1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở và phương hướng hoàn thiện

112 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa giải ở cơ sở là phong trào có sự tham gia của cả hệ thống chính trị ở cơ sở: cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THU HUYỀN

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA

GIẢI

Ở CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THU HUYỀN

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA

GIẢI

Ở CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

Chương 1: hòa giải ở cơ sở và sự điều chỉnh của pháp luật đối với tổ

chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 8 1.1 Sự cần thiết giải quyết các tranh chấp, xích mích nhỏ trong

1.2 Vai trò của hòa giải ở cơ sở và nhu cầu điều chỉnh bằng

1.2.1.1 Hòa giải góp phần giải quyết ngay, kịp thời, có hiệu quả

các vi phạm, xích mích, tranh chấp nhỏ trong nhân dân, tiết

kiệm thời gian, chi phí, công sức của nhân dân cũng như

của Nhà nước

21

1.2.1.2 Hòa giải góp phần khôi phục, duy trì, củng cố sự đoàn kết

trong nội bộ nhân dân, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội 22 1.2.1.3 Hòa giải góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật

1.2.1.4 Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống

tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc

23

Trang 4

1.2.2 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hòa giải ở cơ sở 23

1.3.1.1 Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của

Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp

của nhân dân

25

1.3.1.2 Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp

đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải 26 1.3.1.3 Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin

đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp

pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà

nước, lợi ích công cộng

27

1.3.1.4 Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp

luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt

được kết quả hòa giải

28

1.3.2.1 Những vụ, việc được tiến hành hòa giải 30 1.3.2.2 Những vụ, việc không được hòa giải 32

Chương 2: các quy định pháp luật về Tổ Chức Hoạt Động Hòa Giải

ở CƠ Sở và thực tiễn áp dụng

36

2.1 Thực trạng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 36 2.1.1 Quy định của pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 36

2.1.1.2 Thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 39 2.1.2 Quản lý nhà nước về công tác hòa giải 47 2.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về công tác hòa giải 47

Trang 5

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải

ở cơ sở

55

2.2.2 Bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ hòa giải 65 2.2.3 Thể chế tài chính cho hoạt động hòa giải 66 2.3 Những vướng mắc về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 67 2.3.1 Pháp luật chưa đồng bộ, thiếu thống nhất 67 2.3.2 Những vấn đề mới phát sinh về tổ chức hòa giải chưa được

giải quyết dứt điểm

68

Chương 3: phương huớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ

chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

72

3.1 Những phương hướng chủ yếu hoàn thiện pháp luật về tổ

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

phải được tiến hành trong sự phù hợp với các biện pháp

thực thi chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp

luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

theo tinh thần Nghị Quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5

năm 2005 của Bộ Chính trị

72

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

phải đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ

72

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

phải theo hướng phù hợp với việc kiện toàn các thiết chế

xã hội tự nguyện trong điều kiện xây dựng và củng cố xã

74

Trang 6

phải đáp ứng được yêu cầu củng cố trật tự xã hội, giáo dục

đạo đức kết hợp giáo dục pháp luật và những quy ước tiến

bộ của cộng đồng

3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

phải hướng tới việc bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích, tăng

cường sự đồng thuận trong xã hội

76

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức

hoạt động hòa giải ở cơ sở

3.2.3 Hoàn thiện các quy định về sự quản lý của Nhà nước, sự

phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác

hòa giải ở cơ sở

84

3.2.4 Nâng cao việc tuyên truyền pháp luật về vai trò của hòa

giải trong đời sống xã hội, phát huy dân chủ ở cơ sở

86

3.2.5 Đổi mới công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, công tác hòa giải ở

cơ sở có vị trí rất quan trọng Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương

Đảng lần thứ tám khóa VII (tháng 1-1995) đã khẳng định: "Coi trọng vai trò

hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở" [1, tr 30]

Chế định hòa giải cũng đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: "Ở cơ

sở, thành lập các tổ chức thức hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật" (Điều 127 Hiến pháp 1992) [29]

Hòa giải thể hiện vai trò của mình trong bảo đảm ổn định xã hội trên nhiều phương diện Hòa giải ở cơ sở thể hiện đặc điểm lịch sử, đạo đức tâm lý truyền thống của dân tộc Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Hòa giải là sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong giải quyết các xung đột nhỏ trong xã hội Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý và tình, đến mức

"thấu tình, đạt lý" Hòa giải là một phương thức để thực hiện dân chủ, là sự thể hiện rõ rệt của tư tưởng "lấy dân làm gốc"

Một đặc trưng cơ bản của hòa giải là bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn Đây chính là biểu hiện của tính dân chủ trong quá trình giải quyết các tranh chấp Thông qua các hình thức hòa giải, đặc biệt là hòa giải ở cơ sở, nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong việc giải quyết các tranh chấp, xây dựng tình làng nghĩa

Trang 8

phải đưa ra tòa án xét xử Dễ trăm lần không dân cũng chịu - Khó vạn lần dân liệu cũng xong như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói

Tại Hội nghị tập huấn tư pháp toàn quốc năm 1950 ở Việt Bắc, Hồ Chủ

tịch đã nói: "Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt

hơn"

Hòa giải ở cơ sở là phong trào có sự tham gia của cả hệ thống chính trị

ở cơ sở: cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh , qua đó xây dựng được một cộng đồng dân cư mà vai trò tự quản của người dân được tăng cường, thực hiện được việc xã hội hóa hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật Đây là một xu hướng phát triển khách quan của xã hội, theo đó Nhà nước có thể từng bước giao cho nhân dân

tự quản những gì họ có thể tự quản được Đó chính là biểu hiện của một xã hội dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang nghiên cứu để khẳng định nó trong quá trình đổi mới, trong đó có đổi mới việc điều hành, quản lý đất nước và xã hội

Hòa giải đã từng có trong lịch sử làng xã Việt Nam, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Sau Cách mạng tháng Tám năm

1945 (giai đoạn 1945 - 1981), chế định hòa giải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quy định hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành tư pháp, chế định này hình thành cùng với sự hình thành và phát triển của các cơ quan tư pháp Nhiệm vụ hòa giải lúc đầu được giao cho Ban Tư pháp xã sau đó được giao cho tổ chức xã hội, đó là Tổ hòa giải - một tổ chức mang tính chất tự quản, dân chủ trực tiếp của nhân dân Trong giai đoạn từ năm 1982 đến năm 1992, tổ chức và hoạt động hòa giải đã phát triển mạnh

mẽ, tuy nhiên cũng trải qua nhiều thăng trầm, tổ chức và hoạt động hòa giải ở nhiều nơi bị giảm sút, gần như tan rã, hoạt động không hiệu quả Từ năm

Trang 9

1992, tổ chức và hoạt động hòa giải đã từng bước được khôi phục, củng cố và phát triển

Ngày 25 tháng 11 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Đây là văn bản pháp

lý có hiệu lực cao nhất từ trước đến nay về hòa giải ở cơ sở, đánh dấu một bước phát triển mới của công tác hòa giải trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị và phát huy dân chủ ở cơ sở Để thực hiện Pháp lệnh, ngày 18 tháng

