1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

95 1,9K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay nhằm những mục đích và nhiệm vụ chủ yếu sau: - Phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh để nêu bật được vai trò của ha

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THÚY HẰNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC

- LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA

PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH

VỰC KINH DOANH

6

1.1 Các khái niệm cơ bản 6 1.1.1 Pháp luật và pháp luật kinh doanh 6 1.1.1.1 Khái niệm pháp luật 6 1.1.1.1 Khái niệm pháp luật kinh doanh 6 1.1.2 Đạo đức và đạo đức kinh doanh 7 1.1.2.1 Khái niệm đạo đức 7 1.1.2.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh 8 1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực

thành thói quen đạo đức

19

1.2.2.5 Tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những

nguyên tắc cơ bản của đạo đức

20

Trang 3

Chương 2 SỰ THỂ HIỆN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP

LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC TIỄN PHÁP

LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

23

2.1 Sự cần thiết của việc xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo

đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt

Nam hiện nay

23

2.1.1 Ý nghĩa của việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và pháp

luật trong kinh doanh

23

2.1.2 Mục tiêu xây dựng nền kinh tế lành mạnh vận hành theo cơ

chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

25

2.2 Thực tiễn pháp luật và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở

Việt Nam hiện nay

25

2.2.1 Thực hiện nghĩa vụ thuế 27 2.2.1.1 ‎Khái niệm thuế và ‎ý nghĩa của thuế 27 2.2.1.2 Hiện trạng thực hiện nghĩa vụ thuế của các cơ sở kinh doanh 28 2.2.1.3 Nguyên nhân của hiện tượng trốn lậu thuế ở Việt Nam 31 2.2.2 Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền 33 2.2.2.1 Các khái niệm và ‎ý nghÜa ph©n tÝch 33 2.2.2.2 Một số dẫn chứng về hiện tượng cạnh tranh không lành

mạnh và độc quyền ở Việt Nam hiện nay

35

2.2.2.3 Nguyên nhân của hiện tượng cạnh tranh không lành

mạnh và độc quyền ở Việt Nam hiện nay

Trang 4

2.2.3.1 ‎í nghĩa phân tích 45 2.2.3.2 Thực trạng tuõn thủ phỏp luật và đạo đức kinh doanh

trong việc bảo vệ quyền lợi người tiờu dựng ở Việt Nam hiện nay

45

2.2.3.3 Nguyờn nhõn của hiện tượng người tiờu dựng Việt Nam

chưa thực sự được tụn trọng

48

2.2.4 Bảo vệ người lao động 49

2.2.4.1 ‎í nghĩa phân tích 49 2.2.4.2 Hiện trạng thực hiện phỏp luật lao động của cỏc cơ sở

2.2.5.2 ‎Thực trạng ứng xử đối vỡi môi trường

của các cơ sở kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

60

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG í THỨC VÀ

THểI QUEN TUÂN THỦ PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC

TRONG KINH DOANH Ở VIỆT NAM

62

3.1 Nguyờn nhõn của những hạn chế trong việc thực thi phỏp luật

và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

62

3.1.1 Tõm lý coi thường thương nghiệp và thương nhõn 62

3.1.2 Một nền kinh tế thị trường mới hỡnh thành 63

3.1.3 Đạo đức kinh doanh là một khỏi niệm mới mẻ 64

3.1.4 Hệ thống phỏp luật kinh doanh cũn nhiều điểm hạn chế 64

Trang 5

3.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức và thói quen tuân thủ

pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam

65

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật 65 3.2.2 Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, xây dựng một

nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên

nghiệp và hiện đại

69

3.2.3 Khuyến khích việc cam kết và thực hiện trách nhiệm xã hội

của doanh nghiệp

72

3.2.4 Khơi dậy tinh thần toàn dân kinh doanh vì mục tiêu dân giàu

- nước mạnh

76

3.2.5 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và đạo đức, đặc

biệt là đào tạo các nhà kinh doanh tương lai vừa có đủ đạo

đức vừa có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế

77

3.2.6 Phát huy vai trò của các hiệp hội trong việc khuyến khích

kinh doanh có đạo đức, hợp pháp và nâng cao tính cộng

đồng của doanh nhân Việt Nam

78

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

K‎ý hiệu các chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

- XHCN xã hội chủ nghĩa

- TNHH trách nhiệm hữu hạn

- BHXH bảo hiểm xã hội

- CoC Bộ Quy tắc ứng xử - Code of Conduct

MỞ ĐẦU

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, các quy phạm pháp luật có xu hướng được ban hành nhiều hơn, khiến cho không ít người đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang sống trong một xã hội mà cái gì không được quy định, hành vi nào không được đề

ra khuôn mẫu bắt buộc và không bị răn đe bởi các chế tài thì con người ắt có

xử sự không đúng đắn? Nhưng tại sao pháp luật ngày càng chặt chẽ mà tội phạm lại ngày càng gia tăng, xã hội ngày một phức tạp? Như vậy có phải khi pháp luật lên ngôi cũng có nghĩa là đạo đức đã xuống cấp hay không?

Hãy nhìn vào một trong những lĩnh vực nóng bỏng hiện nay là kinh doanh Tại sao đã qua 20 năm đổi mới theo cơ chế thị trường chúng ta vẫn chưa có một cộng đồng doanh nhân đích thực, chưa hoàn toàn có một cái nhìn thực sự thiện cảm về giới kinh doanh? Tại sao những con người làm nên tâm điểm của định hướng mà chúng ta đang theo đuổi lại vẫn còn bị gọi một cách miệt thị là “con buôn” - một danh từ mà khi sử dụng như tính từ thì nó dùng

để chỉ những ai có bản tính tham lam, trí trá, lật lọng, sẵn sàng vì đồng tiền hay lợi ích cá nhân của mình mà chà đạp lên lợi ích của người khác?

Tuy nhiên, dù đặt ngược vấn đề như thế nào thì khi nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, không ai có thể phủ nhận vai trò của mối quan hệ tương tác giữa pháp luật và đạo đức Xã hội không thể tồn tại một ngày mà thiếu đi sự điều chỉnh của hai loại quy phạm này vì đó là nhu cầu mang tính tất yếu Liên

hệ vào lĩnh vực kinh doanh, chúng ta đều phải thừa nhận một cách khách quan rằng: vượt ra khỏi phạm vi ảnh hưởng tới những chủ thể tham gia trực tiếp trong quan hệ kinh doanh, hành vi vi phạm pháp luật và hành xử trái đạo đức trong kinh doanh còn có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường Và chừng nào pháp luật cùng với đạo đức chưa là tôn chỉ trong hành động của các nhà kinh doanh thì nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng chưa thể phát triển lành mạnh

Trang 8

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

- liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, về mặt lý luận cũng

như qua đánh giá thực tiễn để tìm ra bản chất vai trò của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, tìm ra nguyên nhân vì đâu mà đôi khi vai trò đó lại bị hoài nghi để đưa ra hướng khắc phục là một yêu cầu hết sức bức thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức về mặt lý luận là mảng

đề tài đã được khai thác khá sâu trong một số công trình nghiên cứu, sách tham khảo và trên các diễn đàn, đáng chú ‎ý là:

- Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội có đề tài: “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, do PGS, TS Hoàng Thị Kim Quế chủ nhiệm, Hà Nội, năm

2002

- Cuốn “Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam” của

GS Vũ Khiêu và PGS, TS Thành Duy, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm

2000

Vấn đề pháp luật và đạo đức trong kinh doanh cũng đã được đề cập đến trong không ít tác phẩm chuyên khảo và báo chí Tuy nhiên, cách tiếp cận trong những nghiên cứu đó hoặc chỉ thuần tuý về đạo đức kinh doanh, hoặc chỉ trên một chế định, một lĩnh vực pháp luật cụ thể, chưa có sự phân tích chuyên sâu theo hướng song hành giữa hai nhân tố này về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn các quan hệ kinh doanh một cách hệ thống

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Xuất phát từ tình hình nghiên cứu đề tài như trên, trong Luận án này chúng tôi không đặt nặng vấn đề nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung mà đặt trọng tâm là liên hệ mối quan hệ đó vào lĩnh

Trang 9

vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay nhằm những mục đích và nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh để nêu bật được vai trò của hai yếu tố này và mối quan hệ giữa chúng trong việc điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh cũng như tác động đến hiệu quả kinh doanh

- Phác thảo những nét cơ bản về thực thực tiễn pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của các hiện tượng được phản ánh và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật, tạo dựng thói quen hành xử theo đạo đức cho các chủ thể kinh

doanh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung và trong kinh doanh nói riêng; khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, thực hành đạo đức nói chung và ở lĩnh vực kinh doanh nói riêng trong xã hội Việt

Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…

Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh… được sử dụng để phân tích các số liệu, các ví dụ thực tế trong thực tiễn pháp luật và đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các nhận định và đề xuất các giải pháp để phát huy tính tích cực của mối quan hệ giữa pháp luật

Trang 10

và đạo đức trên thực tế, nâng cao ý thức và thói quen hành xử theo pháp luật

và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở nước ta

6 ‎Ý nghĩa của luận văn

Luận văn được thực hiện trong bối cảnh nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào đời sống kinh tế thế giới Bối cảnh đó đòi hỏi các nhà làm luật, các nhà quản lý và đặc biệt là giới doanh nhân Việt Nam cần có ý thức nghiêm túc hơn, sâu sắc hơn về vai trò của pháp luật và đạo đức trong kinh doanh để nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước và uy tín của giới doanh nhân Việt Nam

Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu cũng như trong thực tiễn hoàn thiện pháp luật và xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, Luận văn

có kết cấu gồm ba chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh

Chương 2 Sự thể hiện của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 Một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH VỰC

KINH DOANH

Trước khi bàn luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đồng thời liên hệ vấn đề đó vào lĩnh vực kinh doanh, chúng tôi muốn khái quát những nội dung cơ bản nhất về các khái niệm này, coi đó là cái gốc đề nhìn nhận một cách tổng thể, rộng hơn, khái quát hơn về tầm điều chỉnh của pháp luật và đạo đức trong các quan hệ xã hội nói chung và trong kinh doanh nói riêng

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Pháp luật và pháp luật kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm pháp luật

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm pháp luật, nhưng một cách chung nhất, trên cơ sở khái quát những thuộc tính và chức năng cơ bản nhất, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự

và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [38, tr 288]

1.1.1.2 Khái niệm pháp luật kinh doanh

Là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật kinh doanh được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh hành

vi của các chủ thể trong quan hệ kinh doanh

Trang 12

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh - quan hệ kinh doanh -

là quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Hoạt động đó, theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm

2005, “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị

trường nhằm mục đích sinh lợi”

Như vậy, kinh doanh là một khái niệm rất rộng Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nhưng kinh doanh không chỉ là “tổ chức mua bán để thu lời" [25,

tr 326] (mua hàng hoá từ người cung cấp và bán lại cho người mua để tìm kiếm giá trị chênh lệch một cách giản đơn) như cách nhiều người quan niệm trước đây mà còn bao gồm một chuỗi các hoạt động từ đầu tư vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng nhà xưởng, tổ chức, quản lý sản xuất, tìm kiếm thị trường, phân phối hàng hoá, cung cấp dịch vụ… Tất nhiên, một nhà kinh doanh có thể thực hiện tất cả các khâu, hoặc một số khâu hay chỉ một khâu trong quá trình đó Nhưng dù ở khâu nào, từ phức tạp nhất đến đơn giản nhất,

từ thu lời nhỏ nhất đến có lãi cao nhất, thì vẫn không thể nhìn nhận nhà kinh doanh như những kẻ ăn trắng mặc trơn, làm giàu trên lưng người khác Thị trường ngày càng tự do, mở rộng với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước, do vậy kinh doanh thực sự là một đấu trường mà các nhà kinh doanh thực sự phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, tài chính cho

sự tồn tại và phát triển của mình

Do các mối quan hệ trong kinh doanh rất đa dạng và phức tạp (quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với nhà nước, quan hệ giữa các thành viên công ty, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động, quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với các nhà cung cấp và các khách hàng, quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với các chủ thể khác trong xã hội, với môi trường…), nên tầm điều chỉnh của pháp luật kinh doanh cũng rất rộng

Trang 13

Hệ thống pháp luật kinh doanh bao gồm: pháp luật về hợp đồng, doanh nghiệp, cạnh tranh, tài chính, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, v.v

1.1.2 Đạo đức và đạo đức kinh doanh

1.1.2.1 Khái niệm đạo đức

Theo nghĩa chiết tự, “đạo” là “một cái đạo l‎ý, một cái lẽ nhất định, là ai cũng phải noi đấy mà theo” [22; tr 614]; “đức” có nghĩa là “cái đạo để lập thân, thiện, làm thiện, cảm hóa đến người…” [22; tr.177] Như vậy, đạo đức

có thể hiểu là cái lẽ về việc thiện, là những chuẩn mực, những quy tắc, những quan niệm hình thành trong xã hội về lẽ sống, về “tốt” - “xấu”, về “thiện” -

“ác”, về lương tâm, về danh dự Đạo đức có phạm vi điều chỉnh rất rộng, ở nhiều mức độ khác nhau và hầu như bao khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.1.2.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh:

“Đạo đức kinh doanh” (business ethics) cũng được xây dựng trên những nền tảng cơ bản của đạo đức nói chung Nó là “tập hợp các nguyên tắc, các chuẩn mực điều chỉnh và kiểm soát hành vi kinh doanh của một cá nhân, một nhóm người hay một nhóm ngành nghề nhất định” [36, tr 9]

Những nguyên tắc nền tảng của đạo đức kinh doanh bao gồm:

- Nguyên tắc rèn luyện tính quan tâm đúng mức;

- Nguyên tắc bí mật;

- Nguyên tắc trung thành với những trách nhiệm đặc biệt;

- Nguyên tắc tránh sự xuất hiện xung đột về quyền lợi;

- Nguyên tắc tự nguyện tuân thủ pháp luật;

- Nguyên tắc hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán;

- Nguyên tắc tôn trọng hạnh phúc của mọi người;

- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác [36, tr 45-46]

Trang 14

Đạo đức trong kinh doanh được nhìn nhận ở tất cả các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp: quan hệ giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa doanh nghiệp với nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ, quan hệ giữa các cổ đông, các thành viên công ty với nhau, quan hệ giữa người sử dụng lao động

và người lao động, cách hành xử của doanh nghiệp đối với môi trường…

Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh cũng có thể hiểu một cách rộng hơn, ngoài các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh thuần túy, thể hiện qua những hành vi tương tự đạo đức hàng ngày của chủ thể kinh doanh với tư cách là một thành viên tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội như: đền ơn đáp nghĩa, làm từ thiện… Nếu những hành động này được thực hiện một cách

tự nguyện, xuất phát từ ý thức trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với xã hội chứ không nhằm mục đích duy nhất là quảng cáo hình ảnh, đánh bóng tên tuổi… thì đó cũng được coi là một hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh

Tuy nhiên, chúng tôi không bàn về đạo đức kinh doanh theo hướng là tất cả các hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh mà chỉ xem xét theo nghĩa hẹp, tức là đạo đức gắn liền với hoạt động kinh doanh

Theo nghĩa này, đạo đức trong kinh doanh có những khác biệt nhất định với đạo đức trong sinh hoạt, ứng xử hàng ngày Bởi lẽ, người kinh doanh luôn phải quan tâm đến các yếu tố: lợi nhuận, thời cơ và thị trường Quá trình tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường cũng giống như phân chia một cái bánh, nếu người này được thêm một phần thì đương nhiên người kia sẽ không có phần

đó Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, còn hoạt động kinh doanh về bản chất không phải là làm từ thiện Không ai kinh doanh mà không quan tâm đến lợi ích của mình trước tiên, kể cả những nhà kinh doanh có đạo đức nhất Những quy tắc đạo đức trong kinh doanh, vì thế, cũng cho phép người ta hành

xử khác với đạo đức trong sinh hoạt thường nhật

Trang 15

Ví dụ: Trong cuộc sống hằng ngày, các quy tắc đạo đức yêu cầu con người phải thật trung thực, thậm chí hi sinh lợi ích bản thân nếu như việc đạt được lợi ích đó sẽ gây tổn hại - dù ít, dù nhiều - đến chủ thể khác Trong kinh doanh lại không hẳn như vậy Chẳng hạn, khi tham gia một thương vụ, bên bán cố tình chào mức giá cao hơn mức mà tại đó họ có thể chấp nhận bán với lợi nhuận hợp l‎ý Sau khi thương lượng, hai bên mua và bán đã thống nhất một mức giá “thuận mua vừa bán”, thấp hơn mức giá ban đầu bên bán đưa ra, nhưng vẫn đảm bảo bên bán có lãi Xét dưới góc độ đạo đức hàng ngày, hành động của bên bán là không hoàn toàn phù hợp với đạo đức vì anh ta đã cố tình

“nói thách”, muốn bên mua chịu thiệt nhiều hơn để tối đa hoá lợi nhuận cho mình Song trong kinh doanh, chuyện mặc cả, thương lượng để đạt tới một cái giá thuận mua vừa bán là một cách hành xử hết sức bình thường (trừ khi nói thách thái quá, lừa dối về giá trị hay ép giá…) Có nghĩa dưới góc độ đạo đức kinh doanh thì việc nâng khống giá lên một chút cũng chưa thể bị đánh giá là phi đạo đức Bản thân bên bán cũng như bên mua hoàn toàn biết rõ và chấp nhận điều ấy

