cơ quan nhà
nước, chống lại sự tùy tiện của nhà nước trong khi thực hiện chức năng của mình, bảo vệ quyền lợi nhân dân
Thứ ba, Hiến pháp là căn cứ viện dẫn trước tòa án khi có các hành vi vi
phạm các quyền được Hiến pháp công nhận
Thứ tư, Hiến pháp đặt ra cơ chế bảo hiến làm căn cứ đánh giá tính
hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó, việc bảo vệ Hiến pháp nhằm mục đích bảo đảm tính toàn vẹn và tối cao của các giá trị, nguyên tắc, quy định của Hiến
Trang 33pháp; chống lại sự vi phạm từ bất kỳ chủ thể nào Tất cả những sự diễn giải trái với tinh thần và nguyên tắc của Hiến pháp sẽ bị đình chỉ và bãi bỏ bởi Tòa án hoặc một cơ quan chuyên trách thực hiện Vì vậy, các giá trị, tinh thần và quy định của Hiến pháp sẽ được giữ nguyên vẹn, quyền của người dân sẽ không bị xâm phạm
Trang 34Chương 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUYỀN KINH TẾ , VĂN HÓA, XÃ HỘI
QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM
2.1 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp trước Hiến pháp 2013
2.1.1 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1946
Năm 1945 là thời điểm đánh dấu một bước ngoặt trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã chấm dứt
80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm của chế độ phong kiến phương Bắc, đem lại độc lập, chủ quyền cho đất nước, đem lại tự do và các quyền con người, quyền công dân cho nhân dân Việt Nam
Một năm sau, Hiến pháp 1946 ra đời là Hiến pháp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Hiến pháp dân chủ và tiến bộ đầu tiên ở Đông Nam Á Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đầy khó khăn, phức tạp ở buổi đầu của cách mạng, quan hệ đến sự mất, còn của chính quyền nhân dân non trẻ; giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc đe dọa nền độc lập dân tộc mới giành lại được, Hiên pháp năm 1946 thực sự là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu lực nhất để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng và thực hiện quyền lực nhân dân trên nền tảng dân chủ Hiến pháp năm 1946 là cơ sở cho việc ghi nhận và thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thể hiện mối quan hệ pháp lý
cơ bản giữa nhà nước và công dân ở Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, người dân Việt Nam được Hiến pháp xác nhận có tư cách công dân của một nhà nước độc lập, có chủ quyền và các quyền con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm thực hiện, trở thành các quyền cơ bản của công dân
Trang 35Hiến pháp ngày 9/11/1946 (gồm Lời nói đầu, bảy chương, 70 điều) Quán triệt ba nguyên tắc xây dựng Hiến pháp là đoàn kết toàn dân, bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và gián tiếp của nhân dân Trong bảy chương thì chương về quyền và nghĩa vụ của công dân được xếp thứ hai sau chương về chính thể (Chương II) với tiêu đề
“Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” Trong Chương II, Hiến pháp năm 1946
dành 16 điều (các điều 4-18, 20, 21) quy định bốn nguyên tắc chung của quyền con người, 27 quyền của công dân về chính trị, dân sự, văn hóa, xã hội
và bốn nghĩa vụ của công dân Nét nổi bật của những quy định trong Hiến pháp năm 1946 về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam là các quy định này chỉ được tập trung trong Chương II
Bốn nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công
dân Việt Nam được thể hiện trong bốn điều (các Điều 6, 7, 8, 16) của Hiến pháp năm 1946, gồm:
“Mọi công dân đều ngang quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa” [23, Điều 6]; “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” [23, Điều 7]; “công dân thuộc dân tộc thiểu số được Nhà nước và xã hội giúp đỡ về mọi mặt để đạt trình độ chung của xã hội” [23, Điều 8]; “người nước ngoài đấu tranh vì dân chủ và tự do mà bị bức hại thì được Nhà nước Việt Nam cho cư trú tại Việt Nam” [23, Điều 16]
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các quyền cụ thể của công dân trên
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Do hoàn cảnh lịch sử nước nhà vừa mới
giành được độc lập, có hơn 90 % dân số mù chữ, bởi vậy, diệt giặc dốt là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước và toàn dân, cho nên Hiến pháp
năm 1946 chỉ quy định một quyền văn hóa nói chung của cá nhân – đó là
quyền học tập
Hiến pháp năm 1946 dành bốn điều (các Điều 8, 9, 13, 14) quy định
