Các quyền dân chủ của nhân dân được ghi nhận trong các quy định của Hiến pháp và hàng loạt các quy định về pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức, xí nghiệp…Từ khi Đả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đức
Trang 3
MỤC LỤC
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ 4
1.1 Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở 4
1.1.1 Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở 4
1.2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở 25
2.1.1 Quy định về nội dung và phương thức thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường,
2.1.2 Quy định về nội dung và phương thức thực hiện dân chủ cơ sở ở các cơ
2.2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn 77
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
Trang 43.1 Yêu cầu khách quan về việc hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở
3.2 Quan điểm, phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật thực
3.3.1 Bổ sung, hoàn thiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn 99
3.3.2 Bổ sung, hoàn thiện các quy định của Pháp luật thực hiện dân chủ trong
3.3.3 Ban hành luật riêng về Thanh tra nhân dân hoặc Luật về hoạt động giám sát của nhân dân để quy định về vai trò giám sát nhân dân đối với bộ máy nhà nước
3.3.4 Xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về ý kiến nhân dân và phản biện
3.3.8 Giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở 111
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Xây dựng và thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa đột phá để giải quyết nhiều vấn đề bức xúc liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ", nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo những lời chỉ dẫn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm khẳng định mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước Xây dựng chế độ nhà nước dân chủ với nguyên tắc "Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước ta
Các quyền dân chủ của nhân dân được ghi nhận trong các quy định của Hiến pháp và hàng loạt các quy định về pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan,
tổ chức, xí nghiệp…Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, cho đến nay, chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước Việc triển khai xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thời gian qua đã chứng tỏ đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi ích to lớn trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân dân phấn khởi đón nhận và tích cực thực hiện, vận động thực hiện, thể hiện tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Từ đó người dân đã hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình Cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở có
ý thức hơn về dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, vẫn còn một số địa phương, đơn vị chưa có chuyển biến nhiều
do nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về Quy chế dân chủ ở cơ sở trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Thực tiễn cho thấy ở những nơi phong trào yếu kém,
Trang 6triển khai hình thức, qua loa, chiếu lệ, kiểu làm cho xong việc Tuy nhiên, cũng có những cán bộ nhiệt tình thực hiện nhưng do trình độ hạn chế, không nhận thức đúng việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nên quá trình triển khai, thực hiện còn nhiều khuyết điểm, yếu kém, chưa đạt yêu cầu và nội dung của quy chế Vì thế, chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở bị hạn chế Mặt khác còn một bộ phận nhân dân thường chỉ quan tâm đến quyền lợi nhiều hơn nghĩa vụ, chưa làm tốt nghĩa vụ công dân Thậm chí có hiện tượng lợi dụng dân chủ và dân chủ cực đoan Trước tình hình đó, vấn đề nghiên cứu pháp luật về dân chủ cơ sở, thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đề xuất những giải pháp thích hợp, nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế này trở thành yêu cầu khách quan, cấp bách
Từ những cơ sở lý luận thực tiễn nêu trên tôi chọn đề tài: “Pháp luật về thực
hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề cần hoàn thiện” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng thực hiện các quy định về dân
chủ cơ sở ở Việt Nam
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã, phường, thị trấn theo
tinh thần của Pháp lệnh 34/2007/PL - UBTVQH và pháp luật thực hiện dân chủ cơ
sở trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, xí nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ từ năm 1998 đến nay, tức là
từ khi ra đời Chỉ thị 30/CT - TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các cơ
quan, tổ chức, xí nghiệp, doanh nghiệp, mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay
Trang 7Để đạt mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở
+ Đánh giá pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở + Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở cũng như những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về vấn đề này và
về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các phương pháp cụ thể khác như phương pháp: lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: thống kê, so sánh
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
Chương 2: Thực trạng pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp
luật thực hiện dân chủ cơ sở