Ví dụ trên cho thấy rằng, quan niệm đạo đức trong kinh doanh có những tiêu chuẩn riêng mà đôi khi chúng ta không thể lấy những khuôn khổ tuyệt đối để áp đặt cho nó Để đánh giá một hành vi, một quyết định là phù hợp hay không phù hợp với đạo đức kinh doanh, chúng ta cần xem xét trên cơ

sở những chuẩn mực đạo đức chung kết hợp với đặc thù của nghề nghiệp này Nói như Montesquieu: “Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức

về công bằng đúng mức Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về mình mà sao nhãng lợi ích người khác” [27, tr 168]

1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh

Trang 16

1.2.1 Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng Chúng là hai khái niệm độc lập với nhiều điểm khác biệt, nhưng với tư cách là hai loại quy phạm xã hội quan trọng nhất trong việc điều chỉnh hành vi của mỗi con người, pháp luật và đạo đức về cơ bản chúng vẫn hướng tới những chuẩn mực chung

Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức thể hiện ở con đường hình thành, hình thức, phạm vi điều chỉnh và tính chất điều chỉnh… Pháp luật chỉ xuất hiện khi có giai cấp và nhà nước, trong khi những quy phạm đạo đức hình thành từ rất sớm trong xã hội loài người; pháp luật được hình thành một cách tự giác (do nhà nước ban hành) và được áp dụng chung, còn đạo đức thường hình thành mang tính tự phát và khác nhau với từng giai cấp, tầng lớp; pháp luật có thể tồn tại dưới hình thức thành văn và luôn chặt chẽ, chính xác, một nghĩa, nhưng đạo đức lại không có văn bản chuyên biệt và thường rất chung chung, mỗi người có thể nhìn nhận một vấn đề đạo đức theo nhiều cách khác nhau; pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người; pháp luật hướng tới duy trì một trật tự tối thiểu, còn đạo đức yêu cầu nhiều hơn về chân - thiện - mỹ; pháp luật có những quy phạm thuần túy mang tính kỹ thuật, quy trình, không mang tính luân lý và hoàn toàn nằm ngoài sự phán xét của đạo đức; pháp luật được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước, còn đạo đức được đảm bảo bằng những biện pháp “cưỡng chế” mang tính xã hội, do vậy, sự trừng phạt của pháp luật nghiêm khắc nhưng có thời hạn, còn sự trừng phạt của đạo đức đôi khi dai dẳng cả đời…

Trang 17

Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng trong tổng thể chung của các quy phạm điều chỉnh hành vi của con người, pháp luật và đạo đức là hai yếu

tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hầu như không loại trừ nhau Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng Nho gia đã khái quát rất sâu sắc về mối quan hệ này: “Dẫn dắt bằng chính, chấn chỉnh bằng hình, dân chịu mà vô sỉ Dẫn dắt bằng đức, chấn chỉnh bằng lễ, biết sỉ lại tiêu chuẩn, dân mới biết tự trọng và vào nề nếp” [Khổng Tử, dẫn theo 29, tr 35] “Chỉ có lòng thiện mà thôi thì lòng thiện chưa đủ sức cai trị, chỉ có luật pháp mà thôi thì luật pháp chẳng đủ sức làm cho người ta tuân theo” [Mạnh Tử, Ly lâu - Thượng 1, dẫn theo 29,

tr 35] Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, pháp luật và đạo đức vẫn luôn tồn tại

và khẳng định sức mạnh, tầm quan trọng của mình trong đời sống xã hội loài người, không cái nào triệt tiêu cái nào Thậm chí, bước qua dần những rào cản

về giai cấp, cùng với sự hoàn thiện theo hướng công bằng, bình đẳng của pháp luật và sự biến chuyển của các quan niệm đạo đức hiện đại, càng ngày pháp luật và đạo đức càng tiến đến gần nhau hơn trong tiêu chí đánh giá hành

vi và bổ sung, hỗ trợ đắc lực cho nhau hơn khi điều chỉnh hành vi của con người - bằng chính những sự khác biệt của mình Không thể đánh giá đạo đức và pháp luật cái nào quan trọng hơn và có sức mạnh hơn cái nào, đơn giản vì chúng mang trong mình những sức mạnh khác nhau và hai sức mạnh

đó chỉ phát huy hết giá trị của mình trong mối quan hệ biện chứng với nhau Nói cách khác, “cái chân lý tạo ra động lực phát triển đồng thời là triết lý phát triển không phải ở một bên đạo đức hay pháp luật mà chính là ở mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật” [29, tr 38]

1.2.2 Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh

Một cách cụ thể, mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và đạo đức được biểu hiện trên những khía cạnh sau:

Trang 18

1.2.2.1 Đạo đức giúp lấp đầy những “khoảng trống” của pháp luật

Như đã khẳng định ở trên, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất để duy trì trật tự và sự phát triển bình thường của xã hội, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành

vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người ở mọi lĩnh vực Có nhiều lĩnh vực mà pháp luật không điều chỉnh được nhưng vẫn có quy phạm đạo đức điều chỉnh, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến tình cảm như quan

hệ thầy trò, tình bạn, tình yêu… hay những quy tắc trong giao tiếp, ứng xử…

Lẽ dĩ nhiên, chẳng thể vì lý do những lĩnh vực đó không có quy phạm pháp luật điều chỉnh mà cho rằng chúng không quan trọng Trái lại, chúng là những

gì gần gũi, thiết thân và thường nhật nhất trong đời sống mỗi con người Nhưng các mối quan hệ này quá đa dạng, phức tạp, thiên biến vạn hoá, phụ thuộc vào tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của cá nhân và không một nhà làm luật nào có thể dự liệu chính xác cũng như đánh giá hết được các khả năng có thể xảy ra để đặt tiêu chí chung cho chúng

Mặt khác, pháp luật chỉ phán xét con người qua hành vi, nhưng đạo đức phán xét con người từ suy nghĩ - sự phán xét của lương tâm, do chính chủ thể

tự phán xét trên nền tảng đạo đức xã hội mà người đó đã được hấp thu trong quá trình nhận thức, trưởng thành Điều đó hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng của pháp luật và chính là sức mạnh của đạo đức Do vậy, đạo đức bổ sung cho pháp luật, cùng với pháp luật trở thành hai công cụ quan trọng bậc nhất để quản lý xã hội và giáo dục con người, điều chỉnh hành vi của con người tới cái đúng đắn và cao hơn nữa là cái chân - thiện - mỹ

Trong lĩnh vực kinh doanh, về nguyên tắc, quyền tự do kinh doanh đảm bảo cho chủ thể kinh doanh có quyền được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, mà bản thân pháp luật thì chỉ có thể hoàn thiện dần chứ không bao giờ hoàn hảo Pháp luật khó lòng đi trước, “đón đường” thực tiễn, nhưng

Trang 19

mỗi khi xuất hiện một quan hệ mới cần điều chỉnh bằng pháp luật thì vẫn phải trải qua thủ tục xây dựng, ban hành quy phạm pháp luật hết nhiều bước và không ít thời gian Ngược lại, đạo đức phản ứng một cách rất nhanh chóng với các quan hệ xã hội, các hiện tượng xã hội mới phát sinh trong hoạt động kinh doanh Ngay khi chúng vừa xuất hiện, người ta đã có thể đưa ra những ý kiến về cách hành xử thế nào là đúng, thế nào là sai trên cơ sở những nguyên tắc đạo đức thông dụng, trong khi nhà làm luật có thể vẫn còn đang đắn đo xem vấn đề này có nhất thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật hay không, điều chỉnh như thế nào và ở mức độ ra sao…

Thêm vào đó, pháp luật đôi khi chỉ phản ánh những tiêu chuẩn thấp nhất của đạo đức trong kinh doanh [36, tr 11] Vì vậy, một số hành vi thực tế xét trên phương diện đạo đức thì rất khó được chấp nhận, nhưng xét trên phương diện pháp lý lại không có gì vi phạm Ví dụ: quyền sở hữu công nghiệp chỉ được bảo hộ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc theo điều ước quốc tế mà một nước ký kết hoặc tham gia Đó là lý do khiến cho một số công ty Việt Nam bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (như tên thương mại và kiểu dáng công nghiệp) tại quốc gia khác Với tư cách là chủ nhân thật

sự của những sản phẩm trí tuệ đó, các công ty Việt Nam có thể bảo rằng họ (những kẻ dám “ăn cắp” thương hiệu) chơi xấu - ai cũng thừa nhận như vậy, chúng ta có thể kiện - không ai ngăn cản quyền đó, nhưng chúng ta lại không thể thắng - đơn giản vì sản phẩm của chúng ta chưa được bảo hộ ở các quốc gia này theo quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Tóm lại, bản thân phát luật không thể dự liệu hết được những tình huống có thể phát sinh trên thực tế, hoặc vì lý do này lý do khác mà không thể đáp ứng được khát vọng về sự công bằng cho tất cả mọi người, bởi thế mới nảy sinh hiện tượng "lách luật" Hành vi "lách luật" có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm lợi ích của người khác nhưng về nguyên tắc nhà nước không thể

