1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa

81 368 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro An Toàn Tín Dụng Đối Với Kinh Tế Ngoài Quốc Doanh Tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa
Trường học Ngân Hàng Công Thương Đống Đa
Thể loại chuyên đề
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 556,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, để từng bước pháttriển, hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới Trảiqua nhiều khó khăn, thử thách nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựuđáng khích lệ Để đạt được điều đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngânhàng với vai trò là "đòn bẩy kinh tế" thông qua hoạt động tín dụng

Tín dụng Ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúcđẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng củaNhà nước Tín dụng Ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàngthương mại Tuy nhiên, hoạt động tín dụng Ngân hàng lại là hoạt động chứađựng nhiều rủi ro

Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ tác động tới bản thân Ngânhàng thương mại mà còn tác động tiêu cực tới nền kinh tế Chính vì vậy, côngtác hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các Ngân hàng thương mại quan tâm

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, sau thời gian thực tập tại Ngân hàng

Công thương Đống Đa, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa".

Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là:

- Nghiên cứu vấn đề rủi ro tín dụng trên phương diện lý thuyết: Bản chấtcủa rủi ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như tác độngcủa nó tới bản thân Ngân hàng Thương mại và với nền kinh tế

- Thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàngcông thương Đống Đa để đánh giá được tình hình rủi ro trong hoạt động tíndụng của Chi nhánh

- Đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề xuất các biện pháp nhằm hạn chếrủi ro trong hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Công thương ĐốngĐa

Trang 2

Để giải quyết từng vấn đề trên, chuyên đề được thiết kế làm 3 chương:

Chương I: Tín dụng và rủi ro an toàn kinh tế ngoài quốc doanh trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại

Chương II: Thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng an toàn kinh tế ngoài quốc doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa.

Chương III: Một số giải phá hạn chế rủi ro tín dụng an toàn kinh tế ngoài quốc doanh đối với Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa.

Trang 3

CHƯƠNG I

TÍN DỤNG VÀ RỦI RO AN TOÀN TÍN DỤNG KINH TẾ

NGOÀI QUỐC DOANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I NGÂN HÀNG VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại

Khi nghiên cứu về Ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học đưa ra rấtnhiều những quan niệm khác nhau về NHTM Người thì cho rằng "NHTM là tổchức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền" Người khác lại nhận định: NHTM

là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền

và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc…" Sở dĩ cótình trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từngnghiệp vụ Ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổichung của nền kinh tế Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗivùng khác nhau đã dẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữacác nước trên thế giới

Theo pháp lệnh: "Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính"ban hành ngày 24/5/1990:" NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt độngchủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàntrả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán"

Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệthông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn để cho vay, đầu tư và thựchiện các nghiệp vụ tài chính khác

1.2 Các chức năng nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại

- Chức năng huy động vốn: Đây là chức năng cơ bản đầu tiên của NHTM

Nó quyết định quy mô cũng như hiệu quả các hoạt động khác của NHTM

Trang 4

NHTM có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi củacác cá nhân, các tổ chức kinh tế qua các hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi

có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Ngoài ra, khi cần thêm vốn,NHTM có thể huy động vốn qua các biện pháp chủ động như phát hành kì phiếungân hàng, phát hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của NHNN hoặc các tổchức tín dụng khác

Tuy nhiên, NHTM phải huy động vốn trên cơ sở vốn tự có như một rằngbuộc về trách nhiệm nhằm hạn chế rủi ro trong các hoạt động của Ngân hàng.Theo quy định của Việt Nam, các NHTM không được phép huy động quá 20 lần

số vốn tự có

- Chức năng cung cấp tín dụng và đầu tư: Đây là hoạt động kinh doanhmang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM Thực hiện nghiệp vụ quan trọng là tạotiền, trở thành nguồn tích luỹ vốn cho nền kinh tế tạo điều kiện làm tăng tổngsản phẩm xã hội, mở rộng vốn đầu tư góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Có thể thấy hoạt động tín dụng làhoạt động quan trọng nhất của NHTM,

nó liên quan đến tất cả các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế Tuy nhiên, hoạtđộng lại chứa đựng rủi ro tiềm ẩn từ tất cả các ngành các lĩnh vực đó Chính vìvậy việc nghiên cứu rủi ro tín dụng là vấn đề cấp bách luôn được các NHTMquan tâm

- Cung cấp các hoạt động dịch vụ:

Ngoài các chức năng cơ bản trên, NHTM còn tiến hành các hoạt độngdịch vụ để đáp ứng mọi nhu cầu của khác hàng nhằm thu hút khách hàng đồngthời đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng Các hoạt động dịch vụ củaNHTM gồm có:

+ Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền

+ Dịch vụ mua bán và môi giới chứng khoán

+ Dịch vụ tư vấn đầu tư

+ Dịch vụ quản lý tài sản và các chứng từ có giá

Trang 5

Thông qua các hoạt động này, NHTM nhận được các khoản thu nhập dướihình thức lệ phí hoặc hoa hồng.

Có thể nói, các chức năng của NHTM đều rất quan trọng và liên quan chặtchẽ với nhau Chức năng huy động vốn là tiền đề tạo nguồn vốn tích luỹ cho cáchoạt động nghiệp vụ Hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại nguồn thu nhập choNHTM Còn các hoạt động dịch vụ thu hút thêm khách hàng, tạo điều kiện choviệc mở rộng hoạt động huy động tiền gửi và kinh doanh của NHTM

2 Tín dụng Ngân hàng

2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng

Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bênchuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định,đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thụân

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chứckinh tế và cá nhân thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, chokhách hàng vay, tài trợ thuê mua, bảo hành hay chiết khấu…

Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng của NHTM thì hoạt động cho vay làhoạt động phức tạp nhất Trong bài viết này tôi chỉ xin được đề cập đến khíacạnh cho vay của hoạt động tín dụng Ngân hàng

2.2 Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại

Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của cácdoanh nghiệp, không chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần ktnn màcòn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Tíndụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển củađất nước

Tín dụng Ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thônghàng hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ cũng không thể tách ly sự hỗ trợ củatín dụng ngân hàng

Với các ngành sản xuất, chế biến, khai thác…để đảm bảo sản xuất ổn địnhcần thết phải có vốn để dự trữ nguyên vật liệu, thành phẩm bù đắp các chi phí

Trang 6

sản xuất…Đồng thời để không ngừng nâng cao năng xuất lao động, chất lượngsản phẩm, tìm kiếm lợi thế trông cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải thườngxuyên cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ đặc biệt trong thời đại khoahọc kỹ thuật phát triển như vũ bão hiện nay Tất cả những công việc đó sẽ khôngthể thực hiện được nếu thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động tíndụng.

Trong lĩnh vực lưu thông, để đảm bảo đưa được hàng hoá từ người sảnxuất đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lượnghàng hoá cần thiết trang trải các chi phí lưu thông, thuế…Hơn nữa, để mở rộngsản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải dự trữ khối lượng hàng hoá lớnvới chủng loại phong phú, nhưng thông thường các doanh nghiệp này không cónhiều vốn lưu động Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp này cầnđến sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng

Với các doanh nghiệp dịch vụ như vận tải, khách sạn, du lịch…sẽ hoạtđộng ra sao khi không có vốn của ngân hàng tham gia vào đầu tư xây dựng tangthiết bị vật chất, phương tiện vận tải…Khi bước vào kinh doanh trong lĩnh vựcnày đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến tíndụng ngân hàng và xem nó như là một trong những nguồn vốn có thể huy độngcho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưuđộng và vốn cố định cho các chủ doanh nghiệp là vốn tín dụng ngân hàng vì nếuchỉ dựa vào vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức cạnh tranh và phát triển trongnền kinh tế thị trường Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọngcho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới

Thứ hai, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất

mở rộng, tín dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại nâng cao năng suất vàhiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.Ngân hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn trong và

Trang 7

hàng trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất giúp các nhà sản xuất kinh doanhthực hiện tái sản xuất mở rộng và ứng dụng công nghệ để cạnh tranh thắng lợitrên thị trường.

Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm,tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, và các chương trình, dự

án mang tính xã hội khác

Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết việc làm khôngthể chỉ dựa vào quỹ ngân sách Nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vaynước ngoài Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò quan trọng trong viecẹd dầu

tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những việc như vậy

Thứ tư, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sảnxuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước

và quốc tế Các doanh nghiệp, các Công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín đượcngân hàng tập trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trườngtiêu thụ Tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tíchluỹ vốn, tạo cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tậpđoàn kinh tế nước ngoài đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thếgiới

Thứ năm, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểmsoát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện phápchính sách quản lý kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông quacác chính sách về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điềukiện cho vay khác cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu địnhhướng phát triển kinh tế của Nhà nước

Phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt mục tiêu phát triển là mộtnhiệm vụ đầy khó khăn thử thách Song song với việc này là phải đảm bảo antoàn tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTMnói chung và của Chi nhánh NHCT Đống Đa nói riêng

Trang 8

II RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Khái niệm rủi ro

Rất có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể vàhoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trường.Tuy nhiên, các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bấttrắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được

Như vậy, trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động Ngânhàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi Vì thế, các nhà quản trịkhông thể loại bỏ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biệnpháp chủ động xử lý Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trườnghiện nay, các nhà quản trị phải biết nhận biết và dự đoán trước các rủi ro để sớmđưa ra các giải pháp phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó

2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau

Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi

ro lớn Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của NHTM

2.1 Rủi ro tín dụng

Tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM Nguồn thu từ hoạt động tíndụng luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ ngân hàng và đem lạiphần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại làhoạtđộng có nhiều rủi ro nhất và phức tạp nhất Hoạt động tín dụng liên quan chặtchẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Mỗi rui ro trong các lĩnh vực này đều tiềm

ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Trong hoạt động tín dụng,NHTM luôn đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hoá rủi ro

Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi NHTM phải có những giải pháp thích hợp đểquản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng

Trang 9

Đây là loại rủi ro mang tính xã hội, nó ảnh hưởng đến hầu hết các tổ chứckinh tế, các cá nhân trong nền kinh tế quốc dân Người ta quan niệm lãi suất làchi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó Trong

cơ chế thị trường, lãi suất luôn biến động và điều này có thể gây ra rủi ro chohoạt động của NHTM Chẳng hạn, ngân hàng đã ký hợp đồng cho vay một kỳhạn với lãi suất cố định, sự thiệt hại của ngân hàng sẽ diễn ra khi lãi suất trên thịtrường tăng lên Ngược lại, khi nhận vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định,ngân hàng sẽ bị thiệt hại khi lãi suất thị trường giảm xuống

Rủi ro lãi suất là loại rui ro do sự biến động của yếu tố tiền tệ Rủi ro lãisuất nảy sinh trong những trường hợp sau:

+ Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng làm chiphí của ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngânhàng Khi lạm phát cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho ngườicho vay

+ Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng không hợp lý Ngânhàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có dài hạn Nếu lãi suấtngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập

ở tài sản có dài hạn vẫn giữ nguyên, như vậy thu nhập của ngân hàng không đủ

bù đắp chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn

+ Ngoài ra, rủi ro lãi suất có thể xayra do trình độ thấp kém bị thua thiệttrong việc cạnh tranh lãi suất trên thị trường Hoặc do yếu tố của nền kinh tế tácđộng đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố thị trường…Khi Nhà nước có quyết địnhđiều chỉnh lãi suất theo hướn giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đếnhạn trả Như vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhưng phần trả lãi cho nhữngkhoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng dẫn đến rủi ro lãi suất

2.3 Rủi ro nguồn vốn

2.3.1 Rủi ro do thừa vốn

Như ta biết, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của NHTM là nguồn vốn huyđộng Để huy động được vốn Ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền Nếu số

Trang 10

này bị ứ đọng, không thể cho vay hoặc đầu tư vào các loại tài sản có thể sinh lờitrong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số vốn đã huy động thì có nghĩa là cácthiệt hại của ngân hàng đang diễn ra Nếu quá trình này kéo dài ở mức độ lớn cóthể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh Giải quyết vấn đề này, NHTM cần phảităng cường công tác kế hoạch hoá, đảm bảo cân đối giữa vốn huy động và vốncho vay.

2.3.2 Rủi do do thiếu vốn

Loại rủi ro này xảy ra khi Ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầucho vay và đầu tư, thậm chí không đủ vốn để thanh toán cho người gửi tiền khiđến hạn Rủi ro này xuất phát từ chưc năng chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn

và nguồn vốn của ngân hàng, thông thường các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳhạn các nguồn vốn, hoặc do mất lòng tin mà các hàng loạt khách hàng đến rúttiền, khiến cho ngân hàng không có đủ tiền để chi trả cùng một lúc Trong bốicảnh đó, ngân hàng khó lòng huy động được nguồn vốn dồi dào, từ đó kinhdoanh có thể bị thu hẹp và vỡ nợ rất có thể xảy ra Rủi ro này còn có thể do ngânhàng chưa thực hiện tốt công tác huy động vốn thể hiện ở việc không thu hút đủvốn để cho vay hoặc do sự mất cân đối trong cơ cấu vốn huy động, thiếu cácnguồn vốn trung dài hạn trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn lại ở mức cao.Điều này đã làm cho Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án an toàn và

có thể đem lại lợi nhuận cao

2.4 Rủi ro hối đoái

Rủi ro hối đoái là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái Nếu tỷgiá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi, ngược lạithì bị lỗ Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi về giá trị ngoại hối, cụ thể:

+ Nếu ngân hàng có dư dật về ngoại tệ (vị thế thường - net long position):Nếu ngoại tệ đó lên giá thì ngân hàng sẽ có lãi khi đánh giá lại và ngược lại ngânhàng sẽ lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá

Trang 11

+ Nếu ngân hàng ở vị thế đoản (net short position) về loại ngoại tệ nào đó,khi ngoại tệ đó lên giá, ngân hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi khingoại tệ đó xuống giá.

Một trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay thế đoản đều có nguy cơ gây

ra tổn thất cho ngân hàng Dư dật về ngoại tệ(vị thế trường) càng lớn thì rủi rocàng cao khi tỷ giá giảm, ngược lại, đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi

ro cũng không ít khi tỷ lệ tăng

Khi phân biệt tình hình lãi lỗ ngoại hối theo vị thế ngoại hối, người ta sosánh lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lãi, lỗ dự kiến, qua đó đánh giá chất lượngquản lý rủi ro so với mức lãi, lỗ dự kiến, qua đó đánh giá chất lượng quản lý rủi

ro tỷ giá hối đoái của một ngân hàng

2.5 Rủi ro trong thanh toán

Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanhtoán Khả năng thanh toán tưc là đáp ứng được các nhu cầu thanh toán hiện đại,đột xuất khi có vấn đề nảy sinh và đáp ứng được khả năng thanh toán trongtương lai Khi ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, nếu không được giải quyếtmột cách kịp thời có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán Khi ngân hàng thừakhả năng thanh toán sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thunhập của ngân hàng giảm

Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:

+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừaquá lớn, trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp nên một số ngân hàng đã dùngvốn huy động ngắn hạn để cho tập trung dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt khảnăng thanh toán cuối cùng

+ Đến hạn các khoản cho vay khó thu hồi được, uy tín của ngân hànggiảm sút, người gửi tiền và người đi vay thường phản ứng trước những khó khăncủa ngân hàng bằng cách rút hết hạn mức tín dụng để đảm bảo có tiền chonhững nhu cầu về sau hoặc rút hết số dư tiền gửi vì sợ có thể không rút được

Trang 12

Tất cả những khía cạnh trên đều dẫn đến những rủi ro trong thanh toán của ngânhàng.

+ Loại rủi ro này còn có thể phát sinh trong quá trình thanh toán của ngânhàng, có thể do ngân hàng bị lợi dụng trong thanh toán điện tử,thanh toán sécchấp nhận thanh toán các chứng từ giả mạo hoặc do nhầm lẫn, sai sót trong hoạtđộng nghiệp vụ…dẫn đến sự thiệt hại của ngân hàng

2.6 Rủi ro thuần tuý

Đây là loại rủi ro khách quan do thiên tại gây ra như: lụt lội, động đất, hoảhoạn hoặc do bị mất trộm, bị lừa đảo, tham nhũng…làm thiệt hại hay phá huỷcác tài sản của ngân hàng Các rủi ro này xảy ra cũng gây mất mát, thiệt hạikhông nhỏ cho ngân hàng

2.7 Rủi ro mất khả năng thanh toán

Đây là loại rủi ro đặc trưng của NHTM liên quan đến sự sống còn củangân hàng, nó là hậu quả của một hoặc nhiều loại rủi ro kể trên dẫn đến việcNHTM bị thua lỗ, không có đủ khả năng trả nợ cho người gửi tiền khi đến hạnhoặc không có đủ tiền nhất thời để chi trả cho nhu cầu rút tiền ồ ạt của kháchhàng tại một thời điểm Đây là loại rủi ro nghiêm trọng nhất, nó không nhữnglàm sụp đổ chính NHTM đó mà còn là nguy cơ dẫn đến sự phá sản của hàng loạtcác chưc năng, các tổ chức tín dụng khác có liên quan

Bài học thực tiễn của loại rủi ro này có thể kể đến như sự sụp đổ của hàngtrăm tổ chức tín dụng ở Mỹ từ năm 1985 đến năm 1992 hay sự đổ vỡ hàng loạtquỹ tín dụng nhân dân ở nước ta trong những năm cuối của thập kỷ 80

3 Rủi ro tín dụng

3.1 Các hình thức của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay không trả được nợ lãi và nợ gốcđúng hạn, đầy đủ Theo phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiện nay, người tachia rủi ro tín dụng thành bốn cấp độ theo mức độ rủi ro