Trang 36bảy quyền kinh tế, xã hội của công dân, trong đó một quyền dành cho mọi công dân là bình đẳng nam, nữ về mọi phương diện ; sáu quyền cho công dân
có đặc điểm, hoàn cảnh riêng: công dân thuộc dân tộc thiểu số; trí thức, người lao động chân tay, người già không làm được việc , người tàn tật không làm được việc, trẻ em
Từ những quy định trong Hiến pháp 1946 có thể rút ra nhận xét sau đây
Các quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, thể hiện chính sách của nhà nước Việt Nam
về tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam; kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của công dân, giữa lợi ích chính đáng của
cá nhân với lợi ích chính đáng của tập thể và của xã hội trong điều kiện nước nhà vừa mới độc lập, lại đang chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống sự xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp
Các quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam là cơ sở pháp lý đầu tiên để Nhà nước và xã hội tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong các giai đoạn tiếp theo của cách mạng
Có thể nói xét về kỹ thuật lập hiến, cách thức quy định trong Hiến pháp là ngắn gọn, khúc triết và có tính hàm xúc hay
tính mở cho việc thể chế hóa thành luật Chẳng hạn như: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền”… [31]
Việc những giá trị quyền con người nói chung, quyền kinh tế, văn hóa,
xã hội nói riêng được long trọng ghi nhận trong Hiến pháp 1946, vào thời điểm chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ đang phải đối mặt với các nguy cơ, những mối đe dọa nghiêm trọng từ “thù trong, giặc ngoài” cho thấy
sự quan tâm tiến bộ đặc biệt của Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực này
Trang 37Chế định quyền công dân trong Hiến pháp 1946 thực sự đã thể hiện nội dung cốt lõi trong Hiến pháp của một nhà nước dân chủ kiểu mới ở Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình lập hiến và lập pháp về quyền con người ở Việt Nam trong các giai đoạn sau này
Trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân Pháp (1946 -1954), mặc dù những tư tưởng và quy phạm pháp lý tiến bộ về quyền con người, trong đó bao gồm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.Tuy nhiên, do đất nước đối mặt với những khó khăn, gian khổ trong cuộc chiến tranh để bảo bệ độc lập, tự do cho dân tộc, cũng như bảo vệ phẩm giá cho con người, nên việc bảo đảm các quyền con người nói chung, cũng như các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng còn tương đối hạn chế
2.1.2 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1959
Sau khi giành độc lập không lâu, thì toàn dân tộc đã phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc
Chín năm kháng chiến trường kỳ (1946 -1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi vào năm 1954 đã mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc đồng thời tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam Hiến pháp 1959 được thông qua thay thế cho Hiến pháp 1946 để đáp ứng nhiệm vụ chính trị này
Về mặt hình thức, Hiến pháp năm 1959 có hai điểm khác so với Hiến
pháp năm 1946 là sử dụng cụm từ “quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đặt tên cho Chương III và các quy định về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được chứa được chứa đựng trong nhiều chương chứ không phải chỉ tập trung ở Chương III Như vậy, Hiến pháp
năm 1959 chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ “cơ bản” của công dân chứ
không quy định tất cả các quyền và nghĩa vụ của công dân; quyền con người
Trang 38được ghi nhận thành quyền công dân nhiều hơn, phong phú hơn so với Hiến pháp năm 1946 và theo đó, nghĩa vụ của công dân cũng tăng lên nhằm đảm bảo nguyên tắc quyền và nghĩa vụ của công dân đi đôi với nhau
Hiến pháp năm 1959 quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như sau:
Về quyền kinh tế, Hiến pháp năm 1959 dành năm điều (các Điều 11,
14, 15, 16, 30) quy định bảy quyền kinh tế của công dân Điều này hoàn toàn
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, khi miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó xây dựng và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng hàng đầu
Hiến pháp năm 1959 quy định quyền làm việc tại Điều 30 Bên cạnh đó,
tại các Điều 11, 14, 15, 16, Hiến pháp năm 1959 còn quy định năm quyền kinh
tế của công dân thuộc các giai cấp và tầng lớp lao động khác nhau – đó là:
“Quyền sở hữu của người làm nghề thủ công và người lao động riêng