Trang 20

xử lý vì không có quy phạm pháp luật điều chỉnh Khi đó, điều ngăn chặn chủ thể kinh doanh có những hành vi gây hại không gì khác chính là đạo đức của

họ Dư luận xã hội, sự tẩy chay của người tiêu dùng hay sự bất hợp tác của những người vốn “cùng hội cùng thuyền” cộng với những dằn vặt về mặt nội tâm… chính là cái giá mà nhà kinh doanh phải gánh chịu khi bỏ qua những giá trị đạo đức

1.2.2.2 Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp

Có một thực tế tất yếu là những nguyên tắc đạo đức được “luật hoá” ngày càng nhiều Đây là sự thừa nhận công khai của nhà nước về tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của các quy phạm đạo đức và cũng là cách thức hữu hiệu để nhà nước bảo vệ chính những giá trị đạo đức này trước sự phát triển lạnh lùng của nền kinh tế và sức xâm thực ghê gớm của đồng tiền trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Tính tất yếu của việc ghi nhận các giá trị đạo đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay được l‎ý giải bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, đạo đức xuất hiện trước và là tiền đề làm nảy sinh các quy phạm pháp luật

Đây là nguyên nhân mang tính lịch sử Pháp luật, với tư cách là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, được ra đời cùng với sự hình thành của nhà nước và nhu cầu tất yếu phải có một hệ thống quy phạm chặt chẽ để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng Tuy nhiên, xã hội loài người đã tồn tại hàng ngàn năm trước đó

mà không cần đến pháp luật Khi đó, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các phong tục tập quán và các chuẩn mực đạo đức Đạo đức được hiểu là những chuẩn mực, những quy tắc, quan niệm về lẽ sống, tốt - xấu, thiện - ác… được hình thành trong cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và có sức mạnh áp dụng đối với các thành viên của cộng đồng ấy Pháp luật ban đầu

Trang 21

cũng được xây dựng trên cơ sở những quy phạm xã hội có sẵn như phong tục tập quán và đạo đức

Thứ hai, đạo đức có sức mạnh không thể phủ nhận trong việc điều chỉnh hành vi của con người

Nếu như đằng sau các quy phạm pháp luật là một hệ thống các cơ quan công quyền luôn sẵn sàng bảo vệ như toà án, quân đội, cảnh sát… thì đằng sau các quy phạm đạo đức - xét một cách độc lập với các quy phạm pháp luật

- không hề có những thiết chế mang tính nhà nước để đảm bảo cho nó được thi hành Tuy nhiên, sức mạnh “cưỡng chế” của đạo đức lại nằm ở một phương diện khác, đó là dư luận xã hội và sự tác động của lương tâm - tức là

cả tác động bên ngoài và sự thúc giục bên trong Vì lý do trên mà không hiếm khi con người có xu hướng chống lại các quy phạm pháp luật, nhưng lại dễ dàng chịu khuất phục trước một nguyên tắc đạo đức hết sức bình thường vì đơn giản họ đã lớn lên với tiềm thức và được giáo dục về nguyên tắc đạo đức

đó trước khi biết đến các quy phạm mà nhà nước bắt buộc họ phải thực hiện

Thứ ba, sự xói mòn của ý thức đạo đức trong xã hội hiện đại

Đây là một câu chuyện rất cũ và được nói nhiều từ khi nền kinh tế nước

ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường Một số người coi đó là “chi phí cơ hội”, tức là thứ “lợi nhuận” bị mất một cách đương nhiên khi chúng ta lựa chọn con đường phát triển kinh tế và như vậy hành vi của con người bị điều chỉnh bởi yếu tố lợi ích nhiều hơn là động

cơ đạo đức Dễ dàng nhận thấy nếu không được bảo vệ bằng một cơ chế có sức cưỡng chế hữu hình hơn thì những giá trị đạo đức tốt đẹp dần dần sẽ bị xâm phạm không thương tiếc và để lại những hậu quả đáng tiếc về nhiều mặt cho xã hội

Thứ tư, nhận thức của nhà làm luật về nhu cầu ghi nhận các giá trị đạo đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật

Trang 22

Tuyệt đại đa số các nguyên tắc đạo đức được gìn giữ đến thời điểm hiện tại đều có tính chất tốt đẹp và vì thế nó không dễ dàng trở nên cũ kỹ hay lạc hậu theo thời gian Nếu những chuẩn mực đạo đức được lồng vào các quy phạm pháp luật thì quy phạm đó sẽ có sức sống lâu bền, được thực hiện một cách tự nguyện, tự giác Ở đâu pháp luật được thực hiện một cách tự nguyện,

tự giác thì ở đó chi phí cho việc thực hiện pháp luật sẽ giảm đi đáng kể Việc ghi nhận các giá trị đạo đức trong các quy phạm pháp luật xuất phát chính từ

sự nhận thức của nhà làm luật về những giá trị tốt đẹp và sức mạnh to lớn của đạo đức trong hệ thống các quy phạm xã hội Sự kết hợp này sẽ tạo nên một

cơ chế điều chỉnh hoàn hảo hơn

1.2.2.3 Pháp luật và đạo đức về cơ bản có sự thống nhất

Đây là hệ quả tất yếu của việc pháp luật được xây dựng trên những nền tảng đạo đức sẵn có và sự phản ánh mang tính tất yếu của các giá trị đạo đức trong các quy phạm pháp luật hiện đại

Rõ ràng, pháp luật mặc dù do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhưng điều đó không có nghĩa pháp luật thuần tuý thể hiện

ý chí chủ quan của riêng nhà nước, nhà nước muốn quy định thế nào cũng được Sứ mệnh của pháp luật là sinh ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục

vụ xã hội Do vậy, pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở những giá trị được xã hội thừa nhận chung, nói một cách chính xác hơn, pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở đạo đức, phù hợp với đạo đức Bởi lẽ, phần lớn các quan niệm đạo đức hiện tồn tại đều là những giá trị tốt đẹp đã được thử thách qua thời gian, hay ít nhất, đó cũng là những gì đã ăn sâu vào nếp nghĩ của con người và không dễ một sớm một chiều có thể thay đổi Nếu pháp luật mà trái đạo đức thì rất khó được thực hiện một cách tự giác Chính vì vậy, tôn trọng các quy định pháp luật, xét một cách chung nhất, cũng là tôn trọng những giá trị đạo đức

Trang 23

Trong thực tế, một hành vi trái pháp luật thường cũng trái đạo đức xã hội và ngược lại, ví dụ: tương ứng với hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự nhân phẩm bị xã hội lên án, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định chế tài cụ thể đối với tội làm nhục người khác (Điều 121) Thậm chí, tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của pháp luật… Tất nhiên, cũng có trường hợp một hành vi phù hợp đạo đức nhưng trái pháp luật

và ngược lại, ví dụ: người cha giết người nhưng người con không tố cáo thì hành vi của người con sẽ cấu thành tội không tố giác tội phạm theo Điều 314

Bộ luật hình sự Nếu đứng trên phương diện đạo đức, cách xử sự này hoàn toàn có thể được thông cảm, nhưng đứng trên phương diện ý thức công dân (cụ thể ở đây là sự tôn trọng pháp luật) thì lại không thể tha thứ Sự mâu thuẫn này giữa pháp luật và đạo đức truyền thống được l‎ý giải bởi nguyên tắc pháp luật luôn phải được xây dựng trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung và áp dụng công bằng với tất cả mọi người Cái “tình” là cái không thể bỏ qua, nhưng không phải là cái chi phối tuyệt đối khi xây dựng luật

Khi xem xét trong lĩnh vực kinh doanh, chúng ta có thể nhận thấy tính thống nhất giữa pháp luật và đạo đức đã được khẳng định một cách cao độ và biểu hiện thành một vấn đề mang tính nguyên tắc, đó là tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của đạo đức kinh doanh

Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy cũng cần lưu ý rằng kể cả trong trường hợp pháp luật hoàn toàn phù hợp với đạo đức thì việc làm theo đúng pháp luật chưa phải lúc nào cũng là có đạo đức, tức là không thể đồng nhất một hành vi hợp pháp với một hành vi đạo đức Bởi lẽ, hành vi hợp pháp tồn tại dưới nhiều dạng Dựa vào thái độ tâm l‎ý bên trong của con người đối với hành vi của mình, có thể chia làm ba dạng hành vi hợp pháp cơ bản sau đây: hành vi hợp pháp dựa trên lòng tin sâu sắc của mình vào tính cần thiết và tính hợp lý của việc điều chỉnh bằng pháp luật; hành vi hợp pháp dựa trên sự phục