3.1.1 Không thu được lãi đúng hạn

Trang 13

Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngânhàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh Hình thức rủi ro nàyđược xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ,chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu

nợ và trả nợ của khách hàng

3.1.2 Không thu được vốn đúng hạn

Khi không thu được vốn đúng hạn tình hình dường như nghiêm trọnghơn, một phần do một lượng vốn vay lớn bị mất Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển

số nợ đó sang mục nợ quá hạn phát sinh Khoản mục này phát sinh vào thờigian đáo hạn của hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mátthực hiện của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng

bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình Ngân hàng

3.1.3 Không thu được đủ lãi

Khi Ngân hàng không thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêmtrọng hơn Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đếnmức không thể trả đủ lãi cho Ngân hàng Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoảnlãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễngiảm lãi cho khách hàng

3.1.4 Không thu đủ vốn cho vay

Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thuđủ vốn cho vay vàlúc này Ngân hàng đã bị mất vốn Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyểnkhoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi như khéplại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả

Trên đây chủ yếu là bốn hình thức giúp cho NHTM phân biệt rủi ro tíndụng và có biện pháp xử lý Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụngthì Ngân hàng đều phải trải qua bốn trường hợp trên Có trường hợp khách hàng

đã trả lãi rất đầy đủ và đúng hạn nhưng cuối cùng lại không thể trả được nợ gốccho Ngân hàng Vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, người ta thường chútrọng vào các trường hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát

Trang 14

sinh và đặc biệt là nợ quá hạn phát sinh Còn ở các trường hợp khác có lãi treođóng băng hay nợ không có khả năng thu hồi được coi là rủi ro thực sự nênthường được xem xét để giải quyết hậu quả và ruít ra những bài học kinhnghiệm.

3.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

3.2.1 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh.

a) Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường pháp lý trong nước:

- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vựckinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khinền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và

có nhiều khả năng trả nợ cho Ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tìnhtrạng bị suy thoái, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp rất nhiều khókhăn trong hoạt động kinh doanh, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút,hànghoá bị ứ đọng Điều này đã làm cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đãảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng

Ngoài ra, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của chính phủ cũng ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động của Ngân hàng Chính phủ có thể gây khó khăncho một số khách hàng của Ngân hàng khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh

tế cao đã làm tăng tỷ lệ lạm phát dẫn đến giá cả các loại nguyên vật liệu đầu vàotăng, giá thành sản phẩm tăng, hàng hoá khó tiêu thụ được Hơn nữa, việc chínhphủ cho phép nhập khẩu tràn lan những mặt hàng mà ở trong nước có thể sảnxuất được, từ đó làm cho hàng hoá trong nước bị cạnh tranh, chậm tiêu thụ, sảnxuất bị đình trệ…

- Môi trường chính trị, xã hội: Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạođiều kiện cho các doanh nghiệp phát triển Ngược lại, nếu doanh nghiệp luônphải đặt ra trong tình trạng chiến tranh cấm vận kinh tế, chính trị bất ổn, tệ nạn

xã hội tràn lan…đều là những nguyên nhân dẫn đến việc kìm hãm sản xuất, từ

đó gây ra rủi ro đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với rủi ro tín dụng

Trang 15

- Môi trường pháp lý: Nếu nhà nước xây dựng một hành lang pháp lý chặtchẽ và có hiệu lực sẽ làm mạnh hoá các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tếvới nhau cũng như giữa các tổ chức kinh tế đó với Ngân hàng Ngược lại, hệthống pháp lý lỏng lẻo sẽ tạo ra nhiều kẽ hở, gây nên tình trạng mánh khoé, lừađảo và gây thiệt hại lẫn nhau; từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán đối vớiNgân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của Ngân hàng, điển hìnhnhư vụ án Tamexco, Epco - Minh Phung…đã gây xôn xao dư luận.

b) Môi trường quốc tế.

Xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay ảnh hưởng rấtlớn đến kinh doanh kinh tế Một mặt nó tạo điều kiện giao lưu kinh tế, tăng hiệuquả kinh tế xã hội đất nước, nhưng mặt khác nó lại tao ra sức cạnh tranh khốcliệt Nếu doanh nghiệp nào làm ăn kém hiệu quả thì lập tức sẽ bị phá sản gâyảnh hưởng đến hoạt động tín dụng Ngân hàng Quan hệ kinh tế mở rộng ra cácnước đã tạo sự ràng buộc về kinh tế, tiềm ẩn những rủi ro mang tính hệ thống.Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực vừa qua là một bằng chứngđiển hình Nó đã dẫn đến sự phá sản của hàng trăm ngân hàng của các nước màhậu quả của nó vẫn còn dư âm đến tận hôm nay

3.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Trong trường hợp này, rủi ro tín dụng xảy ra do các doanh nghiệp thực sựlàm ăn thua lỗ không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng Đây là nguyênnhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của NHTM Ta có thể chia nguyên nhândẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng làm hai trường hợp Đó là trường hợpkhách hàng gian lận và trường hợp khách hàng không gian lận

a) Khách hàng gian lận:

Trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng không thể tránh khỏi trường hợpkhách hàng cố tình lừa gạt ngân hàng Điều này được thể hiện qua một số hìnhthức sau:

Nhiều doanh nghiệp do thiếu năng lực về khả năng quản lý tài chính lạikhông có tài sản thế chấp hợp lệ do đó không đủ điều kiện để đảm bảo an toàn

Trang 16

cho việc vay vốn ngân hàng Họ đã lập các số liệu, giấy tờ giả mạo hòng quamắt ngân hàng và được ngân hàng cho vay vốn Nếu ngân hàng không phát hiện

ra thì khả năng rủi ro của khoản tín dụng này là rất lớn

Có trường hợp người vay lợi dụng ngân hàng không thể kiểm soát hếtđược hoạt động kinh doanh của mình nên các doanh nghiệp đã sử dụng vốn vaycủa ngân hàng vào mục đích khách với hợp đồng đã cam kết Như vậy, coi nhưtoàn bộ giá trị thẩm định trước khi tiến hành cho vay của ngân hàng đã trở thành

vô nghĩa và rủi ro tín dụng được đặt ở mức độ báo động

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp do kinh doanh kém hiệu quả hoặc do đạođức kém đã cố tình chây ỳ, không trả nợ cho ngân hàng, thậm chí còn bỏ trốn đểquỵt nợ Trong trường hợp này ngân hàng hoàn tàon bị thua thiệt và chỉ còntrông chờ vào việc xử lý tài sản thế chấp

b) Khách hàng không gian lận.

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranhgay gắt để tồn tại thì csc doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình trong nhữgn quan

hệ phức tạp của xã hội Tuy nhiên, rủi ro vẫn là điều không thể tránh khỏi Như

ở phần trước đã nói, nguồn thu chủ yếu của ngân hàng là từ các doanh nghiệpthông qua các hoạt động tín dụng Chính vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp cóảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng và rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của ngânhàng Rủi ro của doanh nghiệp xuất phát từ một số trường hợp sau:

+ Doanh nghiệp bị rủi ro khách quan như: Thiên tai, hoả hoạn, động đất,mất trộm…Đây là trường hợp ít khi xảy ra và khó có thể dự đoán trước

+ Bản thân doanh nghiệp bị lừa đảo hoặc bạn hàng của doanh nghiệp gặprủi ro Trong nền kinh tế doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ với các tổ chứckinh tế khác và cũng giống như ngân hàng doanh nghiệp cũng có thể bị rủi ro từphía các đối tác của mình làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, không có khả năngtrả nợ cho ngân hàng

Trang 17

Trường hợp khác là rủi ro xuất phát từ chính sự yếu kém của bản thândoanh nghiệp Sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường luôn đặt doanh nghiệptrong tình trạng phải có sự nỗ lực cao độ vì bất kì một sự sai sót nào trongphương thức quản lý kinh tế cũng như quản lý tài chính đều dẫn đến thua lỗ,phát sản doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.