10 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, tiếp đó, Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (thay thế Nghị định 38/CP ngày 04 tháng 6 năm 1993) và Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-BTP-BNV ngày 05 tháng 5 năm 2005 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương (thay thế Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26 tháng 7 năm 1993) đều có quy định về việc quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở

cơ sở

Xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi cao hơn tính tự quản của người dân trong quản lý nhà nước, trong đó có các giải quyết tranh chấp nhỏ, tạo ổn định và trật tự xã hội mà không cần Nhà nước can thiệp vào Đó là vấn đề

có tính quy luật của sự chuyển đổi vai trò của Nhà nước trong thế giới hiện đại

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trong những năm qua cũng đã bộc lộ những hạn chế như chưa có mô hình thống nhất về tổ chức hòa giải ở cơ sở, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của

Tổ hòa giải trong điều kiện hiện nay; về trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải, phần lớn tổ viên Tổ hòa giải chưa được bồi dưỡng kiến thức pháp

Trang 10

luật và nghiệp vụ hòa giải thường xuyên, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào dân tộc ít người Bên cạnh đó, tài liệu hướng dẫn nghiệp

vụ hòa giải được biên soạn thống nhất còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực

tế cho cán bộ hòa giải nói riêng và công tác hòa giải nói chung…

Thực tế tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở đang đặt ra nhiều vấn

đề trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở từ đó đề ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng của công tác hòa giải ở cơ sở là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần thực hiện dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, duy trì, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Được sự gợi ý của Khoa Luật và Bộ môn Lý luận và lịch sử nhà nước và

pháp luật, tác giả đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở

cơ sở và phương hướng hoàn thiện" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong nhiều năm qua, nghiên cứu về lĩnh vực hòa giải ở cơ sở cũng đã

có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu Chẳng hạn như cuốn sách: "Một số

tham luận và kinh nghiệm công tác hòa giải ở cơ sở năm 1996" của Sở Tư

pháp Thành phố Hồ Chí Minh (1997), "Công tác hòa giải ở cơ sở" do Luật

gia Nguyễn Đình Hảo chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1997), "Vì hạnh phúc của mọi nhà" do Phó tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Oánh và Luật

gia Trần Thị Quốc Khánh chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở một phạm

vi hẹp, đề cập đến thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải, chứ không

đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận của công tác hòa giải ở cơ sở

Trang 11

Trong một số sách hướng dẫn về nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở

như: "Hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở (tủ sách pháp luật xã,

phường, thị trấn)" - Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm

2000 do Tiến sỹ Dương Thanh Mai chủ biên, "Công tác hòa giải ở cơ sở" -

Bộ tài liệu tập huấn thống nhất về công tác hòa giải ở cơ sở dành cho cán bộ

tư pháp và các hòa giải viên do Bộ Tư pháp xây dựng trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010" do Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP),

cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chính phủ Thụy Điển (Sida), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế của Chính phủ Đan Mạch (DANIDA), Chính phủ

Na Uy và Chính phủ Ai Len tài trợ, các cuốn sách này chỉ đề cập đến các quy định pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở với tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chứ không đi vào nghiên cứu thực trạng, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về lĩnh vực hòa giải ở cơ sở hay như chỉ đề cập đến một khía cạnh

con người của công tác hòa giải ở cơ sở như cuốn sách "Đánh giá năng lực

cán bộ tư pháp cấp tỉnh về quản lý, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở",

trong khuôn khổ Dự án VIE/02/015 "Hỗ trợ thực thi Chiến lược phát triển hệ

thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010", Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội,

2005 Cuốn "Hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật" do Nhà xuất

bản Tư pháp, Hà Nội ấn hành năm 2006 cũng đã có một chương riêng về hòa giải ở cơ sở và phổ biến giáo dục pháp luật Một số nhà nghiên cứu về xã hội học cũng có những công trình nghiên cứu liên quan đến hòa giải ở cơ sở như

Giáo sư Tương Lai với bài viết "Đồng thuận xã hội" trên Tạp chí Tia sáng, tháng 11 năm 2005; tác giả Nguyễn Thị Lan với bài viết "Đồng thuận xã hội

và việc xây dựng sự đồng thuận xã hội ở nước ta hiện nay" đăng trên Tạp chí

Lý luận chính trị, số 6 năm 2006; các bài viết của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi

Quang Dũng về "Giải quyết xích mích trong nhóm gia đình: phác thảo từ

những kết quả nghiên cứu định tính", "Giải quyết xích mích trong nội bộ nhân

Trang 12

thôn miền Bắc Việt Nam (giả thuyết dành cho một cuộc nghiên cứu)" đăng

trên Tạp chí Xã hội học, số 4 năm 2001, số 1 và số 3 năm 2002

Một số các bài viết trong Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 7 năm 2006 về công tác hòa giải ở Hải Phòng mới chỉ đề cập đến thực tiễn công tác hòa giải như kết quả, một số tồn tại cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả và chỉ trong phạm vi một địa bàn nhất định

Còn đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, cũng đã có những công trình nghiên cứu, khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp về hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam với tư cách là một phương thức giải quyết xung đột xã hội dưới dạng những tranh chấp, xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư, hoặc cũng có thể coi hòa giải là một khía cạnh của đời sống xã hội dân sự truyền thống của nông thôn Việt Nam Đó là các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả về

"Đánh giá xã hội dân sự ở Việt Nam"; Dự án điều tra của Viện Xã hội học -

Viện Khoa học xã hội Việt Nam; hoặc là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc về vấn đề này

Tuy nhiên đến nay chưa có những công trình nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở và phương hướng hoàn thiện ở Việt Nam

Những vướng mắc nói trên chưa được đề cập và nghiên cứu một cách thấu đáo Do đó, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở là cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: làm rõ những vấn đề lý luận về hòa giải ở cơ sở, đánh giá được thực trạng tổ chức hoạt động của thiết chế xã hội này, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện thể chế hòa giải ở cơ sở

Trang 13

- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:

+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở, vai trò của hoạt động hòa giải đối với đời sống xã hội và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở

+ Nêu, phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về

tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu: phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học

5 Những điểm mới của luận văn

- Nghiên cứu một cách có hệ thống từ khái niệm, vị trí, vai trò của hòa giải ở cơ sở cũng như nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở nhằm góp phần hoàn thiện những cơ sở lý luận về hòa giải ở cơ sở

- Phát hiện những điểm còn bất cập trong quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, những tồn tại trong tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở, tìm

ra nguyên nhân của những tồn tại đó Đề xuất phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể

được khai thác, sử dụng trong công tác nghiên cứu về công tác hòa giải ở cơ

sở của các cơ quan tư pháp và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng

Trang 14

Luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, dự kiến trong Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội khóa XII

- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan tư pháp, cán bộ tư pháp, hòa giải viên

có thể khai thác, vận dụng những kết quả nghiên cứu của luận văn để tập huấn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác hòa giải ở cơ sở

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trong đời sống xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người rất