lẻ khác đối với tư liệu sản xuất” [24, Điều 11]; “Quyền của nông dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác” [24, Điều 14], “Quyền của người làm nghề thủ công và người lao động riêng lẻ khác được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất” [24, Điều 15], “Quyền của nhà tư sản dân tộc được Nhà nước bảo hộ quyền
sở hữu đối với tư liệu sản xuất và của cái khác” [24, Điều 16]
Đối với quyền kinh tế của nhóm (tập thể) công dân thì Hiến pháp năm 1959
chỉ quy định “quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất của hợp tác xã” [24, Điều 11]
Về quyền văn hóa, Hiến pháp năm 1959 mở rộng các quyền này của
công dân bằng những quy định về các quyền mới ngoài quyền học tập đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 dành ba điều
(các Điều 3, 33, 34) quy định sáu quyền văn hóa của công dân (năm quyền
dành cho mọi cá nhân công dân và một quyền của cộng đồng công dân)
Trang 39Năm quyền văn hóa của mọi cá nhân công dân là: quyền về học tập, sáng tác văn học, sáng tác nghệ thuật, tham gia các hoạt động văn hóa khác, nghiên cứu khoa học
Một quyền của cộng đồng công dân được quy định tại Điều 3 là:
“quyền của các dân tộc được duy trì hoặc sửa đổi các phong tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hóa dân tộc” [24, Điều 3]
Về quyền xã hội, Hiến pháp năm 1959 dành các Điều 24, 31, 32, 35
quy định 12 quyền xã hội của công dân, có hai quyền – trong đó có một quyền mới đó là: “bình đẳng nam, nữ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình” [24, Điều 24]
Tại bốn điều, Hiến pháp năm 1959 quy định 10 quyền cho những chủ thể là cá nhân công dân ở vào những hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có tám quyền mới, gồm:
“Nữ công nhân được hưởng chế độ thai sản, nữ viên chức được hưởng chế độ thai sản, người mẹ sinh con và nuôi con nhỏ được Nhà nước bảo hộ, trẻ
em được Nhà nước bảo hộ”[24, Điều 24]; “công nhân viên chức được nghỉ ngơi,người lao động khi già yếu được nhà nước giúp đỡ về vật chất” [24, Điều 31]; “người lao động ốm đau được nhà nước giúp đỡ về vật chất, người lao động mất sức được Nhà nước giúp đỡ về vật chất” [24, Điều 32]; “thanh niên được Nhà nước chăm sóc, giáo dục” [24, Điều 35]
Từ những trình bày ở trên về các quy định Hiến pháp năm 1959 về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có thể rút ra nhận xét sau đây
Thứ nhất, có sự kết hợp hài hoà giữa kế thừa và phát triển, bổ sung các
quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam Điều đó thể hiện tính liên tục và nhất quán trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân
Trang 40Thứ hai, so với Hiến pháp 1946 số lượng các quyền con người trong
Hiến pháp 1959 đều tăng lên đáng kể, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Sự gia tăng này vừa phản ánh thái độ của Nhà nước luôn tôn trọng quyền con người nói chung và các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng, nhắm kết hợp mở rộng quyền của công dân, quyền con người với việc nâng cao nghĩa vụ của công dân, vừa thể hiện bước phát triển mới của xã hội Việt Nam khi bước vào xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước
Thứ ba, một điểm mới đáng chú ý trong Hiến pháp năm 1959 là trong 22
Điều quy định các quyền công dân thì có tới 16 Điều (các Điều 14, 15, 16, 18,19, 24,25,27, 28, 29, 30, 31,32,33,34, 35) quy định những bảo đảm của Nhà nước Đây không đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật lập hiến mà quan trọng hơn
là sự nhận thức đúng đắn và thái độ quan tâm của Nhà nước đối với quyền con người và quyền công dân trong một nước vừa mới giành độc lập, tự do
Với việc mở rộng các quyền công dân mà phần lớn các quyền được mở rộng là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, tiêu biểu như: quyền được ưu tiên đối với bè mẹ, trẻ em; quyền được làm việc cải thiện điều kiện làm việc và lương bổng; quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao độn; quyền học tập; quyền được tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác
Tuy vậy, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, một số quyền trên chỉ được đảm bảo ở mức độ nhất định, về cơ bản, việc bảo đảm các quyền kinh
tế, văn hóa, xã hội ở thời kỳ này chủ yếu mới đạt về số lượng, chưa đạt về chất lượng
2.1.3 Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1980
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (năm 1975), Việt Nam bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Trong