3.2.3 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng

Ngoài những nguyên nhân trên, rủi ro tín dụng còn xuất phát từ chính bảnthân Ngân hàng Đó là do Ngân hàng yếu kém về trình độ chuyên môn, trình độnắm bắt các thông tin trên thị trường, trình độ dự đoán và hiểu biết các lĩnh vựcsản xuất kinh doanh hay vấn đề đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ tíndụng đãc dẫn đến rủi ri tín dụng Ngân hàng

3.3 Dấu hiệu của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong những khoản vay có vấn đề và biểu hiệndưới nhiều hình thức khác nhau Xuất phát từ thực tiễn hoạt động tín dụng, cácnhà ngân hàng đã rút ra một số dấu liệu cơ bản để giúp cho các cán bộ tín dụngnhận biết, phán đoán và sớm có những biện pháp kịp thời để ngăn chặn nhữngrủi ro thực sự có thể xảy ra Có các dấu hiệu cơ bản sau:

Trang 18

Nợ quá hạn có nhiều loại, tuy nhiên, nếu dựa vào khả năng thu hồi thì ta

có thể chia nợ quá hạn ra thành hai loại là nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợquá hạn không có khả năng thu hồi

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là những khoản nợ đến hạn thanh toán,

vì nhiều lý do khác nhau khách hàng chưa có khả năng thanh toán, nhưng cácphân tích chủ quan của Ngân hàng cho thấy có thể thu hồi được nợ

Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là nợ quá hạn không thể thu hồisau khi phân tích các khả năng thu hồi Trong trường hợp này, các Ngân hàngđược phép trích quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp

3.3.2 Lãi treo

Lãi treo là số tiền mà khác không trả được khi đến hạn thanh toán lãi Lãitreo cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết rủi ro tín dụng, bởi vì việcthanh toán lãi không gắn với việc trả lại gốc và có giá trị nhỏ hơn gốc rất nhiều,được trả vào cuối tháng, khi doanh nghiệp không thanh toán được phần lãi củamón vay cho thấy dấu hiệu doanh nghiệp gặp khó khăn đặc biệt về tài chính

Do vậy, khi xuất hiện lãi treo Ngân hàng phải tiến hành điều tra, phân tích

kỹ tình hình tài chính doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp để tìm ra nguyên nhân tại sao doanh nghiệp không có khả năng thanhtoán lãi theo đúng hạn Dựa vào kết quả phân tích, Ngân hàng sẽ đưa ra các biệnpháp phù hợp nhất để hạn chế những tổn thất cho cả Ngân hàng và doanhnghiệp

Trang 19

Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng giúp Ngân hàng hiểu được tìnhhình tài chính của người vay, thông qua đó dự báo về khả năng trả nợ của họ.Việc trì hoãn có nhiều nguyên nhân nhưng chúng ta phải xem xét đến nguyênnhân chính đó là do tình hình hoạt động kinh doanh của người vay đã có nhữngdấu hiệu không bình thường nên họ không muốn Ngân hàng biết sớm tình hìnhtài chính đang kém của họ.

- Mối quan hệ giữa Ngân hàng và người vay thay đổi

Đó là sự chậm trễ trong việc sắp xếp các cuộc viếng thăm của Ngân hàngđối với doanh nghiệp, nhằm giúp cho Ngân hàng kiểm tra, giám sát những nghĩa

vụ của người vay đối với khoản vay Vấn đề này biểu hiện bởi sự giảm sút bầukhông khí không tin cậy và hợp tác giữa cán bộ Ngân hàng và người vay vốn đã

- Hoàn trả nợ vay không đúng hoặc lãi vay không thanh toán đúng kỳ hạn

- Thay đổi về cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh

Vấn đề này được biểu hiện qua một số hình thức như: thu hẹp qui mô sảnxuất, chủng loại sản phẩm, công nhân nghỉ việc, bán bớt tài sản hoặc một số vụviệc như sa thải công nhân, cán bộ chủ chốt trong doanh nghiệp

- Các thảm hoạ về thiên như như bão lụt, hoả hoạn, cháy rừng…

Khi các dấu hiệu phản ánh một khoản vay có vấn đề được nhận ra, biệnpháp đâu tiên mà các cán bộ tín dụng Ngân hàng phải làm là xác định tínhnghiêm trọng của vấn đề Dĩ nhiên để hoàn tất công việc này đòi hỏi phải cóthêm lòng tin và sự cộng tác của người vay, thông tin thường lấy từ các báo cáo

Trang 20

tài chính, báo cáo hoạt động kinh doanh của người vay Các biện pháp sau đó sẽtuỳ thuộc vào sự nghiêm trọng của tình hình mà xử lý.

3.4 Tác động của rủi ro tín dụng

3.4.1 Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận Ngân hàng

Những khoản tín dụng gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại vềmặt tài chính khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm lợi nhuận Ngânhàng

Trong trường hợp Ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũnglàm Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng manglại lợi nhuận

3.4.2 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của Ngân hàng gặpnhiều khó khăn Các khoản đầu tư, cho vay bị thoất thoát hoặc chậm thu hồitrong khi Ngân hàng vẫn phải đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn.Chính điều này đã làm hạn chế khả năng thanh toán của Ngân hàng

3.4.3 Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng đã làm giảm uy tín của Ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của của Ngân hàng NHTM gặp nhiều rủi ro là Ngân hàng hoạtđộng kém hiệu quả Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút Đây

là một vấn đề rất tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng, họ sẽ không gửitiền vào Ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi.Điều đó đã gây khó khăn cho việc huy động vốn của Ngân hàng làm giảm quy

mô hoạt động của Ngân hàng NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đốivới các Ngân hàng bạn, Ngân hàng nước ngoài nên rất khó có thể nhận đượcnhững khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết Ngoài ra, Ngân hàng khó có thể

có các quan hệ đại lý làm cầu nối trong thanh toán quốc tế, phát triển các dịch

vụ của Ngân hàng

3.4.4 Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản Ngân hàng

Trang 21

Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối vớidân chúng Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơhội đầu tư có lợi hơn ở một Ngân hàng khác Trường hợp nghiêm trọng xảy rakhi có quá nhiều người đến rút tiền về dẫn đến sự phá sản thực sự của Ngânhàng.

Hậu quả của sự phá sản Ngân hàng không chỉ bản thân Ngân hàng phảigánh chịu mà nó còn liên quan đến các Ngân hàng bạn có quan hệ với ngânhàng Điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạtcủa các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vừa qua bắt nguồn từ sự đổ vỡ của hệthống các NHTM đã làm cho nền kinh tế của các nước trong khu Vực bị điêuđúng Chính điều này đã gây ta những rối loạn về an ninh, chính trị, xã hội kéotheo hàng loạt những hậu quả khác như: Thất nghiệp, lạm phát, tệ nạn xã hộinảy sinh Đây là những bài học thấm thía có nguồn gốc từ những rủi ro tín dụngcủa NHTM

3.5 Các chỉ tiêu đánh giá, đo lường rủi ro của ngân hàng thương mại

Rủi ro gây ra làm thiệt hại rất lớn cho bất cứ ai phải đương đầu với nó.Muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh, các doanh nghiệp nói chung vàNHTM nói riêng cần phải để đoán được rủi ro để có những giải pháp quản lý vàphòng chống rủi ro và chấp nhận rủi ro mức độ hợp lý Không có công việc kinhdoanh nào lại không có rủi ro, nhưng rủi o quá giới hạn cho phép thì kinh doanh

sẽ lỗ, thậm chí phá sản Cán bộ ngân hàng cần ý thức được rằng: các chiến lượckinh doanh vạch ra cho dù cẩn thận, tỷ mỷ đến đâu vẫn có thể gặp thất bại.Chiến lược kinh doanh càng táo bạo, cạnh tranh càng khốc liệt thì các nhà kinhdoanh càng dễ thu lợi nhuận lớn song cũng dễ vướng phải tổn thất nặng nề

Rủi ro trong kinh doanh là một tất yếu, nó có thể xuất hiện ở khâu này haykhâu khác dưới nhiều dáng thức khác nhau Chỉ cần một sơ suất nhỏ hoặc mộtquyết định thiếu kịp thời: nên đầu tư hay rút vốn ra cũng có thể đưa đến cho

Trang 22

ngân hàng những bất trắc khó lường Vì vậy trong kinh doanh ngân hàng cầnthiết phải đo lường rủi ro.

+ Kết cấu dư nợ tín dụng

Dựa vào kết cấu dư nợ tín dụng mà ta có thể xác định rủi ro tín dụng củangân hàng cao hay thấp Nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một số doanhnghiệp hoặc thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trong một hoặc một

số lĩnh vực nhất định sẽ có rủi ro lớn do tập trung vốn cao Chẳng hạn, tại Ngânhàng Công thương chi nhánh 3 Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ quá hạn cao(28,4) trong tổng dư nợ là do Ngân hàng đã tập trung cho vay chủ yếu vào mộtvài doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường cácnước Đông Âu Khi thị trường này bị biến động vào đầu những năm 1990, nhiềudoanh nghiệp bị mất thị trường, không tiêu thụ được sản phẩm, phá sản khiếncho Ngân hàng không thu hồi được nợ

Như vậy, dựa vào kết cấu tín dụng (theo thành phần, đối tượng, ngànhnghề, thời hạn) kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan tới khách hàng,thị trường của Ngân hàng và của khách hàng ta có thể đánh giá rủi ro tín dụng làcao hay thấp

+ Tỷ lệ Nợ quá hạn / Dư nợ tín dụng

Hoạt động của Ngân hàng và doanh nghiệp đều tránh tình trạng nợ quáhạn Về phía doanh nghiệp đi vay vốn, nếu quá hạn không trả được nợ sẽ mất uytín, phải chịu một lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất trong hạn, đối với ngân hàng,

nợ quá hạn sẽ làm tăng tỷ lệ quá hạn/ Dư nợ tín dụng Tỷ lệ này gián tiếp chothấy qui mô của các khoản vay có vấn đề của ngân hàng Nếu tỷ lệ này quá lớnchứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng kém, ngân hàng phải xem xét lạikhả năng đánh giá lại các khoản cho vay của mình, đánh giá lại qui trình thủ tụccho vay, đặc biệt là xem xét lại khả năng đánh giá lại các khoản cho vay củamình, đánh giá lại qui trình thủ tục cho vay, đặc biệt là xem xét lại khả năngthực hiện nhiệm vụ của các cán bộ tín dụng

Trang 23

Tuy nhiên, nợ quá hạn không phải là tổn thất của Ngân hàng, đây vẫn làchỉ tiêu gián tiếp Bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này sẽ dẫn đếnrủi ro.

+ Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng tổn thất/ Dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng tổn thất/ Dư nợ quá hạn là chỉ tiêu trực tiếpphản ánh rủi ro Nó cho thấy trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng

bị tổn thất Nói một cách khác, chỉ tiêu phản ánh mức độ có thể gây ra rủi rotrong số nợ của Ngân hàng

Nợ quá hạn có khả năng tổn thất thường bao gồm những khoản nợ quáhạn có thời gian qua hạn lớn (6 tháng trở lên) Đối với Ngân hàng, việc duy trìcác chỉ tiêu này với tỷ lệ cao trong các báo cáo tài chính là điều khó chấp nhận.Ngân hàng luôn tìm cách giảm chỉ tiêu này xuống và biện pháp duy nhất là tíchcực thu các khoản này Những khoản nào thực sự không thu hồi được phải hạchtoán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng và lấy quĩ dự phòng rủi ro để bù đắp

4 Các phương thức quản lý giảm thiểu rủi ro do tín dụng

Vấn đề cấp bách hiện nay trong quản trị điều hành hoạt động kinh doanhngân hàng là làm sao để đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiện tình hình tài chính

và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Dưới đây xinnêu những phương thức quản lý tổng quát về đảm bảo an toàn cũng như các kỹthuật thu nhập và xử lý thông tin có thể áp dụng cho các NHTM trong việc kiểmsoát rủi ro tín dụng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMtrong thời gian tới, thực hiện chiến lược đã đề ra

* Phương thức quản lý rủi ro tín dụng bằng cách nâng cao chất lượng tíndụng

Phương pháp này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩmđịnh kỹ lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của ngườinhận nợ và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phânloại khoản vay và các đối tác vay vốn dựa vào mức độ rui ro tín dụng của nó đểquản lý

Trang 24

* Phương thức quản lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro

Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng ngằm bù đắp chonhững rủi ro có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có

* Phương thức quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng

Thị trường trái khoán hoặc NHTM yêu cầu người nhận nợ phải có mộtkhoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho doanhnghiệp trong trường hợp phá sản

Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp,khi rủi ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các nhà đầu tư trái khoán vàcác NHTM sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn

Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mấtmát dự kiến cao hơn về trái khoán hoặc khoản vay vì khả năng khoán vay sẽkhông được hoàn trả Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thề làmtăng chi phí vay của nó

* Phương thức quản lý rủi ro bằng cách phân tán rủi ro

Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro thay vì tập trung nắm giữ một hay một sốloại tài sản có rủi ro nhất định Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều ngườivay cho phép các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro tín dụng đối vớitoàn bộ tài sản có

Tập hợp nhiều loại cho vay trong một tài sản cho phép tổ chức tín dụnggiảm sự thay đổi về thu nhập của chúng Thu nhập từ các khoản cho vay thànhcông sẽ bù đắp phần lỗ từ những khoản cho vay bị vỡ nợ Do đó làm giảm khảnăng tổ chức tín dụng đó sẽ bị thiệt hại

* Phương thức quản lý rủi ro bằng cách sử dụng thị trường bán nợ

Sau khi đầu tư hoặc cho các doanh nghiệp vay, tổ chức tín dụng hoặc nhàđầu tư lập tức tập hợp các tài sản có rủi ro (trái phiếu những khoản nợ có rủi rotín dụng) và bán cho các nhà đầu tư khác để chuyển đổi sở hữu khoản nợ nhằmquản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng

Trang 25

Theo quan điểm của các nhà đầu tư, việc mua các phần của gói nợ này làtương đối hấp dẫn vì việc mở rộng danh mục đầu tư thông qua

Theo quan điểm của các nhà đầu tư, việc mua các phần của gói nợ này làtương đối hấp dẫn vì việc mở rộng danh mục đầu tư thông qua nhiều khoản vay

sẽ làm giảm rủi ro tín dụng nói chung và làm tăng các khoản thu nhập từ gói nợ

đã mua mà không nhất thiết phải nắm giữ các tài liệu có này

Như vậy, để quản lý rủi ro tín dụng, các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư

có thể sử dụng các phương thức như nâng cao tín dụng, trích lập dự phòng rủi

ro, bảo hiểm, phân tán rủi ro tín dụng tài sản của rủi ro tín dụng với các tài sảnkhác và bán các phần của nó cho các nhà đầu tư bên ngoài Những phương thứcnhư vậy có thể làm giảm rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu

tư và những rủi ro tín dụng này có thể được chia sẻ cho nhiều người sở hữu mới.Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ này có những hạn chế, cụ thể:

Việc áp dụng những thủ tục cấp dụng quá chặt chẽ nhằm nâng cao chấtlượng tín dụng làm người vay trở lên khó khăn hơn trong việc tiếp nhận vốn tíndụng, điều này sẽ làm mất cơ hội đầu tư của tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư

Việc trích lập dự phòng rủi ro thường đặt ra những yêu cầu về tài chínhđối với các tổ chức tín dụng Trong khi bảo hiểm rủi ro tín dụng lại đặt ra nhữngyêu cầu về tài chính đối với người nhận nợ Do vậy, cả hai phương thức hoặclàm giảm khả năng cân đối và điều hành vốn khả năng của tổ chức tín dụng hoặclàm tăng chi phí vay vốn của người vay, dẫn đến tổ chức tín dụng gặp khó khăntrong việc mở rộng tín dụng và không thực hiện được chính sách khách hàng

* Phương thức quản lý rủi to tín dụng bằng cách thông qua dẫn xuất tíndụng

Dẫn xuất tín dụng là các hợp đồng tài chính được ký kết bởi các bên thamgia giao dịch dẫn xuất tín dụng (tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty bảohiểm, nhà đầu tư.v.v…) nhằm đưa ra những bảo đảm chống lại sự chuyển dịchbất lợi về chất lượng tín dụng của các khoản đầu tư hoặc những tổn thất liênquan đến tín dụng

Trang 26

Nhưng hợp đồng này mang lại cho các nhà đầu tư, người nhận nợ và ngânhàng những kỹ thuật mới bổ sung cho các biện pháp bán nợ phân tán rủi ro vàbảo hiểm nhằm quản lý rủi ro tín dụng.

* Các cộng cụ dẫn xuất tín dụng chủ yếu hiện nay gồm:

Hoán đổi tín dụng: là công cụ dẫn xuất làm giảm rủi ro tín dụng thông quaphân toán rủi ro

Thay cho việc phân tán rủi ro thông qua hoạt động cho vay ra cả bênngoài địa phương, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư có thể bán một số khoản nợ

và mua một số khoản khác nhằm hoán đỏi các khoản thanh toán từ một hoạtđộng cho vay của nó với khoản thanh toán từ các tổ chức khác Nghiệp vụ hoánđổi tín dụng chung nhất được gọi là hoán đổi thu nhập toàn bộ; trong giao dịchnày, tổ chức quản lý rủi ro sẽ hoán đổi các khoản thanh toán đầu tư hoặc khoảncho vay có lãi suất cố định của tổ chức tín dụng này với khoản thanh toán đầu tưhoặc vay có lãi suất được điều chỉnh của các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư hoặccông ty bảo hiểm khác Hoán đổi tín dụng tạo ra hai điểm thuận lợi quan trọng

Nó cho phép các tổ chức tín dụng phân tán rủi ro tín dụng trong khi duytrì một cách trung thành các số dư tài chính của khách hàng Trong giao dịchhoá đổi thu nhập toàn bộ, số dư của các doanh nghiệp vay vốn được duy trì vớicác tổ chức tín dụng ban đầu Khi các khoản nợ được bán, số dư nợ của doanhnghiệp được chuyển đổi cho những người sở hữu mới của khoản nợ

Các khoản chi phí quản lý giao dịch hoán đổi có thể thấp hơn là chi phícủa giao dịch bán nợ Điều này đồng nghĩa với việc nó sẽ làm chi phí vay vốncủa người nhận nợ giảm và có thể thực hiện phân tán rủi ro với mức chi phí thấphơn

* Quyền chọn tín dụng

Là loại dẫn xuất tín dụng cung cấp chức năng tương tự bảo hiểm Cácquyền chọn này cho phép các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư có thể lựa chọnmua hoặc bán các tài sản có rủi ro tại một mức giá cố định để bảo vệ cho họ đối

Trang 27

với những biến động bất lợi về chất lượng tín dụng các tài sản tài chính hoặckhoản vay của tổ chức tín dụng trong trường hợp rủi to xảy ra.