đa dạng, phong phú, bao gồm tổng hòa các mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (quan hệ vợ chồng, ông bà, bố mẹ, con cái, anh chị em ), quan hệ giữa các thành viên trong môi trường giáo dục: quan hệ thầy trò; quan hệ của những nhóm người trong xã hội: quan hệ đồng nghiệp, quan hệ bạn bè, quan hệ đồng hương Các quan hệ này có thể hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau như quan hệ huyết thống được pháp luật quy định (quan hệ gia đình), các quan hệ xã hội khác được hình thành và chi phối bởi các quy phạm đạo đức xã hội và được tồn tại dưới hình thức khác nhau

Thực tiễn cho thấy, qua các giai đoạn, qua các thời kỳ lịch sử, trong xã hội, tồn tại và phổ biến là những quan hệ xã hội tốt đẹp, lành mạnh Chính những quan hệ tốt đẹp, lành mạnh đó là nền tảng, là cơ sở, động lực cho việc xây dựng lối sống văn hóa, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Tuy

Trang 15

nhiên, bên cạnh những quan hệ xã hội tốt đẹp kể trên, còn tồn tại những mối quan hệ không lành mạnh, tiêu cực, lệch chuẩn, những quan hệ bị biến dạng theo chiều hướng xấu, thậm chí đi ngược lại với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội Những quan hệ đó có thể là những nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như những tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật thậm chí là những hành vi phạm tội

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước hòa mình trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đa dạng hóa các mối quan hệ, chủ động xây dựng kinh

tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu, kết quả trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà nền kinh tế thị trường mang lại, sự phát triển của đời sống xã hội trên các lĩnh vực cũng kéo theo những hạn chế, tiêu cực và những mặt trái của nó: sự xung đột về lợi ích, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống thực dụng

Chính những yếu tố đó đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng, biến dạng những quan hệ truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc ta Trong một chừng mực nào đó, ở những hoàn cảnh cụ thể, các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, dòng tộc, thầy trò, bạn bè cũng có những xáo trộn nhất định, bị chi phối bởi những yếu tố về lợi ích, quan điểm khác nhau, hay có thể gọi chung là những "xung đột xã hội nhỏ"

Các xung đột xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có các tranh chấp, xích mích nhỏ ở cộng đồng Những va chạm, xích mích giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng là điều không thể tránh khỏi, có điều kiện nảy sinh, tồn tại thậm chí phát triển Có thể là mâu thuẫn ngay giữa các thành viên trong gia đình, giữa hai hay nhiều hộ gia đình,

có khi là mâu thuẫn giữa một dòng họ, một dòng tộc, xóm này với xóm kia, mâu thuẫn giữa làng với làng Mâu thuẫn đó xảy ra khá đa dạng, phong phú trên các lĩnh vực kinh tế, dân sự, hôn nhân và gia đình

Trang 16

Những mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp này dù là nhỏ nhưng nếu không có biện pháp giải quyết sẽ gây mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Để giữ gìn trật tự xã hội, việc giải quyết xung đột có thể được tiến hành theo năm phương pháp: giải quyết bằng sự tác động của dư luận xã hội; thông qua các tổ chức tự quản; giải quyết bằng các phán quyết của trọng tài; bằng các quyết định của cơ quan hành pháp và thông qua cách giải quyết của cơ quan tư pháp - Tòa án

Như vậy, có rất nhiều cách giải quyết xung đột trong xã hội, trong số những cách giải quyết đó, hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng - hình thức giải quyết thông qua các tổ chức tự quản được coi là một trong những phương pháp giải quyết rất hiệu quả Đây là hình thức giải quyết đang ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong đời sống xã hội đối với các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nhân dân

1.1.1 Khái niệm hoà giải ở cơ sở

Trước khi đi sâu vào khái niệm hòa giải ở cơ sở, cần tìm hiểu các quan niệm về hòa giải nói chung Tùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình hòa giải mà có rất nhiều quan niệm về hòa giải trong khoa học cũng như trong thực tiễn: quan niệm hòa giải như một hình thức, một quá trình giải quyết tranh chấp Theo ý kiến của một số luật gia, hòa giải được coi là một chế định pháp luật, coi hòa giải như trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động Đối với các nhà thực tiễn thì coi hòa giải

là những hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những bất đồng, mâu thuẫn

Trên thế giới có rất nhiều quan niệm về hòa giải Hiệp hội hòa giải

Hoa Kỳ quan niệm "Hòa giải là một quá trình, trong đó bên thứ ba giúp hai

bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ" [39] Như

vậy, vai trò của người hòa giải là người trung gian giúp hai bên tranh chấp

Trang 17

giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng của họ trên cơ sở tự nguyện, chứ người hòa giải không tham gia vào quá trình, vào việc thỏa thuận các giải pháp

Từ điển thuật ngữ của ILO/EASMAT về quan hệ lao động và các vấn

đề có liên quan thì cho rằng:

Hòa giải là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hòa những ý kiến bất đồng Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn độc lập với hai bên , không có quyền áp đặt , hành động như một người môi giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được [39]

Quan niệm khác thì cho rằng: "Mục đích của hòa giải là chuyển cuộc

đấu tranh hai bên thành cuộc khảo cứu ba bên, nhằm kiến tạo một kết quả chung" [39]

Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành

năm 1995, hòa giải được hiểu là "hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm

dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa" [60]

Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Tư pháp, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp xuất bản

năm 2006 thì hòa giải "là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh

chấp của mình một cách ổn thỏa" [59, tr 365] Như vậy, có rất nhiều quan

niệm về hòa giải cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn Dựa trên những khái niệm về hòa giải ở trên cũng như qua thực tiễn hoạt động hòa giải, có thể khái quát được đặc trưng của hòa giải cụ thể như sau:

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên, trong đó có

sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian Bên thứ ba này không áp đặt ý chí của mình lên sự thỏa thuận của hai bên tranh chấp mà chỉ giải thích, thuyết

Trang 18

thỏa thuận đó của hai bên - chủ thể của tranh chấp, mâu thuẫn là kết quả được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện của mỗi bên, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội

Với nhiều quan niệm về hòa giải, các luật gia cho rằng rất khó có thể đưa ra một khái niệm hòa giải chung, thống nhất cho tất cả các loại hình hòa giải do các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc cá nhân tiến hành trong đời sống xã hội Tuy nhiên, từ đặc trưng được rút ra ở trên, có thể đưa ra một

khái niệm về hòa giải như sau: "Hòa giải là một quá trình giải quyết những

bất đồng, tranh chấp giữa các bên, quá trình đó có sự tham gia của bên thứ

ba với vai trò trung lập, giúp các bên đạt được sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó"

Hiện nay, ở nước ta có nhiều hình thức hòa giải với những phạm vi, đối tượng, phương pháp, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải khác nhau như: hòa giải tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình, hòa giải các tranh chấp lao động, hòa giải bằng trọng tài kinh tế, hòa giải ở cơ sở - hòa giải các tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân

Theo quy định của pháp luật, đối với các ngành luật như dân sự, kinh

tế, lao động, hôn nhân gia đình , hòa giải đều được coi là một nguyên tắc, một thủ tục bắt buộc khi giải quyết các tranh chấp Ví dụ: đối với luật dân sự,

sự bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên, quyền tự định đoạt, tự do giao kết hợp đồng dân sự là bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự, do đó, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có quyền tự định đoạt và tự do thỏa thuận giải quyết tranh chấp Vì vậy, một mặt hòa giải là nguyên tắc trong quan hệ dân

sự, mặt khác, hòa giải vừa là thủ tục bắt buộc của các cấp Tòa án trong quá trình giải quyết phần lớn các tranh chấp dân sự

Điều 12 Bộ luật Dân sự (được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005) quy định về nguyên tắc hòa giải như sau:

Trang 19

"Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng

vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự" [33]

Dưới góc độ của luật hình thức, hòa giải là thủ tục bắt buộc thể hiện thông qua trách nhiệm hòa giải thuộc về Tòa án Đây cũng là một trong những nguyên tắc được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự (được Quốc hội

khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004): "Tòa án có

trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này" [32]

Hòa giải là hoạt động của Tòa án khi tiến hành giải quyết vụ kiện dân

sự Theo quy định tại khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hòa giải

là thủ tục bắt buộc ở thời điểm trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm để giải quyết vụ án dân sự

Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án dân sự Tòa án đều phải tiến hành hòa giải Theo quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải đối với những vụ việc mà nếu hòa giải sẽ trái với mục đích xét xử của vụ án đó Đó là những vụ, việc được quy định tại Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự cũng có những quy định gần với hòa

giải Khoản 1, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Những

vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108,

109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi

có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất"

Trang 20

điều luật nói trên của Bộ luật Hình sự đều khởi tố theo yêu cầu của người bị hại Theo quy định, chỉ được áp dụng việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trong trường hợp hành vi phạm tội được nói đến ở khoản 1 của các điều luật nói trên Điều đó có nghĩa là việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội xảy ra ở mức nguy hiểm thấp nhất cho xã hội, tội phạm ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Và khi người bị hại đã không yêu cầu khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án không tiếp tục tiến hành việc tố tụng và không bị

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật thì có thể tự dàn xếp với nhau

Khác với hình thức hòa giải khác, hòa giải ở cơ sở không có yếu tố "tư pháp", nghĩa là không có sự tham gia của Tòa án mà được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở

cơ sở thực hiện, pháp luật không quy định thời hạn tiến hành hòa giải tranh chấp

do Tổ hòa giải tiến hành như các loại hình hòa giải khác, vì vậy, việc hòa giải chỉ kết thúc khi các bên đạt được kết quả hòa giải và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó

Điều 127 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 ghi nhận:

"Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những

vi phạm pháp luật và những tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật " [29]

Cụ thể hóa Điều 127 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung một số điều Hiến pháp năm 1992, Điều 1 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 (có hiệu lực từ ngày 08 tháng 01 năm 1999) quy định:

Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết

Trang 21

trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư [37]

Điều 2, Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở quy định:

Hòa giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm

và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn

xã hội trong cộng đồng dân cư [19]

Từ những quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở, có thể nói rằng hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên bằng việc vận dụng những quy định của pháp luật cũng như những quy phạm đạo đức để giải thích, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, hàn gắn tình nghĩa trong gia đình, dân cư, phát huy truyền thống đạo đức và các phong tục, tập quán tốt đẹp trong nhân dân, hạn chế vi phạm pháp luật ở cơ sở, giảm bớt nguyên nhân gia tăng tội phạm, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, tạo tiền đề cho kinh tế - xã hội phát triển, góp phần mở rộng dân chủ ở cơ sở, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Đặc điểm hoà giải ở cơ sở

Với ý nghĩa là phương thức giúp các bên thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn

Trang 22

đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế

vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, có thể rút ra một số đặc điểm của hòa giải ở cơ sở như sau:

- Hòa giải là một định chế xã hội mang đậm tính chất tự nguyện, là một biểu hiện của xã hội dân sự ở cơ sở Nhìn từ góc độ đời sống xã hội trong mỗi quốc gia, có thể thấy rằng, hòa giải phải là một định chế xã hội mang đậm tính chất tự nguyện và nhìn từ khía cạnh đời sống xã hội dân sự, có thể coi đó là một biểu hiện của xã hội dân sự ở cơ sở Đó là toàn bộ đời sống xã hội trong lĩnh vực tự quản của công dân tự do và các tổ chức tự quản của họ Lĩnh vực tự quản đó nằm ngoài sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước Yếu tố tự quản với những giá trị nhân văn của hòa giải sẽ là một biện pháp điều hòa những lợi ích trong các tranh chấp, xích mích, làm giảm thiểu sự khác biệt trong mỗi thành viên cộng đồng, góp phần tạo ra sự đồng thuận xã hội rộng rãi hiện nay Hòa giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác như các chợ cố định, tụ điểm du lịch, vui chơi giải trí phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân

- Các yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc là những tiền đề rất quan trọng, là cội nguồn, là "mảnh đất" cho hòa giải hình thành và phát triển

và vượt qua được những thay đổi của các thể chế chính trị ngày càng khẳng định được vai trò, ý nghĩa to lớn của mình trong đời sống xã hội Hay nói cách khác, hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng được người dân Việt Nam chấp nhận Bản chất và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc vì con người chính là cội nguồn, mảnh đất cho hòa giải hình thành và phát triển trường tồn, vượt qua thử thách của thời gian, những biến cố thăng trầm của lịch sử Đây cũng là một trong những đặc điểm của hòa giải ở cơ sở

Trang 23

Có thể thấy rằng, ở Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước với nhu cầu làm thủy lợi, đắp đê, chống lụt cùng với nguy cơ giặc ngoại xâm luôn

đe dọa đã hình thành lối sống cộng đồng, cố kết, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong ý thức của người Việt cổ Họ nhận thức được rằng, chỉ có sức mạnh đoàn kết cộng đồng mới có thể đánh bại được thiên tai, địch họa để tồn tại và phát triển

Xã hội cổ truyền Việt Nam được mở rộng theo công thức Nhà - Làng - Nước: nhiều gia đình gắn kết lại thành làng, rồi các làng liên kết lại thành nước Làng là đơn vị cơ sở cấu thành nên quốc gia, nó mang tính khép tín, tự quản rất cao do đặc thù của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp

"Trong các làng xã cổ truyền, cả cuộc đời người nông dân quen sống

với các mối quan hệ xóm giềng, huyết thống ràng buộc nhau một cách bền chặt" [47, tr 134], do đó người Việt rất coi trọng tình làng nghĩa xóm, "tối lửa

tắt đèn" có nhau Mỗi con người từ khi sinh ra đến khi từ giã cõi đời, không thể thiếu được tình làng nghĩa xóm Chính tình làng nghĩa xóm đã nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che cho họ trước những khó khăn, hoạn nạn, thiên tai, địch họa Họ có thể "bán anh em xa, mua láng giềng gần"