Trang 24

tùng các mệnh lệnh pháp luật mà bản thân không ý thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về các mệnh lệnh ấy; hành vi hợp pháp dựa trên sự tác động cưỡng bức hoặc sự sợ hãi” [23, tr 147-148] Ở dạng thứ nhất, hành vi hợp pháp cũng đồng nghĩa với hành vi đạo đức (trong điều kiện pháp luật phù hợp với đạo đức) Ở dạng thứ hai và thứ ba thì hành vi đạo đức không đồng thời là hành vi đạo đức, vì nó không xuất phát từ sự nhiệt tình hành động gắn với nhận thức đầy đủ của chủ thể về nghĩa vụ pháp lý của mình

Có thể thấy động cơ đơn giản nhất của chủ thể kinh doanh khi thực hiện pháp luật là vì pháp luật có tính bắt buộc, dù không muốn cũng vẫn phải thực hiện, nếu làm ngược lại sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý Chẳng hạn như đối với nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, nếu để các doanh nghiệp tự giác nộp thì chắc chắn số tiền cơ quan bảo hiểm xã hội thu được sẽ chẳng đáng là bao vì nó đồng nghĩa với việc tăng chi phí, giảm lợi nhuận Do vậy, nhà nước phải đưa ra những biện pháp xử lý như xử phạt hành chính, truy thu tiền bảo hiểm xã hội để răn đe và buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ luật định

Trong khi đó, việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động xét dưới góc độ của một hành vi đạo đức lại có những chuẩn mực cao hơn Chủ thể kinh doanh lựa chọn phương án đóng bảo hiểm xã hội theo pháp luật xuất phát từ việc họ cho rằng đó là cách thức đúng đắn, tốt cho doanh nghiệp, tốt cho người lao động và lương tâm không cho phép họ làm điều ngược lại Bởi thế, họ hành động thuần tuý theo tâm nguyện và ý thức về cái đúng - cái sai, cái tốt - cái xấu, cái nên - cái không nên chứ không phải vì sợ chế tài nào cả Hành vi thực hiện pháp luật chỉ trở thành một hành vi đạo đức khi đạt được sự

tự nguyện như vậy

Có thể nói, trạng thái lý tưởng nhất của hành vi pháp luật chính là khi

nó trở thành hành vi đạo đức bởi điều đó khẳng định một quy phạm pháp luật

Trang 25

cụ thể đã đáp ứng được hai yêu cầu rất quan trọng: một là tính phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội, và hai là tính khả thi Khi nghĩa vụ thực thi pháp luật được coi là một nghĩa vụ đạo đức thì pháp luật sẽ được thực hiện một cách tự nguyện, thiện chí, và như vậy đạo đức giúp cho chi phí để thi hành luật (bao gồm cả việc ngăn chặn và giải quyết các tranh chấp phát sinh) giảm đi rất nhiều

1.2.2.4 Tuân thủ pháp luật là một trong những con đường hình thành thói quen đạo đức

Thói quen là hành vi ứng xử của một người được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một loại hoàn cảnh nhất định và trở thành phương thức ứng xử mang tính thường xuyên, ổn định của người đó khi gặp hoàn cảnh tương tự

Một thói quen có thể được hình thành bằng nhiều cách khác nhau, về cơ bản chia làm hai xu hướng: thói quen hình thành một cách tự nguyện, tự giác

và thói quen hình thành do bị cưỡng chế, bắt buộc lâu dần trở thành hành vi tự nguyện

Tuy nhiên, “thói quen không phải đơn thuần là phép cộng của các phản

xạ có tính liên kết với nhau của chủ thể” trong hành vi mà còn bao gồm cả tư duy - cảm xúc [26; tr 75] Sự điều chỉnh của pháp luật đến hành vi của các chủ thể kinh doanh để hình thành thói quen hành động hợp pháp chính là sự tác động đến nhận thức của chủ thể về các chuẩn mực của pháp luật phù hợp với các giá trị đạo đức xã hội

Tính bắt buộc chung và đảm bảo bằng quyền lực nhà nước là một ưu thế của pháp luật so với đạo đức Ngay cả những nghĩa vụ đạo đức cơ bản nhất, có tính nguyên tắc, không thể thiếu trong việc tạo nên một môi trường kinh doanh, một môi trường xã hội lành mạnh, chẳng hạn như nộp thuế vào ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi cho người lao động, tôn trọng đối thủ cạnh tranh, tôn trọng với khách

Trang 26

hàng… nếu không được ghi nhận trong các văn bản pháp luật thì khó ai đảm bảo rằng chúng sẽ được thực hiện một cách tự giác ngay từ đầu, hay được tất

cả các thương nhân tán thành vì đơn giản chúng đồng nghĩa với việc nhà kinh doanh sẽ phải từ bỏ một số lợi ích vật chất nhất định Song về lâu dài, một mặt, vì chúng là nghĩa vụ pháp lý buộc phải tuân theo, mặt khác, nếu các quy định trên là phù hợp, vẫn đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhà kinh doanh thì sẽ dần được họ chấp nhận và thực hiện một cách tự nguyện, tự giác - tức là

từ xử sự hợp pháp do phục tùng các mệnh lệnh pháp luật mà bản thân không ý thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về các mệnh lệnh ấy hoặc xử sự hợp pháp

do sự tác động cưỡng bức hoặc sự sợ hãi đã trở thành xử sự hợp pháp dựa trên lòng tin sâu sắc của chủ thể vào tính cần thiết và tính hợp lý của việc điều chỉnh bằng pháp luật Đó cũng là lúc mà người ta có thể nói rằng, nhờ có pháp luật, một thói quen đạo đức đã được hình thành

1.2.2.5 Tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những nguyên tắc

cơ bản của đạo đức

Xã hội càng phát triển thì các quy phạm đạo đức cũng ngày một được chọn lọc và các quy phạm pháp luật cũng ngày một được hoàn thiện hơn Nhiều quy phạm đạo đức đã tìm được “chốn nương thân” lý tưởng cho mình nơi pháp luật Do đó, “mỗi quy phạm pháp luật vừa là thước đo để kiểm nghiệm các quá trình xã hội, vừa là phương tiện để đăng tải các giá trị của xã hội mang đến cho con người những lượng thông tin nhất định về các yêu cầu, các giá trị mà xã hội có, xã hội cần và xã hội ủng hộ” [23, tr 220] Đạo đức

và pháp luật đã hướng tới những giá trị chung mà biểu hiện cao nhất trong mối quan hệ hòa hợp giữa chúng không phải ở chỗ pháp luật đã phản ánh đạo đức, mà chính là việc tự nguyện tuân thủ pháp luật đã được coi như một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của đạo đức

Trang 27

Nguyên tắc này đòi hỏi sự tuân thủ pháp luật một cách tự nguyện - tức

là không phải do tính bắt buộc và đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước của pháp luật, mà do chính sự thôi thúc về sự nhiệt tình hành động theo cái tốt, cái đẹp bên trong chủ thể Mặt khác, sự tuân thủ ở đây cũng không đơn giản là trên cơ sở các quy phạm rõ ràng của luật, mà còn là tuân thủ tinh thần pháp luật chung, tránh việc lợi dụng kẽ hở của luật pháp để tìm kiếm lợi ích riêng Mọi sự biện minh cho những hành động gây hại đến lợi ích của chủ thể khác như luật không quy định cụ thể nên trong mọi trường hợp đều được phép làm, hoặc mọi người đều làm như thế nên tôi cũng được làm như thế… sẽ không được chấp nhận

Nguyên tắc này đặc biệt có ‎ý nghĩa trong lĩnh vực kinh doanh, khi các nhà kinh doanh nêu cao khẩu hiệu tự do kinh doanh và công dân được làm tất

cả những gì pháp luật không cấm Nếu không có một quan niệm đúng đắn về cái gọi là “những gì pháp luật không cấm”, cố tình hiểu một cách thô thiển là

“những gì pháp luật không có quy định cụ thể là không được làm” thì sẽ vi phạm nguyên tắc chung của pháp luật và đương nhiên sẽ vi phạm đạo đức kinh doanh

Trang 28

Chương 2 SỰ THỂ HIỆN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VÀ HOẠT

ĐỘNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Sự cần thiết của việc xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Việc bàn về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay là một điều cần thiết, xuất

phát từ những l‎ý do cơ bản như sau:

2.1.1 Ý nghĩa của việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và pháp luật trong kinh doanh

Nói đến kinh doanh là nói đến cạnh tranh Cạnh tranh là một thuộc tính tất yếu của kinh doanh Chúng ta không quá khó để nhận ra trên thương trường có những nhà kinh doanh - ở những thời điểm nhất định - không từ bỏ một thủ đoạn nào, bất chấp đạo đức và pháp luật để giành thắng lợi về cho mình Vậy câu hỏi đặt ra là liệu rằng nếu lấy lợi nhuận là thước đo, thì một

Trang 29

thương nhân tài ba, xét trên phương diện kinh doanh, có đồng nghĩa với một công dân tồi hay không, xét trên phương diện xã hội?

