1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi công vụ

127 725 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù trách nhiệm của Nhà nước đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong thi hành công vụ đã được quy định trong nhiêu văn bản nêu trên, nhưng p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-* -

VŨ THỊ LAN ANH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC THI CÔNG VỤ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-* -

VŨ THỊ LAN ANH

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC THI CÔNG VỤ

Chuyên ngành : Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của Đề tài 4

2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 7

3 Phương pháp nghiên cứu 7

4 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 9

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC 9

1.1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường nhà nước 9

1.2 Bản chất của pháp luật về bồi thường nhà nước 12

1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước 18

1.3.1 Phạm vi của hành vi công quyền và hành vi vi phạm pháp pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường 18

1.3.2 Cơ sở pháp lý và phạm vi trách nhiệm của nhà nước 21

Chương 2 31

PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 31

2.1 Pháp luật về bồi thường của Cộng hòa liên bang Đức 31

2.2 Pháp luật về bồi thường của Nhật Bản 37

2.3 Pháp luật về bồi thường Nhà nước của Ca – na – đa 41

2.4 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Pháp 47

2.5 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Trung Quốc 55

2.6 Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc 59

Chương 3 68

Trang 4

XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC THI CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM 68

3.1 Sự hình thành phát triển và thực thi pháp luật bồi thường nhà nước

trong hoạt động thực thi công vụ ở Việt Nam 68

3.1.1 Phạm vi, nội dung và cơ chế thực thi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần phù hợp với đặc thù văn hóa và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 70

3.1.2 Thủ tục giải quyết bồi thường cần bảo đảm nhanh gọn, tránh phiền hà cho người bị thiệt hại 71

3.1.3 Giảm nhẹ một số nghĩa vụ mà công dân phải làm trong khi thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước giải quyết bồi thường thiệt hại 71

3.1.4 Việc thực thi hoạt động bồi thường Nhà nước ở Việt Nam trước khi ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 71

3.2 Nội dung Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 81

3.2.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng được bồi thường 84

3.2.2 Phạm vi trách nhiệm bồi thường 85

3.2.3 Thiệt hại được bồi thường 95

3.2.4 Cơ quan có trách nhiệm bồi thường và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường 97

3.2.5 Kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả 103

3.3 Bảo đảm thực thi pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi công vụ và định hướng ngày càng hoàn thiện pháp luật về bồi thường nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 108

3.3.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hoạt động lập pháp, lập quy 108

3.3.2 Phạm vi bồi thường thiệt hại của Nhà nước 111

Trang 5

4.3.4 Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường thiệt hại 1134.3.5 Về việc không thực thi nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại 1154.3.6 Bồi thường thiệt hại do bị oan trong tố tụng hình sự 1164.3.7 Phân biệt lỗi của nền công vụ và lỗi của người thực thi công vụ 118

KẾT LUẬN 120 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Người

bị bắt, bị giam, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường về vật

chất và phục hồi danh dự” (Điều 72); “Mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích của

Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự” (Điều 74) Đây là cơ sở pháp lý và cũng là văn

bản quan trọng nhất để cụ thể hóa các quy định trách nhiệm về bồi thường của

cơ quan Nhà nước đối với những thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra Bên cạnh đấy, tại Nghị quyết số 48-NQ/TƯ ngày 24 tháng năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010 có khẳng định về “bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của

công dân, trong đó quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ” Các quy định về trách nhiệm bồi

thường của các cơ quan nhà nước đã được quy định trong Bộ Luật dân sự năm

1995 và đã tiếp tục được ghi nhận trong Bộ Luật dân sự năm 2005 (tại Điều

619 và Điều 620) Để cụ thể hóa các quy định nêu trên, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Các Bộ, ngành có liên quan cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về việc giải quyết

Trang 7

bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước và người tiến hành tố tụng (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) gây ra

Mặc dù trách nhiệm của Nhà nước đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong thi hành công vụ đã được quy định trong nhiêu văn bản nêu trên, nhưng phần lớn các quy định hiện hành về phạm vi bồi thường, về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ là những nguyên tắc, chưa cụ thể nên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại

Thực tiễn thi hành cho thấy, pháp luật về bồi thường thiệt hại của Nhà nước do người thi hành công vụ gây ra chưa được xây dựng trên quan điểm coi đây là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung mà chỉ coi là trách nhiệm bồi thường của từng cơ quan Nhà nước cụ thể như cơ quan quản

lý người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại; nhiều trường hợp cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường còn chưa xác định rõ và đặc biệt là chưa quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước khác có liên quan, nên việc giải quyết bồi thường không đạt được kết quả như mong muốn; các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường và nhiều vấn đề liên quan khác được pháp luật quy định chưa đầy đủ, không thống nhất và thiếu tính khả thi Hoạt động quản lý hành chính chủ yếu được thực hiện gắn với thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà không trực tiếp gắn với các quy định của pháp luật bồi thường Các văn bản hướng dẫn như Nghị định

số 47/NĐ-CP của Chính phủ hầu như không phát huy tác dụng, chưa được

áp dụng để giải quyết bồi thường thiệt hại trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự và hành chính Đối với bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự theo quy định của Nghị quyết 388 thì phạm vi điều chỉnh còn hẹp, mới chỉ bồi thường cho các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự, cho nên tác động của Nghị quyết còn hạn chế

Trang 8

Trước thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và thực tiễn thi hành cho thấy, pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều điều bất cập; chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu cụ thể, thiếu tính khả thi Do vậy, pháp luật về bồi thường Nhà nước cần phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện là nhiệm vụ cấp thiết trong điều kiện nước ta đang xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời nhằm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Một trong các nội dung quan trọng về định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được quy định trong Nghị quyết này là xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ; chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là của Tòa án trong việc bảo vệ các quyền đó; khắc phục việc xử lý oan sai

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi công vụ gây ra đã và đang còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các luật gia Bởi lẽ, nội dung của vấn đề bồi thường như phạm vi bồi thường đến đâu, việc xác định trách nhiệm xác định trách nhiệm của cán bộ, công chức gây ra thiệt hại trong quá trình thực thi công vụ như thế nào hay người có thẩm quyền như thế nào và cơ quan nào sẽ có trách nhiệm giải quyết bồi thường…, những vấn đề này đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn, đồng thời tham khảo thêm nhiều kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để quy định phù hợp với hoàn cảnh của đất nước Chính vì vậy, tôi đã

chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi

Trang 9

2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của luận văn là từ lịch sử hình thành cho đến thực tiễn áp dụng của các quy định về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi công

vụ của nước ta, đồng thời có nghiên cứu và tham khảo về pháp luật bồi thường nhà nước ở một số nước để tìm ra những hợp lý và không hợp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường nhà nước trong nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Với mục đích, nhiệm vụ chính của luận văn là:

- Phân tích và đánh giá những quan điểm chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức Từ đó khẳng định trách nhiệm của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong nửa thế kỷ qua đã, đang và sẽ thực hiện tôt hơn trách nhiệm của mình trước công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

- Khái quát chung về những quy định về bồi thường nhà nước ở một số nước trên thế giới

- Đưa ra một số nội dung tham khảo kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài về bồi thường nhà nước và kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình chính trị, kinh tế và xã hội nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, phương pháp nghiên cứu cơ bản mà luận văn sử dụng là phương pháp quy nạp trên cơ sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta để làm rõ những

Trang 10

quan điểm về bồi thường nhà nước Đồng thời, có phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường nhà nước ta để hướng đến hoàn thiện pháp luật về bồi thường nhà nước trong tương lai

Luận văn cũng sử dụng các tài liệu nước ngoài và các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong nước và ngoài nước về trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với thiệt hại trong hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp logic và phương pháp so sánh đối chiếu; phân tích để làm sáng

tỏ những nội dung nghiên cứu của luận văn

4 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường nhà nước Chương 2: Pháp luật một số nước về bồi thường thiệt hại của nhà nước Chương 3: Thực tiễn xây dựng và thực thi pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thực thi công vụ ở Việt Nam và phương hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bồi thường nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường nhà nước

Trong Đại từ điển tiếng Việt Thuật ngữ “trách nhiệm” rất gần với thuật

ngữ “nghĩa vụ”, trách nhiệm là điều “phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận

lấy về mình” [6], nghĩa vụ được hiểu là “bổn phận phải làm đối với xã hội hoặc với người khác” Như vậy, có thể hiểu ở góc độ chung nhất, trách nhiệm

là sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó, cá nhân hoặc

tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng Về phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lý, đạo đức Ở phương diện này trách nhiệm bồi thường nhà nước được quan niệm trên nền tảng triết lý: nhà nước là của dân, do dân, vì dân; nhân dân là chủ, cánh bộ, công chức là công bộc của dân Vì vậy, giá trị cao nhất của nhà nước là phục

vụ nhân dân Về phương diện pháp lý, trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức phát sinh trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Trong xã hội hiện đại, pháp luật vừa có chức năng bảo về, vừa có chức năng điều chỉnh tích cực, thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng

Để phát triển và tồn tại, con người rất cần đến nhà nước Nhưng một khi cần đến nhà nước phải nghĩ đến cách hạn chế quyền lực nhà nước, bởi vì nhà nước do con người điều khiển Con người của chúng ta bên cạnh những đức tính sáng tạo, chăm chỉ còn chứa đựng cả những đức tính lười nhác, tùy tiện, tính tham lam, ỷ lại, tính dựa dẫm vào những người khác, nhất là tính đam mê quyền lực Vì quyền lực nhà nước có trong tay, con người có thể đạt được

Trang 12

nhiều thứ quyền lợi khác như: của cải, danh vọng, quyền được sai khiến người khác Vì vậy, khi một người nào đó được giao quyền lực nhà nước nếu không

có những động cơ khắc phục những tính tiêu cực sẽ gây nên hậu quả kém của nhà nước Hoạt động của nhà nước là một hoạt động phức tạp, thường là phải

do nhiều người cùng đảm nhiệm, nếu không có sự phân công trách nhiệm rõ

ràng thì rất dễ rơi vào tình trạng ỷ lại lẫn nhau, theo kiểu “cha chung không ai

khóc” Trong hoạt động của lĩnh vực công, càng tập trung bao nhiêu càng làm

việc tập thể với nguyên tắc đa số để ban hành quyết định bao nhiêu thì càng tạo

ra cơ sở nhiều hơn cho sự ỷ lại và không chịu trách nhiệm cá nhân bấy nhiêu

Chính vì vậy, khi quyền lực tập trung quá nhiều vào một nơi thì xét về mặt khách quan đều xuất hiện nguy cơ lạm dụng quyền lực đó trong mối quan

hệ với kẻ yếu Ý tưởng này được coi là nền tảng cho học thuyết về phân

quyền (ở Việt nam được gọi là “tam quyền phân lập”) Điều này cũng dẫn tới

việc ra đời học thuyết về nhà nước pháp quyền mà theo nội dung của nói thì:

về phương diện chính trị, quyền lực Nhà nước cần được kiểm soát và giới hạn bởi pháp luật; về phương diện tư pháp, mọi hoạt động của nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) cần được kiểm tra lại bằng con đường tòa án; về phương diện vật chất thì những hoạt động công quyền, nhân danh nhà nước của nhà nước đều có thể kéo theo hậu quả pháp lý bất lợi mà khoa học pháp lý gọi là trách nhiệm vật chất

Ngày nay, trong một xã hội hiện đại, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là những mối quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật mà ở đó, vị thế của các bên là không bình đẳng về mọi phương diện Vì vậy, một trật tự pháp luật

nhân đạo cần phải “ưu tiên” bảo vệ kẻ yếu Trong trường hợp này là những đối

tượng của quản lý nhà nước Công dân và lợi ích của họ là những đối tượng thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được bảo vệ trước mọi xâm hại trái

Trang 13

thì luôn có nghĩa vụ Vì thế, đặt vấn đề trách nhiệm của nhà nước trong khi thực hiện công quyền là điều hiển nhiên trong một trật tự nhà nước pháp quyền

Tuy nhiên, vấn đề cần làm rõ: ai là nhà nước?, Karl Marx đã định nghĩa

“bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Theo đó, khái niệm pháp lý về “con người” với tính cách là chủ thể chung của các quan hệ

pháp luật cần hiểu gồm các loại pháp nhân và thể nhân Trong đó, nhà nước, suy cho cùng cũng chỉ là một chủ thể pháp luật, một pháp nhân đặc biệt

Trong xã hội hiện đại, dù kiểu phương Đông hay phương Tây, dù với bất kỳ chế độ và thể chế chính trị - xã hội nào thì mối quan hệ giữa nhà nước

và công dân là những mối quan hệ cần được dự liệu bằng pháp luật Theo đó, nhà nước - chủ thể của quan hệ pháp luật, khi tham gia các quan hệ pháp luật cũng đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định và phải gánh chịu những hệ quả pháp lý tất yếu phái sinh từ những quan hệ pháp luật Từ đó suy ra rằng,

việc nhà nước - “sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp” (V.I Lênin) cần phải bồi thường cho “bên kia” của quan hệ pháp luật điều hiển

nhiên diễn ra trong xã hội mới - xã hội thay thế xã hội thần quyền, xã hội thần dân với nhà nước, cảnh sát, chuyên chế Tuy nhiên, là nơi giao lưu của các quan hệ xã hội khác nhau, điều chỉnh bằng những hệ thống pháp luật khác nhau, các hành vi của nhà nước cũng được xem xét bởi nguyên tắc của những loại pháp luật khác nhau, thể hiện bản chất và tính chất của quyền lực chính trị khác nhau Điều đó cũng có nghĩa là, khi tham gia một quan hệ pháp luật, nhà nước (mà cụ thể là các cơ quan nhà nước, hay các tổ chức nhân danh nhà nước) có thể: nhân danh quyền lực công cộng hoặc không nhân danh quyền lực công cộng Điều này là khó hiểu cho những công bộc của dân, song thực

tế, nhà nước có thể và cần phải tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật mà

ở đó, nhà nước không phải là nhà nước theo đúng nghĩa, bởi lẽ khi đó, sự xuất

hiện của “nhà nước” không mang dấu hiệu quyền lực công

Trang 14

Do vậy, nếu hiểu như thế thì việc nhà nước phải bồi thường cho ai đó

có thể phái sinh từ hai loại quan hệ pháp luật:

- Quan hệ pháp luật mà nhà nước xuất hiện với tư cách là chủ nhân của quyền lực công cộng (pháp luật công); và

- Quan hệ pháp luật mà nhà nước có vị thế bình đẳng (về quyền lực) với chủ thể khác, với công dân (pháp luật tư)

Từ hai loại quan hệ trên thì hậu quả pháp lý là nhà nước phải đền bù, bồi thường hay bồi hoàn Vấn đề đặt ra là, pháp luật về bồi thường nhà nước

có điều chỉnh thống nhất cả hai loại hậu quả pháp lý này không? Theo nhận thức chung, khi tham gia những quan hệ pháp luật bình đẳng và tự do, nhà nước được đối xử như bất kỳ một loại chủ thể pháp luật (dân sự) nào nên vì thế, không cần có những quy định pháp luật riêng rẽ Lúc đó, pháp luật dân sự chung sẽ điều chỉnh nhà nước như mọi chủ thể pháp luật khác theo những nguyên tắc và thủ tục dân sự, áp dụng cho các giao dịch dân sự Vấn đề còn lại là pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ điều chỉnh vần đề bồi thường của nhà nước khi nhà nước thực hiện hành vi công quyền Quan hệ pháp luật trong những trường hợp như vậy được các quốc gia châu Âu lục địa

gọi là “quan hệ pháp luật công”

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một dạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, phát sinh từ các hoạt động công quyền của các

cơ quan nhà nước hoặc nhân danh nhà nước

1.2 Bản chất của pháp luật về bồi thường nhà nước

Việc xác định nguyên tắc giải quyết bồi thường nhà nước có ý nghĩa quan trọng và phải được thể hiện xuyên suốt trong pháp luật về bồi thường nhà nước, cũng như quá trình thi hành pháp luật về bồi thường nhà nước Để

Trang 15

xác định nguyên tắc giải quyết bồi thường nhà nước thì trước hết phải làm sáng tỏ được bản chất của quan hệ bồi thường nhà nước là quan hệ hành chính hay quan hệ dân sự Bởi vì, nếu bồi thường nhà nước là quan hệ hành chính thì việc bồi thường toàn bộ thiệt hại về vật chất và áp dụng cơ chế thoả thuận, thương lượng giữa Nhà nước và người bị thiệt hại là không phù hợp Ngược lại, nếu bồi thường nhà nước là quan hệ dân sự như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì quy định về mức bồi thường, về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường như thế nào cho hợp lý

Về vấn đề này, vẫn còn nhiều luồng ý kiến và quan điểm khác nhau Tuy nhiên, theo quan điểm của một chuyên gia luật học thì để lý giải về vấn