Và cũng chính từ nhu cầu đoàn kết vì sự tồn tại, phát triển của cá nhân

và cộng đồng, một đạo lý sống, một phương châm sống đã hình thành và tồn tại trong quan hệ giữa người với người, đó là "một điều nhịn, chín điều lành",

"chín bỏ làm mười"… Đạo lý, phương châm sống ấy đã hình thành cách xử

sự đầy bao dung, nhường nhịn, tính nhân ái, nhân văn khi có mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hay với hàng xóm láng giềng Trong gia đình, đó là "đóng cửa bảo nhau", giữa hàng xóm láng giềng thì "tối lửa tắt đèn có nhau"…

Hơn nữa, trong một cộng đồng làng xã khép kín thì "phép vua thua lệ làng", người Việt có thói quen ứng xử theo đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống hơn là theo pháp luật Họ không sợ đao to búa lớn mà lại sợ sức

Trang 24

mạnh dư luận xã hội, "uốn mình theo dư luận" Trong hệ thống các phương tiện điều chỉnh hành vi và quan hệ xã hội của con người, dư luận xã hội cũng

có tác động nhất định

Hành vi của cá nhân con người cũng như các mối quan hệ

xã hội của họ luôn chịu sự kiểm soát từ hai phía: dư luận xã hội và lương tâm cá nhân Người Việt vốn trọng danh dự Lối sống trọng danh dự đó đã dẫn đến "cơ chế tin đồn", tạo nên dư luận xã hội như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định, đặc biệt là ở các buôn, làng Nhà văn Lê Lựu cũng đã từng viết trong cuốn tiểu thuyết "Thời xa vắng" của mình rằng: Người ta chỉ dám dựa theo dư luận mà sống chứ ai dám giẫm lên dư luận mà đi theo ý mình [52, tr 12]

Để giữ gìn quan hệ - yếu tố quyết định để tồn tại được trong một cộng đồng, trong mọi trường hợp, hòa giải vẫn được xem là phương án tối ưu khi

mà trong ý thức, tâm lý của người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, việc giải quyết các xích mích hay đưa ra chốn "công đường" là một điều rất ghê gớm, mất thể diện, "vô phúc đáo tụng đình" Khi đã phải đưa nhau ra chốn "công đường" thì tình làng nghĩa xóm, quan hệ giữa các bên khó

có thể hàn gắn như cũ "Họ thích giải quyết bằng "tình làng nghĩa xóm" hơn

là giải quyết theo pháp luật" [45, tr 45] Theo kết quả nghiên cứu, trong việc

giải quyết xích mích, về cơ bản, các thành viên trong xã hội mong muốn giải quyết êm thấm các xích mích trong nội bộ làng xóm

Khái niệm "chính quyền xã" trong ý thức nông dân bắt đầu cho một không gian xã hội khác, nơi người ta không mấy quen thuộc và rất sợ bị mất thể diện Đưa nhau ra "chính quyền" có nghĩa là ra khỏi cái khuôn khổ quen thuộc của "tình làng, nghĩa xóm", nơi mà người ta có thể "chín bỏ làm mười" cho nhau [45, tr

47]

Trang 25

Trái ngược hẳn với tư duy trên của người phương Đông, ở các nước phương Tây, ngay từ thời cổ đại, với sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp, người dân sớm biết đến và cần đến pháp luật với tính cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội Khi xảy ra tranh chấp, họ có thói quen

sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình Người phương Tây coi việc khởi kiện ra Tòa án là điều rất bình thường

Như vậy, có thể nói, yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý dân tộc ảnh hưởng không nhỏ đến cách hành xử của người Việt khi xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn Ngày nay, dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế - xã hội của người Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng truyền thống, tâm lý dân tộc đã tồn tại ngàn đời nay thì vẫn được bảo tồn và phát huy Đây là một trong những tiền đề rất quan trọng của hòa giải

- Hòa giải thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc" mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và các Đại hội Đảng tiếp theo đó đã khẳng định Những tranh chấp, xích mích nhỏ trong nhân dân sẽ do nhân dân tự nguyện đứng ra giải quyết mà không có kẻ thắng, người thua Sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh, đúng đắn sẽ là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt những xung đột xã hội nhỏ này

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là hòa giải chỉ có ở Việt Nam Ở một số quốc gia trên thế giới, hòa giải ở cơ sở cũng đều được thừa nhận và khuyến khích Về bản chất, hòa giải ở cơ sở ở các nước này giống so với hòa giải ở cơ sở ở Việt Nam

Ở Trung Quốc, trong các loại hòa giải như hòa giải nhân dân, hòa giải hành chính, hòa giải tại tòa án, hòa giải bằng các cơ quan hòa giải ngoại thương, hòa giải bằng các cơ quan trọng tài, hệ thống hòa giải nhân dân được

coi là lớn nhất và lâu đời nhất trên thế giới "Hòa giải thời phong kiến Trung

Trang 26

Quốc có chức năng chủ yếu là duy trì một trật tự xã hội phù hợp với tư tưởng của Nho giáo" [40, tr 54] Sau này, truyền thống đó đã được Nhà nước Cộng

hòa nhân dân Trung Hoa tiếp thu, chọn lọc và phát triển để phù hợp với chế

độ chính trị - xã hội mới Thể hiện sự tiếp thu, chọn lọc và phát triển ấy của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hòa là sự ghi nhận lần đầu tiên về việc thành lập các Ủy ban hòa giải nhân dân trong bản Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc Tiếp đến, sự ra đời của bản "Các quy tắc hòa giải nhân dân" năm

1989 do Ủy ban thường vụ Quốc vụ viện ban hành là căn cứ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của hòa giải nhân dân ở Trung Quốc Các quy định về Ủy ban hòa giải nhân dân có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của hòa giải ở Trung Quốc vì nó khẳng định sự thừa nhận của Chính phủ về sự tồn tại lâu dài và vai trò to lớn của hòa giải trong hệ thống pháp luật của Trung Quốc

Sự tồn tại song song của cả hai hệ thống chính thức - pháp luật và không chính thức - hòa giải các tranh chấp trong nhân dân đối với việc giải quyết tranh chấp vẫn còn ở nhiều vùng của đất nước Philippin

Năm 1978, Tổng thống đã đặt nền móng pháp lý cho hệ thống hòa giải tranh chấp ở cấp làng, xã (Barangay) bằng việc ra Lệnh số 1508 (hay còn gọi là Luật Công lý Barangay) với mục đích nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa sự quá tải, chậm trễ của tòa án với vai trò không chính thức nhưng lại tác động rộng rãi của hòa giải Sự ra đời của văn bản trên góp phần giảm bớt gánh nặng của tòa án và tăng cường chất lượng xét xử, tăng cường giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo truyền thống giữa các gia đình và

thành viên làng, xã Hệ thống hòa giải ở cấp làng, xã "sẽ thúc đẩy nền hành

chính tư pháp, phát triển văn hóa Philippin và củng cố gia đình với tư cách

là nền tảng của xã hội" [40, tr 60]

Cũng có thể thấy trường hợp tương tự như ở Thái Lan, bên cạnh hệ thống pháp luật và tòa án chính thức, để giải quyết tranh chấp, người dân Thái