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN
DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1 Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.1.1 Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại Người đầu tiên đưa ra khái niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp Hêrôđốt (484 - 425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử Theo ông, lịch sử
đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ, trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực thông qua con đường bầu cử Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập trên thực tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos là quyền lực)
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ, do cách thức tiếp cận, mục đích tiếp cận khác nhau Dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, là một trong những hình thức tổ chức chính trị nhà nước của xã hội mà đặc trưng là việc tuyên
bố chính thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là cội nguồn của quyền lực Khi bàn về khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đề xuất khá nhiều ý kiến:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp, là tổ
chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội
- Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là nội
dung chính trị (dân chủ chính trị), nội dung văn minh nhân đạo (dân chủ xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài người) và nội dung xã
hội của dân chủ (dân chủ xã hội là hình thức tồn tại của xã hội hiện đại)
- Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía cạnh,
nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
Trang 9- Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một công trình bi
tráng trong hàng chục vạn năm của loài người Đó là khát vọng, lý tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy
dù phải hy sinh xương máu Dân chủ là khát vọng mà chính chúng ta đang vươn tới
- Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ không chỉ là một vấn đề chính trị hay xã hội,
mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa Bởi thế, xử lý vấn đề dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc Theo các nhà kinh điển: dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý
xã hội
Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có nội dung rộng lớn và luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người Để hiểu rõ bản chất, nội dung và tính chất của dân chủ, phải xem xét nó dưới nhiều góc độ, khía cạnh: là phương thức của phong trào chính trị xã hội của quần chúng; là hình thức nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội; là một hệ thống quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được quy định bởi hiến pháp và pháp luật; là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội và với tư cách là một chế độ chính trị Tuy tiếp cận vấn đề dân chủ dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung quy
lại các ý kiến đều thống nhất ở luận điểm: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
Như vậy, dù xem xét dân chủ dưới góc độ nào thì thực chất bản chất, nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về tầng lớp nào, giai cấp nào và phục vụ cho tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội đó Và điều đó lại lần nữa chứng minh thêm cho tính đúng đắn
của luận điểm: sự khác nhau về chất giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản
Trang 10Dân chủ được bảo đảm và phát huy bằng nhiều biện pháp Tuy nhiên, việc thực thi dân chủ phải luôn gắn liền với mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thiết lập Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người chủ của đất nước Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Miền Bắc đã trở thành người chủ của mọi quyền lực trong đó có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được thiết lập trên phạm vi cả nước Từ đó đến nay nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã và đang được xây dựng phát huy vai trò ngày càng to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức
thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" [64, tr 653] 1.1.1.2 Thực hiện dân chủ cơ sở, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được khẳng định trong đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Quyền dân chủ của công dân được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân là ở cấp cơ sở Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng
và chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn
đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo Điều đó có nghĩa là nhân dân có quyền làm chủ và được hưởng lợi từ cơ sở và ở cơ sở
Nhận thức rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngay từ khi chính quyền
Trang 11của nhân dân Theo đó, “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc quản lý của nhà nước”[37, tr56] Người nhấn mạnh việc thực thi dân chủ ở từng địa phương, từng cơ
sở, từng cán bộ, từng người dân, và từng công việc phải cụ thể, rõ ràng Vận động tất cả lực lượng, mỗi cán bộ, đảng viên thậm chí những người dân có nhận thức đều phải có trách nhiệm làm cho dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong vị thế của người làm chủ Người yêu cầu “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương”[40, tr.32]
Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc xây dựng kế hoạch của địa phương, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và những việc làm cụ thể để cống hiến cho sự phát triển chung một cách tự giác
Ngày nay phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là thể hiện
tư tưởng của Người Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện có nề nếp phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và chủ trương đó ngày càng được thực tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan, và để quá trình dân chủ hoá thực sự đi vào cuộc sống, chúng ta cần cụ thể hoá phương châm này Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 6/1997) khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Theo tinh thần của Nghị quyết đó, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30/CT - TW tháng 2/1998 và Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước Đó là những văn bản có tính chính trị và pháp lý làm cơ sở để mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở xây dựng và thực hành thực hiện dân chủ - làm chủ
Vậy, thực hiện dân chủ ở cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, (mặc
dù có cả dân chủ đại diện) được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp thôn, xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân
Trang 12bàn, dân làm, dân kiểm tra Dân chủ ở cơ sở trước hết là dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí (qua ý kiến) nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở
Có nhiều hình thức để thực hiện dân chủ ở cơ sở như: trưng cầu ý dân; bầu và bãi miễn đại biểu cơ quan dân cử; bàn bạc, thảo luận, tham gia quyết định, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, trật tự an ninh ở cơ sở; tố cáo, khiếu nại; xây dựng quy định, quy ước tự quản
Như vậy, thực hiện dân chủ ở cơ sở đề cập đến cả dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước cũng như các loại hình công ty khác và đơn vị, xí nghiệp, các mô hình kinh tế tư nhân trong hệ thống kinh tế Việt Nam
Để dân chủ cơ sở được phát huy và đi vào cuộc sống phải được cụ thể và quy định trong các quy định của pháp luật Chính pháp luật là điều kiện, là đảm bảo để
có dân chủ Muốn có dân chủ thực sự thì dân chủ phải đặt trong mối liên hệ với pháp luật Pháp luật là đại lượng và phương tiện của dân chủ Nhưng pháp luật cũng
có tính độc lập tương đối đối với dân chủ: pháp luật không sinh ra dân chủ bởi dân chủ không tự trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu của tiến bộ xã hội
Ngoài sự quyết định và chi phối của các nhân tố kinh tế và phi kinh tế, sự phát triển của pháp luật nhìn chung phụ thuộc vào trình độ nền dân chủ hiện thời hoặc ảnh hưởng từ bên ngoài của các nền dân chủ khác Đến lượt mình, dân chủ lại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan về kinh tế - chính trị - xã hội Pháp luật với ưu thế và nhược thế riêng của mình lại tác động trở lại đối với dân chủ Pháp luật có thể thúc đẩy, hỗ trợ cho dân chủ phát triển và ngược lại, có thể kìm hãm dân chủ dưới nhiều hình thức
Muốn cho pháp luật thực sự là động lực cho dân chủ thì pháp luật phải gần dân, pháp luật phải được minh bạch hóa, phải được góp ý, tranh luận thẳng thắn công khai để pháp luật tự hoàn thiện Một quy định pháp luật không rõ ràng, không minh bạch, không đúng đắn sẽ là cơ hội cho người ta vi phạm, lợi dụng dân chủ Nếu
Trang 13pháp luật xây dựng trên nền tảng khép kín, chủ quan, khi thực hiện thì bưng bít, không minh bạch vô hình chung nó sẽ trở thành công cụ của thiểu số áp đặt lên đa số Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là sự chi tiết các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực thiện dân chủ cơ sở đưa các chủ trương đó vào áp dụng trong thực tiễn, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở quy đinh các nội dung như: thực hiện quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, các cách thức và phương pháp
để đảm bảo quyền làm chủ của người dân Những việc mà người dân được quyền tham gia ý kiến và phải có sự tham gia của người dân; quy định về trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, xí nghiệp… trong việc thực hiện đúng các nội dung về dân chủ cơ
sở trong cơ quan, đơn vị mình
điều đó được thể hiện ở các văn kiện đại hội của Đảng và các văn bản do Nhà nước ban hành: Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã
ra chỉ thị số 30 về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Thể chế hoá chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) ban hành các Nghị quyết số 45/1998, số 55/1998, số 60/1998 giao cho Chính phủ ban hành các Nghị định về thực hiện qui chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998, số 71/1998 và số 07/1999, trong đó NĐ 29/1998/NĐ – CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, NĐ 71/1998//NĐ – CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính và NĐ 07/1999/NĐ – CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước và được bổ sung thêm Nghị định số 87/2007/NĐ – CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn Đối với quy chế thực hiện dân chủ cấp xã, phường, thị trấn sau đó được được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ – CP, gần đây ngày 20 tháng 4 năm 2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xây dựng thành Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Đảm bảo dân chủ cơ sở là đảm bảo thực hiện các nội dung, các yêu cầu dân chủ trong đời sống xã hội, cụ thể là: đảm bảo cho các cơ quan, tổ chức nhà nước được tổ chức và hoạt động theo các cơ chế, các nguyên tắc dân chủ, quyền hạn, nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức này phải phù hợp với các qui định của pháp luật phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của
