Tòa án nhân dân tối cao có quyền phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp có kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm hoặc t
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn văn huy
những vấn đề lý luận và thực tiễn
về giám đốc việc xét xử của tòa án nhân dân
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2008
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn văn huy
những vấn đề lý luận và thực tiễn
về giám đốc việc xét xử của tòa án nhân dân
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.2.2 Quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm 17 1.2.2.1 Tính chất của giám đốc thẩm 17 1.2.2.2 Kháng nghị giám đốc thẩm 20 1.2.2.3 Xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm 24
Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Trang 4Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
96
3.1 Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám đốc việc xét xử của
Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
96
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám đốc việc
xét xử của Tòa án nhân dân
108
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án nhân dân, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của nhân dân Trong hoạt động xét xử, Tòa án các cấp cũng đề ra phương châm là "xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật" Trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự bình đẳng trong xã hội, bảo vệ sự an toàn trong hành lang pháp lý, thì Tòa án đã thực sự trở thành công cụ có hiệu quả Ngành Tòa án đã ra sức khắc phục khó khăn, phát huy những điểm tích cực trong công tác xét xử và uốn nắn, sửa chữa những thiếu sót Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, một số bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn còn để lọt người phạm tội, làm oan người vô tội hoặc do lỗi từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án gây thiệt hại đến lợi ích của người khác
Thủ tục giám đốc thẩm ra đời nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình xử lý vụ án của Tòa án Tuy nhiên, những quy định về thủ tục giám đốc thẩm chưa được quy định rõ ràng, cụ thể và triệt để dẫn đến việc rất khó
áp dụng và gây nhiều tranh cãi Việc giải thích, hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm, nên trong hoạt động giám đốc việc xét xử chưa đạt kết quả cao
Công tác giám đốc việc xét xử ra đời nhằm kiểm tra lại những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xét xử của Tòa án các cấp, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Trước thực trạng và yêu cầu như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài "Những
vấn đề lý luận và thực tiễn về giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân"
Trang 6Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá thực trạng xét xử của Tòa án các cấp, phân tích những mặt được và chưa được trong quá trình xét xử của vụ án, kiểm tra và uốn nắn những vi phạm để từ đó tổng kết kinh nghiệm, làm cơ sở
để các cơ quan chức năng áp dụng thống nhất pháp luật Đồng thời, đề tài cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giám đốc việc xét xử trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động giám đốc việc xét xử đã được các nhà làm luật cũng như những người làm công tác thực tiễn quan tâm, nhưng tiếc rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào ở góc độ chuyên sâu về vấn đề này Trong một số công trình khoa học hoặc bài viết chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó của giám đốc việc xét xử thông qua việc nghiên cứu thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm Trong những năm qua, chưa có một công trình nghiên cứu về giám đốc việc xét xử có tính hệ thống và toàn diện
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Tác giả đã xây dựng đề tài này dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, lịch sử, lôgic… Đồng thời, đề tài cũng được xây dựng dựa trên
sự kết hợp giữa việc nghiên cứu lý luận với thực tiễn, từ việc tổng kết những kinh nghiệm xét xử trong thực tế để đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giám đốc việc xét xử
4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Luận văn sẽ khái quát những vấn đề cơ bản
nhất về lý luận và thực tiễn của công tác giám đốc việc xét xử; những hoạt động của giám đốc việc xét xử thông qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm
Từ đó, luận văn sẽ nêu lên một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giám đốc việc xét xử
Trang 7Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp
trên đối với Tòa án cấp dưới là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, không chỉ ở nước ta mà rất nhiều nước trên thế giới Trước đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề trình tự và thủ tục giám đốc thẩm dân sự, kinh tế… và việc nâng cao hiệu quả của công tác giám đốc thẩm và tái thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động nói chung Tuy nhiên, trước sự đòi hỏi của thực tiễn về cải cách tư pháp thì việc cần phải có một đề tài nghiên cứu riêng về công tác giám đốc xét xử là điều rất cần thiết Vì đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, cho nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động giám đốc xét xử đối với vụ án hình sự
Luận văn nghiên cứu tổng quát và hệ thống các vấn đề như: quy định của pháp luật về hoạt động giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới; thực tiễn hoạt động giám đốc việc xét xử thông qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm; yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giám đốc việc xét xử
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về giám đốc việc xét xử của Tòa án
Trang 8Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước, thực hiện một trong các lĩnh vực quyền lực của Nhà nước đó là quyền tư pháp Hoạt động xét xử của Tòa
án hiểu theo nghĩa chung nhất là "hoạt động của các cơ quan và cá nhân được quyền căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính chất bắt buộc" Hoạt động xét xử là nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có
sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau
Tòa án có vai trò to lớn trong việc đảm bảo ổn định xã hội Trong hoạt động áp dụng pháp luật, Tòa án đóng vai trò hết sức quan trọng và có đặc thù riêng Khi xét xử, Tòa án là chủ thể có quyền xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật của các chủ thể khác, ra bản án hoặc quyết định phán xét hành vi của các chủ thể đó Các bản án và quyết định này mang tính quyền lực nhà nước sâu sắc, được Tòa án tuyên nhân danh Nhà nước, thể hiện trực tiếp thái
độ của Nhà nước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác Các bản
án và quyết định của Tòa án có ý nghĩa là phán quyết cuối cùng, bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực bắt buộc chung đối với các bên có liên quan cũng như đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong xã hội
Việc Tòa án áp dụng pháp luật sẽ được sự giám sát trực tiếp không chỉ của Viện kiểm sát mà còn của nhân dân Có thể nói, "Tòa án là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực tư pháp - nơi mà kết quả của hoạt động điều tra,
Trang 9công tố, bào chữa được kiểm tra và xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng theo luật định để đưa ra những phán quyết cuối cùng có tính chất quyền lực nhà nước, nơi phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất của nền công lý" Vì vậy, việc xét xử công khai của Tòa án có ảnh hưởng lớn về mặt chính trị, xã hội và tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật của công dân Do tầm quan trọng và đặc thù của hoạt động xét xử, đòi hỏi việc xét xử phải chính xác, công bằng và đúng pháp luật, thể hiện được ý chí, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án [20].