Trang 27

Lan vẫn coi hòa giải là phương pháp chính, đặc biệt ở nông thôn Vì vậy, ở nông thôn hiếm khi người dân đưa nhau ra kiện trước tòa

Như vậy, biện pháp giải quyết tranh chấp, xích mích bằng con đường hòa giải đều được thừa nhận ở các nước trên thế giới với các hình thức, mức

độ ghi nhận khác nhau Những đặc điểm truyền thống, tâm lý - xã hội của con người Việt Nam đặt ra vấn đề cần phải nhấn mạnh, phát huy vai trò của hòa giải hơn nữa, đặc biệt là hòa giải ở cơ sở, vì truyền thống đoàn kết, lối sống cộng đồng, coi trọng quan hệ, trọng đạo lý của người Việt tạo ra nhiều khả năng và cơ hội cho hòa giải

Hiện nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đặt ra cho Nhà nước là cần thay đổi cách thức quản

lý xã hội Nhà nước ngày càng phải hạn chế sự can thiệp vào các quan hệ mang tính chất "tư" giữa các chủ thể, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, quyền

tự định đoạt của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Mặt khác, từ khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, các quan

hệ xã hội ngày càng phức tạp, các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân vì thế ngày càng tăng về số lượng cũng như mức độ đa dạng, phức tạp, chẳng hạn như tranh chấp đất đai, tranh chấp về thừa kế… Các cơ quan hành chính

và Tòa án không thể và cũng không cần giải quyết tất cả mọi tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên trong xã hội, khi mà người dân có thể tự dàn xếp ổn thỏa những xích mích trong cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống Vì vậy, có thể nói nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và một xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ

là những tiền đề của hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng

1.2 VAI TRÒ CỦA HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VÀ NHU CẦU ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

Trang 28

Có thể nói rằng, hòa giải ở cơ sở góp phần giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp, xích mích giữa con người với con người - những mâu thuẫn vốn là điều không tránh khỏi trong cuộc sống thường ngày, đó là hiện tượng

xã hội mang tính khách quan

Với bản chất và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc vì con người, hòa giải ở cơ

sở có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội

1.2.1.1 Hòa giải góp phần giải quyết ngay, kịp thời, có hiệu quả các

vi phạm, xích mích, tranh chấp nhỏ trong nhân dân, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của nhân dân cũng như của Nhà nước

Hòa giải góp phần giải quyết ngay, kịp thời, có hiệu quả các vi phạm, xích mích, tranh chấp nhỏ trong nhân dân, ngăn ngừa phát sinh những vụ án hình sự, tranh chấp phức tạp trong các lĩnh vực về dân sự, kinh tế tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của nhân dân cũng như của Nhà nước

Thực tiễn cho thấy, thông qua hòa giải ở cơ sở, một số lượng lớn các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật nhỏ đã được giải quyết kịp thời, nhanh chóng, giảm bớt khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện của nhân dân Mỗi năm ở

cơ sở hòa giải thành bao nhiêu vụ việc tức là giảm được bấy nhiêu vụ việc mà các cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết Ngay cả khi hòa giải không thành, Tòa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh chấp, tâm tư, nguyện vọng của đương sự để xác định đường lối giải quyết đúng đắn, ra phán quyết thấu tình đạt lý

1.2.1.2 Hòa giải góp phần khôi phục, duy trì, củng cố sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Bởi lẽ hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp mà không có người được, người thua, mỗi bên đều chấp nhận nhượng bộ một phần quyền lợi của mình để đạt được thỏa thuận Khác với trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng một phán quyết mang tính bắt buộc, tức là khi mọi nỗ lực hòa

Trang 29

giải đều không thành, sẽ có bên thắng, bên thua, luôn có ít nhất một bên không hài lòng với phán quyết đó, thậm chí có khi cả hai bên đều không thỏa mãn Vì thế sau vụ kiện, quan hệ giữa các bên khó có thể hàn gắn lại được như cũ Thông qua hòa giải ở cơ sở, nhiều mâu thuẫn, xích mích, vi phạm pháp luật nhỏ được giải quyết kịp thời, không để cho chúng phát triển lên thành những vụ việc nghiêm trọng, tình làng nghĩa xóm được giữ gìn, củng

cố Hòa giải viên là những người sống gần gũi với người dân trong các thôn, xóm, ấp, bản, tổ dân phố , nên họ có thể phát hiện sớm và nắm bắt kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ cụm dân cư của mình; hơn nữa, họ lại hiểu rõ hoàn cảnh của các bên tranh chấp, biết được nội tình vụ việc nên hòa giải có thuận lợi Mặt khác, hòa giải thành là dựa trên sự tự nguyện của các bên, không do ai áp đặt, cưỡng ép nên các bên sẽ tự giác thực hiện cam kết của mình Mâu thuẫn phát sinh được giải quyết tận gốc, không để bùng phát trở lại nên kết quả của hòa giải mang tính bền vững Một khi đã xây dựng, củng cố được khối đoàn kết trong nội bộ nhân dân, ổn định trật tự xã hội thì việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ có nhiều thuận lợi

1.2.1.3 Hòa giải góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân

Khi hòa giải (dù là hình thức nào), bên thứ ba đứng ra hòa giải đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó

có xử sự phù hợp với quy định pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp phát sinh do các bên không hiểu biết pháp luật, nên lầm tưởng rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, hoặc cho rằng hành vi của mình là đúng pháp luật Nếu các bên được giải thích pháp luật một cách cặn kẽ, tranh chấp có thể sẽ được giải quyết dứt điểm và nhanh chóng Thông qua

Trang 30

hòa giải, ý thức chấp hành pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật của người dân được nâng cao

1.2.1.4 Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Hòa giải viên khi tiến hành hòa giải không chỉ dựa trên các quy định pháp luật, mà còn phải dựa vào những chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử, truyền thống để tác động tới tâm tư, tình cảm của các bên tranh chấp, khơi dậy trong họ tình cảm thân thích, ruột thịt hay tình làng nghĩa xóm… góp phần thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Có thể nói hòa giải, nhất là hòa giải ở cơ sở là biểu hiện của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa pháp luật và đạo đức, giữa lý và tình

1.2.2 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hòa giải ở cơ sở

Xuất phát từ những tiền đề đã phân tích ở trên, cũng như từ vai trò, tầm quan trọng của hòa giải trong đời sống xã hội, việc thể chế hóa hoạt động hòa giải, đặc biệt là hòa giải ở cơ sở là một nhu cầu khách quan

Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Đào Trí Úc khẳng định:

Nếu khi nhu cầu khách quan của xã hội (về kinh tế, chính trị,

xã hội v.v ) đã chín muồi thì "sự chín muồi" đó chính là chân lý, chính là khuôn mẫu, mô hình cần phải được pháp luật quy phạm hóa Ta có thể hình dung pháp luật như hai bờ của dòng sông

"Bờ" có nhiệm vụ đi theo dòng chảy, chứ bờ sông không thể thay được dòng chảy Và nếu không có bờ, nước có thể cứ chảy, nhưng không theo dòng! Bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển đúng quy luật! Phù hợp với lợi ích tiến bộ là "thiên chức" của pháp luật

