Nhận thấy việc phổ biến và trao đổi rộng rãi hơn những hiểu biết về XHDS có thể góp phần mang lại bổ ích cho xã hội, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương phân tích và phổ biến rộng rãi tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Vượng
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài “Mối quan hệ
giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đinh Ngọc Vượng Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2010
Học viên
Vũ Thị Thu Hường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TƯ TƯỞNG VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 7
1.1 Tư tưởng ngoài Mác xít về XHDS 7
1.1.1 Thời kỳ cổ đại và trung đại 7
1.1.2 Thời kỳ cận hiện đại 13
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về XHDS 17
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về XHDS 21
1.4 Các khái niệm về XHDS 26
CHƯƠNG 2 XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 30
2.1 Một vài nét về XHDS ở Việt Nam 30
2.1.1 Sự hình thành các CSO ở Việt Nam 30
2.1.2 Cấu trúc, đặc điểm và chức năng của XHDS ở Việt Nam 36
2.1.3 Thực trạng của các CSO Việt Nam 46
2.2 Một vài nét về Nhà nước pháp quyền Việt Nam 52
2.2.1 Một số khái niệm cơ bản về Nhà nước pháp quyền (NNPQ) 52
2.2.2 Những đặc điểm cơ bản của NNPQ 54
2.2.3 Những quan điểm cơ bản về xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN 55
2.3 Vị trí của XHDS trong mối quan hệ giữa XHDS với NNPQ Việt Nam và nền KTTT định hướng XHCN 58
Trang 5CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 64
3.1 Những trở ngại trong việc thúc đẩy sự phát triển của XHDS ở Việt Nam 64
3.1.1 Sự bất cập về nhận thức của cán bộ và công dân đối với XHDS 643.1.2 Trình độ phát triển kinh tế còn thấp chưa tạo ra những điều kiện cần thiết cho XHDS phát triển 653.1.3 Môi trường kinh tế - xã hội, văn hoá và pháp lý còn nhiều bất cập 683.1.4 Trình độ dân chủ và sự minh bạch của các CSO chưa cao 703.1.5 Các nguồn lực cho phát triển XHDS còn hạn chế 71
3.2 Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng XHDS ở nước ta hiện nay 73 3.3 Phương hướng xây dựng và phát triển XHDS Việt Nam 79
3.3.1 Xây dựng và phát triển XHDS gắn liền với xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN 803.3.2 Xây dựng, phát triển XHDS gắn liền với việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân; phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân 843.3.3 Sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luật về hội, tạo môi trường pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các CSO 89
3.4 Một số giải pháp nhằm phát triển XHDS Việt Nam trong mối quan
hệ với NNPQ 91
3.4.1 Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về XHDS, về yêu cầu khách quan của việc xây dựng XHDS Việt Nam 91
Trang 63.4.2 Thực hiện đa dạng hoá các hình thức tập hợp và đa dạng hoá nguồn kinh phí cho hoạt động của các CSO 923.4.3 Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách, chuyên nghiệp cho các CSO 943.4.4 Tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận
về XHDS 95KẾT LUẬN 97TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, XHDS hầu như đã trở thành một bộ phận không thể phân tách của đời sống xã hội hiện đại Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong Báo cáo năm 1997 của Tổng thư ký Liên Hiệp quốc Kofi Anan khi ông nói: “Các NGO và các chủ thể khác của XHDS nay không chỉ được coi là người phổ biến thông tin hay nhà cung cấp dịch vụ, mà còn là người soạn thảo chính sách, cho dù là vấn đề hòa bình hay an ninh, phát triển hay nhân đạo” Hơn nữa, Báo cáo còn nhấn mạnh XHDS như là một bộ phận quan trọng của việc cải cách Liên Hiệp quốc… Tầm quan trọng của XHDS đã thúc đẩy những nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn XHDS ở nhiều cấp độ: địa phương, quốc gia và khu vực
Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình của các học giả nước ngoài đề cập đến những vấn đề tác động đến quá trình phát triển, trong đó có các phong trào xã hội, hay nói theo cách thông dụng hiện nay là XHDS, của các nước Đông Nam Á Song, còn quá ít các công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam về XHDS các láng giềng trong khu vực Hơn nữa, ở Việt Nam mặc dù XHDS đã bắt đầu được nhắc đến ngày càng nhiều trong các thời điểm và bối cảnh, song hiểu biết về nó chưa nhiều và cũng rất khác nhau XHDS là một
đề tài vừa cổ điển, lại vừa rất thời sự Ngay từ thời Cổ Hy Lạp, người ta đã bàn tới khái niệm này và đến thế kỷ XVIII, nó chính thức trở nên phổ biến Tính thời
sự của XHDS là rõ ràng với sự trở lại của vấn đề này từ giữa thế kỷ XX, khi cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới bắt đầu bùng nổ và xuất hiện dần nền kinh tế tri thức
Không phải ngẫu nhiên XHDS được quan tâm trở lại Cho đến hiện nay,
Trang 9ở tầm rộng và khái quát nhất, mỗi xã hội hiện đại đều được coi là cấu thành
bởi ba trụ cột chính, đó là nhà nước, thị trường và XHDS Về đại thể, nhà
nước và thị trường đã phát triển ngày càng đầy đủ và toàn diện, và cũng được nghiên cứu khá sâu sắc thấu đáo Riêng phần XHDS, cái chân thứ ba khá quan trọng trong cái kiềng kết cấu của một xã hội hiện đại, cho đến nay vẫn còn những khía cạnh dường như chưa được hình thành thật đầy đủ và rõ nét,
sự phong phú và tính đa dạng của nó vẫn chưa được tìm hiểu một cách cặn
kẽ, nhất là đối với những nước đang chuyển đổi như nước ta
Từ khoảng 10 đến 15 năm gần đây, khái niệm, tên gọi XHDS mới dần dần vào Việt Nam bằng nhiều con đường Cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Chính phủ, nhiều tổ chức mới thuộc XHDS trong nước
và nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều và các hoạt động của chúng đã đem lại nhiều kết quả tốt, bắt đầu nhận được sự ủng hộ và hưởng ứng tích cực trong xã hội Tuy nhiên, do nhiều lý do: tính lịch sử, sự thiếu chủ động quan tâm của Nhà nước trước đây, tình trạng ít thông tin và sự hiểu biết thiếu cặn kẽ… nên mặc dù XHDS vẫn đang tồn tại hiển nhiên trong xã hội, nhưng không mấy khi được công luận sử dụng một cách chính thức khái niệm và tên gọi này Về mặt nhà nước, đôi khi cũng có các cơ quan nêu ra yêu cầu giải quyết các khó khăn về mặt pháp quy để các CSO hoạt động có nề nếp, được quản lý chính thức bằng luật, do đó sẽ thuận lợi hơn, thu được nhiều lợi ích hơn cho xã hội Cho đến nay, Đảng và Chính phủ đã có những chủ trương mang lại nhiều hy vọng mới cho các tổ chức và hoạt động của XHDS
Nhận thấy việc phổ biến và trao đổi rộng rãi hơn những hiểu biết về XHDS có thể góp phần mang lại bổ ích cho xã hội, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương phân tích và phổ biến rộng rãi trong nhân dân về vị trí, chức năng
và sự đa dạng của XHDS, quan hệ giữa XHDS với các tổ chức nhà nước và thị trường ở trong nước và trên thế giới, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa đã mở rộng và nền kinh tế tri thức đang phát triển
Trang 10Nước ta hiện nay đang rất cần phát huy các nguồn lực cho sự phát triển
mà nguồn lực con người là nguồn lực lớn nhất của mọi nguồn lực Phát huy nguồn lực con người chính là thực hiện và phát huy vai trò làm chủ của người dân, tổ chức tốt XHDS sẽ là một đảm bảo quan trọng và thiết thực cho hoạt động đấy XHDS thúc đẩy phát triển và phát huy dân chủ Khi mà chúng ta đang chứng kiến nhiều tổ chức, đoàn thể quần chúng đã không phát huy được vai trò vì gần như bị “Nhà nước hóa”, “hành chính hóa” XHDS rõ ràng đang
là khâu yếu nhất trong 3 trụ cột chính của sự phát triển xã hội nói trên Đã đến lúc vấn đề “XHDS” cần được đặt ra một cách nghiêm túc cùng với phát triển KTTT và việc đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân
Chính vì những lý do trên mà đề tài “Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam” là đề tài mang tính cấp thiết, được chọn làm
đề tài cho luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây ở Việt Nam đã có những công trình, các tác giả nghiên cứu về xã hội dân sự (cũng có tác giả gọi là xã hội công dân) Trong các công trình, đề tài nghiên cứu về xã hội dân sự có thể thấy có các công
trình, đề tài tiêu biểu như: Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp
quyền (1992) của tác giả Đỗ Nguyên Phương – Trần Ngọc Đường; Mối quan
hệ pháp lý giữa cá nhân công dân với nhà nước (1994) - Trần Ngọc Đường
và Chu Văn Thành; Quan hệ giữa nhà nước và XHDS Việt Nam, lịch sử và
hiện đại (2004) - Lê Văn Quang, Mối liên hệ giữa nhà nước với XHDS và vấn
đề cải cách hành chính (2004) – GS.TS Đào Trí Úc; Xây dựng nhà nước pháp quyền từ sự hình thành xã hội công dân (2004) - Nguyễn Thanh Bình; Về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền XHCN với đời sống XHDS (2004) - Văn
Đức Thanh; Một số vấn đề lý luận về quan hệ nhà nước, xã hội và công dân
Trang 11trong nhà nước pháp quyền (2005) - Trần Hậu Thành; Xã hội dân sự, một số vấn đề chọn lọc – Vũ Duy Phú (chủ biên); Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận thực tiễn - GS.TS Dương Xuân Ngọc… Năm
2005, Viện Những vấn đề phát triển Việt Nam (VIDS) được sự hỗ trợ của UNDP (Chương trình phát triển Liên hợp quốc), SNV (Các tổ chức phát triển của Hà Lan tại Việt Nam), CIVICUS (Liên minh thế giới về sự tham gia của người dân) đã thực hiện dự án nghiên cứu về XHDS ở nước ta Kết quả
nghiên cứu gần đây nhất được công bố trong công trình Đánh giá ban đầu về
XHDS tại Việt Nam (2006)…
Ở ngước ngoài có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả châu
Âu, Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á nghiên cứu
về xã hội dân sự Có thể kể ra các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Xã hội
dân sự (1996) – C.M.Hann và Elizabeth Dunn; Khám phá xã hội dân sự
(2005) – Marlies Glasius, David Lewis, Hakan Seckinelgin; Xã hội dân sự
trong quá trình dân chủ hóa (2004) – Peter Burnell và Peter Calvert; Xã hội dân sự và phát triển (2004) – Jude Howell; Xã hội dân sự ở Châu Á – David
C.Schak và Wayne Hudson; Xã hội dân sự ở Đông Nam Á – Hock Guaan Lee; Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan (2009) – Lê Thị Thanh Hương
(chủ biên); Từ năm 2004 đến 2006, các công trình nghiên cứu chỉ số xã hội dân sự - CSI nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu hiện tại của xã hội dân sự
đã được tiến hành tại hơn 50 quốc gia trên phạm vi thế giới Việc đánh giá được thực hiện theo một phương pháp luận chung do CIVICUS (Liên minh Thế giới vì sự tham gia của công dân – một NGO đóng tại Nam Phi) xây dựng thông qua việc nghiên cứu thí điểm tại một số nước
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 12Trong khuôn khổ luận văn cao học, học viên giới hạn sự nghiên cứu của mình về các vấn đề sau:
Khái niệm, các tư tưởng ngoài macxit và tư tưởng Mac-Lenin về
xã hội dân sự
Tác giả bước đầu nghiên cứu về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội dân sự, về các tổ chức xã hội hội dân sự ở Việt Nam
Tác giả luận văn nghiên cứu về đặc điểm của xã hội dân sự Việt Nam và phương hướng xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như: diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, luật học so sánh
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của tác giả luận văn này đóng góp phần khiêm tốn
về khái niệm, quá trình hình thành và phát triển của xã hội dân sự và phương hướng xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa nhất định về lý luận về xã hội dân sự cho sinh viên, học viên cao học luật Những kiến nghị về phương hướng xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam có thể tạo ra những ý tưởng ban đầu về chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước ta về xây dựng xã hội dân sự
Trang 137 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Sự hình thành và phát triển các tư tưởng về xã hội dân sự và xây
dựng xã hội dân sự ở Việt Nam
Chương 2: Xã hội dân sự ở Việt Nam và mối quan hệ giữa xã hội dân sự và
nhà nước pháp quyền Việt Nam
Chương 3: Phương hướng phát triển xã hội dân sự trong quá trình xây dựng
nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Trang 14CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TƯ TƯỞNG
VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM 1.1 Tư tưởng ngoài Mác xít về XHDS
Lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây là một bộ phận rất quan trọng và
có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại Một trong những nội dung căn bản và chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc của tư tưởng chính trị phương Tây là tư tưởng chính trị XHDS
1.1.1 Thời kỳ cổ đại và trung đại
Thời kỳ cổ đại và trung đại, ở phương Tây chưa có XHDS nhưng một số yếu tố của XHDS đã hình thành, phôi thai từ rất sớm ở các nước cổ đại như
Hy Lạp, La Mã, gắn liền với triết thuyết chính trị của hai nhà triết học Hy Lạp
cổ đại là Platon và Aristotle
XHDS được coi là đồng nghĩa với nhà nước hay xã hội chính trị Theo quan niệm này, XHDS thể hiện sự phát triển của nền văn minh đến những nơi
xã hội đã được văn minh hóa như thành bang Athène và cộng hòa La Mã Nó thể hiện trật tự xã hội của các công dân Ở đó, những người đàn ông (chứ không phải phụ nữ) điều chỉnh các quan hệ của họ và dàn hòa các tranh chấp theo hệ thống luật pháp, nơi sự lễ độ cai trị, và nơi các công dân chủ động tham gia vào cuộc sống cộng đồng
Trước Hêghen, XHDS (Civil society) đồng nghĩa với nhà nước/quốc gia
và đều được dùng để hàm chỉ xã hội văn minh (có thuộc tính đối lập với xã
hội hoang dã) Với cách hiểu này, XHDS hàm ý chỉ sự văn minh hóa xã hội
như đạt được trong xã hội thành bang Aten hay Cộng hòa La Mã Tính văn
minh nằm ở trong trật tự xã hội, khi công dân giải quyết các mâu thuẫn bằng
hệ thống pháp luật, và chủ yếu bằng các phương thức hòa bình Và công dân
Trang 15cũng đóng vai trò tích cực trong đời sống cộng đồng hòa hợp Như vậy, thành viên của XHDS cũng có nghĩa là thành viên của một nhà nước, người đó không còn là chính họ như trong trạng thái tự nhiên dã man nữa, họ bắt buộc phải tính tới các hành động của những người khác, và vì vậy họ là công dân Nói cách khác, khái niệm “công dân” cũng là khái niệm chỉ có thể dùng khi
xét trong quan hệ với một người khác – một công dân khác
Như vậy vào thời kỳ này, khái niệm XHDS hoàn toàn có ý nghĩa khác
với XHDS ngày nay ở điểm căn bản nhất: XHDS đó chính là xã hội chính trị -
tức là nhà nước Điều này có thể thấy rõ ràng khi xem xét khái niệm “công dân”
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ VI, chính thể dân chủ đầu tiên xuất hiện ở Chios, và sau đó là ở hàng loạt các đô thị khác Aten là đỉnh cao của sự phát triển dân chủ này Việc hình thành và phát triển chế độ nô lệ trong nông nghiệp, khai mỏ, thủ công nghiệp, thương mại, đã sản sinh ra một tầng lớp công dân tự do – những chủ nhân mới của các nền văn minh đô thị Hy lạp Aten vào thế kỷ thứ V trc.CN có khoảng 30.000 đến 45.000 công dân tự do Trong các cộng đồng đô thị này, có sự phân biệt rõ ràng giữa công dân và những kẻ ngoại đạo (nô lệ và những người ngoại bang đến định cư)
Như vậy, khái niệm công dân là một phát minh chính trị của người Hy Lạp Khái niệm này phản ánh mâu thuẫn căn bản xuất hiện khi con người sống thành xã hội: để có thể tự do, con người phải biết cách mất tự do Những
tự do nào được giữ và những tự do nào cần bỏ là vấn đề nghiên cứu chính của các tư tưởng chính trị nói chung và khái niệm công dân nói riêng
