Tình hình nghiên cứu Hoạt động phổ biến pháp luật với tư cách là một phạm trù pháp lý là một dạng hoạt động của Nhà nước trong tổ chức thực hiện pháp luật, biện pháp tăng cường pháp chế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
Hµ néi - 2009
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN PHÁP
LUẬTTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
8
1.1 Tổng quan về hoạt động phổ biến pháp luật 8
1.1.2 Mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật 14 1.1.3 Chủ thể, khách thể, đối tượng của hoạt động phổ biến pháp luật 16 1.1.3.1 Chủ thể hoạt động phổ biến pháp luật 16 1.1.3.2 Khách thể (đối tượng) của hoạt động phổ biến pháp luật 17 1.2 Nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến pháp luật 18
1.2.4 Một số đặc điểm cần lưu ý trong hoạt động phổ biến
Trang 41.3.2 Mối quan hệ giữa hoạt động phổ biến pháp luật với các
dạng giáo dục ý thức khác
36
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
39
2.2 Hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội 42 2.2.1 Sự cần thiết của hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn
thành phố Hà Nội
42
2.2.2 Nội dung hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong thời gian qua
2.2.2.3 Trong công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên
truyền pháp luật từ thành phố đến cơ sở
quản lý và cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp
57
2.2.3 Những hình thức phổ biến pháp luật chủ yếu trên địa bàn
thành phố Hà Nội
57
2.2.3.1 Phổ biến pháp luật thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm,
nói chuyện chuyên đề
57
Trang 52.2.3.2 Phổ biến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng 59 2.2.3.3 Hoạt động phổ biến pháp luật thông qua các cuộc thi, hội
thi tìm hiểu pháp luật
62
2.2.3.4 Hoạt động phổ biến pháp luật thông qua các tài liệu, sách
báo, khai thác tủ sách pháp luật
2.2.4 Những ưu điểm, các mặt hạn chế, nguyên nhân và bài học
kinh nghiệm trong công tác phổ biến pháp trên địa bàn
thành phố Hà Nội trong thời gian qua
2.2.4.3 Nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và những bài học kinh
nghiệm trong hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn
thành phố Hà Nội
72
Chương 3: TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
75
3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phổ
biến pháp luật
75
3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường hoạt động phổ biến
pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
77
3.2.1 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật cho
chủ thể tiến hành hoạt động phổ biến pháp luật
77
Trang 63.2.2 Kết hợp phổ biến pháp luật với các lĩnh vực giáo dục đào
tạo khác trên địa bàn thành phố Hà Nội
82
3.2.3 Xây dựng hệ thống thông tin pháp luật, tạo điều kiện để
quần chúng nhân dân tiếp cận với pháp luật một cách
kịp thời, chính xác
84
3.2.4 Tăng cường hình thức phổ biến pháp luật thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan tham gia phổ biến pháp luật
87
3.2.5 Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất hoạt động phổ
biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
91
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm
những vi phạm kỷ luật, pháp luật
95
3.2.7 Bảo đảm kinh phí trong công tác phổ biến pháp luật cho
cán bộ, công chức trên địa bàn
96
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 20 năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ mới - thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực tiễn đổi mới đất nước đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng rằng: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hỏi tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Nhà nước quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật, phát huy dân chủ và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là phương thức không chỉ để xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mà còn là phương thức chủ yếu để nhà nước quản
lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc hiến định thể hiện trong Hiến pháp của Nhà nước ta Để thiết lập một nền pháp chế thống nhất và vững chắc trên phạm vi cả nước; để thiết lập trật tự pháp luật, kỷ cương phép nước được nghiêm minh, dân chủ và công bằng, có rất nhiều con đường với nhiều giải pháp phong phú Trong đó, phải
kể đến giải pháp trước mắt và lâu dài đảm bảo việc thực hiện pháp luật trở thành lối sống, thói quen của Nhà nước và nhân dân - đó là đẩy mạnh hoạt động phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về pháp luật cho nhân dân Chính vì vậy, Chính phủ đã ra Chỉ thị số 02/CT-TTg năm 1998 và Quyết định
số 03/QĐ-TTg ngày 7/1/1998 về việc ban hành kế hoạch triển khai công tác phổ biến phổ biến pháp luật Thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư, Năm 2003 Chính phủ đề ra Chương trình Phổ biến giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 (ban hành kèm theo Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/-1/2003 của Thủ tướng Chính phủ), Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 36/2003/QĐ-UB ngày
Trang 827/02/2003 về Chương trình Phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến năm 2007
Theo Nghị quyết 61/2007/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 7/12/2007, phổ biến pháp luật là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Công tác này sẽ được tiến hành thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn nhằm làm cho cán bộ, nhân dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu rõ: "Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch địh và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước" [20, tr 44]
Với nhận thức trên có thể khẳng định rằng: nếu sự nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu thì hoạt động phổ biến pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng ở nước ta hiện nay Thực tiễn vừa qua, hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nói chung còn rất hạn chế nhất là trong bối cảnh Hà Nội được mở rộng, khi xen lẫn vùng đô thị hóa vẫn còn những vùng sâu, vùng xa, vùng có các dân tộc ít người đang sinh sống Các điều kiện để tiếp nhận thông tin pháp lý nhất là các văn bản pháp luật của Nhà nước đối với đa số quần chúng nhân dân bị hạn chế Bối cảnh đó càng cho thấy hoạt động phổ biến pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống ở đây là vấn
đề lớn đòi hỏi cần được đáp ứng kịp thời
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: "Hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội - Những vấn đề lý luận và thực tiễn"
là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn thiết thực
Trang 92 Tình hình và phạm vi nghiên cứu của luận văn
2.1 Tình hình nghiên cứu
Hoạt động phổ biến pháp luật với tư cách là một phạm trù pháp lý là một dạng hoạt động của Nhà nước trong tổ chức thực hiện pháp luật, biện pháp tăng cường pháp chế, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và các nhà khoa học từ trước đến nay đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, đổi mới xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
+ Ở trong nước việc nghiên cứu phổ biến pháp luật được nhiều tác giả
đề cập đến những khía cạnh và mức độ khác nhau, thể hiện trong các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí và phổ biến pháp luật đã
là đề tài của nhiều luận án, luận văn luật học, các công trình nghiên cứu đó có thể kể đến như:
- "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa", Luận án tiến sĩ luật của Trần Ngọc Đường
- "Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật cho nhân dân lao động ở Việt Nam", Luận án phó tiến sĩ luật của Nguyễn Đình Lộc
- "Phổ biến pháp luật cho nhân dân", của Nguyễn Ngọc Minh, Tạp
chí Cộng sản, số 10, 1983;
- "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