Trang 14nhân dân Đảm bảo dân chủ cơ sở còn là đảm bảo lợi ích của toàn dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời phải kịp thời phát hiện xử lý các vi phạm pháp luật, các hành vi vi phạm dân chủ
Với tư cách là đại diện ủy quyền thực hiện quyền lực của nhân dân, yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước là phải thể chế hóa kịp thời và đầy đủ các nội dung dân chủ
cơ sở thành các qui phạm pháp luật, làm cho cơ sở pháp lý cho hoạt động của chính chủ thể nhà nước và các chủ thể khác tham gia vào quá trình thực hiện dân chủ cơ
sở Các quy phạm pháp luật được ban hành nó có giá trị bắt buộc chính chủ thể nhà nước và các chủ thể khác phải tôn trọng, bảo vệ, thực hiện các nội dung dân chủ, các giá trị dân chủ trên thực tế Nó trở thành đại lượng xác định mức độ dân chủ, trở thành phương tiện, công cụ đảm bảo dân chủ cơ sở Hệ thống các quy phạm pháp luật đó được gọi là pháp luật đảm bảo dân chủ cơ sở
Như vậy, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các nội dung về dân chủ cơ sở
1.1.2 Vai trò, đặc điểm của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.1.2.1.Vai trò của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định
Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là văn bản pháp luật quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã, cơ quan tổ chức, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, xí nghiệp phải thông tin kịp thời và công khai để người dân, người lao động biết; những việc cần bàn và quyết định trực tiếp; những việc cần tham gia
ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định; những việc cần giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện dân chủ cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của người dân, người lao động Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở thực chất là một chế định pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của người dân, người lao động ở xã,
Trang 15Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội:
Một là: Sự ra đời của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là một bước đột phá
quan trọng trong việc thực hiện hóa bản chất dân chủ của Nhà nước ta sự ra đời của pháp luật thực hiện dân chủ đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN là những quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật
Hai là: Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã tạo bầu không khí dân chủ, cởi
mở trong xã hội, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân Trong một thời gian dài trước đây dân chủ cơ sở đã không được quan tâm đúng mức, nhiều nơi, nhiều lúc dân chủ cơ sở bị vi phạm nghiêm trọng, người dân, người lao động không có cơ chế để bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của mình
Do vậy, khi pháp luật thực hiện dân chủ ra đời và được triển khai đã làm cho người dân, người lao động rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng Thông qua quá trình học tập và thực hiện dân chủ cơ sở người dân, người lao động, cán bộ, công nhân viên chức đã thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân đã có sự chuyển biến rõ rệt
Ba là: Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã làm cho nhận thức của các đoàn
thể trong toàn hệ thống chính trị, các cơ quan đơn vị, công ty và toàn xã hội về dân chủ và dân chủ trực tiếp ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực
Thực hiện dân chủ cơ sở ở xã đã tạo ra cơ sở pháp lý để MTTQ các cấp và các
tổ chức chính trị - xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa MTTQ và các tổ chức thành viên thông qua hoạt động phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân, chỉ đạo triển trai xây dựng, thực hiện, giám sát việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, góp phần tạo ra môi trường dân chủ lành mạnh ở cơ sở, góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền các cấp, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Pháp luật về dân chủ trong cơ quan, tổ chức, xí nghiệp cũng là vấn đề ít được quan tâm, nhưng từ khi có các quy định của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở trong
Trang 16cơ quan, tổ chức, công ty thì quyền lợi của người lao động được đảm bảo hơn, nhất
là trong quá trình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước việc đảm bảo dân chủ là vô cùng quan trọng Các quy định của pháp luật đã tạo điều kiện cho cán
cộ, công nhân viên, người lao động tích cực tham gia vào các hoạt động của cơ quan, đơn vị mình hơn vì có cơ chế triển khai, kiểm tra, giám sát và xử lý các sai phạm về vi phạm dân chủ cơ sở một cách rõ ràng
Bốn là: Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp
Thực hiện dân chủ cơ sở đã khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của nhân dân lao động, phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn về quốc kế, dân sinh Thông qua hình thức hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở người dân, người lao động có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện tập dượt, trưởng thành trong vai trò của người chủ đích thực