Quyền chọn tín dụng mang lại nhiều lợi ích hơn so với việc trích lập dựphòng của các tổ chức tín dụng vì nó không làm tăng chi phí của người vay vàkhông làm giảm hiệu quả sử dụng vốn khả năng của tổ chức tín dụng do phảigiữ lại các tài sản có dự phòng Như vậy nó sẽ bảo vệ cho nhà đầu tư khỏi sựgiảm giá của các tài sản có

* Các chứng chỉ liên quan đến tín dụng

Là một loại dẫn xuất tín dụng khác được sự bởi người phát hành trái phiếunhằm tránh rủi rto tín dụng Một chứng chỉ liên quan đến tín dụng bao gồm môitập hợp trái phiếu và một hợp đồng quyền chọn tín dụng Chứng chỉ này hứa sẽthanh toán định kỳ lãi suất và thanh toán một lần giá trị như trái phiếu khi đếnhạn Quyền chọn tín dụng trên chứng chỉ này cho phép người phát hành giảmcác thanh toán của giấy tờ nếu có sự biến động rõ ràng về tài chính khi giấy tờgiảm giá trị

Tổ chức tín dụng, nhà đầu tư có thể cân nhắc viẹc mua các chứng chỉ liênquan đến tín dụng vì nó có thể được một tỷ lệ doanh thu cao hơn trái phiếuthông thường của nhà phát hành nợ, bởi vì khi phát hành chứng chỉ, thôngthường giá của chứng chỉ thấp hơn giá trị trái phiếu Chi phí thấp hơn của tổchức tín dụng, nhà đầu tư giá đối với thanh toán lãi suất sẽ cho họ có một doanhthu cao hơn

Trên đây là những cơ sở lý luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đềtài, để xem xét một cách cụ thể hơn chúng ta cùng đi hiểu tình hình thực tế tạingân hàng công thương Đống Đa

Trang 28

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CHO VAY AN TOÀN VÀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG

CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA HÀ NỘI

I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRONG KHU VỰC

Đống Đa là một quận lớn của thành phố Hà Nội với số dân trên 38 vạnngười, phân bổ trên diện tích 28km gồm 28 phòng, đây là nơi tập trung nhiều xínghiệp lớn của trung ương và địa phương, với nhiều hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp, các hộ tư nhân và nhiều điểm thương mại lớn Do đó đã có sự cạnh tranhgay gắt giữa các thành phần kinh tế, các loại hình kinh tế với nhau để cùng tồntại và phát triển Ngân hàng Công thương Đống Đa ra đời trên cơ sở ngân hàngNhà nước quận Đống Đa Trước tháng 3/1990 tức là trước Nghị định 53/HĐBT

về đổi mới hoạt động ngân hàng thì nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng côngthương Đống Đa là vừa phục vụ, vừa thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng vàthanh toán trên địa bàn quận Ngân hàng hoạt động theo cơ chế kế hoạch tậptrung, bao cấp của Nhà nước

Sau Nghị định 53/HĐBT, ngành ngân hàng nước ta chuyển từ hệ thốngngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp và từ đấy Ngân hàng CôngĐống Đa là một ngân hàng thương mại trực thuộc hệ thống ngân hàng côngthương Việt Nam

Là chi nhánh trực thuộc của ngân hàng Công thương Hà Nội Từ 1988đến 1990 là thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thống ngân hàng nói chung vàNgân hàng công thương Đống Đa nói riêng, cũng là thời kỳ hệ thống ngân hàngbắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường Giai đoạn này có rất nhiều quỹ tín dụng

có nợ, còn các ngân hàng thì nợ quá hạn khó đòi tăng đến mức kỷ lục Sự kiện

Trang 29

vòng xoáy của quá trình chuyển đổi nền kinh tế Mà hệ thống ngân hàng nhưmột tấm gương phản chiếu qua hoạt động của mình Nguyên nhân chính do sựyếu kém của cơ chế quản lý tập trung quan liêu gây ra hoạt động ngân hàng thời

kỳ này vừa tập trung bao cấp, nhưng vẫn có hoạt động kinh doanh

Sau một thời gian ngân hàng Công thương Đống Đa đã tự đổi mới để tồntại và phát triển đứng vững trong cơ chế thị trường với địa thế nằm trên địa bànrộng lớn, tập trung nhiều loại hình kinh tế nên khách hàng của ngân hàng rất đadạng và phong phú Mặt khác ngân hàng còn là một trong những đơn vị có hàngngũ lãnh đạo có năng lực, năng động trong điều hành hoạt động kinh doanh, nội

bộ đoàn kết thống nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng Công thươngĐống Đa mở rộng quy mô kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán.Với mục tiêu: "kinh doanh phát triển, an toàn vốn, tôn trọng pháp luật, lợi nhuậnhợp lý" đến nay Ngân hàng Công thương Đống Đa là motọ ngân hàng làm ăn cóhiệu quả so với các ngân hàng khác Chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàngCông thương Đống Đa là vẫn huy động tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế

và dân cư để cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế Ngoài ra ngân hàngcòn thực hiện một số công tác thanh toán qua ngân hàng cho các đơn vị kinh tếđóng trên địa bàn quận

Để làm tốt chức năng và vai trò của mình Cơ cấu quản lý của Ngân hàngCông thương Đống Đa được tổ chức thành các bộ phận:

- Ban giám đốc: bao gồm giám đốc và các phó giám đốc là bộ phận quản

lý và điều hành chung mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chịu tráchnhiệm trước ngân hàng công thương Việt Nam và cơ quan pháp luật

- Phòng nguồn vốn: có chức năng huy động vốn theo dõi các hình thứcđược ngân hàng công thương cho phép, theo dõi nguồn vốn ngân hàng huy độngbáo cáo với giám đốc và phòng kinh doanh lập kế hoạch huy động vốn và tư vấncho giám đốc

- Phòng kinh doanh: thẩm định cho vay vốn theo các hình thức tín dụngđược ngân hàng công thương cho phép, theo dõi tình hình sử dụng vốn của ngân

Trang 30

hàng, lập kế hoạch cho vay và tư vấn cho giám đốc các biện pháp cho vay nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

- Phòng kế toán: phản ánh các hoạt động cho vay và huy động vốn củangân hàng, theo dõi sự biến động về nguồn vốn, hạch toán kinh tế theo pháplệnh kế toán và thống kê, thực hiện các dịch vụ thanh toán với khách hàng, tưvấn cho giám đốc các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kế toán và chấtlượng dịch vụ thanh toán

- Phòng kiểm soát: hướng dẫn kiểm tra các bộ phận như kinh doanhnguồn vốn và kế toán thực hiện theo đúng chế độ mà nhà nước và ngân hàngcông thương Việt Nam ban hành

- Phòng kho quỹ: Có chức năng cơ bản là kiểm ngân, bảo quản tiền vàthực hiện các hoạt động thu chi tiền mặt trực tiếp với khách hàng

- Phòng hành chính: Quản lý các hoạt động nội chính của ngân hàng nhưsắp xếp tổ chức cán bộ, bảo vệ tài sản, sửa chữa tài sản, tiếp khách…

Mỗi bộ phận trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng được trao quyền hạn vànhiệm vụ rõ ràng như một mắt xích trong sợi dây xích, chúng hoạt động nhịpnhàng dưới sự điều hành của ban giám đốc ngân hàng nhưng bên cạnh đó thìngân hàng gặp không ít những khó khăn Đó là phần lớn các doanh nghiệp cóvốn tự có quá thấp Một số doanh nghiệp còn túng túng chưa tìm ra giải phápthích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nguyên tắc hoạt động củangân hàng công thương Đống Đa là tự huy động vốn tự bù đắp chi phí trang trảivốn và làm nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước Để khẳng định được vị trí, vaitrò của mình trong nền kinh tế thị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chếmới, ngân hàng đã chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các mặthàng kinh doanh tiền tệ tín dụng, thường xuyên tăng cường cả nguồn vốn lẫn sửdụng vốn Kết quả kinh doanh tiền tệ năm sau cao hơn năm trước đóng góp chongân hàng nhà nước ngày càng lớn, tạo được uy tín với nhiều khách hàng, hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:

Trang 31

+ Huy động vốn

+ Dịch vụ thanh toán

+ Các hoạt động kinh doanh khác

Sơ đồ cấu trúc tổ chức của ngân hàng công thương Đống Đa

Trong những năm qua, Ngân hàng Công thương Đống Đa luôn chứng tỏ

là một chi nhánh trong hệ thống NHCT Việt Nam đã tìm ra hướng đi đúng đắn,phát triển vững chắc, đạt hiệu quả kinh doanh cao Những thành công mà Ngânhàng đã đạt được đặc biệt trong hoạt động tín dụng đã góp phần tích cực vào sựphát triển kinh tế thủ đô, nâng cao hiệu quả hoạt động chung của toàn hệ thốngNHCT Việt Nam

II TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

Giám đốc

Phó Giám đốcPhó Giám đốc

Phòng Ngân

quỹ

Phòng Nguồn vốn

Phòng kế toánTài chính

Phòng Hành chính tổ chức

Phòng Kiểm soát

Phòng Kinh doanh

Phòng kinh doanh đối ngoại

Trang 32

Trong hoạt động của NHTM thì việc huy động vốn và sử dụng vốn là haihoạt động chủ yếu quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để

có một cái nhìn tương đối khái quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàngCông thương Đống Đa ta sẽ nghiên cứu tình hình huy động và sử dụng vốn củangân hàng trong những năm gần đây

Có thể nói trong những năm qua nền kinh tế nước ta liên tục phải đối mặtvới nhiều thử thách khó khăn Cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực giữa năm 1997

đã để lại hậu quả nặng nề làm tốc độ tăng trưởng của một số ngành chậm lại, thịtrường trầm lắng, sức mua giảm sút, xu hướng cung vượt cầu xuất hiện ở nhiềuloại hàng hoá Đất nước lại phải chịu nhiều thiên tai liên tiếp đặc biệt là trongnăm 1999, hạn hạn lớn ở đầu năm và lũ lụt cuối năm ở các tỉnh miền Trung gây

ra nhiều thiệt hại nặng nề trên lĩnh vực kinh tế xã hội

Tình hình trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng nóichung và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Đống Đa nói riêng.Song dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, kết hợp với sự linh hoạttrong xử lý nghiệp vụ và có chiến lược kinh doanh thích hợp, Ngân hàng Côngthương Đống Đa đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nguồn vốn tăngtrưởng ổn định, dư nợ tín dụng lành mạnh ngày một tăng, các dịchvụ ngân hàngđều phát triển

1 Tình hình huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là tiền đề cho các hoạt động khác của NHTM

Vì vậy một trong những mục tiêu quan trọng trong hoạt động của Ngân hàngCông thương Đống Đa là đẩy mạnh công tác huy động vốn Với những thếmạnh của mình như uy tín, mạng lưới rộng, thái độ phục vụ nhiệt tình nhanhgọn, chính xác, thủ tục thuận lợi, hình thức huy động phong phú… Ngân hàngCông thương Đống Đa ngày càng thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch,kết quả nguồn vốn của Chi nhánh luôn tăng trưởng ổn định chẳng những đápứng đủ nhu cầu đầu tư tín dụng mà còn thường xuyên nộp vốn thừa về Ngân

Trang 33

Bảng 1: Tình hình huy động vốn ở Ngân hàng Công thương Đống Đaphân tích theo tốc độ tăng trưởng

n v : Tri u ng

Đơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng

Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Đống Đa

Số liệu bảng trên cho thấy tổng vốn huy động của Ngân hàng Côngthương Đống Đa mấy năm gần đây vẫn tăng trưởng ổn định với tốc độ cao bấtchấp những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế Năm 2002, ngân hàng vẫn thuhút được 622.089 triệu đồng tăng 19% so với năm 2001

Có thể nói điều này đã khẳng định uy tín của Ngân hàng Công thươngĐống Đa với khách hàng khẳng định chiến lược kinh doanh đúng hướng củaNgân hàng Công thương Đống Đa trong tời kỳ kinh tế đất nước gặp khó khăn

Biểu đồ 1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Công thương Đống Đaphân tích tích theo hình thức huy động

0 100000

Kú phiÕu, tr¸i phiÕu

Trang 34

Trong số các nguồn vốn huy động của Ngân hàng Công thương Đống Đanguồn tiền gửi của dân luôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng nhanh trongnhững năm gần đây, năm 2002 tăng 17%, năm 2003 tăng 4% và năm 2004 tăng32% Điều này là sự cụ thể hoá chủ trương của Ngân hàng Công thương Đống

Đa khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng qua các chính sách lãi suấtthực dương do đặc điểm quận Đống Đa có nhiều cơ quan đơn vị sản xuất kinhdoanh đóng và mới thành lập, dân cư đông đúc nên lượng tiền nhàn rỗi tươngđối lớn, triệt để khai thác nguồn vốn này là một chủ trương đúng đắn của NHCTĐống Đa nhằm phát huy lợi thế trên địa bàn hoạt động

Tiền gửi các tổ chức kinh tế cũng là một nguồn tiền chiếm tỷ trọng caotrong tổng vốn huy động, nó chủ yếu phục vụ nhu cầu thanh toán qua ngân hàng

và biến động theo chiều hướng tăng trưởng của sản xuất kinh doanh Để đánhgiá tốc độ tăng bất thường của tiền gửi các tổ chứuc kinh tế (năm 2002 tăng23%, năm 2003 tăng 8%, năm 2004 tăng lên 22%)

Cùng với nguồn tiền gửi giao dịch của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiếtkiệm dân cư, Ngân hàng Công thương Đống Đa còn thực hiện nhiều hình thứchuy động vốn khác như phát hành kỳ phiếu, tín phiếu bằng nội tệ và ngoại tệ.Tuy nhiên, nguồn này không lớn và chỉ là giải pháp tình thế nhằm thu hút vốntức thời cho các mục đích nhất định Năm 2002-2003, do nhu cầu thu hút tiền đểphát triển kinh doanh, nguồn huy động này được phát huy, năm 2002 đạt 24.556trđ tăng 42% so với năm 2003 và năm 2003 đạt 29.689 trđ tăng 21% so với năm

2002, nhưng đến năm 2004, ngân hàng không có nhu cầu huy động vốn bấtthường nên nguồn huy động chỉ đạt 19.329trđ, bằng 65% so với năm 2003

Tóm lại, qua phân tích tình hình huy động vốn của NHCT Đống Đa có thểthấy sự linh hoạt trong điều hành hoạt động của Chi nhánh góp phần tăng trưởngnguồn vốn cung cấp đầy đủ và thuận lợi cho các nhu cầu sử dụng vốn của ngânhàng

Trang 35

2 Tình hình sử dụng vốn

Nhờ nguồn vốn huy động dồi dào, Ngân hàng Công thương Đống Đa đãtiến hành đa dạng hoá các mặt nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng trong đóchủ yếu là hoạt động tín dụng, chiếm khoảng 90% tổng số vốn được sử dụng.Hoạt động tín dụng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng quyết định hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng, vì thế Ngân hàng Công thương Đống Đa luôn đặt ra mụctiêu mở rộng tín dụng, đồng thời hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất

Trong những năm qua, với quyết tâm cao, Chi nhánh đã vận dụng kịpthời, linh hoạt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, của Ngành, bám sáttừng đơn vị kinh tế và có những giải pháp tích cực nên kết quả hoạt động tíndụng của Ngân hàng Công thương Đống Đa đạt được những kết quả tốt cả vềtốc độ tăng trưởng lẫn chất lượng các khoản đầu tư Ngân hàng đã thực hiện chovay với các thành phần kinh tế khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực củanền kinh tế, trong đó tăng cường đầu tư cho khu vực kinh tế quốc dân, cácngành kinh tế trọng điểm, kinh tế mũi nhọn, sản xuất kinh doanh lớn như: thép,

cà phê, dầu khí, công nghiệp, dịch vụ giao thông vận tải, ưu tiên đầu tư cho các

dự án lớn, khả thi, có hiệu quả Cùng với hoạt động kinh doanh tín dụng đơnthuần, Ngân hàng Công thương Đống Đa còn thực hiện các chương trình tíndụng ưu đãi, tín dụng chính sách như chương trình tín dụng tạo việc làm hay chovay sinh viên… Các chương trình này đều thực hiện với lãi suất ưu đãi, tín dụngchính sách như chương trình tín dụng tạo việc làm hay cho vay sinh viên… Cácchương trình này đều thực hiện với lãi suất ưu đãi, tuy số dư không nhiều nhưng

nó mang ý nghĩa xã hội sâu sắc được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ, nâng cao uytín của ngân hàng

Trang 36

Bảng 2: Tình hình sử dụng ở Ngân hàng Công thương Đống Đa

n v : tri u ng

Đơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng

Hệ số sử dụng vốn ở mức 80-90% như vậy là cao đối với hệ thống NHCTViệt Nam, các ngân hàng khác hệ số sử dụng vốn chỉ ở mức 70-80% Đây làmột thành công lớn của cán bộ công nhân viên Ngân hàng Công thương Đống

Đa đã đạt được, điều này càng khẳng định sự hoạt động có hiệu quả ở Ngânhàng Công thương Đống Đa

Trang 37

Biểu đồ 2: Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn

của Ngân hàng Công thương Đống Đa

0 100000

Tuy nhiên, hệ số sử dụng vốn của Ngân hàng Công thương Đống Đa lại

có chiều hướng không ổn định qua các năm Năm 2002, hệ số sử dụng vốn là89%, năm 2003 giảm xuống còn 83,6% và năm 2004 là 86,7% Đó là do tốc độtăng trưởng vốn huy động của ngân hàng tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dư

nợ tín dụng Vấn đề này đòi hỏi nỗ lực cao hơn Ngân hàng Công thương Đống

Đa để mở rộng dư nợ tín dụng tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngânhàng nói riêng và cho cả hệ thống NHCT Việt Nam nói chung

3 Tình hình dư nợ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

Bảng 3: Tình hình dư nợ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

Phân tích theo thành phần kinh tế

n v : tri u ng

Đơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng

Chỉ tiêu Năm 2002Tổng số %/98 Tổng sốNăm 2003%/02 Năm 2004Tổng số %/03

Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Đống Đa

Số liệu bảng trên cho thấy mức dư nợ khu vực kinh tế ngoài quốc doanhluôn chiếm tỷ trọng áp đảo và ngày càng tăng trong tổng dư nợ tín dụng của

Trang 38

Ngân hàng Công thương Đống Đa Năm 2002 tăng 17%, năm 2003 tăng mộtchút và năm 2004 tăng 32%.