và xây dựng con người mới", của Phùng Văn Tửu, Tạp chí Giáo dục lý luận,
Trang 10- "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới", đề tài
khoa học cấp Bộ, mã số 92-98, 223 ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp
lý - Bộ Tư pháp;
- "Tìm kiếm mô hình phổ biến phổ biến pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Khoa
học pháp lý;
- "Phổ biến pháp luật trong các trường Đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở nước ta hiện nay", Luận án Phó tiến
sĩ của Đinh Xuân Thắng;
- "Phổ biến pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam", Luận án
phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai;
- "Phổ biến pháp luật cho dân tộc Khơme Nam Bộ (qua thực tiễn An
Giang)", Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Bền;
- "Bàn về phổ biến pháp luật", của phó tiến sĩ Trần Ngọc Đường -
Dương Thị Thanh Mai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995;
- "Một số vấn đề về phổ biến phổ biến pháp luật trong giai đoạn hiện
nay", Luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hoàng
+ Một số bài viết của các tác giả đã đăng trên Tạp chí thời gian gần đây:
- "Nhìn lại một năm công tác phổ biến, phổ biến pháp luật ở Gia Lai",
của Trần Xuân Thiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2000
- "Xã hội hóa công tác phổ biến phổ biến pháp luật trong tình hình
mới" của Hồ Viết Hiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000
- "Bàn về ý thức pháp luật", TS Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Luật
Học, số 1/2003
- "Văn hóa pháp lý - dòng riêng giữa nguồn chung của dân tộc Việt
Nam", PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2004
Trang 11- "Đa dạng hành vi pháp luật và xây dựng môi trường xã hội - pháp lý
cho những hành vi hợp pháp", PGS TS Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 8/2005 v.v
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể và cá nhân, các bài viết từ trước đến nay về phổ biến pháp luật đã có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình luận án, luận văn nào nghiên cứu về hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội Với vị trí là trung tâm chính trị - hành chính và kinh tế lớn của cả nước, là thành phố vì hòa bình, Hà Nội cần phải chú trọng đúng mức tính cấp thiết của hoạt động phổ biến pháp luật và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để góp phần vào việc ổn định trật tự
an ninh và phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu kể từ khi có đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) mà đặc biệt là 2 nhiệm kỳ Đại hội gần đây đến nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động phổ biến pháp luật Hai là, đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động phổ biến pháp luật
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 12Ba là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường hoạt động
phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà nước ta về hoạt động phổ biến pháp luật nói chung và hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - cụ thể, phân tích tổng hợp, thống kê so sánh, điều tra xã hội học v.v
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình chuyên khảo, nghiên cứu tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố
Hà Nội
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phổ biến pháp luật, đồng thời rút ra những kinh nghiệm về hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thực trạng hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn của các cơ quan Đảng và nhà nước trong hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố
Hà Nội
- Các giải pháp được đề ra trong luận văn có thể được áp dụng trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 13- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy tại các trường, lớp, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý trên địa bàn thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Chương 2: Thực trạng hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn thành
phố Hà Nội
Chương 3: Tăng cường hoạt động phổ biến pháp luật trên địa bàn
thành phố Hà Nội - phương hướng và giải pháp cơ bản
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
1.1.1 Khái niệm phổ biến pháp luật
Đến nay, khái niệm về phổ biến pháp luật ở nước ta vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Có nhiều quan niệm khác nhau
về khái niệm phổ biến pháp luật Về cơ bản có các quan niệm sau đây:
Trước hết, quan niệm cho rằng, pháp luật là qui tắc xử sự có tính bắt
buộc chung Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cần đặt vấn đề phổ biến pháp luật Pháp luật không thể là cái thuộc tính tuyên truyền vận động, ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh
Quan niệm thứ hai, đồng nhất hoặc coi phổ biến pháp luật là một bộ
phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức Chỉ cần thực hiện tốt quá trình giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức là mọi người đã có ý thức pháp luật cao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật Quan niệm này đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài ở nước ta Vì vậy, việc đào tạo chuyên ngành luật không được Nhà nước chú ý, dẫn đến hậu quả là các cơ sở đào tạo của ngành luật hầu như không có Mãi đến năm 1979 mới có cơ sở chuyên ngành đào tạo các luật gia ở bậc đại học và đến những năm 1987-
1988, việc phổ biến pháp luật mới bắt đầu đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông
Quan niệm thứ ba, coi phổ biến pháp luật đồng nhất với việc giáo dục
các văn bản pháp luật Theo quan niệm này, việc phổ biến pháp luật thực chất
Trang 15chỉ là các đợt tuyên truyền, cổ động khi có văn bản pháp luật quan trọng mới ban hành như: Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự hoặc trước các kỳ bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp
Các quan niệm nói trên có phần mang tính phiến diện, một chiều, chưa thấy hết đặc thù, sự tác động của phổ biến pháp luật, nên đã vô tình hoặc cố ý
hạ thấp vai trò, giá trị xã hội của hoạt động phổ biến pháp luật Bởi vì, bản thân pháp luật mới chỉ là văn bản qui phạm pháp luật, là mô hình ở dạng
"tiềm năng" Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: Ban hành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, con người phải suy nghĩ, lựa chọn cách xử sự thể hiện qua hành vi Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Ở giai đoạn này, qui phạm pháp luật có khả năng tác động lên ý thức của cá nhân như khuyến khích hành vi hợp pháp hoặc kìm chế hành vi bất hợp pháp Do đó, việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ý thức đó phải được hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân
"cho nên công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt" [37, tr 244
Để xác định đúng đắn khái niệm phổ biến pháp luật, trước hết cần là
rõ các khái niệm có liên quan
- Về hoạt động tuyên truyền
Hoạt động phổ biến pháp luật có liên quan chặt chẽ tới khái niệm về hoạt động tuyên truyền Theo Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên nêu ra khái niệm tuyên truyền như sau: "Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục, vận động mọi người làm theo" [53]
Trang 16Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về tuyên truyền như sau: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói để cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại" [38, tr 162]
- Quan niệm về giáo dục:
Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của nhiều điều kiện khách quan như: Môi trường sống, chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán và sự tác động của nhân tố chủ quan như: Sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất, trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hay đối tượng) có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội
Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà lý luận vẫn nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu, cực kỳ quan trọng, thậm chí mang yếu tố quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục Vì thế, khái niệm giáo dục hiện nay thường được hiểu theo nghĩa hẹp
Từ những quan niệm trên, phổ biến pháp luật trước hết là một hoạt động mang đầy đủ tính chất chung của giáo dục, có nhiều nét tương đồng với hoạt động tuyên truyền nhưng nó cũng có những nét đặc thù riêng, phạm vi riêng để tác động lên ý thức con người Theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, phổ biến pháp luật được hiểu là: Con người nói chung là khách thể (hay đối tượng) chịu ảnh hưởng và tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành nên ý thức, tình cảm và hành vi pháp luật
Cơ sở của việc xây dựng khái niệm phổ biến pháp luật được xác định qua các yếu tố sau đây:
Trang 17- Mặc dù, sự hình thành ý thức con người là quá trình ảnh hưởng tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và cả những nhà lý luận giáo dục đều phân biệt hai mặt của quá trình ấy Tuy vậy, trong sự tác động, nhân
tố của các điều kiện khách quan chỉ là những nhân tố ảnh hưởng còn nhân tố chủ quan là nhân tố tích cực mang tính tác động Nhân tố ảnh hưởng có thể tác động theo chiều này hay chiều khác, còn nhân tố "tác động" bao giờ cũng
là tự giác, có ý thức, có định hướng rõ ràng, cụ thể mà hoạt động giáo dục định hướng, có tổ chức, có chủ định của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội là yếu tố hàng đầu
- Khái niệm phổ biến pháp luật theo nghĩa hẹp còn có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù phổ biến pháp luật với phạm trù ý thức pháp luật Hai phạm trù này có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một Hoạt động phổ biến pháp luật, đó chính là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trước hết là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thể Còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo ra khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của hoạt động phổ biến pháp luật Thực tiễn đã chỉ ra rằng nếu buông trôi, thả lỏng việc phổ biến pháp luật thì các nhân tố tiêu cực như: hiện tượng vi phạm pháp luật, phạm tội chưa được xử lý nghiêm minh; hiện tượng nhận hối lộ, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức sẽ có điều kiện tác động phản giáo dục rất mạnh lên nhận thức, tình cảm, lòng tin vào pháp luật của công dân Từ đó, có thể hình thành loại ý thức pháp luật ngược với mục tiêu của nền pháp chế và là cơ sở cho các hành vi vi phạm pháp luật tăng lên Ngược lại, nếu xác định đúng đắn các yếu tố của phổ biến pháp luật như nội dung, hình thức, phương pháp và định hướng chúng ngay trong các hoạt động của thực tiễn pháp luật phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn, từng thời kỳ thì sẽ giảm bớt được tác động của các tiêu cực, giúp cho đối tượng được phổ biến có ý thức pháp luật vững
Trang 18vàng, có khả năng phân tích, phê phán một cách đúng đắn về hiện thực pháp luật trong quá trình vận động của nó Từ đó, mọi người có thái độ và hành động phù hợp với pháp luật
- Phổ biến pháp luật vừa mang những đặc điểm chung của hoạt động tuyên truyền, giáo dục, sử dụng các hình thức phương pháp của tuyên truyền, giáo dục nói chung, vừa thể hiện những nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hình giáo dục khác như giáo dục chính trị, đạo đức Tính đặc thù của phổ biến pháp luật thể hiện ở cả mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp
Nét đặc thù của phổ biến pháp luật khác tương đối với các dạng giáo dục khác ở chỗ:
+ Phổ biến pháp luật có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật
+ Phổ biến pháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước nói riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật Trong đó, pháp luật thực định hiện hành của Nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng
+ Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra các nét đặc thù của phổ biến pháp luật Chẳng hạn, phổ biến pháp luật so với các dạng giáo dục khác, đó là quá trình tác động liên tục, thường xuyên, lâu dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục Vì thế, phổ biến pháp luật trở thành sợi chỉ đỏ xuyên nối qua gia đình, nhà trường, các tập thể lao động, các
tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội Nhân tố con người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đối tượng) Người được giáo dục
là người chịu sự tác động có tổ chức, có định hướng các thông tin pháp luật
Trang 19Vì vậy, sự hiểu biết về trình độ, đặc điểm nhân thân của người được giáo dục
là đòi hỏi hàng đầu đối với người giáo dục Đồng thời, người phổ biến pháp luật cần phải nắm vững tri thức pháp luật, biết cách chuyển tải nó và hơn thế nữa phải là tấm gương, phải là hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật Bởi
vì, trong phổ biến pháp luật thì nguyên tắc "làm gương", "làm mẫu", "anh hãy làm như tôi làm" có ảnh hưởng to lớn đối với người được phổ biến
Tóm lại, khái niệm phổ biến pháp luật được hiểu: là hoạt động có định
hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể tác động lên đối tượng phổ biến nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành
Với khái niệm phổ biến pháp luật như đã nêu trên, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc trang bị tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm và thói quen pháp luật cho mọi công dân là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Trong đó trước hết thuộc về hệ thống các cơ quan có chức năng giáo dục đào tạo nói chung và các cơ quan có chức năng phổ biến pháp luật của Nhà nước nói riêng
Phổ biến pháp luật là một trong những mắt xích quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi vì, phổ biến pháp luật là nhằm hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước" [20, tr 44], chúng ta đang từng bước phấn đấu nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội bằng pháp luật Trong phương hướng đó, phổ biến pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, vì đó là khâu đầu tiên để tạo ra
Trang 20tiền đề ý thức cho phương hướng có khả năng trở thành hiện thực trong đời sống xã hội
Thực tế trong thời gian qua cho thấy, sự coi nhẹ và thiếu năng động trong hoạt động phổ biến pháp luật là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ý thức pháp luật của cán bộ công chức và nhân dân còn thấp, pháp luật và kỷ cương của Nhà nước bị vi phạm ngày càng phổ biến Điều đó đặt ra cho chúng ta sự cần thiết phải nhận thức ý nghĩa mang tầm chiến lược của hoạt động phổ biến pháp luật trong suốt cả quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Nó là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.1.2 Mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật
Mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong của phổ biến pháp luật Việc xác định đúng đắn các mục đích xã hội cần phải đạt được trong quá trình phổ biến pháp luật có vai trò quan trọng trong lý luận và thực tiễn phổ biến pháp luật Bởi vì, các phạm trù, nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến pháp luật phần lớn phụ thuộc vào việc xác định những mục đích xã hội nào được đặt ra trước quá trình giáo dục Mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của xã hội đối với phổ biến pháp luật ở từng giai đoạn, trong các điều kiện lịch sử cụ thể Theo quan điểm chung của nhiều nhà khoa học, hoạt động phổ biến pháp luật bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:
Mục đích thứ nhất: Cung cấp để hình thành, làm sâu sắc và từng bước
mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của công dân (mục đích nhận thức) Đây
là mục đích hàng đầu, bởi vì, chính sự am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là điều kiện cần thiết để hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp cho con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn
Trang 21mực pháp luật Mục đích này đặc biệt quan trọng trong điều kiện như nước ta hiện nay, khi mà hiểu biết pháp luật của công dân còn thấp, còn chịu ảnh hưởng tư tưởng và nếp sống của người sản xuất nhỏ, nhận thức về quyền và nghĩa vụ của công dân chưa đầy đủ Mặt khác, hoạt động phổ biến pháp luật chưa được coi trọng dẫn đến tình trạng pháp chế bị buông lỏng, làm giảm hiệu lực của pháp luật; dẫn đến giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Do đó, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng và Nhà nước
ta luôn coi trọng hoạt động phổ biến pháp luật, "coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật Cán bộ quản lý các cấp từ Trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân" [11, tr 121], "thường xuyên phổ biến pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật" [12, tr 92],
"phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao
ý thức chấp hành pháp luật" [18, tr 135]
Mục đích thứ hai: Hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật
(mục đích cảm xúc) Mục đích này rất quan trọng, vì nếu có tri thức pháp luật
mà không có tình cảm tôn trọng và lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người rất dễ có hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp luật vì lợi ích riêng tư (các vụ án gần đây cho ta thấy rõ điều đó, điển hình là vụ án Mai Văn Huy, vụ án Năm Cam) Nội hàm của mục đích
cảm xúc đạt được thông qua việc: Một là, phổ biến, giáo dục tình cảm công
bằng, biết xác định các tiêu chuẩn đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xử với người khác và với chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng thể
hiện qua các qui phạm pháp luật Hai là, phổ biến, giáo dục tình cảm trách
nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi nơi mọi lúc Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành vi phạm pháp Đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Có được tình cảm
Trang 22trên, con người sẽ có được lòng tin vững chắc vào sự cần thiết tuân theo những qui phạm pháp luật Khi đã có lòng tin vào pháp luật, con người sẽ có những hành vi hợp pháp
Mục đích thứ ba: Hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo
pháp luật (mục đích hành vi) Động cơ và hành vi hợp pháp là kết quả cuối cùng của cả quá trình nhận thức pháp luật, đấu tranh nội tâm dưới tác động của những yếu tố tâm lý, tình cảm, lòng tin Thói quen xử sự hợp pháp được hiểu là thói quen tuân thủ các quy phạm hướng dẫn của pháp luật, thói quen thực hiện đúng đắn, tận tâm các quyền và nghĩa vụ pháp lý, thói quen sử dụng và áp dụng các tri thức pháp luật và các quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình, của người khác, của Nhà nước và của xã hội
Việc phân chia các mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật trên đây chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ đan xem qua lại trong mối liên hệ hữu cơ thống nhất Từ tri thức pháp luật đến tính tự giác; từ tính tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Ngược lại, khi có thói quen xử sự theo pháp luật thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại được củng cố Do đó, khi tiến hành phổ biến pháp luật đều phải hướng hoạt động vào cả ba mục đích của phổ biến pháp luật
Việc xác định mục đích của hoạt động phổ biến pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong lý luận lẫn thực tiễn hoạt động phổ biến pháp luật Việc xác định đúng hay không đúng mục đích của phổ biến pháp luật sẽ dẫn đến chất lượng tốt hay không tốt tới hoạt động phổ biến pháp luật
1.1.3 Chủ thể, khách thể, đối tƣợng của hoạt động phổ biến pháp luật
1.1.3.1 Chủ thể hoạt động phổ biến pháp luật
Trên thực tế, chủ thể của hoạt động phổ biến pháp luật khá phong phú,
đa dạng nhưng tựu trung lại có thể hiểu: Chủ thể hoạt động phổ biến pháp
luật là tất cả những người mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích phổ biến pháp luật Các
Trang 23nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xác định và thừa nhận có hai loại chủ thể phổ biến pháp luật: chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp với vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu trình độ và kỹ năng phổ biến pháp luật khác nhau Từ đó, có các hình thức, phương thức và phương pháp tiến hành hoạt động phổ biến pháp luật khác nhau
Chủ thể chuyên nghiệp phổ biến pháp luật là những người mà chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp của họ là thực hiện các mục đích, nội dung phổ biến pháp luật (giảng viên luật, các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật )
Chủ thể không chuyên nghiệp phổ biến pháp luật là những người mà chức năng chính không phải là phổ biến pháp luật, nhưng một trong các nhiệm vụ của họ là thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện mục đích phổ biến pháp luật (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ, công chức thuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp )
Tóm lại, chủ thể của hoạt động phổ biến pháp luật được hiểu là tất cả
những người mà theo chức năng hay theo trách nhiệm xã hội, đã tham gia góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phổ biến pháp luật
1.1.3.2 Khách thể (đối tượng) của hoạt động phổ biến pháp luật
Khách thể theo quan niệm chung nhất là "đối tượng chịu sự tác động, chi phối của hành động trong quan hệ đối lập với đối tượng gây ra hành động gọi là chủ thể" [49, tr 487] Từ quan niệm chung đó có thể đồng nhất khách thể với đối tượng chịu sự tác động
Quá trình phổ biến pháp luật thực chất là quan hệ xã hội giữa một bên
là người phổ biến (chủ thể) và một bên là người được phổ biến (khách thể hay đối tượng) Mối quan hệ này có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bên tham gia trong mối quan hệ Song chiều tác động chủ yếu vẫn là sự tác động, chi phối của người phổ biến (chủ thể) Sự tác động là những hoạt động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt tới những mục tiêu, mục đích
Trang 24nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc, mục đích hành
vi, thói quen xử sự theo pháp luật) Nói cách khác, chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên khách thể (đối tượng) được phổ biến với những mong muốn cụ thể là xây dựng được ý thức và những hành vi hợp pháp cho khách thể (đối tượng) phổ biến pháp luật
Như vậy, khách thể (đối tượng) phổ biến pháp luật ở đây không chỉ là
cá nhân, những nhóm cộng đồng xã hội mà còn bào hàm cả những yếu tố bên trong của họ như: nhận thức, tình cảm, cảm xúc, hành vi cụ thể của họ phù hợp với pháp luật
Từ phân tích trên cho thấy, khách thể của phổ biến pháp luật mang tính đồng nhất với đối tượng phổ biến pháp luật Vậy khách thể của hoạt động phổ biến pháp luật được hiểu là những cá nhân, nhóm cộng đồng xã hội cùng với ý thức và hành vi pháp luật của họ
Việc xác định chủ thể, khách thể (đối tượng) của hoạt động phổ biến pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn của hoạt động phổ biến pháp luật trên cơ sở mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể trong quá trình phổ biến pháp luật Trong đó, chủ yếu là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người phổ biến pháp luật lên người được phổ biến pháp luật Điều đó tạo cho chủ thể xác định các nội dung, hình thức, phương tiện, biện pháp phù hợp để tiếp cận với khách thể (đối tượng) phổ biến pháp luật một cách có hiệu quả nhất
1.2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT
1.2.1 Nội dung phổ biến pháp luật
Nội dung của hoạt động phổ biến pháp luật được xác định trên cơ sở mục đích của phổ biến pháp luật, là sự hình thành ở đối tượng giáo dục hệ thống tri thức pháp luật Tình cảm, lòng tin và thói quen hành động phù hợp với yêu cầu của pháp luật Nội dung phổ biến pháp luật là một thành tố quan