Ngày nay, các nhà kinh doanh nói riêng và toàn xã hội nói chung có xu hướng nhận thức lại về triết lý thành công trên thương trường Trước đây, nhiều người quan niệm rằng: trong kinh doanh, lợi nhuận là thước đo duy nhất của thành công Nhà kinh doanh lấy tiêu chí lợi nhuận làm trọng tâm khi đối mặt với một bài toán kinh doanh sẽ chọn lời giải đem lại lợi nhuận (tiền bạc) nhiều nhất, bất kể vì nó mà những ai sẽ phải lao đao khốn khổ Nhưng quan niệm ấy đã dần dần thay đổi Rất nhiều nhà kinh doanh hiện nay chú trọng đến các tiêu chí như uy tín, chất lượng sản phẩm, sự trong sạch về tài chính hay những đóng góp tích cực về mặt xã hội của doanh nghiệp - những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho những lợi ích hiện hữu cũng như vô hình cho chủ thể kinh doanh

- hơn là lợi nhuận vật chất nhất thời trước mắt Trong trường hợp tương tự, đứng trước mỗi tình huống phải lựa chọn, họ sẽ cân nhắc đến rất nhiều khía cạnh như tính hợp pháp của quyết định, những tác động kinh tế, xã hội, môi trường có thể phát sinh… Và phương án giải bài toán kinh doanh của họ luôn trên cơ sở lợi nhuận, có thể không phải là nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, nhưng kết hợp hài hoà với việc xây dựng và bảo vệ một hình ảnh đẹp đẽ

về doanh nghiệp trong con mắt mọi người Chính sự tồn tại và phát triển lâu dài mới là chiến lược hợp lý để tối đa hoá lợi nhuận hơn bất kỳ một trò chụp giật, “ăn xổi ở thì” nào khác

Chắc chắn có sẽ có nhiều ý kiến không tán thành khi chúng tôi đặt vấn

đề lợi nhuận trong kinh doanh song hành với pháp luật và đạo đức, cho rằng điều đó chỉ là lý thuyết suông hay một điều không tưởng Chúng tôi không phủ nhận một sự thật hiển nhiên rằng: lợi nhuận là đích ngắm đầu tiên của mỗi nhà kinh doanh, nhưng chính một trong số những nhà kinh doanh tài ba

Trang 30

và thành công nhất thế giới - Henry Ford - đã có một câu nói rất đáng suy ngẫm: “Một công ty không tạo ra được điều gì thành công ngoài lợi nhuận là một công ty kém cỏi” [24, tr 16] Rõ ràng, ngoài lợi nhuận họ có những mục tiêu khác để theo đuổi, đó là uy tín, là thương hiệu… - những tài sản vô hình của doanh nghiệp Và sự thành công của những nhãn hiệu hàng đầu trong một thế giới cạnh tranh ngày càng khốc liệt đã chứng minh một sự thật hiển nhiên khác: mục tiêu kinh tế và mục tiêu luân lý không phải là hai vấn đề đối lập, ngược lại, tuân thủ pháp luật và kinh doanh một cách có đạo đức chính là phương thức thông minh để nhà kinh doanh khẳng định vị trí của mình trên thương trường, là chiếc chìa khoá vàng để mở cánh cửa thành công lâu dài và bền vững

2.1.2 Mục tiêu xây dựng nền kinh tế lành mạnh vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là một l‎ý do cơ bản để chúng ta bàn luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay

Công cuộc Đổi Mới được thực hiện từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) mà hạt nhân là đẩy mạnh quá trình dân chủ hoá, một lần nữa khẳng định nguyên l‎ý “lấy dân làm gốc” của dân tộc ta trong sự nghiệp kiến quốc, đó là dân giàu - nước mạnh Mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt nước ta trước thách thức trên cả phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn về hoạt động kinh doanh

- kinh doanh thế nào để làm giàu, làm giàu thế nào để không đánh mất đạo đức, điều vốn dĩ rất được người Việt Nam coi trọng Một nền kinh tế thị trường lành mạnh chỉ có khi pháp luật và đạo đức được sử dụng như những công cụ hữu hiệu nhất để định hướng và điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh cũng như những chủ thể có liên quan

Trang 31

2.2 Thực tiễn pháp luật và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Đạo đức là một phạm trù tương đối trừu tượng và nội dung của nó thay đổi tuỳ thuộc vào từng thời điểm, từng không gian, theo từng cá nhân, từng lớp người, trong khi đó, pháp luật lại là cái được lượng hoá, được xác định cụ thể, được trình bày rõ ràng trong các văn bản quy phạm do nhà nước ban hành

và về cơ bản được áp dụng một cách bình đẳng cho tất cả các đối tượng Mặc

dù vậy, chúng có những giá trị chung không thể phủ nhận bởi lẽ pháp luật ngày càng được hoàn thiện theo hướng ghi nhận các giá trị đạo đức tốt đẹp Ngày nay, những quan niệm về đạo đức trong kinh doanh đã được chuyển hóa dần vào các quy phạm pháp luật, và như chúng tôi đã khẳng định ở phần trước, bản thân sự tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những nguyên tắc của đạo đức

Xuất phát từ lý do trên, trong phần này chúng tôi không tiếp cận theo hướng tách bạch giữa pháp luật và đạo đức trong kinh doanh Chúng tôi chỉ tập trung vào những nội dung, những mối quan hệ mà ở đó, mục tiêu điều chỉnh của pháp luật và đạo đức có sự giao thoa, tương đồng, bàn về đạo đức cũng có nghĩa là bàn về pháp luật và ngược lại Hay nói cách khác, định hướng nghiên cứu trong phần này là: “nghiên cứu tính pháp lý trong các vấn

đề đạo đức và nghiên cứu phương diện đạo đức trong các vấn đề pháp luật” [31, tr.14]

Tuy nhiên, sự tương đồng ở đây chỉ có ý nghĩa nguyên l‎ý chứ không phải là sự thể hiện hoàn hảo về mặt thực tiễn Chúng tôi sẽ đưa ra những ví dụ điển hình cho thấy hiện trạng pháp luật còn nhiều điểm bất hợp lý, việc thực hiện pháp luật trên thực tế còn chưa thỏa mãn yêu cầu của đạo đức kinh doanh trong xã hội Việt Nam hiện đại; và ngược lại, nhiều thói quen đạo đức trong kinh doanh chưa thực sự được hình thành khiến cho không ít quy định

Trang 32

của pháp luật về nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh rốt cuộc vẫn chỉ tồn tại trên giấy Điều đó phần nào l‎ý giải tại sao những điểm tích cực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa được đánh giá hết Ví dụ: Bảo vệ người lao động là nguyên tắc của pháp luật cũng như đạo đức kinh doanh, nhưng liệu các chế định của pháp luật hiện hành đã thực sự bảo vệ được người lao động hay chưa? Chúng tôi coi những sự “không hoàn hảo” đó chính là cơ sở để đưa ra các kiến nghị phù hợp, phát huy ‎ý nghĩa thực sự tích cực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong kinh doanh

Cũng phải nói thêm rằng pháp luật và đạo đức trong kinh doanh là một chủ đề quá rộng, bởi lẽ trong kinh doanh có bao nhiêu mối quan hệ thì cũng

có bấy nhiêu vấn đề pháp luật và đạo đức được đặt ra: quan hệ giữa chủ thể kinh doanh với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và nhà phân phối, quan hệ giữa các cổ đông trong công ty, quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động, ý thức trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với cộng đồng, với môi trường và cũng có thể tính cả việc thực hiện nghĩa

vụ chủ thể kinh doanh đối với nhà nước… Trong phạm vi Luận văn này chúng tôi chỉ phân tích và lấy ví dụ thực tế về năm lĩnh vực tiêu biểu, thể hiện năm mối quan hệ cơ bản của các chủ thể kinh doanh:

1- Thực hiện nghĩa vụ thuế;

2- Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền;

3- Bảo quyền lợi người tiêu dùng;

4- Bảo vệ người lao động;

5- Bảo vệ môi trường

2.2.1 Thực hiện nghĩa vụ thuế

‎2.2.1 1 ‎Khái niệm thuế và ‎ý nghĩa của thuế

Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản luật do Quốc hội và

Trang 33

Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế [37, tr 91]