Vào thế kỷ thứ V tr.CN, công dân có nghĩa trước hết được giữ lại một số quyền lợi bất khả xâm phạm của cá nhân như cơ sở tất yếu của hoạt động sống, trong đó có quyền lựa chọn các đại diện của mình vào cơ quan lập pháp, quyền được học tập và rèn luyện thể chất, quyền và nghĩa vụ tham gia bảo vệ
Trang 16nhà nước, một số quyền và nghĩa vụ khác của người tự do Như vậy, công dân
chỉ bao gồm một tầng lớp nhất định – những người xứng đáng là công dân –
là loại trừ những nô lệ và những tầng lớp “ngoại đạo” khác Công dân chưa bao gồm một sự bình đẳng pháp lý như sau này chủ nghĩa tư bản mang lại Thực tế chính trị của thời kỳ này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy chính trị ở phương Tây Ngay ở thời đó, chính thể dân chủ Aten và các vấn đề
về bình đẳng giữa các công dân, tự do, tôn trọng pháp luật và công lý vẫn luôn là đối tượng phê phán của các nhà tư tưởng Hy lạp cổ đại, đặc biệt là Thucydides (460-399 trc.CN), Platon (427-347 trc.CN) và Aristotle (384-322 trc.CN)
Khái niệm công dân của người Aten bao hàm việc chia sẻ gánh vác công việc chung – tức là tham gia trực tiếp vào trong các vấn đề của nhà nước Nền dân chủ Aten được đặc trưng bởi sự gắn bó với nguyên tắc về phẩm hạnh công dân: sự tận hiến cho quốc gia thành bang và đặt cuộc sống riêng tư xuống hàng thứ yếu so với lợi ích công cộng Tuy nhiên, Pericles cũng chỉ ra rằng, cái công cộng và cái riêng tư đan quyện vào nhau, và bao dung là phẩm chất căn cốt để mọi người có thể hưởng thụ cuộc sống theo lối riêng tư của mình Tuy nhiên, các nhà dân chủ Aten thường cho rằng phẩm hạnh cá nhân cũng chính là phẩm hạnh của một công dân Các cá nhân chỉ có thể tự thỏa mãn mình và sống trong danh dự với tư cách là các công dân và thông qua đời sống công cộng của thành bang; đạo lý và chính trị là hợp nhất trong đời sống chính trị cộng đồng Trật tự chính trị được xem như là một công cụ để qua đó bản chất công dân được biểu đạt và hiện thực hóa Sau này quan điểm của Nicolo Machiavelli (1469-1527) và Thomas Hobbes (1588-1679)… Về sự phân định rõ ràng giữa nhà nước và xã hội, giữa quan chức và công dân, nhân dân và chính quyền là một quan điểm không phải khởi nguồn từ triết học chính trị của Aten cổ đại
Trang 17Trong quan điểm của Aristotle, công dân và nhà nước, tức xã hội của các công dân, cũng như gia đình, là các thực thể tự nhiên “Con người là một động vật chính trị” có hàm nghĩa rằng nếu không sống thành xã hội, không có nhà nước, con người sẽ không còn là con người theo đúng nghĩa Cái phi công dân (I’incivique) cái phi chính trị (apolitique) sẽ là phi nhân tính Trạng thái
tự nhiên là trạng thái chính trị Vì một cách tự nhiên con người có ý thức bản năng về điều tốt và điều xấu, về công bằng và bất công
Aristotle định nghĩa mục đích của cá nhân là quan hệ giữa anh ta với thành bang Việc thực hiện đúng bổn phận của công dân quyết định phẩm hạnh công dân của các cá nhân Ông xuất phát từ hai đặc tính tự nhiên của con người là suy lý (logos) và hợp tác (praxis) làm khởi điểm để hiểu khái niệm công dân và nhà nước cũng như hệ thống lập luận của ông về hình thức nhà nước, tổ chức xã hội… để đạt được sự hoàn thiện tự nhiên
Như vậy, theo quan niệm của Platon và Aristotle, nhà nước là một chính thể đạo đức và lý tính hoàn hảo, cá nhân và công dân là một thể thống nhất XHDS chính là xã hội chính trị, là sự kết hợp của các công dân tự do, bình đẳng
Platon đã phân tích và phê phán một trong các nan giải chính của sự bình đẳng giữa các công dân là sự bình đẳng giữa các công dân trong quá trình ra quyết định chung
Việc theo đuổi tự do và bình đẳng chính trị không nhất thiết sẽ đưa đến trật tự, quyền uy và sự ổn định Khi mà các cá nhân được tự do hành động (theo ý thích) và đòi hỏi các quyền bình đẳng bất kể điều đó có phù hợp với khả năng khách quan của họ hay không thì kết quả là: thoạt đầu, xã hội sẽ có
vẻ như là rất hấp dẫn vì tính đa dạng của nó được phát triển tự do; nhưng nếu xét về lâu dài, hậu quả có thể sẽ là sự buông thả của những ham muốn, sự xói mòn về quyền uy chính trị và đạo lý
Trang 18Khi đã trở thành thói quen, trí óc của các công dân sẽ trở nên nhạy cảm đến mức họ coi mọi chế độ xã hội đều khiên cưỡng, không thể chấp nhận được, và cuối cùng… trong họ không còn người thầy và pháp luật nào tồn tại nữa
Tình trạng này dẫn tới sự bất ổn về chính trị - xã hội triền miên do những tham vọng và ham muốn không thể kiềm chế Sự xung đột giàu nghèo sẽ trở nên nghiêm trọng và sự tan rã là tất yếu sự ủng hộ của số đông sẽ là cách chắc chắn nhất để chinh phục mọi đối thủ Tuy nhiên một bạo chúa – là những người có khả năng về của cải hay vị trí quyền lực - được ủng hộ bởi đa
số thường có thói quen hưởng thụ của chính họ Đối với Platon, chính thể kiểu bạo chúa không phải là giải pháp cho các vấn đề của nền dân chủ Quan điểm của ông rất rõ ràng đó là các vấn đề của thế giới chỉ được giải quyết khi
có các nhà thông thái nắm quyền cai trị chứ không phải các bạo chúa, vì họ là những người được được giáo dục và đào tạo toàn diện, là người có khả năng
làm hài hoà mọi yếu tố của cuộc sống theo quy luật của sự thông thái Tiếp
bước Socrates, Platon tin tưởng rằng phẩm chất hàng đầu của con người là tri thức, nguyên tắc cai trị phải là nguyên tắc của sự chuyên quyền thông thái -
sự chuyên quyền đã được khai sáng Theo đó, các nhà thông thái có trọng trách khám phá ra sự phân công lao động mà ở đó các cá nhân có thể thấy được vai trò thích hợp của mình
Như vậy, tự do hay bình đẳng là hai đặc trưng quan trọng của cộng đồng các công dân, của XHDS hiện đại, lại chứa đựng những nhược điểm nội tại căn bản, những mầm mống của sự tự huỷ hoại Đây cũng chính là vấn đề căn bản của XHDS hiện tại mà sự giải quyết chúng là vấn đề chính yếu nhất và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất
Thời kỳ Trung đại trong lịch sử phương Tây được đánh dấu bởi sự diệt vong của đế quốc Tây La Mã vào năm 476 và sự chấm dứt hoạt động của
Trang 19trường phái Platon ở Aten vào năm 529 Các vương quốc mới thành lập trên đất của Tây La Mã không tiếp tục duy trì chế độ chiếm hữu nô lệ mà đi vào con đường phong kiến hoá Thời kỳ này tồn tại cho đến khi xuất hiện hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV-XVI)
Ở thời kỳ này cũng chưa có sự tách biệt giữa XHDS và nhà nước Nhà nước chỉ có thể chấp nhận được nếu không được vây kín bởi con người, với
tư cách là một tín đồ Cơ đốc giáo Đối với tín đồ Cơ đốc giáo, sự tồn tại cá nhân chỉ là tạm thời, chính trị trở thành thứ yếu Sự thờ ơ về chính trị là cái
mà cuộc cách mạng Cơ đốc giáo mang lại cho các thể chế Nhà thờ, với tư cách là cộng đồng tinh thần và đạo đức được tổ chức, có một thiên mệnh rộng hơn nhà nước, lãnh đạo tất cả nhân loại Các cha cố làm cho người ta tin rằng nếu con người là đạo đức thì không cần đến nhà nước
Một tác giả khác thời kỳ này là Saint Anguxtin, một nhà triết học nổi tiếng cho rằng con người không có trong mình bất cứ quyền uy nào đối với những người khác Mọi người đều bình đẳng, tự do, đều do Thượng đế tạo ra,
có riêng một linh hồn Con người liên kết lại với nhau theo một trật tự chung
để sống hòa bình và chống lại những nguy hiểm bên ngoài
Thượng đế tạo ra con người theo kiểu xã hội công dân và do đó quyền uy
là cần thiết đối với nó vì con người cần xã hội và xã hội cần quyền uy Tuy nhiên uy quyền sẽ rất đáng sợ nếu tách rời khỏi công bằng Sự thiếu công bằng làm lạc đường quyền lực và quyền lực sai lạc là quyền lực tự đánh mất mình
Tuy nhiên, đây là một quan hệ hai chiều Một mặt, cần phải giữ cho quyền lực đi đúng hướng nhưng đồng thời phải phân biệt những lợi ích thật
sự của nhà nước và thỏa mãn nó
Như vậy, cương lĩnh của Saint Anguxtin nằm trong bộ ba: trật tự, đoàn kết, hòa bình; trật tự giành được bằng đoàn kết, đoàn kết được thực hiện bằng hòa bình