[61, tr 20]

Trang 31

Thể chế hóa nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hòa giải, thể hiện sự thừa nhận của Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Xây dựng thể chế chính là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải Tuy nhiên, khi thể chế hóa hoạt động hòa giải, cần lưu ý rằng hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính tự quản của nhân dân, quản lý nhà nước không phải nhằm "hành chính hóa" hoạt động này, biến Tổ hòa giải ở cơ sở thành tổ chức của chính quyền, mà chủ yếu là chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, bồi dưỡng kiến thức, cung cấp tài liệu cho hòa giải viên, hỗ trợ kinh phí nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động hòa giải phát triển rộng khắp, có hiệu quả trong cộng đồng dân cư Hòa giải với tư cách là một khía cạnh, một yếu tố của đời sống xã hội dân sự chính là ở chỗ đó

Với ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội của công tác hòa giải

ở cơ sở, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6 năm 1997), Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18 tháng 02 năm

1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (đã được thay thế bởi Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ) đã xác định việc củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ hòa giải là một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và quản lý nhà nước nói

riêng: "Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản của nhân dân, công nhân, cán

bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật những công việc mang tính xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn

vị như việc xây dựng Quy ước, Hương ước, Làng văn hóa, xây dựng Tổ hòa giải" [4]

Trang 32

Việc thông qua Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở ngày 25 tháng 12 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành Nghị định 160/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 1999 đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng để công tác hòa giải tiếp tục phát triển và phát huy vai trò của mình trong đời sống xã hội, một mặt nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thống nhất cho việc tổ chức và hoạt động của Tổ hòa giải - tổ chức thích hợp của nhân dân trong cộng đồng dân cư, từng bước kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác hòa giải ở cơ sở, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh

tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong công tác hòa giải, mặt khác, tăng cường sự đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

1.3 NGUYÊN TẮC, PHẠM VI HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.3.1 Nguyên tắc hòa giải ở cơ sở

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, nguyên tắc được

hiểu là "điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc

Người hòa giải nếu biết kết hợp các chính sách, quy định của pháp luật với các chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc sẽ là

Trang 33

Để đạt được sự thành công đó đòi hỏi người hòa giải trước tiên phải nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan như hôn nhân và gia đình, dân sự, đất đai, bảo vệ môi trường, hình sự Ví

dụ như đối với việc hòa giải mâu thuẫn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, hòa giải viên cần nắm rõ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước về xây dựng gia đình văn hóa, "xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ

ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình" [2, tr 112]

Tiếp đến, hòa giải viên phải dựa vào các chuẩn mực đạo đức, các phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ta để khuyên nhủ, giải thích, giúp các bên giải quyết mâu thuẫn được ổn thỏa Nếu chỉ dựa vào các quy định của pháp luật không thôi thì chưa đủ Phương châm sống "một điều nhịn, chín điều lành",

"chín bỏ làm mười"…, cách xử sự đầy bao dung, nhường nhịn, tính nhân ái, nhân văn trong quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam luôn tồn tại ngay cả khi có mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hay với hàng xóm láng giềng Phương châm, cách xử sự đó luôn là sợi dây gắn bó các bên tranh chấp cho dù mâu thuẫn có gay gắt đến đâu chăng nữa Trong mỗi con người đều có những phần tốt, đó là tình yêu, lòng nhân ái, đức vị tha, là trách nhiệm, sự tôn trọng

Vì vậy, hòa giải viên phải khơi dậy phần tốt đẹp trong những con người ấy, luôn biết kết hợp các quy định của pháp luật với đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân để đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình hòa giải

1.3.1.2 Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải

Như đã biết, hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên trong đó có sự tham gia của bên thứ ba - hòa giải viên giữ vai trò làm trung

Trang 34

dẫn, thuyết phục các bên, giúp họ tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm của mình, động viên họ hiểu ra đúng sai, tự điều chỉnh hành vi của mình để đạt được sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Người hòa giải chỉ thuyết phục, hướng dẫn, giúp các bên giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng con đường hòa giải chứ không áp đặt, bắt buộc, áp đặt ý chí của mình buộc các bên phải tiến hành hòa giải nếu các bên không chấp nhận việc hòa giải

Chủ thể của các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn chính là chủ thể của hòa giải Do đó, họ chứ không phải ai khác có toàn quyền quyết định cách thức, biện pháp giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn đó Nếu họ không chấp nhận việc hòa giải thì tổ viên Tổ hòa giải hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư, thì tổ viên Tổ hòa giải kịp thời báo cáo cho tổ trưởng Tổ hòa giải để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp giải quyết Trong trường hợp việc thực hiện thỏa thuận có khó khăn, thì tổ viên Tổ hòa giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thỏa thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận đã đạt được mà không áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành những thỏa thuận của họ Mọi tác động đến ý chí của các bên như cưỡng ép, bắt buộc đều vi phạm nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên

1.3.1.3 Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng

Yêu cầu của công tác hòa giải là đảm bảo sự "thấu tình, đạt lý" Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân của tranh chấp, lắng nghe ý kiến của các bên tranh chấp, tránh tình trạng phiến diện một

Trang 35

bình đẳng, không thiên vị, định kiến, giúp các bên hiểu rõ được đúng sai để từ

đó có cách xử sự, thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức

xã hội Việc tìm hiểu các thông tin liên quan để hòa giải đạt kết quả tốt cũng

có nghĩa là người hòa giải cũng biết được những thông tin liên quan đến bí mật đời tư của các bên tranh chấp Điều đó đòi hỏi người hòa giải không được phép tiết lộ những thông tin này, cần phải tôn trọng những thông tin thuộc về

bí mật đời tư của các bên tranh chấp Tuy nhiên, những thông tin bí mật đời tư của cá nhân không đồng nghĩa với những thông tin mà các bên tranh chấp che giấu về hành vi vi phạm pháp luật của mình

1.3.1.4 Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hòa giải

Những va chạm, xích mích, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, làng xóm là điều không tránh khỏi trong cuộc sống hàng ngày Có khi

đó là những mâu thuẫn đơn giản, chỉ cần một bên nhận ra lỗi lầm của mình,

"xin lỗi" bên kia là mâu thuẫn đã được giải quyết Có thể thấy rằng, công tác hòa giải ở cơ sở có tác dụng giảng hòa khi mâu thuẫn mới chớm nở giống như con bệnh được chữa trị sớm, kịp thời Tuy nhiên, cũng có những vụ việc phức tạp, "chuyện bé xé ra to" nếu không được giải quyết kịp thời, có lý tình thấu đáo thì rất có thể đó lại là nguyên nhân của những vụ án hình sự, "con bệnh"

sẽ không được chữa trị sớm, bệnh sẽ càng nặng thêm

Vì vậy, người làm công tác hòa giải cần chủ động, kịp thời tiến hành hòa giải với lòng nhiệt tình, thực hiện tốt phương châm "kiên trì, bám trụ", hạn chế hậu quả xấu, ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm

có thể xảy ra, giữ gìn trật tự, tình đoàn kết trong nhân dân

Do đặc điểm pháp luật không quy định thời hạn tiến hành hòa giải tranh chấp do Tổ hòa giải tiến hành như các loại hình hòa giải khác, vì vậy, việc