Mức dư nợ tín dụng cao đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là tìnhtrạng chung của các NHTM Việt Nam và Ngân hàng Công thương Đống Đakhông phải là một ngoại lệ Đó là do hoạt động tín dụng của ngân hàng thựchiện theo định hướng của nhà nước, tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Tăng cường vai trò chủ đạo của kinh

tế quốc doanh, khuyến khích sự phát triển lành mạnh của các thành phần kinh tếngoài quốc doanh Mặt khác, khu vực kinh tế quốc doanh có những lợi thế tuyệtđối so với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế quốc doanh nắm giữ phầnlớn những ngành kinh tế then chốt của nền kinh tế, số vốn hoạt động của cácdoanh nghiệp quốc doanh lớn, lợi thế quy mô đã làm doanh nghiệp quốc doanhlàm ăn có hiệu quả và an toàn hơn

Tuy kém lợi thế so với khu vực kinh tế quốc doanh nhưng khu vực kinh tếngoài quốc doanh vẫn là thị trường tiềm năng của ngân hàng Song, do hiện naykhả năng quản lý của các doanh nghiệp tư nhân yếu, thị trường có nhiều biếnđộng phức tạp, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân thấp nên mức

độ rủi ro khi cho vay khu vực này là cao đã hạn chế khả năng cho vay của ngânhàng Hơn nữa, do số vốn tự có thấp, ít có tài sản thế chấp, lại thiếu phương ánkinh doanh có hiệu quả… vì thế số doanh nghiệp tư nhân có đủ điều kiện vayvốn ngân hàng là rất ít Xuất phát từ thực tế đó, hoạt động tín dụng đối với khuvực ngoài quốc doanh ở Ngân hàng Công thương Đống Đa hiện nay chỉ ở mứccầm chừng, Ngân hàng chỉ cho vay với những khách hàng quen thuộc, có uy tín

và hoạt động có hiệu quả còn những khách hàng mới đến giao dịch phải có đủđiều kiện vay vốn theo quy định và phải qua những bước kiểm định chặt chẽmới được xét duyệt cho vay

Trang 39

phân tích theo thời hạn tín dụng

n v : tri u ng

Đơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng

Chỉ

tiêu

Xét về tỷ lệ tăng trưởng, tình hình có vẻ diễn biến phức tạp Tín dụngtrung dài hạn năm 2002 tăng 24%, năm 2003 cũng tăng nhưng ở mức thấp chỉ8% và sang năm 2003 giảm 12% Tín dụng ngắn hạn năm 2002 tăng 11%, năm

2003 giảm một chút khoảng 3% nhưng sang năm 2004 lại tăng tới 42%

Tuy nhiên, có thể thấy mặc dù mức tăng giảm khác nhau nhưng diễn biến

dư nợ tín dụng cả hai năm 2002-2003 gần như được duy trì và không có sự thayđổi đáng kể Sự chuyển biến rõ rệt xảy ra vào năm 2004 khi dư nợ tín dụng ngắnhạn tăng tới 42% trong khi dư nợ tín dụng trung dài hạn lại giảm 12%

Mức tăng trưởng tín dụng ngắn hạn năm 2004 đạt được do Ngân hàngCông thương Đống Đa đã áp dụng nhiều biện pháp chủ động, sáng tạo, triểnkhai kịp thời các chủ trương chỉ đạo của ngành, thái độ, phong cách giao dịchvới tinh thần trách nhiệm cao; hoạt động tín dụng đảm bảo thông suốt, thuậntiện Ngân hàng có quan hệ tốt với khách hàng và áp dụng chính sách kháchhàng một cách linh hoạt, đặc biệt quan tâm đến các khách hàng truyền thống,những đơn vị có tình hình tài chính tốt, sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhưTổng công ty Thương mại và xây dựng, công ty quan hệ quốc tế và đầu tư sảnxuất, công ty tư vấn xây dựng sông Đà, công ty liên doanh TNHH Quốc tế

Trang 40

Thuốc lá, công ty lắp ráp máy điện tử… Ngoài ra, Ngân hàng luôn đẩy mạnhcông tác tiếp thị thu hút thêm nhiều khách hàng mới đến giao dịch.

Về tín dụng trung dài hạn năm 2001, số dự án không nhiều, vốn đầu tưkhông lớn nhưng Chi nhánh đã kịp thời đầu tư vốn cho một số dự án khả thi, đẩymạnh cho vay các thành phần kinh tế, đặc biệt tiếp cận thẩm định các dự án lớncác chương trình trọng điểm của nhà nước như dự án cho vay đồng tài trợ mởrộng nhà máy Nhiệt Uông Bí với tổng số tiền sẽ giải ngân 600 tỷ đồng; cho vay

cơ cấu lại nợ vay nước ngoài của liên doanh khách sạn Thống nhất Metropole trịgiá hàng 5 triệu USD; cho vay các doanh nghiệp để mua sắm máy móc thiết bịthi công xây dựng trị giá hàng chục tỉ đồng như đối với Tổng công ty LICOGI,Công ty xây dựng số 6 Thăng Long, công ty cơ giới xây lắp, công ty xây dựng

số 19… Tuy nhiên, do tình hình của nền kinh tế, mọi hoạt động phát triển kinhdoanh, sản xuất nói chung có xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng nên việc chovay đầu tư của Ngân hàng Công thương Đống Đa cũng bị hạn chế

Bảng 5: Tình hình dư nợ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

Phân tích theo nội tệ, ngoại tệ

n v : tri u ng

Đơn vị: Triệu đồng ị: Triệu đồng ệu đồng đồng

Chỉ

tiêu

Bảng trên cho thấy, trong tổng dư nợ của Ngân hàng Công thương Đống

Đa, dư nợ bằng nội tệ chiếm tỷ trọng cao trên 80%, trong khi đó dư nợ bằngngoại tệ chiếm chưa tới 20% Không những dư nợ nội tệ chiếm tỷ trọng áp đảotrong tổng dư nợ so với dư nợ ngoại tệ mà còn đạt được mức tăng trưởng cao

Ngày đăng: 02/04/2013, 15:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu trúc tổ chức của ngân hàng công thương Đống Đa - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Sơ đồ c ấu trúc tổ chức của ngân hàng công thương Đống Đa (Trang 31)
Bảng trên cho thấy tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn luôn ở mức cao trong  tổng dư nợ tín dụng, khoảng trên 80% - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng tr ên cho thấy tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn luôn ở mức cao trong tổng dư nợ tín dụng, khoảng trên 80% (Trang 39)
Bảng 5: Tình hình dư nợ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa Phân tích theo nội tệ, ngoại tệ - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng 5 Tình hình dư nợ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa Phân tích theo nội tệ, ngoại tệ (Trang 40)
Bảng 6: Tình hình lãi treo ở Ngân hàng Công thương Đống Đa - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng 6 Tình hình lãi treo ở Ngân hàng Công thương Đống Đa (Trang 42)
Bảng 9: Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa  phân theo cơ cấu tín dụng - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng 9 Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa phân theo cơ cấu tín dụng (Trang 45)
Bảng 8: Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa phân  tích theo thành phần kinh tế, thời hạn tín dụng và phân theo nội, ngoại tệ - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng 8 Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng Công thương Đống Đa phân tích theo thành phần kinh tế, thời hạn tín dụng và phân theo nội, ngoại tệ (Trang 47)
Bảng 11: Tình  hình nợ quá hạn của NHCT Đống Đa, phân  tích  theo  nguyên nhân. - Một số giải pháp hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa
Bảng 11 Tình hình nợ quá hạn của NHCT Đống Đa, phân tích theo nguyên nhân (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w