Do tầm quan trọng của hoạt động xét xử và đặc điểm của hoạt động này nên việc đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án đúng pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp trong các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu được đặt ra đối với các quốc gia trên thế giới Yêu cầu này đặc biệt quan trọng trong Tố tụng hình sự, khi mà Tòa án có quyền ra bản án hình sự, quyết định những vấn đề về trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo, đó có thể là tự do, danh dự, tài sản, nhân thân và thậm chí cả tính mạng con người Việc quy định nguyên tắc xét xử vụ án theo hai cấp xét xử và
tổ chức Tòa án theo thứ bậc để Tòa án cấp trên có thể xem xét lại phán quyết của Tòa án cấp dưới là một trong những giải pháp về mặt pháp luật để giải quyết vấn đề này Việc xem xét lại vụ án để đảm bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động xét xử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, việc giải quyết vụ án phải nhanh chóng, không thể kéo quá dài Nếu trình tự tố tụng quá dài và phức tạp sẽ dẫn đến hậu quả các quan hệ xã hội bị xâm phạm, không khôi phục kịp thời, trật tự xã hội không ổn định, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân không được giải quyết nhanh chóng
Theo nguyên tắc hai cấp xét xử, sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành trong một thời gian nhất định; bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo, cơ quan công tố có quyền kháng nghị để xem xét lại thủ tục phúc thẩm Khi xét
xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên sẽ xem xét cả về tính hợp pháp và tính có căn
Trang 10cứ của bản án hoặc quyết định sơ thẩm, đồng thời xét xử lại vụ án về nội dung Như vậy, ngoài chức năng xét xử, phúc thẩm là một hình thức giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới
Trên thực tế, trong quá trình xét xử của Tòa án các cấp, đã xuất hiện các bản án và quyết định có nhiều sai phạm, dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm Vì vậy, việc kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án các cấp là điều rất cần thiết Thông qua hoạt động này, giúp cho Tòa án các cấp phát hiện được những sai phạm của mình để kịp thời sửa chữa, khắc phục những vi phạm; đồng thời tổng kết kinh nghiệm xét xử, làm cơ sở để Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật
Giám đốc việc xét xử, đó là sự kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, thông qua đó mà uốn nắn, sửa chữa hoặc hủy bỏ những sai lầm, nhằm bảo đảm cho Tòa án các cấp áp dụng đúng đắn
và thống nhất pháp luật
Giám đốc xét xử bao gồm các hoạt động như:
- Kiểm tra, phát hiện những thiếu sót, sai lầm Trong quá trình xét xử
vụ án, Tòa án không thể tránh khỏi những sai lầm và vi phạm trong việc xử lý
vụ án Giám đốc việc xét xử sẽ kiểm tra và phát hiện kịp thời những sai phạm
đó, khắc phục được những hậu quả có thể xảy ra do bản án oan sai hoặc những vi phạm thủ tục tố tụng gây nên
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và công dân về các vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Đối với các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng đã
bị cơ quan, tổ chức và công dân khiếu nại, tố cáo; thì hoạt động giám đốc xét
xử sẽ bao gồm việc giải quyết, xử lý các khiếu nại, tố cáo đó Việc giải quyết này cần phải triệt để, đúng đắn và chính xác; làm cho người dân tin tưởng vào pháp luật và đảm bảo nguyên tắc: không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Trang 11- Hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật Hệ thống pháp luật nước ta vẫn đang tồn tại nhiều điểm bất cập, những quy định pháp luật không thực tế và không hợp lý, những mâu thuẫn trong các quy định pháp luật Vì vậy, chưa tạo ra một hành lang pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng thống nhất pháp luật, đặc biệt là trong quá trình xét xử của Tòa án Thông qua hoạt động giám đốc việc xét xử, Tòa án sẽ đúc rút ra những kinh nghiệm trong quá trình xét xử, làm cơ sở để Tòa án các ấp áp dụng thống nhất pháp luật
- Kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ
tục giám đốc thẩm
Giám đốc việc xét xử là quyền hạn và nhiệm vụ của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới Nó được ghi nhận trong Điều 134 Hiến pháp năm 1992 và Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Tòa án cấp trên có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát mọi hoạt động trong quá trình xét xử của Tòa án cấp dưới, phát hiện ra những sai lầm và thiếu sót, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế, để từ đó tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật
Giám đốc việc xét xử là một nguyên tắc tố tụng quan trọng được ghi
nhận tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: "Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của các Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất"
Trang 12Hoạt động giám đốc của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới là một bảo đảm pháp lý quan trọng cho việc áp dụng pháp luật trong công tác xét xử ở các cấp Tòa án được nghiêm chỉnh và thống nhất
Vì vậy, pháp luật đã xác định rõ việc giám đốc của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới và việc giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao đối với các Tòa án trong cả nước
Hoạt động giám đốc của Tòa án cấp trên đối với việc xét xử của Tòa
án cấp dưới được tiến hành thông qua việc xem xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa
án nhân dân tối cao có quyền phúc thẩm các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp có kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền phúc thẩm những bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Thông qua việc thực hiện các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án cấp trên uốn nắn những lệch lạc của Tòa án cấp dưới trong hoạt động xét xử Đồng thời việc kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật và đường lối xét xử cũng là những biện pháp thực hiện việc giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới
Giám đốc xét xử được thực hiện thông qua hoạt động phúc thẩm và giám đốc thẩm Phúc thẩm và giám đốc thẩm đều là hoạt động của giám đốc xét xử nhưng khác nhau về nhiều điểm mà chủ yếu là khác nhau về tính chất, căn cứ, đối tượng, phạm vi, thẩm quyền, thủ tục
Trang 13Trong khoa học luật tụng hình sự, khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau, ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp thì khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu với một trong các nghĩa sau đây: phúc thẩm là một giai đoạn của tố tụng hình sự (giai đoạn phúc thẩm) Phúc thẩm là một chế định (chế định phúc thẩm) của tố tụng hình sự và phúc thẩm
là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Theo nghĩa rộng, khái niệm phúc thẩm được hiểu ở cả ba nghĩa nêu trên: phúc thẩm là một giai đoạn, một chế định của tố tụng hình sự đồng thời là một thủ tục xét xử Như vậy, xét về nội hàm thì "phúc thẩm" là khái niệm rộng nhất, trong đó bao hàm các khái niệm hẹp "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm"
Phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng, đó là một trong những hình thức giám đốc việc xét xử chủ yếu của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới Thông qua việc xét xử lại vụ án mà bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật mà còn phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm nghiêm trọng về xét xử của Tòa án cấp dưới Theo thống kê, số vụ án hình sự được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trung bình hàng năm chiếm gần 30%