Chính quyền cơ sở cũng như các cơ quan tổ chức đã gắn việc thực hiện dân chủ cơ sở với việc thực hiện các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân, người lao động Bên cạnh đó chính quyền cơ sở cũng đã gắn kết việc thực hiện dân chủ cơ sở với việc phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của người dân, người lao động
Năm là: Góp phần củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao
chất lượng cán bộ, đảng viên, đổi mới phong cách làm việc của cán bộ cấp cơ sở Nâng cao vai trò, trách nhiệm của họ trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở Góp phần vào công cuộc đổi mới hoàn thiện bộ máy Nhà nước và công cuộc cải cách hành chính hiện nay ở Việt Nam
Sáu là: Pháp luật thực hiện dân chủ nhất là pháp luật thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn đã góp phần nâng cao hiệu quả tác động tới các ngành luật khác như: "Luật tổ chức HĐND - UBND, luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; luật bầu cử:
Trang 17Thực hiện dân chủ cơ sở là một giải pháp để hạn chế sự tha hóa của quyền lực Nhà nước, hạn chế những hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn để lạm quyền và lộng quyền, hạn chế những hành vi sai trai: tham nhũng, nhận hối lộ…bộ máy cơ quan công quyền cũng như các Ban quản trị công ty, đơn vị, xí nghiệp hoạt động hiệu quả hơn
Chính nhờ những quy định rõ ràng về dân chủ cơ sở mà người dân biết sử dụng quyền của mình để đấu tranh, loại trừ những hành vi tiêu cực đang xảy ra xung quanh Nhờ những quy định về việc cần thông báo, cần dân bàn, cần dân kiểm tra đã làm hạn chế rất nhiều các hành vi tha hóa của cán bộ, đảng viên trong bộ máy quyền lực Nhà nước cũng như trong các công ty, đơn vị, xí nghiệp
Việc thực hiện pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã thúc đẩy và phát huy quyền làm chủ của người dân, người lao động, khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo trong họ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần xây dựng niềm tin và mối liên hệ chặt chẽ giữa dân với Đảng và chính quyền, giữa người lao động với công ty, đơn vị,
xí nghiệp
Như vậy, pháp luật thực hiện dân chủ đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam "nó" không chỉ là công cụ thể chế hoá một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác
1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở
Pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, khác với quy định thông thường, Quy định về thực hiện dân chủ là
một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” bằng một số nghị định của Chính phủ và Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Thứ hai, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ xã hội
chủ nghĩa ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
- Thứ ba, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại diện,
nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương, cơ sở, quy
Trang 18định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc đảm bảo quyền làm chủ của người dân ở cơ sở, cơ quan, tổ chức, xí nghiệp
- Thứ tư, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực
tiếp ở cơ sở để người dân, cán bộ, công nhân viên, người lao động bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa
vụ của họ
- Thứ năm, có sự tham gia của Mặt trận các cấp và các đoàn thể nhân dân ở
mọi khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để thấm nhuần và phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Thứ sáu, mục đích của việc ban hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là
nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên khơi dậy sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn
và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Thứ bảy, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải
trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
Như vậy, Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là các quy định có tính pháp lý để đảm bảo việc thực hiện và triển khai các nội dung của dân chủ cơ sở trong đời sống
xã hội
1.2 Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn
Nội dung điều chỉnh của pháp luật ở đây là nói đến phạm vi điều chỉnh của nó
Trang 19điều chỉnh của pháp luật đối với xã hội Pháp luật không điều chỉnh tất cả các quan
hệ trong xã hội, mà chỉ điều chỉnh một số diện nhất định, một phạm vi nhất định mà nhà nước thấy cần thiết Các quan hệ xã hội khác có thể do quy phạm đạo đức điều chỉnh hoặc có thể sử dụng các phương tiện điều chỉnh khác như thông qua thông tin, tuyên truyền, thông qua văn học, nghệ thuật
Về mặt nội dung điều chỉnh, dân chủ rất toàn diện bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng; từ các mối quan hệ giữa con người với con người; đến quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng; giữa công dân với nhà nước, các tổ chức và thể chế hiện hành Tác động trực tiếp nhất đến dân chủ
là dân chủ kinh tế và dân chủ chính trị Cốt lõi của dân chủ kinh tế là lợi ích; cốt lõi nhất của dân chủ chính trị là quyền lực thuộc về nhân dân, được thực hiện thông qua chế độ bầu cử dân chủ, chế độ kiểm soát quyền lực nhà nước sau khi được thiết lập một cách dân chủ, và chế độ bãi miễn nghiêm khắc đối với những nhân viên nhà nước thoái hóa, biến chất
Pháp luật về thực hiện dân chủ cũng có nội dung điều chỉnh riêng Tại Điều 1 Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân
chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi:“Pháp lệnh này quy định những nội dung
phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng,
ấp, bản, phun, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cấp xã”
Như vậy, căn cứ vào quy định đó ta có thể thấy nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã rất rộng nhưng tất cả là để nhằm đảm bảo mục tiêu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo nguyên tắc “dân làm gốc”, đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở tại các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp
Trang 20Nếu như phát luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã, phường, thị trấn được quy định thống nhất ở văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành đó là Pháp lệnh
số 34/2007/PL – UBTVQH thì các quy định liên quan đến pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở tại các cơ quan, công ty, tổ chức, xí nghiệp còn được quy định một cách rải rác Bao gồm các văn bản quy định riêng rẽ về các loại hình: NĐ 71/1998/NĐ –
CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính, NĐ 07/1999/NĐ – CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước và Nghị định số 87/2007/NĐ – CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn
Không giống như cấp xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở tập trung dân cư nhiều nhất, nhưng mô hình dân chủ trong các cơ quan, công ty, đơn vị, xí nghiệp cũng rất quan trọng, việc đảm bảo dân chủ ở cấp đơn vị này sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của nền hành chính, cũng như kinh tế Việt Nam, đảm bảo các quy định về dân chủ sẽ thúc đẩy tinh thần sáng tạo và tích cực của cán bộ công chức, nhân viên, người lao động đối với việc xây dựng và phát triển cơ quan, công ty, đơn
vị, xí nghiệp
Cũng như pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã, phường, thị trấn, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan, công ty, đơn vị, xí nghiệp cũng có phạm vi Điều chỉnh riêng
Theo như quy định trong Nghị định số 71/1998/NĐ - CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính, trong quy định này có giới hạn phạm vi nghiên cứu là pháp luật dân chủ cơ sở trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện vì cấp xã đã được điều chỉnh bằng một văn bản pháp luật khác
Theo các quy định của quy chế này nhằm để đảm bảo dân chủ trong sinh hoạt của các cơ quan, quy định trách nhiệm và những việc mà chủ trưởng cơ quan, đơn
vị phải làm, trách nhiệm của cán bộ, công chức, quy định về những việc công chức phải được biết, được bàn, được hỏi ý kiến, cũng như việc kiểm tra, giám sát
Tiếp đó là Nghị định số 07/1999/NĐ - CP quy định về Quy chế thực hiện dân
Trang 21dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước là một trong những tổ chức kinh tế sử dụng ngân sách của Nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần vào việc phát triển nền kinh tế đất nước, vì vậy, việc đảm bảo dân chủ trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước là rất quan trọng, có đảm bảo được dân chủ thì mới nhận được lòng tin của Đảng, của nhân dân, xứng đáng với trách nhiệm mà Đảng và nhân dân đã giao phó
Nhiệm vụ của dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước cũng là để đảm bảo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Tạo động lực mạnh mẽ để phát triển doanh nghiệp Nhà nước bền vững, tăng mối liên hệ gắn bó giữa Giám đốc và ban giám đốc với người lao động Phạm vi điều chỉnh của pháp luật xoay quanh doanh nghiệp Nhà nước với những việc cần phải công khai, những việc cần người lao động tham gia ý kiến, những việc người lao động quyết định, những việc người lao động được quyền giám sát, kiểm tra
Nhất là đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, với các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ liên quan đến việc Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như: Nghị định số 187/2004/NĐ - CP ngày 16/11/2004 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định số 64/2002/NĐ - CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần) Nội dung của nó là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hóa các nội dung dân chủ, các giá trị dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tác động một cách toàn diện đến hoạt động của các chủ thể tham gia vào quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, quy định quyền hạn, xác lập nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng các yêu cầu dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trong quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế đất nước, các loại hình doanh nghiệp đã xuất hiện rất đa dạng và phong phú, để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp này nhất là khi tham gia tổ chức kinh tế thế giới WTO, Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư năm 2005 và hàng loạt văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 22sau này Để phù hợp với sự phát triển đó và đồng thời bảo đảm dân chủ trong các loại hình doanh nghiệp này Chính phủ đã sớm ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ –
CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Và kèm theo nghị định cũng là quy chế thực hiện dân chủ trong công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là dân chủ trong các công ty: Cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, quy định về trách nhiệm của ban giám đốc cũng như vai trò của ban chấp hành công đoàn với việc đảm bảo dân chủ Quy định về những việc cần phải công khai, những việc người lao động được tham gia ý kiến, những việc người lao động được quyết định, được giám sát và kiểm tra