Trang 36

hiện thỏa thuận đó Thực tế hòa giải đã cho thấy có những mâu thuẫn mới bắt đầu, nhưng cũng có những vụ việc hòa giải mâu thuẫn trong gia đình như về tranh chấp lối đi và rãnh nước chảy qua vườn kéo dài đến 20 năm như lời kể của một tổ trưởng Tổ hòa giải thôn Thường Sơn, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên - ông Nguyễn Tất Năm Do đó, công tác hòa giải đòi hỏi người hòa giải phải kiên trì, tìm hiểu sự việc một cách kỹ lưỡng để có những phương pháp hòa giải phù hợp nhất, thuyết phục các bên tranh chấp đạt tới thỏa thuận phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, đem lại sự hòa thuận, yên ổn trong gia đình, làng xóm

Bên cạnh việc đảm bảo khách quan, công minh, có lý, có tình, giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp, nguyên tắc này còn đòi hỏi người hòa giải trong quá trình hòa giải phải tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp dụng cho mọi loại hình hòa giải các tranh chấp kể cả việc hòa giải được thực hiện bởi Tòa án và

Trang 37

người Vì vậy, không thể vì mục đích đạt được hòa giải thành mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình hòa giải, bên cạnh việc giúp các bên giải quyết tranh chấp, hòa giải viên đã góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người dân Hay nói cách khác, hoạt động hòa giải ở cơ sở chính là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả nhằm từng bước nâng cao nhận thức pháp luật và giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong cộng đồng nhân dân

1.3.2 Phạm vi hòa giải ở cơ sở

Với đặc điểm là phương thức giải quyết những việc vi phạm pháp luật

và tranh chấp nhỏ giữa các bên, giúp các bên thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, phạm vi của hòa giải ở cơ sở bao gồm các nội dung sau đây

1.3.2.1 Những vụ, việc được tiến hành hòa giải

Hòa giải được tiến hành đối với việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, gồm:

a) Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân trong quan hệ xóm giềng như sử dụng lối đi qua nhà,

sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung

b) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp phát sinh từ các quan hệ về tài sản, quan hệ hợp đồng dân sự, nghĩa vụ

Trang 38

Tổ hòa giải chỉ hòa giải các tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự là tranh chấp nhỏ Căn cứ để coi tranh chấp này là tranh chấp nhỏ không nhất thiết dựa vào giá trị tranh chấp Có những trường hợp tuy giá trị tranh chấp tương đối lớn, nhưng vẫn có thể hòa giải được vì tình tiết sự việc đơn giản, rõ ràng, không đòi hỏi người giải quyết tranh chấp phải có kiến thức chuyên môn và trình độ pháp lý cao; mức độ mâu thuẫn không quá gay gắt, có thể thuyết phục được các bên tranh chấp thỏa thuận mà không trái với các nguyên tắc do pháp luật quy định

c) Tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình như: thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; nhận nuôi con nuôi; ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng

Khi hòa giải những vụ việc này, tổ viên Tổ hòa giải không được xem xét giải quyết những vụ việc mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước như: chấm dứt nuôi con nuôi; truy nhận cha, mẹ cho con ngoài giá thú; phân xử việc ly hôn (cho ly hôn); ép buộc thực hiện các việc mà Luật Hôn nhân và gia đình cấm

d) Những việc vi phạm pháp luật khác mà theo quy định của pháp luật chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính

Tranh chấp phát sinh từ vi phạm pháp luật mà theo quy định những vi phạm đó chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hành chính như trộm cắp vặt, đánh chửi nhau gây mất trật tự công cộng, đánh nhau gây thương tích nhẹ, va quệt xe cộ gây thương tích nhẹ

Như vậy, việc hòa giải được tiến hành đối với các tranh chấp phát sinh

từ những vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật, những vi phạm

đó chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự

Đó là những vi phạm pháp luật nhỏ, nghĩa là vi phạm pháp luật thuộc loại này

Trang 39

hội, hậu quả của hành vi gây ra là chưa đáng kể, ví dụ: hành vi ăn trộm con

gà, buồng chuối… hay hành vi đánh nhau gây thương tích nhẹ…

1.3.2.2 Những vụ, việc không được hòa giải

Trong quá trình hòa giải, Tổ hòa giải không được tiến hành hòa giải các vụ việc sau:

a) Tội phạm hình sự, trừ trường hợp mà người bị hại không yêu cầu

xử lý về hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định của pháp luật;

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố

ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam

b) Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính

Hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính gồm:

- Hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính;

- Hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào

Trang 40

c) Vi phạm pháp luật và các tranh chấp mà theo quy định của pháp luật thì không được hòa giải

Các vi phạm pháp luật và tranh chấp mà theo quy định của pháp luật không được hòa giải bao gồm:

- Kết hôn trái pháp luật: kết hôn trái pháp luật là những trường hợp

như: tảo hôn (nam dưới 20 tuổi, nữ dưới 18 tuổi); việc kết hôn bị ép buộc, cưỡng ép, vi phạm nguyên tắc tự nguyện; việc kết hôn thuộc một trong những trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn như: đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi

- Gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: người nào có nhiệm vụ trực

tiếp trong công tác quản lý tài sản nhà nước, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên thì xử lý bằng biện pháp hình sự, không tiến hành hòa giải

- Tranh chấp phát sinh từ giao dịch trái pháp luật là giao dịch vi

phạm một trong những điều kiện sau:

+ Người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch đó

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân

sự Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 21, 22, 23), người chưa đủ 6 tuổi thì không có năng lực hành vi dân sự Khi một người

do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
7. Bộ Tài chính (2005), Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
8. Bộ Tư pháp (1982), Thông tư số 08/TT ngày 06/01 hướng dẫn xây dựng và kiện toàn tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/TT ngày 06/01 hướng dẫn xây dựng và kiện toàn tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp địa phương
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1982
9. Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (1993), Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan tư pháp địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan tư pháp địa phương
Tác giả: Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
Năm: 1993
10. Bộ Tư pháp (2002), Quyết định số 584/2002/QĐ-BTP ngày 25/12 về việc ban hành Chương trình hành động của ngành tư pháp giai đoạn 2002-2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 584/2002/QĐ-BTP ngày 25/12 về việc ban hành Chương trình hành động của ngành tư pháp giai đoạn 2002-2007
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2002
11. Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2005), Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương
Tác giả: Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
16. Chính phủ (1993), Nghị định số 38-CP ngày 04/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 38-CP ngày 04/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
17. Chính phủ (1998), Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
18. Chính phủ (1999), Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
19. Chính phủ (1999), Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
20. Chính phủ (2003), Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
21. Chính phủ (2003), Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
22. Chính phủ (2004), Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
23. Chính phủ (2004), Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
24. Hội đồng Bộ trưởng (1981), Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w