số vụ án đã xét xử sơ thẩm, trong số đó, các Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa, hủy án sơ thẩm hoặc tuyên bị cáo vô tội đối với 25-30% số bị cáo Bằng quyền hạn của mình, Tòa án cấp phúc thẩm ngăn chặn việc đưa ra thi hành các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Phúc thẩm là một trong những chế định thể hiện rõ nét nhất bản chất dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự Chế định này buộc các Tòa
án cấp sơ thẩm phải thận trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu về tính hợp pháp và tính có căn cứ khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án Nó không cho phép người đã kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị được bổ sung, thay đổi kháng cáo theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; không cho phép Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm
Trang 14xấu hơn tình trạng của bị cáo, nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị theo hướng đó Phúc thẩm còn là một trong những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo Thông qua xét xử các vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm hướng dẫn cho các Tòa án cấp dưới và các Cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việc nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật; góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ
án hình sự, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân, đấu tranh phòng chống tội phạm [21]
Tóm lại, phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những vụ án mà một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới, đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người tham gia tố tụng và mọi công dân
Về giám đốc thẩm, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, một số tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về giám đốc thẩm Cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật về vụ án đó bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Quan điểm thứ hai cho rằng, thủ tục giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt của tố tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án
Trang 15Quan điểm thứ ba cho rằng, giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng có mục đích kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Quan điểm thứ tư cho rằng giám đốc thẩm là hình thức đặc thù để kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của các quyết định, bản án của Tòa án
Các khái niệm trên rất khác nhau về góc độ tiếp cận vấn đề, phạm vi khái niệm rộng hẹp cũng khác nhau, tính khoa học và sự phù hợp với thực tiễn của các khái niệm này cũng ở mức độ khác nhau Tuy nhiên, các quan điểm trên vẫn thống nhất với nhau ở một số điểm cơ bản, xác định giám đốc thẩm có tính chất đặc biệt, đó là việc xem xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để kiểm tra tính hợp pháp trong các bản án
và quyết định của Tòa án [20]
Một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng, và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong công tác xét xử, Tòa án các cấp cũng đề ra phương châm là "xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật" Tuy nhiên, thực tế cho thấy do những nguyên nhân khác nhau, việc xét xử của Tòa án vẫn còn để lọt tội phạm, làm oan người vô tội,
xử phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do người có hành vi phạm tội gây ra Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã vi phạm các quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng Để khắc phục tình trạng trên, pháp luật
Tố tụng hình sự quy định một thủ tục để xét lại bản án hoặc quyết định hình
sự đã có hiệu lực pháp luật, đó là thủ tục giám đốc thẩm
Hoạt động phúc thẩm và giám đốc thẩm là hai hoạt động quan trọng
và chủ yếu của hoạt động giám đốc việc xét xử Những quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự Tuy nhiên, hiện nay, các quy định này đã bộc lộ không ít
Trang 16khiếm khuyết, đòi hỏi cần phải được hoàn thiện Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm chính là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân
1.2 GIÁM ĐỐC VIỆC XÉT XỬ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm
Phúc thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng do luật định nhằm
kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm; thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên sửa chữa những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi ra bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới Thông qua đó hướng dẫn Tòa án cấp sơ thẩm khắc phục những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các Thẩm phán của Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị
1.2.1.1 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
* Kháng cáo
Theo quy định tại Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự thì những người sau đây có quyền kháng cáo:
- Bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ;
- Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ;
- Người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần;
- Nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ;
- Bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ;
Trang 17Trong số những người có quyền kháng cáo, thì phạm vi quyền kháng cáo của họ tùy thuộc vào đại vị pháp lý của mỗi người khi tham gia tố tụng
Ví dụ: bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, nhưng người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo những quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ
Theo quy định tại Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án Đối với những bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết
* Kháng nghị
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một căn cứ làm phát sinh một trình tự xét xử-trình tự xét xử phúc thẩm hay còn gọi là thủ tục phúc thẩm
Chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã ra bản án sơ thẩm mới có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có 03 Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đặt tại ba miền (Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh) 03 Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm này tương đương với 03 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố
Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không phải là Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cấp tỉnh Vì vậy, việc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát phúc thẩm chỉ có giá trị pháp lý khi được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền
Phạm vi kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cũng không bị giới hạn, có thể kháng nghị một phần hoặc
Trang 18toàn bộ bản án sơ thẩm; có thể kháng nghị theo hướng có lợi hoặc theo hướng không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
* Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
Theo quy định tại khoản 1 Điều 237 Bộ luật Tố tụng hình sự thì những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi
hành, trừ trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết
định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng
án treo hoặc khi thời hạn tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể
bị kháng nghị, kháng cáo (khoản 2 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự) Khi
có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành
1.2.1.2 Xét xử phúc thẩm
* Phạm vi xét xử phúc thẩm
Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án" Việc xét xử lại vụ án hình sự theo trình tự phúc thẩm chỉ được tiến hành đối với phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị Đối với những phần còn lại của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại nếu việc xem xét lại những phần đó có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đối với các khoản bồi thường thiệt hại, nếu không
có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa phúc thẩm không xem xét
Trang 19* Phiên tòa phúc thẩm hình sự
Phiên tòa phúc thẩm hình sự là phiên tòa do Tòa án có thẩm quyền xét
xử phúc thẩm tiến hành để xét xử lại vụ án hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, nhưng có kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Về hình thức phiên tòa phúc thẩm hình sự cũng giống như phiên tòa sơ thẩm, việc bố trí phòng xử án không có gì khác phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, về Hội đồng xét xử phúc thẩm, về những người tham gia phiên tòa phúc thẩm và thủ tục phiên tòa có một số điểm khác phiên tòa sơ thẩm
* Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm
Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, ít có những trường hợp vướng mắc về Hội đồng xét xử phúc thẩm, hầu hết các Tòa án đều thực hiện đúng Tuy nhiên, về lý luận có vấn đề đặt ra là: trong trường hợp nào thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải có năm người, trong đó có ba Thẩm phán và hai Hội thẩm? Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 có hiệu lực đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn nào của các cơ quan có thẩm quyền xác định trong trường hợp nào thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có năm người trong đó có hai Hội thẩm và thực tiễn xét xử cũng chưa có trường hợp nào Hội đồng xét xử phúc thẩm có năm người Các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp có đông bị cáo như vụ án TAMECO, vụ Trần Xuân Hoa và đồng bọn ở Thành phố Hồ Chí Minh, vụ Nhà hàng 62 Trần Phú, thành phố Nha Trang, các vụ: Phúc Bồ, Khánh Trắng, Vũ Xuân Trường và đồng bọn ở Hà Nội; gần đây là vụ án Trương Văn Cam (Năm Cam) có tới 155 bị cáo khi xét xử phúc thẩm cũng chỉ có ba Thẩm phán Có nhiều ý kiến cho rằng, những vụ án này mà Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng chỉ có ba Thẩm phán, thì chắc chẳng còn vụ án nào cần Hội đồng xét xử phúc thẩm năm người nữa và quy định tại Điều 216
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 không còn phù hợp với thực tiễn xét xử
Trang 20Trong quá trình soạn thảo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có ý kiến
đề nghị sửa đổi Điều 216, nhưng Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn quy định như Điều 216 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 Trong khi đó Điều 41 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì không quy định Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao và Hội thẩm quân nhân của Tòa án Quân sự Trung ương Như vậy, thì chỉ có Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì Hội đồng xét xử phúc thẩm mới có thể có Hội thẩm nhân dân [24]
* Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm
Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm có thể là người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc là những người khác mà Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập Trong đó có những người, nếu họ vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử Theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự thì những người tham gia phiên tòa phúc thẩm bao gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người khác nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy sự có mặt của họ là cần thiết
Việc nhà làm luật quy định việc có mặt của những người tham gia phiên tòa phúc thẩm chung trong cùng một điều luật làm cho việc xác định trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử hay phải hoãn phiên tòa là một vấn đề khó khăn Trong quá trình soạn thảo Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 đã phát hiện sự bất hợp lý này và đề nghị cần quy định riêng đối với từng trường hợp cụ thể, nhưng không được chấp nhận Vì vậy, khi hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 các Cơ quan tiến hành tố tụng
ở Trung ương nên hướng dẫn từng trường hợp đối với từng người tham gia phiên tòa cụ thể, để việc xét xử phúc thẩm thuận lợi, tránh hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Ngoài những người tham gia phiên tòa nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm
có thể triệu tập những người khác đến tham gia phiên tòa nếu xét thấy cần
Trang 21thiết Pháp luật không hạn chế và cũng không quy định những người khác là
ai Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử cũng không thể quy định những người tham gia tố tụng khác là ai, vì mỗi vụ án hình sự có đặc điểm riêng và việc Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần triệu tập ai là hoàn toàn tùy thuộc vào tính chất của vụ án yêu cầu và mục đích của việc xét xử Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử phúc thẩm chúng tôi thấy Tòa án cấp phúc thẩm thường triệu tập
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nơi bị cáo công tác trước khi phạm tội để làm rõ những vấn đề có liên quan đến nhân thân của bị cáo, bố mẹ hoặc người thân của bị cáo đã thành niên
* Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
Theo quy định của Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; b) Sửa bản án sơ thẩm;
c) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét
xử lại;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án
1.2.2 Quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm
1.2.2.1 Tính chất của giám đốc thẩm
Một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự là "nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội" Trong công tác xét xử, Tòa án các cấp cũng đề ra phương châm là "xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật" Đây cũng là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ và công bằng xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy, do những nguyên nhân khác nhau, việc xét xử của Tòa án vẫn còn để lọt tội phạm, làm oan người vô
Trang 22tội hoặc xử phạt quá nhẹ hoặc quá nặng không tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã vi phạm các quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng Để khắc phục tình trạng trên, pháp luật tố tụng hình sự quy định một thủ tục để xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật còn gọi là thủ tục giám đốc thẩm
Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được Quốc hội thông qua ngày 28-6-1988 là một bước phát triển cả về lượng và chất của công tác lập pháp ở nước ta Việc xét lại bản án và quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định thành một chương (Chương XXIX) gồm 19 điều (từ Điều 241 đến Điều 259) Với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giám đốc thẩm, trong hơn 10 năm đã phát hiện, khắc phục sửa chữa những sai lầm nghiêm trọng hàng nghìn bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Cũng trong quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện những bất hợp lý và đề nghị Quốc hội sửa đổi bổ sung ba lần: lần thứ nhất vào ngày 30-6-1990, lần thứ hai vào ngày 22-12-1992 và lần thứ ba vào ngày 09-6-2000 Cả ba lần sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng hình
sự đều có sửa đổi, bổ sung các quy định về giám đốc thẩm cho phù hợp với thực tiễn công tác giám đốc thẩm và phù hợp với Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung và các quy định khác của pháp luật
Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 là Bộ luật Tố tụng hình