đề này cần xuất phát từ vấn đề rất căn bản là: Nhà nước và các cơ quan nhà nước là những pháp nhân công quyền, còn những tổ chức của nhà nước (đơn

vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế) những pháp nhân dân sự Cả hai loại pháp nhân này đều tham gia nhiều mối quan hệ với công dân, tổ chức có những quan hệ mang tính quyền lực hành chính nhà nước và những quan hệ mang tính dân

sự

Nhà nước, các cơ quan nhà nước là những pháp nhân công quyền thực hiện rất đa dạng các hoạt động khác nhau: hoạt động lập pháp (xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật); hoạt động hành pháp (tổ chức thực hiện pháp luật); hoạt động tư pháp

Hoạt động lập pháp – hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (theo nghĩa rộng đầy đủ của từ này gồm hoạt động ban hành Luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống hành chính nhà nước, chính quyền địa phương, cơ quan khác của nhà nước và cả tổ chức chính trị-

xã hội tham gia) Hoạt động này cũng có thể gây tổn hại về vật chất, tinh

Trang 16

thần cho cá nhân, tổ chức công dân do đó về nguyên tắc cũng phải bồi thường Một thực tế là những văn bản quy phạm pháp luật không hợp pháp lại không gây thiệt hại cho một công dân, tổ chức cụ thể, mà gây thiệt hại cho một đối tượng công dân, tổ chức nhất định, hay cả một cộng đồng xã hội nên thường không gây khiếu nại cụ thể, mà gây sự phản ứng của những đối tượng bị thiệt hại ở quy mô lớn hơn và thường dẫn đến những phản ứng từ phía các công dân, tổ chức – sự phản ứng chính trị (chính trị là tất cả những

gì mà khi giải quyết nó đều động chạm tới lợi ích quốc gia, dân tộc, cá nhân,

tổ chức), thì nhà nước thường xử lý bằng cách sửa đổi hay bãi bỏ văn bản đã ban hành

Nhưng việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành một cách hợp pháp (không vi phạm các quy định đã ban hành) mà gây thiệt hại về tinh thần thì nhà nước bồi thường về tinh thần (phục hồi lại danh dự, nhân phẩm của người bị thiệt hại), còn thiệt hại về vật chất thì rất ít các quốc gia

trên thế giới đặt vấn đề bồi thường mà đặt “vào tình thế đã rồi” – sự đã rồi

của hoạt động chính trị vì pháp luật là chính trị hay một phần của chính trị Chính vì lẽ đó người ta thường loại hoạt động lập pháp, lập quy ra khỏi phạm

vị bồi thường nhà nước Điều này tùy thuộc vào lý do chính trị, sự cân nhắc chính trị, kinh tế - xã hội mà các quốc gia lựa chọn

Hoạt động hành pháp – hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật bằng các hoạt động hành chính cụ thể do cán bộ, công chức nhà nước, hay những người khác được ủy quyền thực hiện Hoạt động hành chính được thể hiện cụ thể quan việc ra các quyết định hành chính cá biệt cụ thể, hay thực hiện hành vi hành chính – hành vi công vụ cán bộ, công chức nhà nước và cả những người khác được ủy quyền có thể gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức (đây là trường hợp phổ biến nhất) thì phải bồi thường Như vậy, cơ quan nhà nước, cán bộ,

Trang 17

tổ chức là hành chính vì có lý do công vụ mới có quan hệ này Khi thực thi công vụ, cán bộ, công chức nhà nước nhân danh quyền lực nhà nước, đại diện cho quyền lực hành chính họ tham gia vào quan hệ với cá nhân, tổ chức chịu

sự ràng buộc bởi các quy tắc hành chính – một loại thể chế chứa đựng yếu tố mệnh lệnh – quyền lực phục tùng Nhưng yếu tố này lại được ràng buộc bởi pháp luật, nên người thực thi công vụ không thể tùy tiện thực hiện theo ý thức chủ quan của mình mà phải dựa vào các chuẩn mực của thể chế Khi vi phạm các quy định thể chế gây thiệt hại phải bồi thường, người vi phạm có thể là cố

ý hay vô ý, về nguyên tắc chung nhà nước phải bồi thường Nhưng ở dây cũng phải phân biệt hai trường hợp, người cán bộ, công chức vi phạm do cố ý nếu bước qua giới hạn của quan hệ hành chính sẽ bước sang quan hệ hình sự,

họ phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng việc bồi thường thì lại thuộc về nhà nước phải gánh chịu, trừ khi người thực thi công vụ vi phạm vì mục địch vụ lợi

Như vậy, việc gây thiệt hại về vật chất hay tinh thần cho cá nhân, tổ chức do cán bộ, công chức hay những người khác gây nên đều gắn với hoạt động công vụ, gắn với quan hệ hành chính, do đó trách nhiệm bồi thường nhà nước xuất hiện gắn liền với hoạt động công vụ của nhà nước, vì lý do công vụ

mà có quan hệ bồi thường nhà nước, mà không gắn với quan hệ hợp đồng trên nguyên tắc bình đẳng dân sự nào cả

Hoạt động hành chính rất đa dạng trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội, và những hoạt động này đều cũng có thể gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức, về nguyên tắc mọi hoạt động hành chính gây thiệt hại đều phải bồi thường Việc hạn chế lĩnh vực hay hành vi bị bồi thường nhà nước lại tùy thuộc vào sự tính toán cân nhắc của các nhà làm luật

Trang 18

Hoạt động tư pháp – Hiểu theo nghĩa rộng của từ này gồm hoạt động điều tra, truy tố, công tố, xét xử, thi hành án Trong quá trình này các cán bộ, công chức, những người tiến hành tố tụng vì nhiều những nguyên nhân khác nhau cũng đều có thể vi phạm pháp luật mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức Xét về bản chất thì những hoạt động này cũng là hoạt động công vụ, nhân danh quyền lực, đại diện cho quyền lực nhà nước mà thực hiện, ở đây không

hề có quan hệ hợp đồng trên nguyên tắc bình đẳng nào cả Quan hệ ở đây là quan hệ có tính quyền lực, vì lý do thực hiện quyền lực mà gây tổn hại về vật chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức, do đó đều phải bồi thường

Bên cạnh việc tham gia vào những quan hệ hành chính, các cơ quan, tổ chức nhà nước cũng tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế, họ tham gia vào những quan hệ này trên cơ sở nguyên tắc hợp đồng, các bên đều bình đẳng trong quan hệ, do đó khi vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật hợp đồng gây thiệt hại cho công dân (cá nhân, tổ chức) đều phải bồi thường trên nguyên tắc dân sự, hai bên đều có thể thỏa thuận để dàn sếp về mức bồi thường, phương thức bồi thường, nếu không thành thì các bên đều có thể khởi kiện tới Tòa án dân sự, kinh tế để tranh tụng bồi thường Trong quan hệ ấy các bên tuyệt đối bình đẳng, không xen bất kỳ yếu tố quyền lực nào cả Trong trường hợp này việc bồi thường thiệt hại được tiến hành theo thủ tục hành chính, tố tụng hành chính, và tố tụng dân sự, trên nguyên tắc các quan hệ dân sự Do

đó, mọi hoạt động nhà nước cả lập pháp, hành pháp và tư pháp gây thiệt hại

về vật chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức đều phải bồi thường Nhưng việc loại hoạt động lập pháp ra khỏi bồi thường nhà nước là do yếu tố chính trị, kinh tế- xã hội quyết định- sự lựa chọn của các nhà lập pháp để phù hợp với điều kiện đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Vì vậy, bản chất quan

hệ bồi thường nhà nước là quan hệ hành chính

Trang 19

Mặt khác, cũng có quan điểm cho rằng về bản chất, quan hệ bồi thường thiệt hại nhà nước là quan hệ dân sự mà cụ thể là quan hệ dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bởi vì, người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường là các chủ thể độc lập, có quyền thương lượng, thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường… trường hợp không thống nhất thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường

Như vậy, về vấn đề này còn có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về việc xác định bản chất trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có ý kiến cho đây là một loại trách nhiệm bồi thường dân sự ngoài hợp đồng có yếu tố đặc thù Có ý kiến cho rằng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ hành chính Bởi vì, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ phát sinh khi hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của người thi hành công vụ được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xác định và việc giải quyết bồi thường thiệt hại đều gắn với quan hệ hành chính Về bản chất trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là vấn