Trang 20Thomas Aquinate lại liên hệ chặt chẽ giữa các thể chế xã hội, của tư hữu, của chế độ nô lệ, gia đình gia trưởng – tất cả các thể chế được thiết lập theo luật tự nhiên - với những thể chế đạo đức Cơ đốc Chính việc biến cơ đốc giáo thành tôn giáo của giai cấp thống trị sau này đã dẫn đến sự suy thoái tinh thần dân chủ Ông cho rằng xã hội chính trị là tự nhiên với con người vì con người, bản chất là động vật công dân, động vật chính trị Xã hội công dân do
đó không phải là sự thuần túy bản năng Con người tham gia vào đó vì hướng
về đời sống xã hội được chấp nhận và điều chỉnh bởi lý trí
Bằng khế ước, sự đồng tình xã hội được đem lại dần dần tùy theo sự trưởng thành của người dân Sự đồng tình xã hội được đem lại trong một hành động tự nguyện và công khai
1.1.2 Thời kỳ cận hiện đại
Thời kỳ này được đánh dấu bởi sự ra đời của các quốc gia tư bản chủ nghĩa và cuộc chạy đua giành giật thị trường thế giới đã thúc đẩy việc sản xuất tăng nhanh về năng suất và chất lượng Cách mạng tư sản thắng lợi cùng với sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo tiền đề cơ sở vật chất cũng như chính trị cho bước chuyển sang một thời kỳ mới trong lịch sử sản xuất, một nền văn minh mới của nhân loại
Giai đoạn thứ nhất của xã hội công dân thời kỳ này bắt đầu từ thế kỷ XVI-XVII, là giai đoạn hình thành nên các tiền đề chính trị, kinh tế, tư tưởng cho xã hội công dân Đó là sự phát triển công thương nghiệp, chuyên môn hóa các loại hình sản xuất, đẩy mạnh phân công lao động và các quan hệ KTTT Cách mạng tư sản Anh bắt đầu xóa bỏ chế độ xã hội phong kiến, chuyển thành xã hội công dân mà cốt lõi của nó là sự bình đẳng về mặt pháp lý
Giai đoạn thứ hai diễn ra từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỳ XIX Nhiều nước tư bản phát triển đã hình thành xong trật tự của xã hội công dân
mà cơ sở phổ quát nhất của nó là tự do, bình đẳng pháp lý phổ biến và quyền
tự do kinh doanh, coi trọng sáng kiến cá nhân Có thể coi sự ghi nhận của
Trang 21pháp luật về sự bình đẳng pháp lý cho mọi người với tư cách là chủ thể độc lập của các quyền và tự do là dấu hiệu chính yếu và là nền tảng của xã hội công dân về mặt lý luận
Nhưng ý thức XHDS thực sự có bước phát triển mạnh mẽ với những nội dung sâu sắc hơn được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng xuất sắc ở thế kỷ XVI như Rodin (Pháp), Hobbes (Anh), Spinoza (Hà Lan) v.v
Họ bắt đầu đưa ra sự phân biệt giữa xã hội và nhà nước, phản ảnh sự trỗi dậy của các cá nhân ở các đô thị vào buổi đầu hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Rodin, một học giả người Pháp vào thời xảy ra các cuộc chiến tranh tôn giáo, đã đưa ra nguyên lý về tính tối thượng của nhà nước Theo ông, nhà nước có quyền tối thượng đối với tất cả các thành viên xã hội và tất
cả những gì thuộc về nó Nhà nước chỉ hình thành khi những thành viên tản mạn của xã hội thống nhất lại dưới một quyền lực thống nhất Hobbes, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, cho rằng nhà nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái đó bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội XHDS nảy sinh trên
cơ sở thỏa thuận ấy được coi là đồng nghĩa với nhà nước và luật pháp do nhà nước đặt ra
Đến thế kỷ XVIII, Rousseau, một trong những nhà Khai sáng xuất sắc nhất, đã phát triển quan điểm của Hobbes Đối với ông, con người vì mất đi
sự tự do tự nhiên của mình và cũng vì sợ mất đi cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một khế ước xã hội Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do như trước đây
Hobbes, Locke, Rousseau, Montesquieu đều có chung quan điểm là tự do
cá nhân của con người độc lập với nhà nước Chẳng hạn, theo Locke, xã hội
có trước nhà nước, nó tồn tại một cách “tự nhiên”, còn nhà nước là một “vật
mới” Nếu nhà nước vì một lý do nào đó bị xóa bỏ đi thì xã hội vẫn được duy
Trang 22trì bằng tất cả các luật và quyền tự nhiên của nó Người dân hợp thành xã hội,
nó là tối thượng và khi thiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang nhà nước nhưng nhà nước không thể nuốt mất xã hội Hơn thế nữa, mục đích chủ yếu của nhà nước là bảo vệ xã hội Do đó, nhà nước không thể thay thế được xã hội, chính là nhờ có xã hội mà nhà nước có thể hoạt động được
Cả Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau đều cho rằng dân chủ chỉ
có thể nảy nở trên một sự thỏa thuận mang tính khế ước giữa công dân và nhà nước, về việc hạn chế và phân chia quyền lực nhà nước để quyền lực ấy thực chất thuộc về nhân dân Chừng nào, sự thỏa thuận ấy bị phá vỡ, chừng ấy nhân dân có quyền xác lập một khế ước mới bằng nhiều cách khác nhau, và
đó cũng hoàn toàn là quyền tự nhiên của con người
Mở đầu Khế ước xã hội, Rousseau đã phải thốt lên đau đớn rằng, “con
người sinh ra là tự do, vậy mà ở khắp nơi, con người lại bị cùm kẹp” Do vậy, cách tốt nhất để lấy lại sự tự do như là quyền tự nhiên của con người đó chính
là việc cần phải tổ chức thiết chế xã hội sao cho quyền tự nhiên ấy không bị xâm phạm và tước đi một cách tùy tiện từ phía nhà nước và bộ máy công quyền
Đối với Hobbes và Rousseau đó là sự thỏa thuận bằng khế ước xã hội, đối với Locke và Montesquieu, đó là sự phân chia quyền lực nhà nước một cách độc lập và chế ước lẫn nhau Do đó, dân chủ gắn liền với NNPQ và xã hội công dân Nền dân chủ không thể sản sinh trong một xã hội mà ở đó nguyên tắc cai trị do các cá nhân tùy tiện và thao túng Trái lại, dân chủ là kết quả trong một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc luật pháp và phân chia quyền lực, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ của các thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực lượng xã hội đối trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế chính trị và nhà nước trong việc thực thi dân chủ
Trang 23Xã hội càng phát triển, sự tách biệt giữa Nhà nước và XHDS càng rõ nét Trước Hê-ghen, người ta chủ yếu coi Nhà nước và XHDS là tương đồng nhau
và phân biệt giữa Nhà nước và XHDS một bên, với trạng thái tự nhiên một bên Đến Hê-ghen, ông đã làm sáng tỏ quan điểm lịch sử về XHDS, và quan điểm về NNPQ trong mối liên hệ với XHDS và xã hội chính trị
Dựa trên cơ sở hệ thống hóa toàn bộ tư tưởng chính trị - xã hội của Tây
Âu thời kỳ khai sáng, Hê-ghen cho rằng: XHDS là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình vận động từ gia đình tới Nhà nước XHDS sẽ chưa trở thành
“XHDS” khi nó chưa được quản lý về phương diện chính trị dưới sự giám sát của nhà nước Chỉ có quyền lực tối cao là nhà nước lập hiến, và chỉ khi thừa nhận và duy trì ở địa vị lệ thuộc nhà nước thì XHDS mới đảm bảo phát triển
tự do; vì nhà nước là hình thức chân chính của ý niệm tuyệt đối, của lý trí khách quan
XHDS, theo Hê-ghen bao gồm nền KTTT, các cá nhân, nhóm xã hội, các giai cấp - xã hội, nghiệp đoàn, hiệp hội tự nguyện, trường học, bệnh viện, tổ chức của giới tri thức v.v và các thể chế vận hành chúng Với tính cách là
“một hệ thống nhu cầu” dựa trên chế độ tư hữu, sự tác động qua lại của các yếu
tố của XHDS được điều tiết bởi quyền công dân; và tự bản thân chúng tuy không phụ thuộc vào NNPQ nhưng lại lệ thuộc vào cộng đồng lớn hơn, phức tạp hơn - đó là cộng đồng được tổ chức về phương diện chính trị hay xã hội chính trị
Như vậy, theo Hê-ghen, XHDS là NNPQ hợp thành xã hội chính trị; trong đó XHDS tuy tồn tại song song (hay bên cạnh) Nhà nước và tách khỏi NNPQ nhưng vẫn ở địa vị lệ thuộc NNPQ Quan niệm của ông về sự bảo hiểm lý tính của Nhà nước đối với XHDS đã gây ra không ít tranh luận khoa học
Trang 241.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về XHDS