sự đầu tiên, được soạn thảo và thông qua trong thời kỳ bao cấp nên có nhiều quy định không còn phù hợp với thời kỳ đổi mới nữa, mặt khác qua thực tiễn đấu tranh chống tội phạm cho thấy cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tình hình hiện nay
Trang 23Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI ngày 26-11-2003, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự và có hiệu lực từ 01-7-200 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là Bộ luật đã được sửa đổi một cách toàn diện so với
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
có nhiều sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân về thẩm quyền kháng nghị, đồng thời sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xét xử, thẩm quyền quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm và một số thủ tục cần thiết bảo đảm việc tiến hành xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp được thể hiện tại Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Thủ tục giám đốc thẩm cụ thể sẽ được luận án làm rõ ở chương sau
Thông qua giám đốc thẩm, Tòa án phát hiện những bất hợp lý của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, kiến nghị với Quốc hội kịp thời sửa chữa và bổ sung cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội
Trong giai đoạn giám đốc thẩm, do tính chất và đặc điểm của giám đốc thẩm, nên quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cũng khác hẳn ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm Nói chung, đối với người tiến hành tố tụng, quyền năng không bị hạn chế như ở cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm, nhưng đối với những người tham gia tố tụng như: người bào chữa, người bị kết án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị thì quyền năng bị thu hẹp và hạn chế so với giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm Mọi hành vi tố tụng ở giai đoạn giám đốc thẩm chủ yếu
do những người tiến hành tố tụng thực hiện, trường hợp cần thiết mới triệu tập những người tham gia tố tụng
Nếu Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị là bản án hoặc quyết định có vi phạm pháp luật, thì Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị phải
Trang 24là bản án hoặc quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nếu có vi phạm pháp luật nhưng chưa nghiêm trọng thì không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 chỉ quy định "có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án" mà chưa quy định "vi phạm pháp luật nghiêm trọng", nhưng không vì thế mà cho rằng, trước đây việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tràn lan, chỉ cần có vi phạm trong việc xử lý vụ án là đã kháng nghị; nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định phải vi phạm pháp luật nghiêm trọng mới bị kháng nghị đã làm cho bản chất của giám đốc
thẩm thẩm thay đổi cơ bản
Dù Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 chưa quy định "có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án" thì khi kháng nghị người
có quyền kháng nghị vẫn phải căn cứ vào các quy định tại 242 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 để quyết định việc có kháng nghị hay không Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 242 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn không có gì thay đổi Các căn cứ đó đều là những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ
án Việc nhà làm luật thêm hai từ "nghiêm trọng" chủ yếu để khẳng định rõ hơn tính chất của giám đốc thẩm, chứ không làm thay đổi tính chất của giám
đốc thẩm
1.2.2.2 Kháng nghị giám đốc thẩm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết định của người có thẩm quyền đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật để Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm
* Đối tượng và căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
Theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự, giám đốc thẩm là xét lại bản
án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện
có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án Do vậy, đối tượng giám đốc thẩm chính là các bản án hoặc quyết định của Tòa án các cấp đã có hiệu lực
Trang 25pháp luật Trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bởi vì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:
- Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm
- Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm
- Những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là các quyết định của Tòa án chứ không phải quyết định của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát Các quyết định của Tòa án có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm:
- Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
- Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
- Quyết định xử lý vật chứng
- Quyết định hủy bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn
- Quyết định về những biện pháp xử lý đối với người vi phạm trật tự phiên tòa
- Quyết định yêu cầu cơ quan hoặc tổ chức hữu quan sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý
- Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm đối với các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
- Quyết định của Tòa án trong giai đoạn thi hành án như: hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, quyết định xóa án
- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 26Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do pháp luật Tố tụng hình sự quy định, buộc người có quyền kháng nghị phải tuân theo khi ra quyết định kháng nghị một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ
- Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án
- Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy
cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ Như vậy, kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án là không có thời hạn Tuy nhiên, không phải trường hợp nào hễ cứ có lợi cho người bị kết án là quyết định kháng nghị được mà phải tùy từng trường hợp cụ thể để quyết định có kháng nghị hay không
Trang 27* Hậu quả pháp lý khi bản án hoặc quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm
Nếu ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì phần bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì ở cấp giám đốc thẩm lại không phải như vậy Về nguyên tắc, quyết định kháng nghị, theo thủ tục giám đốc thẩm chưa làm mất hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị, nếu người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án Nếu bản kháng nghị ghi: "Tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù đối với người bị kết án" thì "người bị kết án đang cải tạo trong Trại giam được thả tự do ngay, nếu chưa bị bắt chấp hành hình phạt tù thì vẫn tiếp tục được tại ngoại cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành án, nhưng Tòa
án đã xét xử sơ thẩm khi nhận kháng nghị đã tự ý không thi hành bản án đã có
hiệu lực mà chờ quyết định giám đốc thẩm
Việc tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được thực hiện khi bản án hoặc quyết định
đó đã bị kháng nghị Người có quyền kháng nghị có thể quyết định tạm đình chỉ thi hành ngay trong quyết định kháng nghị hoặc bằng một quyết định riêng Hiện nay, một số Tòa án không nắm chắc các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, nên sau khi bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án hoặc các đương sự yêu cầu xét lại theo tình tự giám đốc thẩm Sau khi nhận được đơn của người yêu cầu, Tòa án cấp giám đốc thẩm thường có gửi một giấy báo cho đương sự với nội dung: "sẽ xem xét giải quyết" hoặc "sẽ trả lời" Nhận được giấy báo này, đương sự lấy lý do Tòa án cấp giám đốc thẩm đang xem xét để không thi hành bản án mà không ít Tòa án cũng nhận thức sai như vậy nên đã không thi hành, thậm chí để quá lâu, cơ quan Thi hành án đã gửi công văn hỏi