đề quan trọng, xuyên suốt toàn bộ chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Xác định được bản chất của quan hệ bồi thường nhà nước sẽ giải quyết được các vấn đề lớn, phức tạp như nguyên tắc bồi thường, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường, mức bồi thường… Nếu cho rằng, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì cần phải được cân nhắc kỹ, vì như vậy việc bồi thường trước hết phải

do các bên tự giải quyết, trường hợp có tranh chấp về bồi thường phải do Tòa

án quyết định trên cơ sở các bên đưa ra chứng cứ để chứng minh bảo vệ

quyền lợi của mình theo nguyên tắc tôn trọng “quyền quyết định và tự định

đoạt của các đương sự”; các đương sự bao gồm người bị thiệt hại và cơ quan

có trách nhiệm bồi thường đều là những chủ thể bình đẳng trong quan hệ này Trong khi đó, việc bồi thường theo dự thảo Luật đều do cơ quan nhà nước

Trang 20

trực tiếp quản lý người thi hành công vụ thực hiện và ra quyết định giải quyết bồi thường

Nhưng nếu cho rằng, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ hành chính thì không hoàn toàn đúng vì quan hệ này không phải quan hệ mệnh lệnh, phục tùng Người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường là các chủ thể độc lập, có quyền thương lượng, thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường Trường hợp không thống nhất thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án Do vậy, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ dân sự - hành chính đặc thù Tuy nhiên, dù trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ gì thì điều quan trọng nhất là Luật này phải định ra được một cơ chế giải quyết bồi thường cụ thể, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho người dân trong quá trình giải quyết bồi thường, thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân

và vì dân

1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành của mình về cơ bản thể hiện trên cả ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp Việc xem xét những hành vi nào có thể thuộc vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật bồi thường nhà nước là điều mà mỗi nước cần cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng và hình thành pháp luật về bồi thường nhà nước để phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của từng nước

1.3.1 Phạm vi của hành vi công quyền và hành vi vi phạm pháp pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường

Khái niệm hoạt động công quyền tuyệt nhiên không đồng nghĩa với một dạng hoạt động cụ thể nào trong hệ thống quyền lực nhà nước Điều đó

Trang 21

thường chắc chắn sẽ không giới hạn bởi những hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tư pháp (chủ yếu là hình sự) Sẽ rất phiến diện và không đầy đủ nếu Luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra như Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đã ban hành Theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng (bao gồm Công an, Kiểm sát và Tòa án) phải bồi thường thiệt hại do những hoạt động nghiệp vụ của mình gây ra trong trường hợp được kết luận

là “oan sai” Điều này là hiển nhiên vì không có bất kỳ một nhà nước nào

trong thời đại hiện nay chỉ giới hạn chức năng và nhiệm vụ của mình trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Sự thiệt hại của công dân cũng vì thế

mà không chỉ giới hạn ở những trường hợp khi họ phải lao vào “vòng tố

tụng”

Theo học thuyết về phân chia quyền lực, nhà nước được nhìn nhận thông qua ba loại quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp Như vậy, theo lý

thuyết, khi thực thi cả ba loại quyền lực nhà nước đều có “nguy cơ” phát sinh

bồi thường nhà nước

Về vấn đề này, ở các quốc gia khác nhau có những cách giải quyết khác nhau liên quan đến chế định miễn trừ quốc gia Có quốc gia chỉ áp dụng trong lĩnh vực hành pháp (Hoa Kỳ), có quốc gia thì áp dụng trong cả ba nhánh quyền lực nhà nước (Đức, Nhật) Ở Việt Nam, theo pháp luật hiện hành thì chỉ áp dụng bồi thường nhà nước trong một số lĩnh vực của hành pháp và tư pháp

Trong xu hướng xã hội hóa các hoạt động của nhà nước, có một vấn

đề cần bàn thêm là, khi thực hiện các hành vi mang tính chất công quyền còn

có thể xuất hiện các cơ quan và tổ chức không phải là bộ phận hữu cơ của bộ máy nhà nước Những cơ quan và tổ chức này thực hiện những hành vi

Trang 22

mang tính công quyền bởi lẽ, nếu không có sự “hỗ trợ” của họ thì công việc

trước sau vẫn là của Nhà nước, do các cơ quan nhà nước phải thực hiện theo

sự “phân vai” của pháp luật Theo nghĩa đó, thì các quan hệ pháp luật này

cũng là các quan hệ pháp luật công hay pháp luật hành chính đại cương Hành vi của những cơ quan này cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước

Điều này cũng được áp dụng trong công tác của các nhân viên, công chức nhà nước Theo đó, thực hiện hành vi công vụ không chỉ là các công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước mà trên thực tế còn có sự tham gia

của những người “trợ giúp hành chính” Quan hệ công tác của những người

này cũng là một loại quan hệ công vụ và được xem xét theo các nguyên lý của pháp luật công Những thiệt hại phát sinh từ hoạt động của những con người này cuối cùng cũng do nhà nước gánh chịu Ngoài ra, hành động trong những tình trạng khẩn cấp của công dân trong quá trình cơ quan nhà nước thực thi công vụ mà bản thân họ gánh chịu những thiệt hại cũng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước

Ngày nay, khoa học hành chính còn biết đến cả khái niệm “hợp đồng hành chính”, được hiểu trong bối cảnh thay vì phải ban hành một quyết định hành chính tại cơ quan hành chính thì một hợp đồng hành chính được ký kết

Vì vậy, trong những trường hợp như vậy, tính chất “công quyền”, “công vụ” của bản hợp đồng cũng không bị loại trừ và như thế vẫn có thể đặt vấn đề trách nhiệm nhà nước Hơn nữa, khoa học kỹ thuật và công nghệ còn cho phép tọa ra và thực hiện những hành vi công vụ không nhất thiết phải thông qua xử sự trực tiếp của con người Ví dụ, không có các thiết bị kỹ thuật thì công an giao thông phải trực tiếp ban hành “những quyết định hành chính” đối với từng người tham gia giao thông khi họ xuất hiện trước ngã tư giao

Trang 23

con người Vì vậy, khi các đèn báo giao thông bị khuất sau những tán lá hoặc

bị hỏng mà theo đó, người tham gia giao thông bị tai nạn mà chịu thiệt hại thì

cơ quan nhà nước quản lý hệ thống đèn báo phải bồi thường

Ngoài ra, còn phải tính đến cả trường hợp trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với nguồn nguy hiểm cao độ phát sinh từ những đối tượng mà nhà nước quản lý Cây đổ, nhà sập (nếu những đối tượng này thuộc sở hữu hay trách nhiệm quản lý của nhà nước) mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước cũng phải bồi thường

1.3.2 Cơ sở pháp lý và phạm vi trách nhiệm của nhà nước

Khác với các dạng trách nhiệm pháp lý khác, trách nhiệm nhà nước phát sinh từ những quan hệ pháp luật công Theo đó, các chủ thể pháp luật không được tự do hành động và phải hành động theo nguyên tắc, các chủ thể (các cơ quan nhà nước) chỉ được làm những gì mà pháp luật ghi nhận

Trách nhiệm bồi thường của nhà nước cũng không nhất thiết phải do vi phạm pháp luật, không được xây dựng trên cơ sở của yếu tố chủ quan (lỗi) của cơ quan nhà nước (khác với lỗi do vi phạm trách nhiệm công vụ của công chức) Nói khác đi, 4 yếu tố cấu thành chế độ trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm vật chất thông thường không được xem xét đầy đủ

Khái niệm bồi thường nhà nước có nội hàm không chỉ là những đền bù bằng tiền mà bao gồm mọi hình thức đền bù như:

- Đền bù bằng tiền;

- Đền bù bằng hiện vật;

- Giải quyết hậu quả bằng cách thiết lập lại hiện trạng ban đầu

Trên tinh thần đó, có thể kể đến một số dạng trách nhiệm vật chất của nhà nước như sau:

Trang 24

1.3.2.1 Bồi hoàn theo pháp luật công

Bồi hoàn theo pháp luật công là một dạng biểu hiện của trách nhiệm nhà nước Mục đích của hình thức này là khắc phục những bất hợp lý của

những chuyển dịch tài sản đã thực hiện Ví dụ, việc truy thu lương của công

chức đã trả nhiều hơn mức được nhận, hoàn trả các khoản trợ cấp bất hợp lý, thu nộp các khoản đóng góp cho nhà nước quá nhiều, có thể là yêu cầu của công dân đối với nhà nước hoặc của nhà nước đối với công dân hoặc của nhà nước đối với nhà nước Quyền yêu cầu chung về bồi hoàn được áp dụng bổ sung, mang tính bổ trợ Điều đó có nghĩa là, điều này chỉ xảy ra khi đã tận dụng hết những biện pháp và khả năng khác Yêu cầu bồi hoàn này là một chế định chung có tính nguyên thủy và rất cá biệt trong pháp luật hành chính đại cương