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng Rousseau cho rằng, sự xuất hiện của XHDS là dấu hiệu con người đã vĩnh viễn bước ra khỏi trạng thái tự nhiên, C Mác
(1818-1883) và Ph Ăng-ghen (1820-1895) trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức đã
xác định: XHDS là thành tựu vĩ đại của loài người, là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên trong lịch sử đem lại cho mọi thành viên xã hội một quy chế chính trị ngang nhau Cũng như G Hê-ghen, các ông cho rằng, XHDS là một hiện tượng lịch sử, chứ không phải trạng thái tự nhiên có sẵn Theo C Mác, XHDS, theo đúng nghĩa của nó, được sinh ra từ xã hội tư sản Nó được hình thành bởi những định chế lịch sử - xã hội, bởi những hình thức quan hệ sản xuất đặc biệt, bởi những hình thức quan hệ và đấu tranh giai cấp và được bảo vệ bởi những
cơ chế chính trị - pháp lý tương ứng Thêm vào đó, bản thân XHDS không thể tồn tại vĩnh viễn; vì nó tạo ra giai cấp vô sản - người đào mồ chôn xã hội tư sản
và chôn luôn XHDS tư sản
Vấn đề XHDS được C Mác bàn đến lần đầu tiên trong bản thảo Góp
phần phê phán triết học pháp quyền Hê-ghen vào năm 1843 Bản thảo này đã
phê phán các tiết 261 đến 313 trong tác phẩm của Hê-ghen Những nguyên lý
của triết học pháp quyền Theo C Mác, không phải nhà nước được Hê-ghen
mô tả như là “đỉnh của toàn bộ ngôi nhà”, mà ngược lại, XHDS bị Hê-ghen rất coi thường, mới là lĩnh vực người ta phải đi vào, để tìm ra chiếc chìa khóa, qua đó hiểu được quá trình phát triển lịch sử của loài người
Đến năm 1844, trong tác phẩm Gia đình thần thánh, C Mác và
Ph.Ăng-ghen đã phân tích sâu sắc mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và XHDS để hình thành cơ sở đề xuất học thuyết về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Hai ông nhận định: Giống như cơ sở tự nhiên của nhà nước cổ đại là chế độ
nô lệ, cơ sở tự nhiên của nhà nước hiện đại là xã hội thị dân
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845-1846), C.Mác và Ph.Ăng-ghen
đã sử dụng khái niệm “Xã hội công dân” (XHDS) để chỉ toàn bộ các quan hệ
Trang 25giao tiếp vật chất của cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của phương thức sản xuất, trong đó đặc biệt phải kể đến quan hệ giao tiếp trong quan hệ sản xuất; và đóng vai trò là cơ sở của toàn bộ lịch sử (sinh hoạt nhà nước, sản phẩm lý luận, mọi hình thái ý thức v.v hay của nhà nước và kiến trúc thượng tầng tư tưởng) Về đối ngoại, nó thể hiện ra như một dân tộc, còn
về đối nội, nó vẫn phải tự tổ chức thành một nhà nước Và trong tác phẩm về
Lịch sử Liên đoàn những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng
định: “Không phải Nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định và quyết định Nhà nước”
C Mác và Ph Ăng-ghen khẳng định rằng, trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị, tư tưởng của thời đại ấy Trong thư gửi P.W An-nen-cốp (28-12-1846), C.Mác cho rằng, khi xét một trình độ phát triển nhất định của sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, sẽ thấy một xã hội công dân nhất định với tính cách là tổng thể của chế độ xã hội nhất định, của một hình thức tổ chức nhất định của gia đình, của các đẳng cấp
và giai cấp Và chế độ chính trị chỉ là thể hiện chính thức của xã hội công dân Như vậy cả C Mác và Ph Ăng-ghen đều cho rằng, xã hội công dân (hay XHDS) theo đúng nghĩa của nó là do sản xuất KTTT tư bản chủ nghĩa mà ra
Cả hai cái đó cấu thành cơ sở của chế độ nhà nước tư sản và kiến trúc thượng tầng tư tưởng tư sản Xã hội công dân chế định và quyết định Nhà nước tư sản, nhà nước tư sản chỉ là biểu hiện của xã hội, chứ không chế định được xã hội công dân như Hê-ghen lầm tưởng Sự phát triển của XHDS diễn ra phù hợp với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội: Tương ứng với xã hội cộng sản nguyên thủy là xã hội cộng đồng với tính dân sự tự phát Cùng với
sự xuất hiện nhà nước, thì nhà nước là biểu hiện chính thức của XHDS, nhưng XHDS lại bị phụ thuộc vào nhà nước; mức độ phụ thuộc này giảm dần theo sự phát triển của xã hội Trong các xã hội có mâu thuẫn đối kháng giai
Trang 26cấp, thì quan hệ giữa nhà nước và XHDS được từng bước thể chế hóa bằng luật pháp, tuy nhiên, sự thể chế hóa này còn tùy thuộc vào lợi ích của giai cấp cầm quyền Dưới chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa nhà nước và XHDS từng bước trở nên hài hòa trên cơ sở khắc phục sự đối kháng và phân hóa giai cấp, để cuối cùng hình thành XHDS tự giác - hay xã hội loài người được xã hội hóa sâu sắc cùng với sự tiêu vong của nhà nước và sự phát triển của các
“cộng đồng lao động tự do” (Ph Ăng-ghen) dưới chủ nghĩa cộng sản
Với sự phát triển của XHDS, theo C Mác, những quan hệ pháp luật thay đổi và có một hình thức văn minh Người ta không còn coi những quan hệ đó là những quan hệ cá nhân, mà là những quan hệ chung: xã hội công dân là lĩnh vực của những quan hệ kinh tế, là yếu tố quyết định nhà nước Và con người với tư cách là thành viên của xã hội công dân có ý nghĩa là con người theo đúng nghĩa của nó Bởi lẽ, như C Mác viết trong tác phẩm Về vấn đề Do Thái, giải phóng chính trị là quy con người, một mặt, thành thành viên của xã hội công dân, thành
cá nhân vị kỷ, độc lập; và mặt khác, thành công dân của nhà nước, thành pháp nhân
Chính nhu cầu thực tiễn và chủ nghĩa vị kỷ là nguyên tắc của xã hội công dân; xã hội công dân đẻ ra Nhà nước chính trị từ trong lòng bản thân nó NNPQ là biểu hiện chính thức của xã hội công dân; mối quan hệ qua lại giữa những cá nhân độc lập của xã hội công dân được biểu thị trong pháp luật Cách mạng xã hội chủ nghĩa như C Mác nhấn mạnh, quan hệ với XHDS, như là quan hệ với cơ sở xã hội - văn hóa của nó, nhằm từng bước giải phóng chính trị Việc phân chia giữa NNPQ với XHDS là để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện quyền công dân và quyền con người, nhằm từng bước hình thành XHDS mang tính tự giác của các “cộng đồng lao động tự do” dưới chủ nghĩa cộng sản
Để tiếp cận đúng XHDS (hay xã hội công dân), C Mác đòi hỏi trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc, phải xuất phát từ “quan điểm của chủ nghĩa duy
Trang 27vật mới là xã hội loài người, hay loài người xã hội hóa” và phải vượt qua quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ là xã hội “công dân” C.Mác yêu cầu phải khắc phục quan điểm xã hội công dân tư sản chỉ nhấn mạnh mối liên hệ của những con người thị dân, tức là những con người “độc lập” thông qua cái nút lợi ích tư nhân và tính tất yếu tự nhiên vô ý thức của những cá nhân nô lệ cho doanh nghiệp, nô lệ cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác Theo tinh thần này, có thể hiểu, dưới chủ nghĩa xã hội, kể cả trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng cần phải xây dựng XHDS là xã hội của những con người tự chủ, giàu tính người, đoàn kết thúc đẩy phát triển và thực hành quyền lợi cộng đồng, chứ không phải những con người cá nhân vị kỷ, nô
lệ cho KTTT, nô lệ cho nhu cầu hám lợi của mình và của người khác
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về XHDS đến nay vẫn còn giá trị phương pháp luận mang tính nền tảng cho những nghiên cứu cụ thể tiếp theo Trước hết, XHDS đó là lĩnh vực quan hệ giữa con người với con người, lĩnh vực thứ hai so với lĩnh vực quan hệ giữa con người với tự nhiên Đây là lĩnh vực mà con người khẳng định tính “loài”của mình khác với các “loài” khác Đồng thời, qua các mối quan hệ này, C.Mác khẳng định, quần chúng nhân dân là những người làm nên lịch sử, quyết định sự tiến bộ của lịch sử C.Mác khi phân tích những điều kiện ra đời của XHDS, đã khẳng định XHDS là một lĩnh vực tồn tại độc lập với nhà nước (lĩnh vực phi chính trị), và đó là sản phẩm của văn minh chính trị Giá trị phương pháp luận của kết luận này là ở chỗ, trong một chế độ chính trị cần nhận thức rõ vai trò của lĩnh vực tư nhân, riêng tư, lĩnh vực mà người công dân sau khi đã ủy quyền để tạo nên nhà nước, thì được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Đây là môi trường sáng tạo và lưu giữ những kỹ năng sản xuất và tổ chức đời sống xã hội dưới dạng văn hóa Vì vậy, càng chính trị hóa, nhà nước hóa đời sống xã hội thì càng mất dân chủ, hạn chế tự do của XHDS, triệt tiêu động lực phát triển