Tòa giám đốc thẩm có kháng nghị hay không để còn thi hành án
Trang 28Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 chưa quy định việc gửi quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, thì Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định quyết định này phải gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã
xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc gửi quyết định tạm đình chỉ thi hành bán án nhằm bảo đảm cho quyết định đó được thi hành Bởi lẽ, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm là cơ quan ra lệnh thi hành án phạt tù và các loại hình phạt khác không phải là hình phạt tiền; Viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm là cơ quan giám sát việc thi hành án; cơ quan Thi hành án có thẩm quyền nói trong Điều 276
Bộ luật Tố tụng hình sự là các Trại cải tạo, Trại tạm giam của Công an; cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm thi hành các quyết định về phần dân
sự và các quyết định khác có liên quan đến tiền, tài sản trong vụ án hình sự Nếu người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án thì về nguyên tắc, bản án bị kháng nghị vẫn được thi hành bình thường như các bản
án đã có hiệu lực pháp luật khác Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không mặc nhiên làm mất hiệu lực của bản án đã có hiệu lực pháp luật Do không nắm chắc bản chất của kháng nghị giám đốc thẩm nên một số Tòa án
và cơ quan Thi hành án khi nhận được kháng nghị giám đốc thẩm, và mặc dù người kháng nghị không quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án nhưng vẫn không tiếp tục thi hành mà chờ quyết định giám đốc thẩm
Trang 29Theo Điều 279 Bộ luật Tố tụng hình sự, thẩm quyền giám đốc thẩm các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật được quy định như sau:
1 Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện
2 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân cấp tỉnh
3 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những quyết định của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bị kháng nghị
Như vậy, thẩm quyền giám đốc thẩm cũng như thẩm quyền kháng nghị, có sự phân cấp, nhưng sự phân cấp của giám đốc thẩm rành mạch hơn Tòa án cấp trên chỉ được giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp Ví dụ: Tòa hình sự Tòa án nhân
dân tối cao chỉ được giám đốc thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh mà không được giám đốc thẩm đối với bản
án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện Trong khi
đó, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và của cả Tòa án cấp huyện Việc phân định thẩm quyền giám đốc thẩm như trên là thể hiện nguyên tắc: "Tòa án cấp trên trực tiếp giám đốc thẩm việc xét xử của Tòa án cấp dưới Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm việc xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp", nó đảm bảo việc phân định thẩm quyền giám đốc thẩm theo tổ chức hệ thống bộ máy Tòa án, theo trình độ xét xử của Thẩm phán các cấp và tính phức tạp của các vụ án hình sự
Trang 30viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán và Hội đồng Thẩm phán phải được quá nửa tổng
số thành viên tán thành thì mới có giá trị Điều 281 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 bổ sung khoản 2 quy định:
Tại phiên tòa giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi biểu quyết
về nội dung kháng nghị thì phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành, thì phải hoãn phiên tòa
Thẩm phán ở các Tòa chuyên trách không phải là thành viên đương nhiên của Hội đồng Thẩm phán như trước đây mà Thẩm phán muốn là thành viên của Hội đồng Thẩm phán phải được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
* Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp Như vậy, sự
có mặt của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp tại phiên tòa giám đốc thẩm là bắt buộc, còn những người khác như: người bị kết án, người bào chữa, khi xét thấy cần thiết thì Tòa án có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm Vấn đề đặt
ra là khi nào thì Tòa án thấy cần thiết phải triệu tập tập và có thể triệu tập Đây là vấn đề khác phức tạp và cũng là vấn đề hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, căn cứ vào thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm khi ra quyết định và thực tiễn công tác giám đốc thẩm, chúng tôi thấy những trường hợp cần phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi và
Trang 31nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị đến phiên tòa là những trường hợp kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp phúc thẩm có hình phạt nhẹ hơn và giữ nguyên quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hình phạt nặng hơn hoặc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội mà kháng nghị lại theo hướng hủy bản án của Tòa án cấp phúc thẩm và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm Nói chung, các trường hợp kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết
án mà không hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại hoặc để điều tra lại hoặc các khoản về dân sự trong vụ án hình sự mà Hội đồng giám đốc thẩm quyết định ngay tại phiên tòa giám đốc thẩm thì cần thiết phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị ra phiên tòa giám đốc thẩm để họ trình bày ý kiến của mình
* Thời hạn và phạm vi xét xử giám đốc thẩm
Theo quy định tại Điều 252 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị, phiên tòa giám đốc cần phải được tiến hành Thời hạn này nói chung không bị vi phạm Tuy nhiên, có những vụ án phức tạp, Viện kiểm sát phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu
hồ sơ, nên hết thời hạn xét xử giám đốc thẩm Viện kiểm sát vẫn chưa chuyển trả hồ sơ cho Tòa án xét xử giám đốc thẩm để mở phiên tòa
Theo quy định tại Điều 253 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung kháng nghị Thực tiễn giám đốc thẩm có hai ý kiến trái ngược nhau về vấn đề này:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định
cả những vấn đề mà kháng nghị không đề cập theo cả hướng có lợi hoặc không có lợi cho người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác (cả người có kháng nghị và người không có kháng nghị)
Trang 32- Ý kiến thứ hai và cũng là quan điểm chính thống hiện nay cho rằng Hội đồng giám đốc thẩm phát hiện thấy cũng không được ra quyết định theo hướng không có lợi đối với họ
Mặc dù Điều 284 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị; nhưng như vậy không có nghĩa là Hội đồng giám đốc thẩm muốn quyết định như thế nào cũng được mà phải tuân theo những nguyên tắc được quy định ở trình tự giám đốc thẩm
Phiên tòa giám đốc thẩm được triệu tập là để xét tính hợp pháp của quyết định kháng nghị, có quyết định kháng nghị mới có phiên tòa giám đốc thẩm Do đó, trước hết, Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét và quyết định nội dung của kháng nghị Đối với những phần của vụ án không có kháng nghị, Hội đồng giám đốc thẩm cũng phải xem xét, nhưng chỉ được quyết định theo hướng có lợi cho người bị kết án Đối với trường hợp phát hiện bản án có sai lầm cần phải sửa lại theo hướng không có lợi cho người bị kết án, thì Hội đồng giám đốc thẩm phải yêu cầu người có quyền kháng nghị tiến hành kháng nghị bổ sung chứ không được quyết định ngay theo hướng đó