1.3.2.2 Bồi thường thiệt hại từ quan hệ trái vụ theo pháp luật công

Tương tự như pháp luật dân sự, pháp luật hành chính công nhận quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do có vi phạm một quan hệ trái vụ theo pháp luật công Đây là những quyền yêu cầu xuât hiện do không có khả năng thực hiện lao vụ, chậm thực hiện lao vụ, thực hiện không đúng thỏa thuận hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ trước khi có hợp đồng Khác với luật dân sự, ở đây luôn đòi hỏi phải có sự vi phạm quan hệ trái vụ theo pháp luật công

Trong trường hợp này, bên cạnh các điều kiện cấu thành được quy định trong từng trường hợp, phải có sự tồn tại một quan hệ trái vụ theo pháp luật công Đó là trường hợp, nếu giữa công dân với cơ quan hành chính hình thành quan hệ đặc biệt chặt chẽ và có nhu cầu cần sự phân bổ một cách tương xứng trách nhiệm trong luật công Trên thực tế, những trường hợp điển hình của quan hệ trái vụ theo luật công là:

Trang 25

- Trông giữ theo pháp luật công (ví dụ, việc trông giữ phương tiện giao

thông bị tạm giữ, trông giữ đồ đạc bị tịch thu);

- Thực hiện công việc cho người khác mà không có sự ủy thác theo

pháp luật công (ví dụ, việc công dân dập tắt đám cháy - việc lẽ ra là trách

nhiệm của công an cứu hỏa);

- Các quan hệ sử dụng cơ sở của nhà nước và các quan hệ lao động theo

pháp luật công (ví dụ, việc cung cấp điện, nước thông qua chính quyền cấp cơ

Công chức đã phải hành động khi thi hành công vụ Điều này xuất hiện khi có hành vi quyền lực và quản lý hành chính đơn thuần, chứ không phải hành vi có tính chất ngân khố hoặc hành chính tư

Ngoài ra, phải có sự vi phạm một nghĩa vụ công chức đối với người thứ

ba Nghĩa vụ công chức là nghĩa vụ cư xử khi thi hành công vụ của một người

Trang 26

giữ một chức danh công vụ đối với cơ quan nhà nước (ví dụ, nghĩa vụ hành động đúng pháp luật nghĩa vụ bảo đảm an toàn giao thông theo pháp luật công) Nghĩa vụ này là nghĩa vụ đối với người thứ ba, nếu nó nhằm mục đích bảo vệ cá nhân và kể cả người bị hại lẫn đối tượng pháp luật bảo hộ có liên quan đều thuộc phạm vi bảo hộ Điều đáng lưu ý là, phạm vi của nghĩa vụ công chức không chỉ giới hạn trong khuôn khổ của các quy định pháp luật mà còn bao gồm cả những quy tắc xử sự nằm ngoài quy phạm pháp luật như quy phạm hành chính, các thể lệ và thủ tục hành chính, quy chế làm việc hay nội quy cơ quan … Vì vậy, một kiểm sát viên, Thẩm phán hay Điều tra viên không vi phạm nghĩa vụ công vụ mà do những yếu tố khác chi phối gây ra thiệt hại thì khó có thể buộc tội oan sai cho các cơ quan tố tụng này Bởi lẽ đơn giản là, nhà nước pháp quyền không phải luôn luôn là thước đo của chân

lý, của sự thật khách quan

Yếu tố chủ quan trong loại trách nhiệm pháp lý này cũng là lỗi của những người thi hành công vụ Tuy nhiên, theo nhận thức chung, lỗi trong trường hợp này được xác lập phải là lỗi cố ý hay vô ý trắng trợn Những trường hợp cẩu thả không bị coi là lỗi

Bên cạnh chế độ trách nhiệm phụ thuộc vào lỗi, cũng có thể có quyền yêu cầu xuất phát từ chế độ trách nhiệm đối với nguồn nguy hiểm theo pháp luật công, quyền yêu cầu này không đòi hỏi phải có yếu tố lỗi (ví dụ, tai nạn

do các đèn đường đồng thời báo hiệu xanh)

Khác với các hình thức bồi thường nhà nước khác, bồi thường thiệt hại phải từ trách nhiệm công vụ (hành chính) là bồi thường bằng tiền, không thể

là bồi thường bằng việc thực hiện một hành vi công vụ Điều này xuất phát từ

sự thiết kế chế độ bồi thường công vụ dựa trên chế độ bồi thường thiệt hại của

Trang 27

công chức Công chức, với tư cách là một cá nhân, không thể thực hiện được hành vi công vụ

Đối với yêu cầu chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công vụ gây

ra sẽ được thực hiện bởi thủ tục tố tụng dân sự Người phải thực hiện yêu cầu,

về nguyên tắc là nhà nước hoặc cơ quan nhà nước, nơi công chức phục vụ

1.3.2.4 Đền bù do quốc hữu hóa

Trong khi việc bồi thường thiệt hại nhằm mục đích làm cho người bị hại trở lại tình trạng như không có sự kiện gây thiệt hại xảy ra, thì việc đền

bù nhằm mục đích tạo ra một sự bù đắp tương đối cho mất mát mà người bị thiệt hại phải chịu Việc can thiệp và những đối tượng có giá trị tài sản và được pháp luật bảo hộ được xem xét theo các nguyên tắc quốc hữu hóa Đối với các đối tượng phi tài sản được pháp luật bảo hộ thì áp dụng giống như việc đền bù nạn nhân Sự can thiệp trái pháp luật và có lỗi không phải là yếu

tố bắt buộc Có thể tồn tại đồng thời việc bồi thường thiệt hại và các quyền yêu cầu đền bù

Quốc hữu hóa là một sự can thiệp có tính quyền lực và có mục đích vào

sở hữu nhằm tước toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu Bên cạnh căn cứ pháp luật, việc quốc hữu hóa đòi hỏi phải nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng Điều này xuất hiện, nếu theo đuổi một mục đích cụ thể thì một số lượng nhiều người không xác định sẽ có lợi lớn; không loại trừ khả năng quốc hữu hóa có lợi cho cá nhân Vấn đề cơ bản mục đích của việc quốc hữu hóa chứ không phải là người hưởng lợi Tiếp theo, việc quốc hữu hóa phải lưu ý tới nguyên tắc tương xứng Chỉ được phép quốc hữu hóa, nếu không có giải pháp pháp lý, kinh tế nào có thể chấp nhận được Cuối cùng, chỉ được quốc hữu hóa theo một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật, nếu đạo luật đó có quy định cách thức và mức đền bù

Trang 28

Ngoài ra, theo pháp luật bồi thường của Nhật Bản, Luật bồi thường không có điều nào quy định về phạm vi các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước chịu sự điều chỉnh của Luật mà chỉ quy định về các trường hợp mà nhà nước phải bồi thường Cụ thể, Điều 1 của Luật bồi thường nhà nước Nhật Bản quy định: Nếu nhân viên Chính phủ khi thực hiện công quyền của Nhà nước hoặc

cơ quan công quyền, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình đã cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho người liên quan thì Nhà nước hoặc cơ quan công quyền hữu quan sẽ chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó Nhưng có thể hiểu Luật bồi thường nhà nước Nhật Bản không loại trừ một lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước, các lĩnh vực lập pháp, quản lý hành chính và tư pháp (hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động công tố của Viện Công tố) đều không được loại trừ tuy rằng số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường đối với hoạt động lập pháp và hoạt động xét xử của Tòa án là không nhiều ở Nhật Bản Do đó, việc xác định phạm vi áp dụng của Luật đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động áp dụng và giải thích pháp luật của Tòa án

Đối với hoạt động lập pháp, quan điểm của Tòa án tối cao Nhật Bản là: trong tranh tụng về tính hợp pháp của hoạt động lập pháp, tòa án tối cao ngay lập tức xem xét tính bất hợp pháp của hành vi lập pháp của Quốc hội, điều này có nghĩa Tòa án tối cao coi đó là vấn đề đương nhiên Luật bồi thường Nhà nước cũng được áp dụng cho các hành động hay không hành động về mặt lập pháp[29] Đối với hoạt động tư pháp, quan điểm của Tòa án Nhật Bản là không loại trừ hoạt động tư pháp khỏi phạm vi của Luật bồi thường nhà nước,

cụ thể là: Tòa án thống nhất với lý lẽ là nhìn chung pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước được áp dụng cho các hành vi thực hiện nhiệm vụ của thẩm phán, không loại trừ việc áp dụng một luật là một điều đương nhiên