xã hội
Trang 28C.Mác là người kế thừa có chọn lọc khá thành công tư tưởng của các nhà
tư tưởng trước đó để hình thành nên lý luận về XHDS Ông đã thiết lập lại quan hệ giữa nhà nước và XHDS, theo đó XHDS là cơ sở của nhà nước và luôn là như vậy cho đến khi nhà nước tiêu vong, XHDS sẽ tiếp nhận chức năng quản lý xã hội Khi con người cá nhân và con người xã hội hòa vào làm một, khi lý trí và đạo đức đi cùng một hướng, XHDS sẽ đạt đến độ phát triển hoàn thiện để đảm nhận chức năng quản lý xã hội Những lý luận này đã mở
ra một thời kỳ mới cho XHDS trong đời sống chính trị - xã hội với cách tiếp cận duy vật lịch sử và nỗ lực hiện thực hóa mô hình XHDS
Ngày nay, chúng ta đang xây dựng NNPQ, nhà nước ấy theo quan điểm duy vật của Mác, là một hình thức sinh hoạt, một hình thức tồn tại của XHDS, nghĩa là phải xây dựng trên nền tảng của XHDS Muốn có một NNPQ vững mạnh, trước hết phải có một XHDS vững mạnh
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về XHDS
Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đưa ra khái niệm XHDS, song trên thực tế theo các quan niệm phổ biến quốc tế, XHDS thực chất không phải là một thực tế xã hội xa lạ đối với Việt Nam Ngay từ xa xưa tính cộng đồng, làng xã, tình làng nghĩa xóm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau đã mang đặc trưng rõ nét của truyền thống giá trị văn hóa, niềm tin, tính cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm vì các công việc chung Đó là những giá trị cơ bản của XHDS đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta
Lịch sử cận đại của Việt Nam đầu thế kỷ 20, mang nhiều dấu ấn của các phong trào quần chúng, và các CSO tham gia giải phóng dân tộc Chẳng hạn cuối tháng 4 năm 1904, Hội Duy Tân được thành lập với mục đích “Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả” Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên xuất dương sang Nhật học tập và cầu vận
Trang 29Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện Phong trào này là cơ sở để đưa tư tuy cải cách văn hóa giáo dục và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào XHDS Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/06/1919 Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc NNPQ đó là những giá trị nền tảng của XHDS
Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của XHDS trong công cuộc giải phóng đất nước Thời kỳ 1936 – 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ Các
tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường đi săn, hội hát kịch…
Ngay Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và các Hiến pháp 1959, 1980 và
1992 đều thừa nhận: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền thông tin, có quyền hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật” Nhà nước ban hành sắc lệnh quyền lập hội (số 103SL/004 ngày 27/5/1957)
Nghị quyết 8B-NQ/ Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản khóa VI đã nêu rõ: “Trong giai đoạn mới cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng
Trang 30về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái Các tổ chức này được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật”
Từ năm 1975 đến 1986, hầu hết các CSO chính thức bị hành chính hóa, được bao cấp và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Trong cơ chế này các CSO hầu như mất đi vai trò năng động và tự chủ của mình trong việc huy động các nguồn lực cho xã hội, cũng như đại diện cho lợi ích của các thành phần trong
xã hội Hơn thế các hộ gia đình cũng thiếu đi tính tự chủ và tự do kinh tế và dân sự, cho nên thiếu đi nền tảng để phát triển các CSO như mong đợi
Kể từ 1986, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế theo định hướng thị trường Việt Nam, đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế năng động tăng trưởng cao nhất ở khu vực Đông Nam Á và châu Á Đổi mới kinh tế thực chất là tự do hóa các hoạt động kinh tế của khu vực ngoài Nhà nước phát triển, bên cạnh đó khu vực quản lý Nhà nước được cải cách một bước, làm giảm sự can thiệp của Nhà nước và tăng quyền tự do kinh
tế và dân sự công dân
Nghị quyết Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định: “Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, văn hóa, hữu nghị, từ thiện, nhân đạo” và
“hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân” Những tổ chức này được Nhà nước ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ, cung ứng một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng Thông qua đó Nhà nước có thể tập trung sức lực để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng hơn
Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010, đã bắt đầu khuyến khích sự tham dự của người dân trong mọi mặt đời sống kinh tế chính trị và xã hội Khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm
Trang 31và dân kiểm tra” đã dần dần có tác động đến hệ thống kinh tế chính trị xã hội
ở từng cấp độ khác nhau Các cơ hội cho người dân thông qua các CSO, tham gia cung cấp dịch vụ công và phản biện chính sách dần dần được mở ra Cụ thể là:
Nghị định dân chủ ở cơ sở năm 2003 đã cho phép nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, dưới sự giám sát của nhân dân chặt chẽ hơn trong các hoạt động của mình Luật hợp tác xã đã thừa nhận hợp tác xã như một tổ chức
tự nguyện hoạt động độc lập vì mục tiêu kinh tế xã hội, phục vụ trực tiếp cho lợi ích của xã viên Nghị định 177, và gần đây là Nghị định 148 đã tạo điều kiện pháp lý ban đầu để hình thành nên các quỹ xã hội và nhân đạo Nghị định 88/2003 là cơ sở để thành lập các hội, thừa nhận vai trò và chức năng nhiệm vụ cũng như quyền lập hội
Yêu sách của Hồ Chí Minh tại Hội nghị Hòa Bình Versailles năm 1919: Điều 3: Tự do báo chí
Điều 4: Tự do hội họp
Điều 5: Tự do đi lại (xuất nhập cảnh), tự do cư trú
Điều 6: Tự do giáo dục, và được lập trường kỹ thuật, trường chuyên nghiệp tại các tỉnh cho dân bản xứ
Điều 7: Đòi thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật Điều 8: Đòi có đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ cử ra tại Nghị viện Pháp
Nhà nước bước đầu đã hỗ trợ kinh phí cho hội hoạt động có nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước (quyết định 21/2003/QĐ-TTG ngày 29/1/2003) Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo điều kiện cho hội nhận tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (QĐ 64/2001/QĐ-TTG ngày 26/4/2001) và ban hành cơ chế tạo điều kiện cho hội tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội (QĐ22/QĐ-TTG ngày 30/1/2002)
Trang 32Tuy vậy, trên thực tế việc đăng ký và hoạt động của các CSO ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các quan hệ cá nhân và am hiểu về hệ thống pháp lý có liên quan đến các CSO ở Việt Nam, cho nên việc đăng ký và hoạt động gặp rất nhiều khó khăn Nhiều văn bản pháp lý hạn chế sự tham gia của các CSO trong việc cung cấp dịch vụ công, và phản biện chính sách Bên cạnh đó, cấu trúc tổ chức của nhiều tổ chức còn chưa minh bạch theo các tiêu chuẩn quốc tế, dựa trên các quan hệ gia đình, niềm tin và tính trách nhiệm với