Xem xét và quyết định là hai vấn đề khác nhau, điều luật quy định phải xem xét toàn bộ vụ án là vì xét xử giám đốc thẩm là một hoạt động của giám đốc xét xử nên trong khi xét xử giám đốc thẩm, nếu phát hiện có sai lầm khác mà kháng nghị chưa đề cập thì yêu cầu người có quyền kháng nghị bổ sung Cũng chính vì vậy mà ở trình tự giám đốc thẩm có quy định là người có kháng nghị có quyền rút kháng nghị hoặc kháng nghị bổ sung (Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự) Việc Hội đồng giám đốc thẩm được quy định theo hướng có lợi cho người
bị kết án mặc dù không có kháng nghị theo hướng đó còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, không chỉ ở trình tự giám đốc thẩm mà còn ở trình tự phúc thẩm
* Phiên tòa giám đốc thẩm hình sự
Phiên tòa giám đốc thẩm là phiên tòa do Ủy ban Thẩm phán Tòa án các cấp, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án Quân sự Trung ương và
Trang 33Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiến hành để xét xử vụ án hình
sự do có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Ở phiên tòa giám đốc thẩm, hình thức của nó như là một cuộc họp Trong phòng xử án không theo một quy định bắt buộc như ở phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm Đại diện Viện kiểm sát và Thư ký ngồi chung với Hội đồng xét xử Nếu không phải người tiến hành tố tụng thì khó phân biệt được phiên tòa giám đốc thẩm với một cuộc họp bình thường
Tại phiên tòa giám đốc thẩm không diễn ra như phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm, không có các giai đoạn như: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm được thông qua ngay tại phòng xử án, nhưng lại không tuyên đọc bản án như
ở phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì trong phiên tòa, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về
vụ án Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết
vụ án Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu Trong trường hợp họ vắng
mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử
Phiên tòa giám đốc thẩm cũng không có việc nghị án trong phòng riêng mà biểu quyết ngay tại phiên tòa có sự chứng kiến của đại diện Viện
kiểm sát
* Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định là quyết định giám đốc thẩm, nay Điều 285 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định là thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm Việc thay đổi này không làm thay đổi bản chất về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm Tuy nhiên, Điều 285
Trang 34Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có một thay đổi lớn, đó là bỏ quyền của Hội đồng giám đốc thẩm "sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật"
Trong quá trình xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, thì quyết định giám đốc thẩm có vị trí quyết định toàn bộ quá trình này Nếu kháng nghị là hành vi pháp lý làm phát sinh một thủ tục mới (thủ tục giám đốc thẩm) thì quyết định giám đốc thẩm là hành vi
chấm dứt thủ tục này
Quyết định giám đốc thẩm là một văn bản do Hội đồng giám đốc thẩm ban hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;
- Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại
So với Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, thì Điều 285 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có một thay đổi cơ bản, đó là Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không có quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, không được hủy bản án hoặc quyết định phúc thẩm để giữ nguyên bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Quy định này làm thay đổi hẳn tính chất giám đốc thẩm, nói đúng hơn là làm cho tính chất của giám đốc thẩm đúng với nghĩa của nó là chỉ "phá án", không biến giám đốc thẩm là một cấp xét xử thứ ba, bảo đúng nguyên tắc hai cấp xét xử
Như vậy, giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng đặc biệt, xuất hiện
sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Thông
Trang 35qua thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên thực hiện chức năng giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, kịp thời khắc phục những vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý một vụ án hình sự Thông qua thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tổng kết công tác xét xử, đề ra những chủ trương hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật, hoặc phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp… ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án…
Thủ tục giám đốc thẩm có vị trí rất quan trọng trong tố tụng hình sự nước ta Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về thẩm quyền, về phạm vi đối tượng, nhưng xét về lý luận và thực tiễn, thủ tục giám đốc thẩm không thể thiếu được trong tố tụng hình sự Nếu không có thủ tục này thì hàng năm sẽ
có rất nhiều bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, phát hiện có vi phạm pháp luật mà không sửa sai được, trong đó không ít trường hợp kết án oan người vô tội
Thủ tục giám đốc thẩm không chỉ kịp thời sửa chữa những bản án hoặc quyết định sai lầm trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án mà còn có tác dụng hướng dẫn các Tòa án thống nhất áp dụng pháp luật, tránh những sai sót tương tự khi xét xử các vụ án khác
Trang 36Chương 2
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỐC VIỆC XẫT XỬ
CỦA TềA ÁN NHÂN DÂN
2.1 HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỐC VIỆC XẫT XỬ CỦA TềA ÁN NHÂN DÂN THễNG QUA XẫT XỬ PHÚC THẨM
Hàng năm, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong cả n-ớc đã xét xử sơ thẩm hàng chục nghìn vụ án hình sự Qua thực tiễn hoạt động giám đốc việc xét xử thông qua xét xử phúc thẩm cho thấy nhìn chung chất l-ợng xét xử các
vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm của các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có nhiều tiến bộ hơn so với các năm tr-ớc Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều vụ án
do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm còn có những thiếu sót, sai lầm nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án…, dẫn đến việc bị Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm Theo số liệu thống
kê của Tòa án nhân dân tối cao thì tình hình thụ lý và xét lại các bản án do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, nh-ng bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong các năm 2004-2007 nh- sau:
- Năm 2004: thụ lý 67 vụ với 115 bị cáo; trong đó có 22 vụ Viện kiểm sát đã rút kháng nghị tr-ớc khi mở phiên tòa phúc thẩm đối với 28 bị cáo; đã
đ-a ra xét xử phúc thẩm 45 vụ với 87 bị cáo, với các quyết định nh- sau: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với 65 bị cáo; sửa bản án sơ thẩm đối với 14 bị cáo; hủy bản án sơ thẩm đối với 08 bị cáo
- Năm 2005: thụ lý 58 vụ với 102 bị cáo; trong đó có 18 vụ Viện kiểm sát đã rút kháng nghị tr-ớc khi mở phiên tòa phúc thẩm đối với 27 bị cáo; đã
đ-a ra xét xử phúc thẩm 40 vụ với 75 bị cáo, với các quyết định nh- sau: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với 52 bị cáo; sửa bản án sơ thẩm đối với 15 bị cáo; hủy bản án sơ thẩm đối với 08 bị cáo
Trang 37- Năm 2006: thụ lý 55 vụ với 95 bị cáo; trong đó có 20 vụ Viện kiểm sát đã rút kháng nghị tr-ớc khi mở phiên tòa phúc thẩm đối với 26 bị cáo; đã
đ-a ra xét xử phúc thẩm 35 vụ với 69 bị cáo, với các quyết định nh- sau: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với 45 bị cáo; sửa bản án sơ thẩm đối với 18 bị cáo; hủy bản án sơ thẩm đối với 06 bị cáo