Trang 29

vướng mắc trong việc áp dụng Luật bồi thường Nhà nước đối với hành vi hành chính vì việc xác định tính bất hợp pháp hay thiệt hại từ các hành vi này

là không khó khăn

Tương tự như vậy, quy định của Luật thủ tục và trách nhiệm của Nhà nước Canada, không thấy có một sự hạn chế nào về phạm vi bồi thường Nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, là lập pháp, hành pháp hay tư pháp Theo quy định tại Điều 3 của Luật này thì Nhà nước chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gâu ra do lỗi của những cơ quan, công chức thừa hành công vụ mà không xác định phạm vi cơ quan, công chức trong lĩnh vực nào Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định như một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó, Nhà nước được xác định như một cá nhân đối với những thiệt hại do vi phạm ngoài hợp đồng gây ra bỏi cơ quan, công chức thừa hành công vụ của mình gây ra Ngoài ra, Điều 3 Luật này cũng mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm trong việc nắm giữ, chiếm giữ, sở hữu tài sản hoặc từ hoạt động của các tài sản thuộc sở hữu hoặc dưới sự chiếm giữ của Nhà nước Cũng theo Điều 8 của Luật này thì Nhà nước không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp vì mục đích bảo vệ đất nước hoặc hoạt động huấn luyện và duy trì quân đội Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa

tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có thể kiện đòi Nhà nước bồi thường thiệt hại trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình Việc xác định trách nhiệm của Nhà nước được thiết lập như một loại trách nhiệm ngoài hợp đồng, tức là theo luật

tư Theo án lệ, nguyên tắc của luật công đã dành cho cơ quan công quyền miễn trừ khỏi yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể, theo đó, một số quyết định của cơ quan công quyền sẽ không là đối tượng khởi kiện theo luật tư như: quyết định về lập pháp, xét xử

và các quyết định có tính chất như pháp luật; quyết định mang tính chính sách

Trang 30

(trái với các loại quyết định điều hành cụ thể); quyết định khởi tố, truy tố Như vậy, có thể thấy việc bồi thường ngoài hợp đồng của Nhà nước được miễn trừ trong hai lĩnh vực lập pháp, tư pháp Việc không quy định kiện đòi bồi thường thiệt hại trong đó tố tụng hình sự là nhằm phù hợp với tính chất độc lập trong hoạt động xét xử, cần tạo cho thẩm phán tự tin khi ra phán quyết, không sợ việc có thể bị kiện đòi bồi thường khi có sai lầm trong việc ra phán quyết Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa những trường hợp bị tổn thất, thiệt hại do hậu quả của các quyết định trong lĩnh vực lập pháp và tư pháp thì không được đền bù Tổn thất, thiệt hại gây ra trong các lĩnh vực này thì không phải là đối tượng bị khởi kiện yêu cầu bồi thường nhưng vẫn có thể được đền

bù theo cơ chế khác như cơ chế đền bù hình sự, cơ chế đền bù cho nạn nhân tội phạm tại các bang

Khác với các nước (Nhật Bản, Canada), theo quy định tại chương 2 và chương 3 của Luật Nhà nước quy định hai lĩnh vực được bồi thường là hành chính và hình sự (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự) Đối với các thiệt hại do các cơ quan nhà nước thực hiện trong các hoạt động tố tụng xét

xử và thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính gây ra, việc bồi thường được áp dụng tương tự như trong lĩnh vực hình sự Tuy nhiên, Luật bồi thường nhà nước của Trung Quốc chưa đề cập đến các thiệt hại do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, lập quy

Hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước ở Việt Nam quy định việc bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trong hoạt động chủ yếu của nhà nước là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn của nước ta hiện nay

Nhà nước ta là Nhà nước đơn nhất, tập quyền và có dân chủ đại diện Quốc hội là cơ quan ban hành luật, cơ quan lập pháp Tính đặc thù trong tổ

Trang 31

chức, vai trò, vị trí của cơ quan này là đại biểu Quốc hội do nhân dân bầu ra

và là người đại diện, phản ánh cho các ý kiến và lợi ích của các tầng lớp nhân dân Trong quá trình làm luật, để thực hiện hoạt động lập pháp, các đại biểu Quốc hội phải thảo luận, tranh luận về những nội dung cụ thể của từng đạo luật Theo học thuyết về quyền lực nhân dân thì Quốc hội thực chất là người thực thi sự ủy quyền của toàn dân Do vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, về mặt chính trị, nếu nhà nước mà cụ thể là Quốc hội ban hành một đạo luật bị coi l à

vi hiến, gây hậu quả xấu cho nhân dân thì sai sót này của Quốc hội, suy cho cùng là do sự sai sót của nhân dân trong hoạt động bầu cử Do đó, người dân cũng phải gánh chịu rủi ro này chứ không được kiện đòi bồi thường Mặt khác, hoạt động lập pháp là hoạt động chính trị, hậu quả của nó tác động đến toàn xã hội, đến mọi người trong xã hội chứ không nhằm cụ thể vào một cá nhân hay tổ chức nào Hoạt động chính trị sẽ kéo theo trách nhiệm chính trị chứ không thể bồi thường bằng vật chất Mặt khác, trong điều kiện kinh tế -

xã hội nước ta hiện nay, chưa nên đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động lập pháp, lập quy Hơn nữa, quy trình, thủ tục ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc đình chỉ, hủy bỏ, bãi bỏ văn bản nếu văn bản đó trái pháp luật được tiến hành theo trình tự, thủ tục riêng, nhiều khi xuất phát từ kết quả của hoạt động kiểm tra, giám sát chứ không từ đề nghị của người bị thiệt hại Do vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động lập pháp, lập quy

Tóm lại, trước mắt không nên áp dụng chế định bồi thường nhà nước trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam, vì những lý do sau đây:

- Hoạt động lập pháp là hoạt động chính trị, hậu quả của nó là tác động đến toàn xã hội, đến mọi người trong xã hội chứ không nhằm cụ thể vào một

cá nhân hay tổ chức nào và như thế khó có thể xác định được thiệt hại và không thể bồi thường Mặt khác, hoạt động chính trị sẽ kéo theo trách nhiệm

Trang 32

chính trị chứ không thể “buộc tội” cho những hoạt động này Những “chế tài”

của hoạt động này có thể là: Hủy văn bản do vi hiến; Sửa đổi pháp luật không phù hợp; Thay thế chủ thể lập pháp thông qua bầu cử …;

- Nhà nước Việt Nam là một nhà nước đơn nhất, tập quyền và có dân chủ đại diện Nhà lập pháp duy nhất trong Nhà nước do toàn dân bầu ra, đại diện cho toàn dân, thường xuyên liên hệ với dân Vì vậy, theo học thuyết về quyền lực nhân dân thì nhà lập pháp ở Việt Nam thực chất là người thực thi

sự ủy quyền của toàn dân Vì vậy người được ủy quyene không nhất thiết phải đền bù cho người ủy quyền Vì nhà làm luật Việt Nam chính là sự kết tinh của

khái niệm “nhân dân”

Là một loại pháp nhân, nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện các hành vi

pháp lý của mình thông qua các “cơ quan pháp nhân” mà trên thực tế là những cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước, mỗi “cơ quan pháp nhân”

này lại là một pháp nhân (công quyền) Chúng hoạt động thông qua những hành vi của người đứng đầu và các công chức, viên chức của họ theo chức danh và quy chế công tác của cơ quan Vì vậy, cuối cùng, nguồn gốc của trách

nhiệm bồi thường nhà nước là do chính hoạt động của các “cán bộ nhà nước”

gây ra mà với tính cách là một thể thống nhất, nhà nước là người chịu trách nhiệm Tuy nhiên, trong sự hoạch định phân công và phân cấp về thẩm quyền, mỗi cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước là một bộ phận hữu cơ của nhà nước và các hành vi của họ đều nhân danh nhà nước và độc lập chịu trách nhiệm (bồi thường) các thiệt hại do các hoạt động công vụ gây ra

Trang 33

Chương 2 PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

2.1 Pháp luật về bồi thường của Cộng hòa liên bang Đức

Trách nhiệm pháp lý của Nhà nước Đức đối với các hành vi trái luật

không được quy định riêng trong một đạo luật Năm 1981, Luật về trách

nhiệm Nhà nước đã được Quốc hội Cộng hòa liên bang Đức thông qua Tuy

nhiên, ngay sau đó, đạo luật này đã bị hủy bỏ do không phù hợp với Hiến pháp Đức Do không có các quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của quan chức nhà nước gây ra nên Tòa án Đức với các phán quyết của mình đã phát triển, cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp và Bộ luật dân sự Đức Các nguyên tắc chính được nêu ra ở đây là nguyên tắc công bằng, bình đẳng; quyền tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp Đức cũng có thể bị hạn chế vì lợi ích cộng đồng