Trang 25trọng của hoạt động phổ biến pháp luật, nó được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và đồng thời xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng được hoạt động phổ biến pháp luật hướng tới Xác định đúng nội dung của hoạt động phổ biến pháp luật sẽ bảo đảm cho chất lượng của hoạt động phổ biến pháp luật có hiệu quả cụ thể, thiết thực
Trong lý luận về phổ biến pháp luật cần làm rõ một số vấn đề liên quan tới nội dung hoạt động phổ biến pháp luật như: phạm vi, đặc điểm, những yếu tố chủ yếu của nội dung phổ biến pháp luật
Phạm vi của nội dung phổ biến pháp luật theo quan điểm chung hiện nay bao gồm:
- Các thông tin về pháp luật, gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định
- Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật
- Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện
áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tượng, các tầng lớp dân cư Đồng thời phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
- Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền hợp pháp)
Từ phạm vi nội dung phổ biến pháp luật nêu trên, trong thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung phổ biến pháp luật Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung phổ biến pháp luật Những đặc điểm này cần được nhận thức đầy đủ đối với những người làm công tác phổ biến pháp luật Trên cơ sở đó họ lựa chọn
Trang 26phương pháp tiếp cận tới nội dung phổ biến pháp luật của từng đối tượng một cách phù hợp, giúp cho đối tượng có cách nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, cũng như những điểm mâu thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triển khoa học pháp lý và pháp luật thực định ở nước ta
Những nội dung chủ yếu của phổ biến pháp luật, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, được xác định theo những mức độ khác nhau tùy theo từng loại đối tượng phù hợp với những nhu cầu, đặc điểm của đối tượng mà hoạt động phổ biến pháp luật hướng tới Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng phổ biến pháp luật, người ta phân định nội dung phổ biến pháp luật thành ba mức, cấp độ khác nhau sau đây:
Một là, mức độ tối thiểu về phổ biến pháp luật phổ cập cho mọi công
dân Sống trong một xã hội được quản lý bằng pháp luật thì mỗi công dân phải có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật và có những kỹ năng tối thiểu
để sử dụng pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện nghĩa vụ của mình
Hai là, mức độ phổ biến pháp luật theo nhu cầu ngành nghề của các
công dân hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật, văn hóa xã hội Họ cần những hiểu biết và kỹ năng sử dụng pháp luật ở mức độ cao hơn, mang tính định hướng nghề nghiệp rõ hơn thì ngoài những khái niệm pháp lý cơ bản thường gặp trong thực tiễn, nội dung phổ biến pháp luật theo ngành nghề còn bao gồm một số luật thực định, liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng Các quyền và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực hoạt động và các trình tự giải quyết các tranh chấp phổ biến liên quan trong lĩnh vực nghề nghiệp
Ba là, mức độ phổ biến giáo dục chuyên luật, đây là mức độ cao nhất
của nội dung phổ biến pháp luật, nhằm mục đích đào tạo các luật gia cho bộ máy nhà nước và các tổ chức mang tính nghề nghiệp về pháp luật Sự hiểu biết của đối tượng này bao gồm cả những quan điểm, những học thuyết về
Trang 27nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại Những hiểu biết tương đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế trong lĩnh vực chuyên sâu của từng người (về hình sự, về dân sự, về kinh tế, về hôn nhân gia đình,
về luật quốc tế, ) Kỹ năng của họ không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ pháp luật mà chủ yếu là vận dụng chính xác, linh hoạt các quan hệ pháp luật vào việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật (hoặc tư vấn cho việc giải quyết các vấn đề về pháp luật, như các tranh chấp, các vi phạm pháp luật ) Kỹ năng quan trọng và đặc thù của đối tượng là sáng tạo pháp luật, là khả năng tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật
Từ việc xác định phạm vi, đặc điểm và các mức độ yêu cầu về nội dung phổ biến pháp luật có thể thấy rằng: Không thể có một hình thức hay một chủ thể phổ biến pháp luật riêng biệt có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu, nội dung để đạt tới mục tiêu phổ biến pháp luật đặt ra cho mọi đối tượng
Do đó, cần phải có sự phối hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu phổ biến pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục đích của phổ biến pháp luật mà nội dung phổ biến pháp luật đề ra
Nội dung của hoạt động phổ biến pháp luật được căn cứ vào đối tượng
mà hoạt động này hướng tới Trong thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, có thể phân chia thành hai nhóm lớn sau:
* Nhóm cán bộ và công chức: Là những người trong phạm vi chức
năng của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người lãnh đạo, quản lý nhà nước và quản lý xã hội Thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật hay không của cán bộ, công chức là thí dụ sinh động, là tấm gương phản chiếu tính pháp chế trong tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng
Trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức về pháp luật
Trang 28cho cán bộ công nhân viên chức Nhà nước có đóng góp rất lớn Bởi vì, họ là những người thường xuyên tiếp xúc, giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi nhiều mặt trên mọi lĩnh vực của nhân dân, đặc biệt là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị Để thực hiện được quá trình dân chủ hóa này, đòi hỏi cán bộ công nhân viên chức nhà nước phải có hiểu biết về pháp luật, tâm lý pháp luật phải kiên định vững vàng, có kiến thức pháp luật rộng, công minh chính trực và có tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao Việc đảm bảo quyền lợi chính đáng, hợp pháp, công bằng qua các vụ việc cụ thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước, công dân, giữa các bộ phận, các cá nhân khác nhau trong xã hội chính là sự thể hiện công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội; thái độ, tác phong, ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, viên chức nhà nước sẽ tạo cho nhân dân tin tưởng hơn vào sự công bằng dân chủ của pháp luật Từ đó thúc đẩy họ tham gia vào quá trình xây dựng Nhà nước, hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tâm
lý pháp luật của cán bộ hành chính, có ảnh hưởng rất lớn trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể, nếu họ giải quyết một cách hợp tình hợp lý, đúng với quy định của pháp luật thì họ sẽ tạo thêm niềm tin đối với nhân dân, và ngược lại,
vì một lý do nào đó (chẳng hạn trình độ hiểu biết pháp luật còn thấp hoặc có thái độ coi thường pháp luật), họ giải quyết không minh bạch, điều đó ảnh hưởng tới pháp luật Nhà nước cũng như không đảm bảo được tính khách quan dân chủ Đối với những cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, tâm lý pháp luật của họ tác động rất lớn đến việc xử lý từng trường hợp cụ thể Nếu
họ xét xử công minh, xử lý đúng người, đúng tội thì người dân sẽ có cảm tình với pháp luật, yên tâm tin vào pháp luật hơn Ngược lại nếu việc xét xử không đúng người, đúng tội thì người dân dễ có thái độ coi thường pháp luật Như Bác Hồ đã nói: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", tự do ở đây là tự do trong khuôn khổ của pháp luật xã hội chủ nghĩa cho phép, chứ không phải là
tự do quá trớn Chẳng hạn, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, mọi công dân đều được tự do buôn bán kinh doanh, nhưng không thể