- Năm 2007: thụ lý 43 vụ với 81 bị cáo; trong đó có 21 vụ Viện kiểm sát đã rút kháng nghị tr-ớc khi mở phiên tòa phúc thẩm đối với 51 bị cáo; đã
đ-a ra xét xử phúc thẩm 22 vụ với 30 bị cáo, với các quyết định nh- sau: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với 18 bị cáo; sửa bản án sơ thẩm đối với 08 bị cáo; hủy bản án sơ thẩm đối với 04 bị cáo
Căn cứ vào các số liệu nêu trên thì thấy tình hình thụ lý và xét lại các bản án hình sự do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, nh-ng bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hàng năm theo chiều h-ớng giảm dần Tuy nhiên, trên thực tế số bản án do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm nh-ng vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án có thể còn nhiều hơn thế mà ch-a bị phát hiện hoặc đ-ợc kháng nghị kịp thời
Vì vậy, xột xử phỳc thẩm là biện phỏp của Tũa ỏn cấp trờn kiểm tra tớnh hợp phỏp và tớnh cú căn cứ của bản ỏn và quyết định của Tũa ỏn cấp dưới chưa cú hiệu lực phỏp luật
Xột xử phỳc thẩm vụ ỏn hỡnh sự cú những đặc điểm sau:
- Tũa ỏn cấp phỳc thẩm khụng chỉ kiểm tra việc tuõn theo yờu cầu của phỏp luật trong khi xột xử của Tũa ỏn cấp dưới, mà cũn kiểm tra tớnh đỳng đắn của cỏc tỡnh tiết thực tế được xỏc định trong bản ỏn, tức là đồng thời kiểm tra tớnh hợp phỏp và tớnh cú căn cứ của bản ỏn
- Tũa ỏn cấp phỳc thẩm khụng bị ràng buộc bởi những lý do khỏng cỏo hoặc khỏng nghị, mà kiểm tra toàn bộ vụ ỏn đối với tất cả những người bị kết ỏn, kể cả những người khụng khỏng cỏo và khụng bị khỏng nghị
Trang 38- Khi xét xử phúc thẩm, những người tham gia tố tụng có các quyền rộng rãi Để khẳng định những lý do của mình, người kháng cáo hoặc kháng nghị có thể không chỉ viện dẫn những chứng cứ có trong vụ án, mà còn được xuất trình những tài liệu mới (các loại giấy chứng nhận và các chứng từ khác) chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm Người bào chữa đã tham gia phiên tòa sơ thẩm vẫn có thể tiếp tục tham gia phiên tòa phúc thẩm để bảo vệ cho người mà mình đã bảo vệ ở phiên tòa sơ thẩm
Theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Xét xử phúc thẩm là bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử So với Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, thì Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đầy đủ hơn và chính xác hơn, phản ảnh đúng chính chất của phúc thẩm Nếu Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định phúc thẩm là xét lại thì Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
đã quy định xét xử lại Tuy nhiên, đối với các quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì vẫn quy định xét lại, vì khi xét lại các quyết định này Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên tòa cũng giống như giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Mặc dù là không phải mở phiên tòa nhưng tính chất của phúc thẩm khác hẳn giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, nên vẫn là xét xử lại chứ không chỉ là xét lại, vì có như vậy, mới bảo đảm nguyên tắc "hai cấp xét xử" [24]
Phúc thẩm là xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm, tức là những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã xét xử và quyết định thì Tòa
án cấp phúc thẩm mới được xét xử và quyết định Đây là vấn đề tưởng như đơn giản, nhưng thực tiễn xét xử không ít trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm
đã vượt quá thẩm quyền xét xử và quyết định cả những vấn đề mà Tòa án cấp
sơ thẩm chưa xét xử và quyết định Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm phạt Nguyễn
Văn H 03 năm tù vì đã lừa đảo chiếm đoạt 5.000.000 đồng của bà Đỗ Thị X Sau khi xét xử sơ thẩm, bà X kháng cáo cho rằng bị cáo H chiếm đoạt của bà
Trang 3915 triệu đồng chứ không phải chỉ có 5 triệu đồng như bản án sơ thẩm quyết định Ngoài việc bà X kháng cáo, còn có bà Trần Thị K cũng làm đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo H phải bồi thường cho bà 10 triệu đồng vì
bị cáo H đã vay của bà đến hạn không chịu trả, bà K còn nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm cả giấy tờ do bị cáo H biên nhận khi vay tiền của bà Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H cũng thừa nhận có vay của bà K 10 triệu đồng, nhưng chưa trả được cho bà K vì làm ăn bị thua lỗ Căn cứ vào đơn khiếu nại của bà
K và lời khai của bị cáo H, Tòa án cấp phúc thẩm ngoài việc xét xử kháng cáo của bà X, đã xét xử cả yêu cầu của bà K và quyết định buộc H phải bồi thường cho bà K 10 triệu đồng, trong khi Tòa án cấp sơ thẩm chưa xét xử khoản nợ của H đối với bà K, bà K cũng không được tham gia tố tụng ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm mà chỉ sau khi xét xử sơ thẩm, bà K mới biết và có đơn yêu cầu Việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử và quyết định như vậy rõ ràng không phải xét xử lại mà là xét xử lần đầu Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được xét xử và quyết định những gì mà Tòa án cấp sơ thẩm
đã xét xử và quyết định Tuy nhiên, cần chú ý không phải trường hợp nào Tòa
án cũng xét xử và quyết định mà có những trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm có xét xử nhưng lại không quyết định gì cả, nên sau khi xét xử sơ thẩm những người có quyền và nghĩa vụ kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại việc Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết yêu cầu của những người tham gia tố tụng, thì Tòa án cấp phúc thẩm không được lấy lý do
vì Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết nên không xét Ví dụ: A cố ý gây
thương tích cho B, Tòa án cấp sơ thẩm phạt A hai năm tù, còn khoản bồi thường Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết mặc dù B có yêu cầu Sau khi xét xử sơ thẩm, B kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt và buộc A phải bồi thường cho mình [24]
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vậy thế nào là bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật? Đây cũng là vấn đề hiện nay có nhiều ý kiến khác
Trang 40nhau và trong một số trường hợp, việc xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm
đã có hiệu lực chưa không phải dễ dàng Tuy nhiên, hầu hết những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là những bản án hoặc quyết định
sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị Nếu bản án hoặc quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm Vấn đề này có liên quan đến thẩm quyền và phạm vi xét xử phúc thẩm, nhưng nó không đồng nhất với nhau, vì thẩm quyền xét xử
và phạm vi xét xử phúc thẩm là những quy định khi vụ án đã được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý hoặc đã đưa ra xét xử phúc thẩm, còn việc Tòa án cấp phúc thẩm có thụ lý và đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hay không lại tùy thuộc vào bản án hoặc quyết định sơ thẩm có bị kháng cáo kháng nghị hay không Bản
án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị có thể chỉ bị kháng cáo hoặc kháng nghị một phần, thậm chí phần rất nhỏ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn phải đưa vụ án đó ra xét xử phúc thẩm
Tóm lại, phúc thẩm vụ án hình sự còn là một hoạt động giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, qua đó góp phần vào việc hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật một cách thống nhất Tòa án đã xét xử phúc thẩm phải ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm đúng pháp luật, bản án phúc thẩm phải thật sự là mẫu mực để Tòa án cấp sơ thẩm học tập
Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Tòa