xã hội còn hạn chế Việc dựa vào các trợ giúp của gia đình trong giai đoạn đầu của phát triển các CSO là quan trọng trong điều kiện thiếu các nguồn lực tài chính và nhân lực trong giai đoạn đầu Nhưng sau đó, các mô hình này chưa minh bạch và hiệu quả như mô hình các tổ chức CSO hiện đại Một số các CSO hoạt động luôn phụ thuộc vào nhà tài trợ nước ngoài, cản trở việc theo đuổi các nguyên lý và tầm nhìn của tổ chức
XHDS là một phần không thể tách rời của nền KTTT lành mạnh và của Nhà nước dân chủ, được quản trị tốt với ba vai trò cơ bản về kinh tế, xã hội và chính trị Tuy nhiên, XHDS cũng khác với Đảng phái chính trị trong việc không tham gia tranh chấp quyền lực Bên cạnh đó cũng phải thừa nhận rằng hiện nay trên thế giới quan niệm cánh tả và trường phái tự do về XHDS tương đối khác nhau Trong khi trường phái tự do hướng tới vai trò bảo vệ dân chủ
và tự do cá nhân, giảm dần vai trò của Nhà nước thông qua cung cấp dịch vụ công, thì trường phái cánh tả hướng tới việc thông qua XHDS để đấu tranh tư tưởng và giai cấp Tuy nhiên cho dù cách hiểu nào, thì các tính chất tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và vai trò của XHDS được thế giới và Liên Hiệp Quốc thừa nhận Ở Việt Nam, về mặt khái niệm là chưa rõ, nhưng xét đến lịch sử về vai trò của XHDS là rất rõ ràng, và hiện tại Việt Nam đang chuyển đổi theo hướng mà hầu hết các quốc gia dân chủ trên thế giới thừa nhận
Trang 331.4 Các khái niệm về XHDS
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm XHDS, bởi thoạt đầu, XHDS được hình thành từ những nhóm, cộng đồng có chung nhu cầu, sở thích, giới tính, chính kiến, nghề nghiệp… Như vậy, XHDS đã có từ xa xưa, khi mà con người biết tập hợp nhau lại thành những tổ chức kiểu phường hội, nguồn gốc, khởi thủy của XHDS có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng từ thời nô
lệ, từ khi có nhà nước là đã có sự hình thành nhóm đối tác hoặc đối trọng dù là
tự phát manh mún, cũng có ý kiến cho rằng XHDS chỉ hình thành từ thời kỳ phong kiến, năm kiểu gia tộc, liên gia phường hội buôn bán hoặc giao lưu văn hóa hội hè
Người ta nói nhiều đến XHDS trong thời gần đây là sản phẩm thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa với các quan hệ dân sự như là một đối tác, đối trọng với NNPQ XHDS được hiểu ban đầu là đồng nhất với xã hội công dân
Vì từ nguồn gốc tiếng Pháp là société civil, tiếng Nga là Grazdanskoe obchtsestvo, tiếng Anh là civil society, do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Trong quá trình dịch chuyển ngôn ngữ, có người dùng là XHDS, có người hiểu là xã hội công dân
Khái niệm xã hội công dân thường được hiểu là một chính thể, quốc gia được hình thành từ nhiều loại công dân: thường dân, chính dân, thứ dân, lương dân hoặc dị dân, kiều dân… Khái niệm xã hội công dân được hiểu một cách khác là để phân biệt với xã hội thần dân (civil people) Như vậy xã hội công dân nghiêng về cấu trúc (structure) kết cấu trong hệ thống xã hội, còn XHDS thì được hiểu thêm cả chức năng (function) và mối quan hệ trong hệ thống
Theo Bách khoa thư mở: XHDS được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung XHDS là một xã hội mà ở đó người dân biết tự lo lấy cho mình rất
Trang 34nhiều chuyện, biết tự tổ chức lại để phát huy năng lực sáng tạo, hiện thực hóa các ý tưởng để tương tác với nhà nước nhằm đạt tới một nền quản trị quốc gia minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm[43]
Theo Liên minh thế giới về sự tham gia của người dân, XHDS được định
nghĩa là: Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung[17]
Với định nghĩa này, khái niệm XHDS đã thể hiện được những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, XHDS được coi là một “diễn đàn”, một không gian nơi mà
mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây ảnh hưởng với xã hội lớn hơn
Thứ hai, giữa XHDS và thị trường (hiểu theo nghĩa là tổ chức kinh tế),
nhà nước và gia đình có một ranh giới, một bên là tự quản, phi lợi nhuận; một bên là kinh doanh vì lợi nhuận và bên kia là tổ chức quyền lực nhà nước, quản
lý bằng pháp luật và các công cụ cưỡng chế
Thứ ba, chức năng và mục tiêu của XHDS vì lợi ích, quyền lợi của cộng
đồng
Theo Viện Những vấn đề phát triển Việt Nam, XHDS là các tổ chức xã
hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài các hoạt động của tổ chức kinh tế (thị trường), nằm ngoài gia đình để liên kết người dân với nhau vì mục đích chung
Thành phần quan trọng nhất của XHDS là các hội, hiệp hội trong dân chúng, trong làng xã, mang tính chất liên kết cộng đồng Theo đó, ở Việt Nam, MTTQ là CSO lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân…), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ…
Mặt khác, có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung XHDS hỗ trợ người dân thực thi pháp luật, đồng thời phản ánh nguyện vọng của người dân Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì XHDS vẫn
Trang 35tuân theo pháp luật, tuân theo quy luật của thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Cường – Giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, XHDS là lĩnh vực của công chúng hay lĩnh vực thứ
ba bao gồm các tổ chức, nhóm hội mạng lưới được nhân dân thiết lập nên, các
tổ chức này mang tính tự nguyện của người dân tồn tại độc lập với nhà nước (có tính phi chính phủ), đồng thời có tính phi lợi nhuận, tự chủ tài chính, lấy
từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ ngoài ngân sách nhà nước[5]
Với định nghĩa này, XHDS được hiểu với những nội dung:
Thứ nhất, XHDS là lĩnh vực của công chúng hay lĩnh vực thứ ba, lĩnh vực
có tính độc lập tương đối, không phải là nhà nước, cũng không phải lĩnh vực KTTT;
Thứ hai, XHDS bao gồm các tổ chức, nhóm hội, mạng lưới được nhân
dân thiết lập nên, các tổ chức này mang tính tự nguyện của người dân tồn tại độc lập với nhà nước (có tính phi chính phủ), đồng thời có tính phi lợi nhuận, tự chủ tài chính;
Thứ ba, tài chính để duy trì cho XHDS hoạt động được huy động từ
nhiều nguồn khác nhau chủ yếu từ ngoài ngân sách nhà nước
Tuy nhiên định nghĩa này không nói lên được chức năng và mục đích của XHDS, vì lợi ích và quyền lực của cộng đồng
Theo GS.TS Đặng Ngọc Dinh - Viện trưởng Viện Những vấn đề phát
triển Việt Nam, XHDS là các tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài
các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình để liên kết người dân với nhau vì mục đích chung…
Theo TS Thang Văn Phúc, trong công trình Vai trò của xã hội công dân
trong tiến trình dân chủ hóa và xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cho rằng, nội dung cốt lõi của nó chính là hệ thống các quan hệ và các tổ chức của công dân và của cộng đồng để hiện thực hóa và củng cố lợi ích của cá
Trang 36nhân, cộng đồng nhằm phối hợp với nhà nước, khắc phục những khiếm khuyết của nhà nước, hoàn thiện nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của nhà nước và xã hội
Với định nghĩa này, khái niệm dân sự bao gồm những nội dung:
Một là, XHDS là hệ thống các quan hệ và các tổ chức của công dân và
của cộng đồng
Thứ hai, mục đích của XHDS là để hiện thực hóa và củng cố lợi ích của
cá nhân và cộng đồng nhằm phối hợp với nhà nước, khắc phục những khiếm khuyết của nhà nước, hoàn thiện nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của nhà nước và xã hội
Tuy nhiên định nghĩa này chưa nói được tính tự chủ, tự quản, tính phi lợi nhuận, “tính thứ ba” của XHDS
Từ tất cả những quan niệm và phân tích trên, có thể xem: XHDS là tổng
thể các quan hệ và các tổ chức, các mạng lưới tổ chức xã hội được hình thành
và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm,