Trang 29buôn bán ma túy, các hàng quốc cấm… Thực tế nhiều năm qua đã cho thấy, một số cán bộ có chức có quyền đã vi phạm các điều cấm trong pháp luật Việt Nam Vì lợi nhuận cao, họ đã lợi dụng chức quyền, bất chấp pháp luật, coi thường pháp luật, họ không tự điều chỉnh được hành vi của mình, hành vi mà pháp luật không cho phép làm thì họ lại làm dù họ là người hiểu biết rõ về pháp luật Như vậy, hoạt động phổ biến pháp luật có vai trò rất lớn, nó giúp con người tự điều chỉnh hành vi của bản thân và hành vi của người khác trong
xã hội
Cán bộ, công chức là những người trực tiếp, có tác động rất mạnh đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Với tư cách này, cán bộ, công chức phải được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong việc áp dụng pháp luật và trước tiên họ phải có ý thức đầy đủ về trách nhiệm chủ thể phổ biến pháp luật của mình trong khi tiến hành các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ cụ thể
* Nhóm quảng đại quần chúng nhân dân: Đảng, Nhà nước ta đang hướng
tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân Để nhân dân có thể hưởng các quyền tự do, dân chủ và thể hiện nghĩa vụ công dân của mình thì họ phải có một trình độ hiểu biết, một thái độ đúng đắn và một khả năng nhất định khi sử dụng pháp luật Sự kết hợp nhận thức pháp luật và tình cảm pháp luật thể hiện ở trình độ ý thức pháp luật, tâm
lý pháp luật của người đó Song nhận thức về pháp luật của mỗi người là khác nhau, do vậy sự hưởng thụ các quyền tự do, dân chủ và thực hiện nghĩa vụ của mình cũng có phần khác nhau Trên thực tế, do trình độ nhận thức về pháp luật có hạn, một số đối tượng không hiểu rõ về pháp luật, thậm chí hiểu sai pháp luật, do đó có thái độ chống đối pháp luật Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, văn hóa pháp lý hạn chế, họ hiểu biết rất ít
về pháp luật, thậm chí không cần quan tâm tới pháp luật, họ xem thường pháp luật, lảng tránh pháp luật Trong các hành vi của mình họ không chú ý tới pháp luật, nhiều hành vi vi phạm pháp luật mà họ vẫn không biết Điều này
Trang 30không phải do họ cố ý mà nhiều khi do không biểu biết các quy định của pháp luật, không có tình cảm đối với pháp luật, một phần do họ quen sống và xử sự theo phong tục tập quán làng xã "lệ làng"
Từ xa xưa, phong tục, tập quán, lệ làng ở nước ta thể hiện ý chí chung của cộng đồng dân cư làng xã nên các quy định của lệ làng, phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng, nội dung rất cụ thể dễ nhớ, dễ thực hiện, thường được các thành viên của cộng đồng tự giác thực hiện Mặt khác, nó tồn tại và phát triển cùng với truyền thống dân tộc là nhân tố quan trọng góp phần trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam Lệ làng thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư làng xã, được hình thành tự phát và tồn tại song trùng với ý thức pháp luật, nó vừa là yếu tố thống nhất hỗ trợ cho
sự hình thành và phát triển của ý thức pháp luật, vừa có yếu tố mâu thuẫn với quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật, nhất là ở Việt Nam hiện nay đang xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Đối với nhân dân ảnh hưởng của "lệ làng" trong sự hình thành ý thức pháp luật, thể hiện ở cách xử sự trong các quan hệ không theo quy định của pháp luật mà theo tập quán thói quen lâu đời… thái độ xem thường pháp luật, coi trọng "lễ nghi" phong tục, mặc dù có những lễ nghi phong tục lạc hậu, phản khoa học…
Sự phân tích trên cho thấy, phong tục, tập quán, thói quen, lệ làng có một phần nhỏ đã làm hạn chế hoạt động phổ biến pháp luật và trong một số trường hợp đã làm cho nhận thức về pháp luật phát triển theo hướng tiêu cực Tâm lý pháp luật phát triển theo hướng không tích cực thì hiển nhiên việc thực hiện pháp luật bảo đảm cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng không tránh khỏi phát triển theo hướng đó
Nâng cao chất lượng hoạt động phổ biến pháp luật góp phần điều chỉnh mọi hành vi, mọi mối quan hệ của con người Nếu phổ biến pháp luật tốt thì đa số hành vi của con người diễn ra thuận chiều với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Ngược lại, hoạt động phổ biến pháp luật yếu
Trang 31kém thì sẽ góp phần cản trở sự phát triển của quá trình xây dựng nền dân chủ
đó Nói tóm lại, hoạt động phổ biến pháp luật luôn giữ một vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Hiện nay chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trong Nhà nước ấy pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, là công cụ đảm bảo quyền tự do bình đẳng cho mọi người, pháp luật ấy thật sự có hiệu quả đi vào cuộc sống theo chiều hướng tích cực thì hiển nhiên không thể không tính đến vai trò của hoạt động phổ biến pháp luật
1.2.2 Hình thức phổ biến pháp luật
Mục đích và nội dung của hoạt động phổ biến pháp luật không thể tự thân đi vào nhận thức, tình cảm của người được phổ biến pháp luật, mà phải qua những kênh chuyển tải thông tin, là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức quá trình phổ biến pháp luật, thể hiện nội dung phổ biến pháp luật Các dạng hoạt động cụ thể đó phải phù hợp với khả năng tiếp cận của đối tượng Do đó, hiệu quả của hoạt động phổ biến pháp luật không chỉ phụ thuộc vào việc xác định đúng mục đích và nội dung phổ biến pháp luật mà còn phụ thuộc vào việc xác định đúng hình thức phổ biến pháp luật Có nhiều quan niệm khác nhau về hình thức phổ biến pháp luật Xuất phát từ các ý kiến của các nhà nghiên cứu luật học, theo chúng tôi, khái niệm hình thức phổ biến pháp luật
được hiểu là: Các hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa người phổ biến
và người được phổ biến nhằm chiếm lĩnh nội dung phổ biến và đạt mục đích phổ biến pháp luật Trên cơ sở của khái niệm này, hình thức của hoạt động phổ biến pháp luật được coi là các dạng cụ thể, có tổ chức phối hợp giữa chủ thể phổ biến pháp luật và đối tượng phổ biến pháp luật để thể hiện nội dung phổ biến pháp luật và đạt mục đích phổ biến pháp luật Từ khái niệm về hình
thức hoạt động phổ biến pháp luật, người ta còn phân chia hình thức phổ biến pháp luật ra thành nhiều loại khác nhau Qua thực tiễn cũng như qua nghiên cứu lý luận về nguyên tắc, nội dung, chủ thể, đối tượng phổ biến pháp luật, hình thức phổ biến pháp luật được chia làm hai loại:
Trang 32- Các hình thức phổ biến pháp luật mang tính phổ biến, truyền thống của giáo dục chính trị tư tưởng như: phổ biến, nói chuyện pháp luật tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, các địa bàn dân cư; các hội nghị, hội thảo pháp luật; các câu lạc bộ pháp luật; các đội thông tin cổ động pháp luật; các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền qua báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác; các hình thức văn học nghệ thuật; dạy và học pháp luật trong các nhà trường
- Các hình thức phổ biến pháp luật đặc thù như: Các hoạt động định hướng phổ biến pháp luật trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và Viện kiểm sát); phổ biến pháp luật qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức quần chúng (tổ hòa giải, tư vấn pháp lý )
Qua nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn về hoạt động phổ biến pháp luật cho thấy:
Phổ biến pháp luật được thể hiện khá đa dạng, biểu hiện dưới nhiều hình thức như: Dạy và học pháp luật trong các trường (các trường chuyên ngành và cả các trường khác trong hệ thống giáo dục); tập huấn chuyên đề về nhà nước pháp luật hoặc kết hợp phổ biến pháp luật trong các lớp tập huấn, các hội nghị chuyên đề khác; phổ biến pháp luật qua tuyên truyền và cổ động (tuyên truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua báo, tạp chí, qua hoạt động nghệ thuật, qua các cuộc thi ); phổ biến pháp luật qua hoạt động thực tiễn của cán bộ, công chức trên lĩnh vực công tác của mình, nhất là các hoạt động trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; phổ biến pháp luật qua hệ thống thông tin pháp luật (Công báo, các bản tin pháp luật, các văn bản pháp luật qua đường công văn nhà nước )