Tiền thuế được sử dụng vào các mục đích như tạo nguồn tài chính duy trì sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước để quản lý xã hội, đầu tư vào các công trình công cộng, phúc lợi như đường sá, bệnh viện, trường học,

hỗ trợ đồng bào những vùng khó khăn… Như vậy, khi nộp thuế, các chủ thể kinh doanh không chỉ thực hiện nghĩa vụ trực tiếp đối với nhà nước mà qua

đó còn gián tiếp thực hiện nghĩa vụ chung với xã hội, thể hiện ‎ý thức của nhà kinh doanh đối với việc tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như bù đắp cho những khoản đầu tư của nhà nước để đem đến lợi ích về mặt chính trị, môi trường kinh tế, văn hóa…

mà chính nhà kinh doanh cũng là người thụ hưởng

Điều đó chứng tỏ rằng thuế là một nghĩa vụ mang tính pháp l‎ý do nhà nước quy định và chỉ xuất hiện khi có nhà nước, nhưng nó cũng đồng thời là một nghĩa vụ mang tính đạo đức của nhà kinh doanh

‎2.2.1.2 Hiện trạng thực hiện nghĩa vụ thuế của các cơ sở kinh doanh

Từ tháng 1/2004, căn cứ Quyết định số 197/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành thuế đã thực hiện thí điểm cơ chế tự khai, tự nộp thuế Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế trong đó đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế (đối tượng nộp thuế căn cứ các quy định tại các luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng thời hạn) Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ Cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào việc tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế hiểu rõ, tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế và giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng

Trang 34

đắn những hành vi gian lận, trốn thuế, chây ỳ, nợ thuế của người nộp thuế Với nội dung của cơ chế tự khai, tự nộp nêu trên, thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp chính là nhằm tôn trọng, phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế theo đúng quy định của pháp luật thuế

Tuy nhiên, theo báo cáo công tác thanh tra và kiểm tra chống thất thu của Tổng cục Thuế, trong 6 tháng đầu năm 2006, qua kiểm tra 24.883 doanh nghiệp (trong đó có 1.197 doanh nghiệp nhà nước; 450 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 8.049 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 15.187 hộ kinh doanh cá thể), cơ quan thuế đã kiến nghị nộp Ngân sách Nhà nước 2.133 tỷ đồng, trong đó nợ đọng là 1.328 tỷ đồng, ẩn lậu 765 tỷ đồng, tiền phạt 40 tỷ đồng [34] Sau khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp, số thuế thu được từ các

cơ sở kinh doanh tự khai, tự nộp giảm hẳn so với trước, có những địa phương hàng trăm doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trung bình vài trăm ngàn đồng một tháng

Những con số trên không phản ánh chính xác tình hình phát triển của nền kinh tế, chúng cho thấy các cơ sở kinh doanh ở nước ta vẫn chưa tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế Nhưng đó mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, mới chỉ là con số thống kê ở những cơ sở được kiểm tra và kiểm tra ở mức độ tương đối đơn giản do năng lực của ngành thuế còn nhiều hạn chế Còn một

số lượng lớn tiền thuế đã, đang và tiếp tục được các cơ sở kinh doanh ẩn lậu bằng những thủ thuật hết sức tinh vi, ví dụ như việc lợi dụng giá chuyển nhượng để trốn thuế ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Sau hơn 15 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã thu hút được một lượng đáng kể vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, hiệu quả từ các dự án đầu tư này không được như chúng ta mong muốn Được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế và tiền sử dụng đất, tiền thuê đất,

Trang 35

nhưng khoảng hơn 70% các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài báo cáo

lỗ, không có lợi nhuận nộp thuế, số thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp cho ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 8% tổng thu

từ thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện tượng bên Việt Nam không chịu nổi sức

ép về tài chính và phải “rút chân” ra khỏi các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp liên doanh chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã trở thành xu thế với tỷ trọng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài so với doanh nghiệp liên doanh là 35% năm 1998 lên 75% năm 2002 [35]

Vấn đề bất thường là ở chỗ các doanh nghiệp tại Việt Nam lỗ triền miên hoặc tỷ suất lợi nhuận rất thấp trong khi công ty mẹ ở nước ngoài lại đạt kết quả kinh doanh cao Đầu mối của vấn đề chính là thủ thuật lợi dụng cách tính giá chuyển nhượng trong các giao dịch liên kết để gian lận thuế

Xác định giá chuyển nhượng (transfer pricing) là một thuật ngữ quốc tế chung phản ánh cách tính giá trong các giao dịch kinh tế nội bộ giữa các bên trong cùng một tập đoàn công ty đa quốc gia Do tính chất là giao dịch nội bộ nên việc tính giá của bên bán và bên mua mặc dù được thể hiện bằng hóa đơn hợp pháp nhưng cơ sở tính giá thường không phản ánh đúng tính kinh tế như các giao dịch giữa các bên độc lập theo nguyên tắc giao dịch độc lập hay giá cạnh tranh (tức là người mua và người bán tự nguyện trên cơ sở người mua muốn mua rẻ, người bán muốn bán đắt) Xuất phát từ quan hệ phụ thuộc về kinh tế giữa các thành viên trong cùng một tập đoàn, mức tính giá cho các giao dịch liên kết thường làm sao cho có lợi nhất về kinh tế, tức là giảm tối thiểu chi phí phải bỏ ra để tối đa hóa lợi nhuận, trong đó thuế là một yếu tố chi phí quan trọng Do vậy, các công ty đa quốc gia thường có xu hướng dồn thu nhập về những nơi có thuế thấp (hoặc không có thuế) và đẩy chi phí về nơi có thuế cao mà một công cụ hữu hiệu để hợp pháp hóa là lợi dụng giá chuyển nhượng Vì bên giao và bên nhận đều cùng một tập đoàn nên thu nhập

Trang 36

chung của tập đoàn không thay đổi (có thể ví như thu nhập được chuyển từ tay trái sang tay phải), trong khi đó bên giao và bên nhận thường là những đối tượng nộp thuế tại các nước khác nhau hoặc có những nghĩa vụ nộp thuế khác nhau nên giá chuyển nhượng được coi là một lĩnh vực có thể gây rủi ro lớn về thuế đối với các nước có chế độ thuế thu nhập công ty hoặc có chế độ quản lý ngoại hối chặt chẽ như Việt Nam

Thông qua các giao dịch này, các công ty ở Việt Nam sẽ tăng chi phí (khai đội giá đối với nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nhập từ công ty liên kết…), giảm doanh thu (khai giá bán thấp đến mức khác thường khi bán cho công ty liên kết), tận dụng triệt để các ưu đãi của nhà nước đối với dự án đầu

tư nước ngoài mới và bịt mắt cơ quan thuế Việt Nam bằng các “trung tâm chế biến hóa đơn, chứng từ” tại công ty liên kết hoặc những cơ sở ở các đảo quốc

xa xôi mà Việt Nam chưa k‎ý kết hiệp định thuế để trao đổi thông tin

Theo thống kê của Tổng cục Thuế, tỷ trọng giao dịch liên kết kiểu như vậy (kết quả báo cáo lỗ tại Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận toàn cầu) hết sức đáng báo động: từ 60% đến 99,5% tổng giá trị doanh thu hoặc chi phí [35] Ảnh hưởng của việc lợi dụng giá chuyển nhượng để trốn lậu thuế là rất lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn là sự xem thường các quy định của pháp luật và tạo ra cạnh tranh thiếu trung thực, không bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hiện nay chưa có con số chính xác về mức độ trốn thuế của các cơ sở kinh doanh ở Việt Nam, nhưng một vài con số và ví dụ nói trên cũng đủ cho thấy các nhà kinh doanh chưa thực hiện nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện và nhìn chung vẫn đang tìm mọi cách để trốn thuế mọi nơi, mọi lúc có thể Ngân sách nhà nước, trong nhiều trường hợp, chỉ còn biết “nhìn và tiếc"

‎2.2.1.3 Nguyên nhân của hiện tượng trốn lậu thuế ở Việt Nam

Trang 37

Nguyên nhân thứ nhất bắt nguồn từ chính bản chất của thuế, đó là tính

chất không hoàn trả trực tiếp Nhà nước thu thuế nhưng không có trách nhiệm hoàn trả trực tiếp lại cho người nộp Người nộp thuế được hưởng các lợi ích vật chất từ việc nhà nước sử dụng các khoản chi của ngân sách nhà nước (trong đó nguồn thu chủ yếu là từ thuế) để thực hiện các chính sách kinh tế -

xã hội, nhưng sự thụ hưởng của người nộp thuế không phát sinh từ quan hệ thu nộp thuế với tư cách người nộp thuế Chính vì vậy, ý thức trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh đối với nghĩa vụ thuế đôi khi không rõ ràng