Ngoài các quy định về trách nhiệm của Nhà nước đối với các thiệt hại

do hành vi trái pháp luật của các quan chức nhà nước gây ra chủ yếu dựa vào

Bộ luật Dân sự Đức, các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại khác nêu trong bài viết này được hình thành và phát triển thong qua con đường xét xử của Tòa án Đức Mặc dù Cộng hòa liên bang Đức không phải là một nước theo hệ thống thông luật nhưng các nguyên tắc cơ bản được công nhận như một bản tóm tắt

có được từ án lệ của Tòa án Đức và đã được thừa nhận rộng rãi

Nguyên tắc chính gắn liền với tất cả các hình thức khác nhau về trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với các hành vi trái luật là kết quả tiếp cận

có định hướng Vấn đề là liệu các hành vi gây thiệt hại là đúng luật hay trái luật, và liệu thiệt hại do hành vi trái luật có thể được miễn trách nhiệm hoặc

Trang 34

bỏ qua không được tồn tại trong một xã hội công bằng Vì vậy, sự phát triển của các công cụ pháp lý quy định trách nhiệm của Nhà nước đã được Tòa án

và các nhà làm luật tạo ra và cách tiếp cận này hoàn toàn phù hợp Do đó, các công cụ pháp lý sau đây để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với nhà nước Đức đã được thừa nhận trong hệ thống tư pháp Đức:

- Trách nhiệm pháp lý trong quan hệ hợp đồng, ví dụ việc không thực hiện, thực hiện một phần hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng;

- Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái luật của quan chức chính phủ;

- Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi chiếm đoạt

Trách nhiệm pháp lý trong các quan hệ hợp đồng

Trong trường hợp Nhà nước tham gia với tư là một bên tham gia hợp đồng khi thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình thì trách nhiệm pháp lý được xem xét theo Luật Dân sự Đức Vì vậy, việc đối xử Nhà nước như một pháp nhân tương tự như các bên tư nhân khác Các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại

có thể do việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thực hiện một phần hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng và tuỳ thuộc vào các quy định chung về bồi thường thiệt hại nêu trong Bộ Luật Dân Sự

Khi áp dụng Bộ luật Dân sự, việc bồi thường thiệt hại chủ yếu dựa vào các quy định trước trong hợp đồng theo các khỏan tiền đặt cọc trước theo đó Nhà nước sẽ được hoàn trả nếu thực tế hành vi gây thiệt hại không xảy ra (khoản 249 của Bộ luật Dân sự Đức) Trách nhiệm pháp lý như vậy vẫn áp dụng với tổ chức chính phủ tương ứng, đó là bên tham gia hợp đồng và trách nhiệm đó được tranh luận tại Tòa Dân Sự

Trang 35

Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái pháp luật của công chức nhà nước

Cơ sở pháp lý để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại được dựa trên hành vi trái luật của quan chức chính phủ là khoản 839 của Bộ luật Dân sự Đức cùng với Điều 34 của Hiến pháp Đức

Hành vi trái luật của quan chức chính phủ tạo ra lý do để đòi bồi thường thiệt hại (khoản 839 I S 1 của Bộ luật Dân sự) và bởi vậy Bộ luật Dân

sự về mặt nguyên tắc đã quy định rằng trách nhiệm thuộc bản thân quan chức chính phủ Tuy nhiên, ở bước thứ hai, trách nhiệm pháp lý đó được hướng về phía Nhà nước (Điều 34 của Hiến Pháp)

- Việc quy định trách nhiệm pháp lý của Nhà nước

Nhóm các nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại do các hành vi trái pháp luật gây ra được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng hành vi của con người là nguồn gốc gây ra thiệt hại Nhà nước không có bản chất này và bởi vậy có thể cần thiết phải có các nguyên tắc khác Với việc sử dụng trách nhiệm cá nhân của một quan chức nhà nước, các quy định chung về trách nhiệm dân sự có thể được sử dụng Trên thực tế, trách nhiệm pháp lý do quan chức gây ra thuộc về quan chức, Nhà nước có thể truy thu lại khoản tiền bồi thường thiệt hại (khoản 46 I của Luật khung về quan chức nhà nước) Đoạn thứ 2, Điều 34 của Hiến pháp hạn chế việc cầu viện đến các trường hợp cố ý

và các hành vi hết sức cẩu thả Hơn nữa một số quy định điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các quan chức phủ nhận hoàn toàn việc cầu viện đó

Đối với việc bồi thường có thể đòi, điều quan trọng cần lưu ý là trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp này tuân thủ theo nguyên tắc là cá nhân chứ không phải là nhà nước Bởi vậy, việc bồi thường hiện có có thể không bao giờ bao gồm hành vi của quan chức, do đó bản thân cá nhân không thể

Trang 36

chấp nhận khoản bồi thường đó Cho nên việc bồi thường thiệt hại theo khoản

839 của Bộ Luật Dân Sự cùng với Điều 34 Hiến pháp là hướng về bồi thường tài chính (Do đó một yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cần phải đáp ứng các điều kiện sau:

+ Hành vi của một quan chức;

+ Trong việc hoàn thành nhiệm vụ của quan chức;

+ Vi phạm nghĩa vụ do các nghĩa vụ của quan chức nhằm bảo vệ bên bị thiệt hại;

Bên bị kiện trong các vụ kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại là cơ quan quản lý cán bộ, công chức thực hiện hành vi gây thiệt hại Các tranh chấp tương ứng được giải quyết bởi các Tòa án dân sự (các Tòa án quận xét

xử sơ thẩm, theo câu 3 Điều 34 của Hiến pháp Đức, điểm 2 khoản 2 Điều 71 Luật về hệ thống tòa án Đức)

- Trách nhiệm pháp lý đối với việc chiếm đoạt

Về trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với việc chiếm đoạt giữa các quyền tài sản được định nghĩa tại Điều 14 của Hiến pháp và các quyền phi vật chất khác được định nghĩa tại Điều 2 II của Hiến pháp là khác nhau Mục đích chính của quy định này là nếu hành vi chiếm đoạt là cần thiết và được chứng

Trang 37

minh là đúng vì lợi ích chung thì các cá nhân cần phải được bồi thường cho các tổn thất của họ

- Trách nhiệm pháp lý đối với việc chiếm đoạt các quyền tài sản

Như được định nghĩa tại Điều 14 của Hiến pháp Đức, quyền tài sản, chẳng hạn như động sản và bất động sản, các trách nhiệm pháp lý dân sự và quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh thông qua một pháp nhân Quyền tài sản này không bao gồm ý tưởng kinh doanh Cần phải lưu ý rằng tài sản như được định nghĩa tại Điều 14 của Hiến pháp không chỉ là quyền cá nhân được hưởng mà còn được sử dụng cho lợi ích chung (khoản 4 Điều 14 Hiến pháp Đức) Các nhà lập pháp có nghĩa vụ định nghĩa tài sản theo hướng này

và nghĩa vụ của tòa án là phải xác định liệu định nghĩa đó có được cá nhân và cộng đồng chấp nhận hay không

- Thiệt hại do hành vi đúng luật gây ra: tại khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp Đức quy định rõ các điều kiện đối với việc thực hiện hành vi của công chức nhà nước, về loại hình bồi thường và số tiền bồi thường thiệt hại nếu

thiệt hại về tài sản cần phải được bồi thường thông qua “việc bồi thường cho

hành vi chiếm đoạt”, ví dụ: nếu một dự án xây dựng trong lĩnh vực cơ sở hạ

tầng được xem là cần thiết và không có phương tiện thực hiện nào khác thì phần chiếm đoạt thực tế của chủ sở hữu đất bị ảnh hưởng bởi kế hoạch mới về đường cao tốc, phải dựa trên luật cụ thể trao quyền cho cơ quan thực hiện để chiếm đoạt một cá nhân Hơn thế nữa, Luật này cũng phải có các quy định về loại hình bồi thường và số tiền bồi thường mà cơ quan thực hiện phải trả

Bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này hướng tới việc bồi thường bằng tiền và không phải là việc phục hồi tình trạng ban đầu Các tranh chấp liên quan đến số tiền bồi thường thiệt hại phải được nộp cho các tòa án

Trang 38

dân sự địa phương trong khi đó tính pháp lý của luật có thể không được thừa nhận tại các toà hành chính

- Thiệt hại do luật gây ra:

Nhìn chung, hoạt động lập pháp không bị coi là các hành vi có khả năng gây ra trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với việc bồi thường thiệt hại Bản chất của các luật là trừu tượng và mang tính chung chung, bởi vậy nếu không có hành vi tiếp theo của công chức thì một cá nhân có thể không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi đó Đó là hành vi của công chức thực hiện dựa trên luật bị nghi vấn Hành vi này của công chức ảnh hưởng trực tiếp đến

cá nhân và do vậy có thể yêu cầu bồi thường

Ngoài ra, cách tiếp có tính hệ thống này, hệ thống pháp luật Đức còn gồm một số quy định pháp luật khác, vì phạm vi khả năng áp dụng hạn chế của nó, được xem là các trường hợp gây ra bồi thường thiệt hại Ví dụ:, một

kế hoạch xây dựng chung, do phạm vi áp dụng của nó hạn chế, vì khu vực bị giới hạn về địa lý, bản chất tự nhiên của kế hoạch này là chung và trừu tượng nên nó có thể là cơ sở tạo ra hành vi gây thiệt hại

- Thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra:

Sự khác biệt cơ bản trong việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi trái luật so với bồi thường thiệt hại như đã nêu tại nội dung thiệt hại do hành vi đúng luật gây ra là loại hình bồi thường mà bên bị thiệt hại được hưởng Trong trường hợp hành vi đúng luật, bản thân việc chiếm đoạt là hợp pháp và phải được miễn trách nhiệm thì cần phải trả một khoản bồi thường để cân đối mất mát tổn thất xét về công lý và sự bình đẳng Trong trường hợp hành vi trái luật, việc chiếm đoạt thực tế thì không thể miễn trách nhiệm và do đó việc bồi thường thiệt hại đầy đủ về tài chính là mục đích chính của yêu cầu đòi bồi

Trang 39

- Trách nhiệm pháp lý đối với việc chiếm đoạt các quyền phi vật chất: Trong trường hợp thiệt hại gây ra đối với các quyền phi vật chất, chẳng hạn như tính mạng, sức khỏe hoặc tự do thì việc bồi thường thiệt hại chỉ có thể được yêu cầu nếu thiệt hại cá nhân được xem xét là thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng và vượt quá gánh nặng bình thường phải chịu Thiệt hại gây ra cần phải bồi thường bằng các hình thức tài chính Các tranh chấp phải được đưa ra xem xét ở các tòa án dân sự, ví dụ: bệnh hiểm nghèo do chương trình tiêm chủng

- Khôi phục lại đối tượng thiệt hại:

Như đã trình bày ở trên, mục đích chính của bồi thường thiệt hại đối với việc chiếm đoạt là bồi thường về tài chính Tuy nhiên, trong các trường hợp ngoại lệ, bên bị thiệt hại có thể yêu cầu khôi phục đối tượng bị thiệt hại Yêu cầu đó chỉ có thể thực hiện được nếu hành vi gây thiệt hại là trái luật, việc khôi phục lại thực sự có thể đạt được bằng các hành vi đúng luật của cơ quan chức năng gây thiệt hại, không cho phép khôi phục đối tượng thiệt hại bởi hành vi trái pháp luật

Như vậy, Cộng hòa liên bang Đức đều không có đạo luật riêng quy định về trách nhiệm pháp lý của nhà nước một cách ngắn gọn và đầy đủ Đó

là nhiệm vụ và trách nhiệm của hệ thống tư pháp tương ứng và các thẩm phán độc lập của hệ thống tòa án tạo ra công cụ pháp lý dựa trên các nguyên tắc pháp lý về công lý và công bằng

2.2 Pháp luật về bồi thường của Nhật Bản

Trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Nhật Bản có thể được hiểu là trách nhiệm bồi hoàn của Nhà nước cho những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra Có ý kiến tranh luận về mặt lý thuyết liệu đây là trách nhiệm

Trang 40

thay thế hay là trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước Theo nguyên tắc trách

nhiệm thay thế thì Nhà nước chỉ “gánh vác” trách nhiệm bồi thường đối với

những thiệt hại do các hành vi sai trái của cán bộ nhà nước gây ra Theo nguyên tắc trách nhiệm trực tiếp thì hành vi của các cán bộ nhà nước được xem là hành vi của Nhà nước Vì vậy trách nhiệm bồi thường đương nhiên được xem là trách nhiệm của Nhà nước, và thực tiễn về mặt lý thuyết và các

án lệ ở Nhật Bản theo nguyên tắc trách nhiệm thay thế Bản chất trách nhiệm của Nhà nước về cơ bản được coi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

- Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước

Luật bồi thường nhà nước của Nhật Bản được xây dựng căn cứ vào Điều 17 Hiến pháp Nhật Bản Theo đó, căn cứ vào những thông lệ quốc tế

hiện hành, Nhật Bản không chấp nhận những khái niệm phi dân chủ về “sự

miễn trừ Nhà nước” hay “Nhà nước luôn luôn đúng” tồn tại trong chế độ dân

chủ và công khai chấp nhận khai niệm bồi thường nhà nước nhằm giảm nhẹ thiệt hại cho những chủ thể chịu thiệt hại do những hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra Do đó, bồi thường nhà nước là một yêu cầu bắt buộc của Hiến pháp và điều đó lý giải tại sao Luật bồi thường nhà nước Nhật Bản được thông qua gần như đồng thời với Hiến pháp hiện hành

- Các trường hợp thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra được nhà nước bồi thường

Nhìn chung, bất cứ thiệt hại nào do cán bộ, công chức gây ra đều được nhà nước bồi thường Nhân tố quyết định ở đây là việc “thực hiện” hay

“không thực hiện” trái với quy định pháp luật của cán bộ, công chức gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân đòi bồi thường có nằm trong phạm trù “thực thi quyền lực nhà nước” hay không

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Ths. Trần Thị Hiền, Trách nhiệm bồi thường nhà nước khi công chức thi hành công vụ gây thiệt hại trong lĩnh vực hành pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường nhà nước khi công chức thi hành công vụ gây thiệt hại trong lĩnh vực hành pháp
Tác giả: Ths. Trần Thị Hiền
20. PGS.TS. Nguyễn Như Phát, “Mấy vấn đề lý thuyết về trách nhiệm bồi thường nhà nước”, Hội thảo pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý thuyết về trách nhiệm bồi thường nhà nước”
21. Martine Lombard và Gilles Dumont, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2007, n o 896 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp
Nhà XB: NXB. Tư pháp
22. Martine Lombard và Gilles Dumont, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, sách đã dẫn, trang 550 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp
23. Ths. Lê Thái Phương, “Kinh nghiệm pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường nhà nước
28. Taro Morinaga, Cố vấn trưởng, chuyên gia pháp luật Văn phòng Dự án JICA Việt Nam, Pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Nhật Bản
Tác giả: Taro Morinaga
31. Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở một số nước, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở một số nước
Nhà XB: NXB Tư pháp
33. GS. Phạm Hồng Thái, Trưởng Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, “Một số vấn đề về bồi thường nhà nước”, Bài viết tham dự Hội thảo khoa học về Pháp luật bồi thường nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bồi thường nhà nước
34. Đặng Thanh Tùng, Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính gây ra và hướng hoàn thiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính gây ra và hướng hoàn thiện
Tác giả: Đặng Thanh Tùng
36. TS. Nguyễn Thị Thu Vân, “Chế định trách nhiệm bồi thường nhà nước trong pháp luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 7 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định trách nhiệm bồi thường nhà nước trong pháp luật Cộng hòa Pháp
37. Cao Đăng Vinh “Tìm hiểu pháp luật bồi thường nhà nước ở Ca - Na - Đa”, Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 7 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật bồi thường nhà nước ở Ca - Na - Đa”
38. Ủy ban pháp luật của Quốc hội, Báo cáo thẩm tra số 530/BC-UBPL12 về dự án Luật bồi thường Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thẩm tra số 530/BC-UBPL12 về dự án Luật bồi thường Nhà nước
Tác giả: Ủy ban pháp luật của Quốc hội
39. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2003), Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2003
40. Federal Cuort Practice 2003, Crow liability, Update – Robin S. whittaker & Brad M.Caldwell Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crow liability
41. Senior Counsel Constitutional & Administrative Law Section, Tort Liability of Public Authorities, Marie Claude Goulet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tort Liability of Public Authorities
42. Recovery of Amounts due to the Crown, – http:/tbs.sct.gc.ca/pubs - pol/hrpubs/TMB-11A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recovery of Amounts due to the Crown
43. Wrongful Coviction in the Criminal Justice System – Philip Rosen, Senior Analyst – January 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wrongful Coviction in the Criminal Justice System
13. Ths. Nguyễn Đỗ Kiên, Pháp luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung Quốc Khác
17. Luật về thủ tục và trách nhiệm Nhà nước Ca – Na – Đa Khác
19. PGS.TS.Nguyễn Như Phát, TS.Bùi Nguyễn Khánh, Pháp luật bồi thường Nhà nước ở Cộng hòa liên bang Đức Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w