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, chủ thể, khách thể (đối tượng) của phổ biến pháp luật, có thể chia hình thức phổ biến pháp luật làm ba loại:
Trang 33* Hình thức phổ biến pháp luật mang tính phổ biến, tuyên truyền của giáo dục chính trị tư tưởng, như:
- Phổ biến, nói chuyện pháp luật tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội;
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo về pháp luật;
- Hoạt động tại các câu lạc bộ pháp luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trong cán bộ, công chức;
- Tuyên truyền pháp luật qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành; thông qua các chuyên mục tìm hiểu pháp luật, giới thiệu văn bản pháp luật mới của các báo, tạp chí khác;
- Phổ biến pháp luật thông qua các hình thức văn học nghệ thuật (phim, ảnh, sân khấu )
* Hình thức phổ biến pháp luật chuyên biệt đối với các hoạt động chuyên ngành pháp luật
Hình thức phổ biến pháp luật này được quy định bởi mối quan hệ biện chứng giữa sự tác động phổ biến pháp luật và tác động thực tiễn pháp luật lên
ý thức và hành vi của cán bộ, công chức Xuất phát từ nguyên tắc gắn phổ biến pháp luật với thực tiễn công tác và đời sống, các chuyên gia pháp lý đã tìm thấy khả năng hình thành các hình thức phổ biến pháp luật mang tính đặc thù này Đó là định hướng phổ biến pháp luật cho các hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực ban hành và thực thi pháp luật Việc tổ chức thực hiện các định hướng đó nhằm hạn chế các tác động tiêu cực và tăng cường các tác động tích cực của thực tiễn pháp luật đối với quá trình hình thành ý thức pháp luật quần chúng nhân dân mà cụ thể là những người tham gia, tham dự vào quá trình làm việc của Tòa án Điều đó xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của cán
bộ, công chức chuyên ngành pháp luật Họ là những người có "vai trò kép"
Trang 34trong mối quan hệ với phổ biến pháp luật Họ vừa là đối tượng cần được phổ biến pháp luật vừa là chủ thể phổ biến pháp luật trong mối quan hệ với cán
bộ, công chức khác và với nhân dân Phổ biến pháp luật qua hoạt động xét xử
là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có chủ định và có kế hoạch của các chủ thể giáo dục (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Thư ký tòa án, Giám định viên) đến các đối tượng giáo dục (những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa) nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, trạng thái xúc cảm, tình cảm pháp luật đúng đắn là cơ sở cho hành vi, ứng xử phù hợp với yêu cầu của pháp luật
Phổ biến pháp luật qua hoạt động xét xử là hình thức giáo dục đặc thù nhất và quan trọng nhất của Tòa án, Thẩm phán luôn làm cho mọi người thấy rằng bất cứ sự việc vi phạm pháp luật nào đều bị xử lí theo pháp luật Bằng thái độ khách quan, nghiêm túc của Thẩm phán trong quá trình xét hỏi hay trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của các bên trong tranh luận để tìm ra sự thật của vụ án cũng như đảm bảo đầy đủ, đúng yêu cầu các nguyên tắc của quá trình xét xử làm cho những người tham gia tố tụng và đông đảo quần chúng tham dự phiên tòa có thái độ đúng đắn với những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục họ ý thức tuân thủ các quy phạm pháp luật mà Nhà nước đã đề
ra, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lí theo từng trường hợp cụ thể mà phiên tòa là một minh chứng cho sự nghiêm minh của pháp luật
Phổ biến pháp luật qua các hoạt động hành pháp và tư pháp thường mang tính cá thể hóa rõ rệt cả về đối tượng, nội dung và biện pháp thực hiện,
vì nó thường gắn liền với việc áp dụng các điều luật cụ thể hay thực hiện một quyền, một nghĩa vụ pháp lý cụ thể của người được giáo dục Do đó, có sự tác động trực tiếp, sâu sắc lên ý thức, tình cảm và hành vi của họ Việc thừa nhận hình thức phổ biến pháp luật này là vấn đề có tính lý luận quan trọng, góp phần tạo nên sự đổi mới cơ bản trong cách nghĩ, cách làm của công tác phổ biến pháp luật hiện nay
Trang 35* Hình thức phổ biến pháp luật qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp
luật ở các trường
Có hai dạng phổ biến pháp luật qua hình thức này:
- Đào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong các trường không chuyên luật (các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp không chuyên luật và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị xã hội)
- Đào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong các trường, các khoa chuyên về Nhà nước và pháp luật như: Đại học Luật, Khoa luật - Đại học Quốc gia, Viện Nhà nước pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Nhà nước và pháp luật của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Nhà nước - pháp luật của trường Chính trị tỉnh, thành phố
Các hình thức đào tạo này đã cung cấp cho hệ thống chính trị một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ pháp luật vững vàng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và quản lý xã hội theo pháp luật
Từ quan niệm và phân loại phổ biến pháp luật như trên, các chủ thể phổ biến pháp luật phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung ngay trong khi xây dựng các chương trình công tác, nghiệp vụ chuyên môn trong từng thời kỳ hoặc trong từng vụ việc Trên cơ sở đó, chuẩn bị các điều kiện vật chất, điều kiện cán bộ để tổ chức hình thức giáo dục phù hợp
Trong công tác phổ biến pháp luật cần phải kết hợp các hình thức giáo dục khác nhau nhằm phát huy tối đa mặt tích cực và bù đắp những hạn chế của từng loại hình để đạt được kết quả tối ưu
1.2.3 Phương pháp phổ biến pháp luật
Phương pháp phổ biến pháp luật là hệ thống các cách thức để tiến hành hoạt động phổ biến pháp luật đến đối tượng cần tác động Đó là cách thức, biện pháp giúp cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân tiếp cận
Trang 36thông tin pháp luật, cách giải thích làm rõ các tư tưởng chính trị pháp lý, các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật
Trong hoạt động phổ biến pháp luật, chủ thể phổ biến là các chuyên gia không chỉ am tường về pháp luật mà còn phải nắm bắt nhiều lĩnh vực liên quan Phương pháp sư phạm được coi là phương pháp quan trọng trong công tác phổ biến pháp luật Đặc biệt là "phương pháp sư phạm đối với việc học tập của người lớn" [24, tr 2] Phương pháp sư phạm trong hoạt động phổ biến pháp luật điều quan trọng là bảo đảm "cung - cầu" "Cung" của đối tượng là biểu hiện khả năng đáp ứng của sự nghiệp, mục tiêu, chính sách, hệ thống tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhận thức trong từng thời kỳ nhất định "Cầu" của đối tượng được phổ biến bao gồm về số lượng, chất lượng (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đạo đức, phẩm chất )
Ngoài phương pháp sư phạm, chủ thể phổ biến pháp luật cần sử dụng nhiều phương pháp khác như: phương pháp tư duy logic, tâm lý, thực hành, giải quyết tình huống Một nguyên tắc chung nhất khi sử dụng các phương pháp phổ biến pháp luật đó là kết hợp lý luận với thực tiễn thi hành pháp luật (thông qua việc xử lý tình huống)
1.2.4 Một số đặc điểm cần lưu ý trong hoạt động phổ biến pháp luật
* Đối với nhóm đối tượng là cán bộ, công chức
- Cán bộ, công chức là nhân tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Khi thực hiện phổ biến pháp luật cho cán bộ, công chức, người giáo dục phải thực sự là "tấm gương sáng", phải là người nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [38, tr 269]
- Cán bộ, công chức là những người trưởng thành, môi trường công tác của họ là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
Trang 37hội Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức thường tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người đại diện cho Đảng và Nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân
Vì vậy, thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật hay không của cán bộ, công chức có tác động rất lớn đến đời sống pháp luật của nhân dân Việc phổ biến pháp luật cho cán bộ, công chức không chỉ là việc giáo dục kiến thức pháp luật đơn thuần mà còn phải kết hợp cả việc giáo dục phong cách làm việc, đạo đức, lối sống "Không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [39, tr 235]
- Cán bộ, công chức có vai trò kép trong phổ biến pháp luật trong mối quan hệ của phổ biến pháp luật cho cán bộ, công chức thì họ (cán bộ, công chức) là đối tượng (khách thể) của phổ biến pháp luật Với vai trò là đối tượng,
họ phải bảo đảm các yêu cầu của mục đích phổ biến pháp luật Nhưng với vai trò là cán bộ, công chức trong quan hệ với nhân dân thi cán bộ, công chức trở thành chủ thể của phổ biến pháp luật Vì vậy, vai trò của họ có tác động rất lớn đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật
Với đặc điểm này cần chú ý giáo dục cho cán bộ, công chức ý thức của người "công bộc" của nhân dân Phải xây dựng ý thức "chí công vô tư", coi pháp luật là "cán cân công lý", mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
"Pháp luật không hùa theo người sang "Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu" [40, tr 62] Hai mươi ba thế kỷ trước, Hàn Phi Tử đã nói như vậy và bài học đó vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay
Chúng ta đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân Để đạt được mục đích đó trước hết đội ngũ cán bộ, công chức phải thông pháp luật, phải thạo chuyên môn, phải chí công vô tư như lời Bác Hồ dạy: "Cán bộ phải đoàn kết nhất trí, giữ vững đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết chống quan liêu, tham ô, lãng phí; hết lòng hết dạ phục vụ nhân
Trang 38dân; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Chính phủ và pháp luật của Nhà nước" [37, tr 226]
* Đối với quảng đại quần chúng nhân dân
Đặc điểm chung cần lưu ý là sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế dẫn đến sự thay đổi về nhận thức cũng như phương pháp làm việc Nước ta bắt đầu đổi mới trên tất cả các lĩnh vực từ năm 1986 Quá trình đổi mới tạo ra một sức sống mãnh liệt cho đất nước đặc biệt sự thay đổi nhanh chóng trên lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng, khoa học kỹ thuật điều đó quyết định đến sự thay đổi nhiều mặt trong hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phổ biến pháp luật và lối sống theo pháp luật ngày càng phát triển
Trong thời kỳ đổi mới Đảng ta xác định: "Quản lý nhà nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của nhân dân phải được thực hiện thống nhất trong cả nước" [16, tr 120]
Đảng ta khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng Trước sau như một Đảng vẫn kiên định con đường, mục tiêu xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước đã có một cuộc cách mạng thực sự trong nhận thức lý luận hay nói cách khác là đổi mới tư duy Khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt, Đảng và Nhà nước đã bình tĩnh phân tích tình hình
và đi đến sự lựa chọn đúng đắn, chúng ta chỉ có thể phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại và phát triển vững mạnh của nền kinh
tế thị trường trong hơn 20 năm qua chính là kết quả của sự nhận thức đúng đắn các quy luật trong xã hội của Đảng và Nhà nước ta
Hiến pháp 1992 là nền tảng cho việc tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm quyền con người, các quyền và nghĩa vụ, các lợi ích hợp pháp của công dân tạo ra các cơ sở, nền tảng cho việc điều chỉnh toàn bộ các quan hệ xã hội
Trang 39thực hiện ở nước ta trong bối cảnh mới Hiến pháp 1992 là văn bản pháp luật
có hiệu lực cao nhất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh quá trình đổi mới toàn diện đất nước Bên cạnh đó ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới,
và điều chỉnh nhiều văn bản pháp luật cho phù hợp với điều kiện đất nước Tính đồng bộ và toàn diện của hệ thống pháp luật được cải thiện đáng kể Và thực tiễn đã chỉ cho người ta thấy rằng pháp luật là cái không thể thiếu trong đời sống xã hội Song, giai đoạn này những tàn dư của tư tưởng cũ vẫn tồn tại, nó biến tướng dưới những hình thức mới Lệ làng ở giai đoạn trước bây giờ được thay bằng các hương ước - về nội dung cũng không khác nhiều Do vậy, chúng ta cần phát huy những mặt tích cực, loại bỏ mặt tiêu cực của hương ước
Thực tế hơn 20 năm qua, do sự nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan mà chúng ta đã đổi mới đúng đắn trên lĩnh vực kinh tế Từ một nền kinh
tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là một bước đột phá quan trọng trong chế độ kinh tế ở nước ta Nền kinh tế mang nặng tính độc quyền không có sự cạnh tranh, nay đã chuyển sang cạnh tranh lành mạnh, chỉ có độc quyền Nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định
Hệ thống các chính sách doanh nghiệp được bổ sung hoàn thiện dần, đưa các doanh nghiệp chủ yếu làm theo mệnh lệnh và bao cấp tới tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật Nền kinh tế trước đây trong tình trạng khép kín, hàng hóa ách tắc đến nay thực hiện theo cơ chế mở cửa, giao lưu hàng hóa trong nước và quốc tế, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế Giai đoạn này yếu tố thị trường rất quan trọng, bởi vì thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó sự quản lý của Nhà nước cũng được thay đổi, quản lý của Nhà nước đi đôi với thực hiện quyền tự chủ doanh nghiệp, Nhà nước quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chính thông qua giao kế hoạch pháp lệnh như trước đây Đây là đặc điểm cần hết sức lưu ý vì vẫn còn tư tưởng áp đặt trong một bộ phận cán bộ trong cách hành xử với nhân dân
Trang 40Cũng chỉ đến thời kỳ này, sự phát triển kinh tế đạt đến một trình độ nhất định, sự thay đổi lớn về kinh tế đòi hỏi bức bách phải có một hệ thống pháp luật phù hợp, do vậy cần có một hệ thống những quy phạm pháp luật mới ra đời Chúng ta không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật trước giai đoạn đổi mới, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, pháp luật đó không được phát huy, vì thế vấn đề cấp bách đặt ra là phải tiến hành việc cải cách pháp luật
Như vậy, sự phát triển của kinh tế thị trường có tác động không nhỏ đến quá trình hoạt động phổ biến pháp luật ở nước ta Sự phát triển về kinh tế tạo ra những nhu cầu khách quan đòi hỏi những nhận thức, những hiểu biết, những quan điểm về pháp luật phải được nâng cao, thúc đẩy đời sống pháp luật phát triển Các quan hệ kinh tế thị trường dẫn tới khách quan phải điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật, từ đó phải nâng cao hiểu biết pháp luật mới có thể đáp ứng được sự thay đổi của xã hội Đó là tiền đề khách quan cho hoạt động phổ biến pháp luật bởi quá trình dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế cùng với dân chủ hóa trong lĩnh vực chính trị hơn 20 năm qua đạt được những thành quả đáng mừng, dẫn đến đổi mới pháp luật, nhận thức pháp luật cũng tăng Nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo động lực thúc đẩy việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật, từ đó hình thành ý thức, lối sống tuân thủ theo pháp luật một cách
tự giác Có thể nói, giai đoạn này người dân quan tâm nhiều đến pháp luật, họ luôn có ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật, hơn nữa họ nhận thức sự ra đời, tồn tại của pháp luật là một nhu cầu khách quan của đời sống xã hội
Bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế thị trường còn bộc lộ những mặt hạn chế Một số ít người vì lợi ích cá nhân, lợi nhuận cao đã vi phạm pháp luật, tìm mọi kẽ hở của pháp luật để luồn lách, cơ chế lỏng lẻo, hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ đã tạo điều kiện cho họ bất chấp pháp luật
Xu hướng chung của nhân dân trong giai đoạn này là tôn trọng pháp luật, tuân thủ pháp luật, chỉ có một bộ phận dân cư vẫn thờ ơ với pháp luật,