tự trang trải về kinh phí, trong khuôn khổ pháp lý và đạo đức, phối hợp với nhà nước để kiểm soát và hoàn thiện NNPQ, thúc đẩy phát triển kinh tế, từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò của xã hội dân chủ, nhằm duy trì, bảo đảm sự ổn định, cân bằng và phát triển bền vững của nhà nước và của xã hội, hiện thực hóa quyền lợi của mỗi cá nhân và cộng đồng[20]
Trang 37CHƯƠNG 2
XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI
DÂN SỰ VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
2.1 Một vài nét về XHDS ở Việt Nam
XHDS là lĩnh vực hoạt động tập thể tự nguyện nhằm chia sẻ với nhau về mặt lợi ích, giá trị, thông tin… đồng thời, thông qua các tổ chức này nhằm củng cố, bảo vệ và phát triển lợi ích của cộng đồng Cùng với sự phát triển của NNPQ và nền KTTT, XHDS đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng có vai trò, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội
2.1.1 Sự hình thành các CSO ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm XHDS vẫn là một khái niệm mới, được du nhập vào Việt Nam cùng với các khái niệm tự do, bình đẳng… đầu thế kỷ XX và được quan tâm đặc biệt trong vài năm trở lại đây trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên tư tưởng về XHDS, về vai trò của người dân trong xây dựng và củng cố nhà nước đã xuất hiện từ rất sớm, thể hiện trong nhiều câu nói bất hủ của người xưa như: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”,
“Nước lấy dân làm gốc”, “Vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức mạnh của dân quyết định”
XHDS có thể được định nghĩa như lĩnh vực công, đó là những công việc ngoài gia đình và cá nhân vốn được gọi là lĩnh vực tư Ở Việt Nam, có một mối quan hệ rất đặc biệt giữa nước và làng Trong đó, ở một mức độ nhất định, nhà nước không thể thâm nhập vào công việc của làng Làng ở Việt Nam có một độ tự trị tương đối cao và độc lập với nhà nước và các hoạt động trong phạm vi mỗi làng khá dân chủ Một số nhà nghiên cứu cho rằng, làng truyền thống của Việt Nam, xét về tính chất cộng đồng, có thể coi gần như một kiểu tổ chức của XHDS
Trang 38Ở thành thị, các phường, hội tồn tại từ năm 1010, các thành viên trong phường cam kết giúp đỡ nhau trong sản xuất hàng hóa, trợ giúp kĩ thuật hay vốn sản xuất… Họ cũng cam kết giữ những bí quyết làm ăn và giữ một mức giá cả chung thỏa thuận
Trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, một số yếu tố của một XHDS đã xuất hiện mà biểu hiện của nó là sự ra đời của hàng loạt các tổ chức tự quản, tự trị
Tổ chức tiêu biểu nhất là phong trào Cải cách (Duy Tân) do Phan Bội Châu khởi xướng Phan Chu Trinh, một nhà cải cách khác cũng thành lập diễn đàn chống lại những phong tục lỗi thời và khuyến khích các hoạt động từ thiện… Thành viên của phong trào cải cách này bao gồm các trí thức hay các nhà hoạt động xã hội và chủ yếu ở khu vực thành thị Nguồn tài chính chủ yếu là từ sự đóng góp của các thành viên và các gia đình giàu có, những người không muốn chấp nhận chính quyền thực dân Nhưng đây chỉ là các phong trào tự phát của công dân, bất hợp pháp và hoạt động bí mật Mặc dù các phong trào này đã phản ánh nguyện vọng của người dân muốn có tiếng nói riêng trong những vấn đề chính trị - xã hội nhưng đó vẫn chưa phải là XHDS
Sau khi giành độc lập, Việt Nam xây dựng một chế độ chính trị do người dân lao động làm chủ Độc lập dân tộc có thể coi như tiền đề xuất hiện XHDS ở Việt Nam
Hồ Chủ tịch cũng đã từng nói: “ Nhà nước của ta là Nhà nước của dân”,
“Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”, “Vận mệnh quốc gia trong tay nhân dân” Các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước viết “Đảng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội”, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”… Nhân dân được hiểu ở đây bao gồm tất cả các tổ chức quần chúng và mọi người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, kinh tế, nghề nghiệp… nhưng không thể hiện theo cách trực tiếp là những chủ thể “phi nhà nước” mà gắn bó chặt chẽ với Đảng và Nhà nước
Trang 39Quá trình hình thành Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi cách thực dân, phong kiến MTTQ và các đoàn thể nhân dân được ra đời từ sự hiệu triệu, tổ chức của Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng, được sự hỗ trợ to lớn của Nhà nước; tổ chức và hoạt động của chúng gắn chặt với tổ chức của Đảng và Nhà nước Trong quá trình đó, sự hình thành các tổ chức đoàn thể nhân dân mang rõ tính chất tập hợp lực lượng để chống đế quốc và phong kiến, lợi ích của các tầng lớp nhân dân gắn liền với quá trình đấu tranh chính trị và đặc điểm này vẫn còn duy trì cho đến ngày nay Trong điều kiện mới, tuy vẫn giữ được chức năng chính trị, nhưng chức năng xã hội ngày càng mở rộng và phong phú Điều đó cho thấy, thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua đã chứng minh rằng, sự tồn tại của XHDS là một hiện thực khách quan
Tuy nhiên, trước năm 1986, các CSO chủ yếu bao gồm các tổ chức quần chúng, thường được gọi là các tổ chức chính trị - xã hội Đây là những tổ chức được thành lập ra vào những năm 1930, gắn bó mật thiết với Đảng và hoạt động dưới ngọn cờ MTTQ Đầu những năm 1980, có 3 Hiệp hội nghề nghiệp đã được thành lập để thúc đẩy sự giao lưu giữa các cá nhân quan tâm tới các lĩnh vực khoa học, văn hóa và đoàn kết, đó là Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA); Liên hiệp Văn học và nghệ thuật Việt Nam và Liên hiệp các Hiệp hội Hòa bình, Hữu nghị và đoàn kết Việt Nam Đến đầu những năm 1990, việc mở cửa cho các thành phần kinh tế đã tạo điều kiện cho các tổ chức công dân phát triển và khôi phục, mở rộng các tập quán liên quan đến sinh hoạt hàng ngày Bên cạnh các tổ chức chính trị - xã hội xuất hiện các Hiệp hội nghề nghiệp xã hội ở Trung ương và địa phương, các Hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật, các nhóm không chính thức mà sau này bao gồm cả các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Trang 40Các Hiệp hội nghề nghiệp – xã hội hoạt động trên quy mô quốc gia thường gắn với các Liên hiệp, vào những năm 1995, có khoảng 143 Hiệp hội quốc gia được xác định là chuyên ngành trong các lĩnh vực xã hội, chuyên môn và kỹ thuật Một trong những tổ chức lâu đời nhất là Trung tâm đào tạo
và chuyển giao công nghệ VAC thuộc VUSTA Năm 2001, các Hiệp hội hoạt động ở cấp độ quốc gia là 240, năm 2005 con số này đã tăng lên 320 Hiệp hội quốc gia
Dưới tên gọi các tổ chức khoa học và kỹ thuật phi lợi nhuận, nhiều tổ chức kiểu mới đã xuất hiện trong những năm 1990, thường được gọi là các tổ chức
xã hội, các tổ chức theo vấn đề, các tổ chức NGO địa phương và gần đây gọi là các tổ chức NGO Việt Nam Đa số được thành lập giữa năm 1992 đến 2000 và hầu hết các tổ chức này thuộc một nhóm các tổ chức theo khuynh hướng phát triển Một số trung tâm có mục đích tương tự đã được thành lập trong cùng một khuôn khổ pháp lý, các tổ chức này thường nhỏ hơn và ít phức tạp hơn các hiệp hội Các trung tâm địa phương có thể được thành lập tại địa phương có thể được thành lập tại địa phương với sự chấp thuận của chính quyền cấp tỉnh, người đứng ra thành lập trung tâm thường công tác tại một trường đại học, viện nghiên cứu quốc gia hoặc Hiệp hội địa phương hoặc một số cán bộ nhà nước đã nghỉ hưu
Vào giữa thập kỷ 90, các nhóm không chính thức cũng bắt đầu xuất hiện Các nhóm này được chính quyền địa phương biết đến, chấp nhận và thông thường được một tổ chức chính thức bảo trợ như Hội chữ thập đỏ và bao gồm các nhóm như nhóm người cao tuổi, văn hóa, giáo dục, nhóm giúp đỡ trẻ em đường phố hoặc trẻ em tật nguyền… Tại nông thôn người ta cũng kể đến các nhóm quyền lợi như nhóm tín dụng dựa vào tín dụng không chính thức, nhóm thân hữu… Các nhóm không chính thức cũng hoạt động tự quản, có hội viên
và tự bảo đảm tài chính