Trong khi đó, thuế lại tác động trực tiếp đến khoản thu nhập của doanh nghiệp Nhà kinh doanh khó lòng mà vui vẻ tự nguyện móc hầu bao đóng thuế cho nhà nước khi lợi ích đem lại cho họ không mang tính trực tiếp

Nguyên nhân thứ hai là tâm lý của người Việt Nam bắt nguồn từ lịch

sử Trong xã hội phong kiến và xã hội thực dân trước đây, “sưu cao, thuế nặng” chính là công cụ để giai cấp địa chủ, thực dân phong kiến bóc lột và cột chặt người nông dân vào ruộng đất và những khoản nợ có khi truyền từ đời này sang đời khác Vì vậy, trong suy nghĩ của người Việt, thuế là để phục vụ giai cấp thống trị, phục vụ bộ máy quan lại nhà nước chứ không phải là phục

vụ cho đời sống của người dân, nếu không nói là một nỗi ám ảnh khủng khiếp đối với họ, từ đó mà hình thành tâm lý chống thuế, trốn thuế Tâm lý của cha ông còn để lại ảnh hưởng khá nặng nề cho đến ngày nay mặc dù chế độ xã hội

đã hoàn toàn thay đổi

Nguyên nhân thứ ba là do hiện trạng pháp luật thuế của Việt Nam, đặc biệt là các loại thuế thu nhập (thuế trực thu) còn nhiều điểm bất hợp lý, thường xuyên thay đổi và tạo sự không bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế Ví dụ, khi nhà nước quy định các ưu đãi thuế đặc biệt cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước với mục tiêu là thu hút đầu tư nước ngoài, thì một hậu quả không mong

Trang 38

muốn nhưng đã xảy ra là những ưu đãi này đã bị rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng triệt để Doanh nghiệp trong thời gian được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế thì hoạt động hiệu quả, có lãi, nhưng khi hết thời hạn miễn giảm thì báo cáo lỗ triền miên và thay vì đầu tư mở rộng, nhà đầu tư lại đăng ký dự án mới tương tự để tiếp tục hưởng ưu đãi thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước Mặt khác, các doanh nghiệp trong nước nhìn nhận điều đó như một sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử công khai của nhà nước và tìm cách trốn thuế với lập luận để tự bù đắp lợi ích cho mình Đó là cái vòng luẩn quẩn khi chúng ta quá chú trọng đến thu hút nguồn lực bên ngoài mà bóp méo đi nguyên tắc đối xử công bằng của thuế

Nguyên nhân thứ tư là do sự yếu kém của công tác quản lý thuế, đặc biệt là của cán bộ thuế cả về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Chúng tôi nhấn mạnh nguyên nhân này vì hoạt động của chủ thể kinh doanh

là một quá trình tương tác với các chủ thể có liên quan, trong đó có các cán

bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế Theo phản ánh của các doanh nghiệp thì hiện tượng cán bộ thuế nhũng nhiễu doanh nghiệp xảy ra thường xuyên, doanh nghiệp không đáp ứng thì không được Chưa kể một số cán bộ thuế còn tiếp tay cho doanh nghiệp trốn thuế Ngoài

ra, đội ngũ cán bộ thuế còn chưa đủ bản lĩnh và trình độ về kinh tế, tài chính,

kế toán để phát hiện thủ thuật trốn thuế tinh vi của doanh nghiệp, đặc biệt khi doanh nghiệp sử dụng các nghiệp vụ kinh tế lắt léo Những lỗ hổng trong công tác quản l‎ý thuế như vậy đã làm cho pháp luật thuế không được thực hiện nghiêm minh và thái độ của doanh nghiệp đối với thuế rất thiếu tích cực

2.2.2 Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền

2.2.2.1 Các khái niệm và ‎ý nghĩa phân tích

a) Cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh:

Trang 39

“Cạnh tranh”, hiểu một cách ngắn gọn, là “đua tranh để giành ưu thế về mình” [45, tr 106] hay “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình” [25,

tr 98] Trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể phải tìm biện pháp để vượt lên

so với các đối thủ về một lĩnh vực nhất định

Cạnh tranh chỉ phát sinh giữa những chủ thể cùng chung nhu cầu về một lợi ích nhất định, do vậy, nó là hiện tượng phổ biến, có tính quy luật trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trên thương trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì

và phát triển chính bản thân doanh nghiệp Có thể nói, không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường Cạnh tranh đem lại sự năng động, sáng tạo cho nền kinh tế, là động lực chính thúc đẩy kinh tế phát triển và cần được khuyến khích

Nhưng góc khuất của cạnh tranh - cạnh tranh không lành mạnh - cũng

có thể gây nên những hậu quả khôn lường Luật Cạnh tranh (được Quốc hội thông qua ngày 3/12/2004, có hiệu lực từ ngày 1/7/2005) đã đưa ra một định nghĩa về “hành vi cạnh tranh không lành mạnh”, đó là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc

người tiêu dùng” (khoản 4 Điều 3)

Luật Cạnh tranh liệt kê những hình thức cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: giả mạo chỉ dẫn thương mại, xâm phạm bí mật kinh doanh, mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc trong kinh doanh, dèm pha doanh nghiệp khác, quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử trong hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính

Điều 24 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 quy định về bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên

Trang 40

thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp cũng liệt kê những hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên

quan tới sở hữu công nghiệp, như:

- Sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ, nhằm mục đích: lợi dụng uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh doanh của mình; làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh doanh của mình; gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng trong quá trình nhận biết, chọn lựa hàng hóa, dịch vụ hoặc hoạt động kinh doanh;

- Chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được người đó cho phép

b) Độc quyền:

“Độc quyền” cũng là một xu thế của cạnh tranh không lành mạnh, khi một hoặc một nhóm doanh nghiệp mạnh hơn hẳn, chiếm thế độc tôn trên thị trường hoặc giành phần lớn thị phần

Các nhà làm luật coi độc quyền là một hình thức hạn chế cạnh tranh Điều này thể hiện tại quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”

Như vậy, bản thân cạnh tranh không lành mạnh (trong đó có độc quyền) được pháp luật định nghĩa là hành vi kinh doanh phi đạo đức Hiện tượng này gây nên những hậu quả hết sức nghiêm trọng và làm méo mó nền kinh tế, tạo

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động
9. Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 114/2002/NĐ-CP
10. Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 175/2004/NĐ-CP
11. Nghị định số 03/2006/NĐ-CP ngày 6/1/2006 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 03/2006/NĐ-CP
12. Pháp lệnh bảo bệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh bảo bệ quyền lợi người tiêu dùng
13. Quyết định số 708/1999/QĐ-BLĐTB&XH ngày 15/6/1999 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về mức lương tối thiểu và tiền lương của lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 708/1999/QĐ-BLĐTB&XH
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 1999
14. Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
15. Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg" ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
16. Quyết định số 722/2003/QĐ-BHXH-BT ngày 26/5/2003 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH và BHYT bắt buộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 722/2003/QĐ-BHXH-BT
17. Quyết định số 217/2003/QĐ-TTg ngày 27/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 217/2003/QĐ-TTg
18. Quyết định số 215/2004/QĐ-TTg về việc thực hiện giá bán điện sinh hoạt mới từ ngày 1/1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 215/2004/QĐ-TTg
19. Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết;Các chuyên đề, sách tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 117/2005/TT-BTC
20. Tuấn Anh (2003), “Đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm: cần sớm có giải pháp tổng thể”, Báo Khoa học và Phát triển, số 26, ngày 2/6-2/7/2003, tr.10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm: cần sớm có giải pháp tổng thể”, "Báo Khoa học và Phát triển
Tác giả: Tuấn Anh
Năm: 2003
22. Thiều Chửu (2001), Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
23. PGS, TS. Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: PGS, TS. Trần Ngọc Đường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
24. Matt Haig, Bí quyết thành công 100 thương hiệu hàng đầu thế giới (Brand royalty: How the world’s top 100 brands thrive & survive), bản dịch của NXB Tổng hợp TP. HCM, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết thành công 100 thương hiệu hàng đầu thế giới (Brand royalty: How the world"’"s top 100 brands thrive & survive)
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. HCM
25. Nguyễn Văn Hành (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2003
26. TS. Nguyễn Đình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách
Tác giả: TS. Nguyễn Đình Đặng Lục
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
27. Montesquieu, Bàn về tinh thần pháp luật - De l’esprit des lois, bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tinh thần pháp luật - De l"’"esprit des lois
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
28. TS. Phạm Duy Nghĩa - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật Kinh tế
Tác giả: TS. Phạm Duy Nghĩa - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w