Như vây, pháp luật thực hiện dân chủ trong các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp là rất quan trọng để đảm bảo các tổ chức kinh tế, các cơ quan, xí nghiệp phát triển trong sạch, vững mạnh, chấp hành đầy đủ pháp luật Nhà nước trong điều hành và phát triển đơn vị mình
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thực hiện dân chủ
Thể hiện đúng tư tưởng của người về phương trâm „„dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra‟‟ người đã chỉ đạo và cho ban hành Hiếp pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta, trong bản Hiến pháp 1946 đó cũng đã có những quy định để đảm bảo dân chủ thời chiến, dân chủ mang tích chất quân sự, trong chiến tranh chính mô hình này lại tỏ ra có tác dụng trên phạm vi cả nước
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng đã xác định một nhiệm vụ có tích chất
Trang 23dân xứng đáng là người chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tuy nhiên nền dân chủ được xây dựng trong thời gian đó còn chứa nhiều khuyết tật, cần phải được nhận thức lại đầy đủ để áp dụng có hiệu quả vào Việt Nam
Chúng ta quan tâm rất nhiều đến vấn đề dân chủ, và cụm từ "Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" lần đầu tiên được nêu ra từ năm 1984 do nhân dân
phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng và nhân dân xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Chỉ thị số 53 - CT/TW về tăng cường công tác quần chúng của Đảng (ngày 28/11/1984) lần đầu tiên tổng kết sáng kiến này và nâng lên thành phương châm chung để áp dụng phổ biến Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định rất rõ: "Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình" [25, tr.112]
Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu đổi mới chúng ta cũng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề dân chủ cơ sở, dẫn dến dân chủ cơ sở không được coi trọng, đã có rất nhiều nơi, nhiều lúc tình trạng vi phạm dân chủ cơ sở diễn ra phổ biến, quyền của người dân bị vi phạm nghiêm trọng và xuất hiện một số điểm nóng như ở Thái Bình năm
1996 – 1997 có 208/285 dân tổ chức kiện tập thể, ở nhiều nơi nhiều lúc dân đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, đòi quyền tự do dân chủ, đòi đảm bảo công bằng thì kết quả giải quyết không thỏa đáng gây bức xúc trong dân Nội bộ nhân dân bị chia rẽ, mất đoàn kết tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội mất ổn định
Trước tình hình đó, tháng 2 năm 1998, Bộ chính trị đã ra chỉ thị số 30/CT –
TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới
Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”
Muốn vậy, nhà nước cần ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện Quy chế
Trang 24dân chủ cần được xây dựng cho từng loại cơ sở xã, phường, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính… phù hợp với đặc điểm của từng loại cơ sở
Thực hiện chỉ thị số 30/CT – TW, Ủy ban thường vụ Quốc hội (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 45/1998/NQ – UBTVQH ngày 26 tháng 02 năm 1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Nghị quyết giao Chính phủ ban hành quy chế dân chủ với các định hướng, nội dung cụ thể
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11/5/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ – CP về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, đây là nghị định đầu tiên quy định về thực hiện dân chủ ở xã Quy chế xác định rõ: “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nông dân và nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Sau khi có Nghị định số 29/1998/NĐ – CP Chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn về dân chủ cơ sở:
Chỉ thị số 22/1998/ CT - TTg ngày 15/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã;
Thông tư số 03/1998/TT - TCCP về hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường và thị trấn;
Kế hoạch số 145/TCCP - ĐP ngày 6/7/1998 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ về kế hoạch triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
Chỉ thị số 24/1998/CT – TTg về việc xây dựng hương ước, quy ước của làng, thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/6/1998
Để cụ thể hóa các quy định vệ hương ước, Nhà nước đã ban hành thông tư
Trang 25KHHGĐ ngày 31/3/2000 đã hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ hướng dẫn bổ sung thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ, bổ sung nội dung thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình vào trong hương ước
Một số văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo dân chủ như: Về các quy định công khai tài chính - chống tham nhũng - thực hành tiết kiệm có các văn bản pháp luật như Thông tư số 29/1999/TT - BTC ngày 19/3/1999 hướng dẫn thực hiện công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân dân; Nghị định số 24/1999/NĐ - CP ngày 16/4/1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của xã, thị trấn Năm 1998, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội cũng ban hành hai pháp lệnh quan trọng có liên quan là Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Pháp lệnh chống tham nhũng Các quy định về hòa giải, giải quyết tranh chấp ở cơ sở gồm có: Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998; Nghị định số 160/1999/NĐ - CP ngày 18/10/1999 qui định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Nghị định số 67/1999/NĐ - CP ngày 7/8/1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo
Các quy định về cán bộ công chức như: Quyết định số 11/1998/QĐ – TCCP
- CCVC ngày 05/12/1998 ban hành quy chế đánh giá công chức hàng năm
Các văn bản pháp luật đó ra đời đã đáp ứng được lòng mong mỏi của xã hội lúc bấy giờ, về cơ bản đã thể chế hóa, cụ thể hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được nhân dân đồng tình, ủng hộ, bước đầu vào cuộc sống
và đã đạt những kết quả quan trọng, đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống sinh hoạt chính trị, xã hội ở địa phương trong cả nước
Thực hiện quy chế dân chủ, chính quyền cấp xã bước đầu đã được kiện toàn,
lề lối, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ cơ sở, pháp luật đã góp phần mang lại hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng nông
Trang 26thôn, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho người dân Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, những kết quả đạt được nêu trên mới chỉ là bước đầu, vẫn còn nhiều điểm còn nhiều hạn chế, yếu kém Nội dung Quy chế có một số điểm chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, khó thực hiện và một số nội dung thiếu cần được sửa đổi,
bổ sung
Để đáp ứng được đòi hỏi của thời kỳ mới, căn cứ vào Nghị quyết số
17/NQ-TW ngày 18/3/2002 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn
và Chỉ thị số 10 - CT/TW ngày 28/03/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ - CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế dân thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị định số 29/1998/NĐ - CP ngày 11/05/1998 của Chính phủ
Nghị định đã quy định rõ hơn những điểm khó khăn bất cập mà Nghị định số 29/1998 gặp phải:
- Quy định rõ hơn những điều chính quyền phải cho nhân dân biết về chính sách;
- Quy định về vấn đề họp thôn, những quy định mới về về vấn đề xem xét, miễn nhiệm chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, về các vấn đề nhân dân giám sát, kiểm tra, tăng trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã trong vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở xã
Để rõ hơn về Nghị định này ngày 20/02/2004 Bộ Nội vụ đã ban hành Thông
tư số 12/2004/TT – BNV hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Sau bốn năm thực hiện Nghị định 79/2003/NĐ - CP đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên thực hiện dân chủ ở xã vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, còn mang tính hình thức, vẫn còn xẩy ra tình trạng hạn chế hoặc cản trở việc thực hiện quyền dân chủ trực tiếp trong dân, thậm chí còn bị vi phạm nghiêm trọng dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài, vượt cấp… một số quy định của quy chế dân chủ vẫn còn chưa phù hợp với thực tiễn, ít tính khả thi, hiệu lực pháp lý mới chỉ dừng ở mức Nghị định của Chính phủ đã ít nhiều hạn chế đến tác động của quy chế dân chủ
Trang 27Bên cạnh đó, do đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ đổi mới đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã tiếp tục khẳng định: Phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển nước ta Do đó, cần có một văn bản pháp luật cao hơn Nghị định để điều chỉnh vấn đề thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn, trên cơ sở đó ngày 20/4/2007 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp
lệnh 34/2007/PL - UBTVQH thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Pháp lệnh đã thể hiện rõ nét và cụ thể nhất về dân chủ trực tiếp của người dân liên quan chủ yếu đến đời sống sinh hoạt, kinh tế, văn hóa, xã hội, sự phát triển của dân cư nông thôn Nội dung của pháp lệnh có những bước tiến đáng kể như: cách thức thực hiện rõ ràng hơn, chi tiết và cụ thể hơn, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các tổ chức, chính quyền hay đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước… Để cụ thể hóa nội dung của pháp lệnh Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT – CP – UBTWMTTQVN ngày 17 tháng 4 năm 2008 về hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Các văn bản quy định về vấn đề dân chủ còn được thể hiện trong các quy định của pháp luật có liên quan như: Hiến pháp, pháp luật khiếu nại tố cáo, luật tổ chức Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, luật cán bộ công chức Các địa phương đều có văn bản riêng để chỉ đạo, hướng dẫn chi tiết công tác thực hiện dân chủ cơ
sở ở địa phương mình
Nhận thức được tầm quan trọng của Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở trong đời sống xã hội, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, ngày 4-3-2010, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Trương Tấn Sang đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Ngoài các quy định liên quan đến việc đảm bảo dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn, Nhà nước ta còn quan tâm đến pháp luật đảm bảo dân chủ trong các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, điều đó được thể hiện bằng các văn bản: NĐ 71/1998/NĐ -
CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính ngày 08 tháng 9
Trang 28năm 1998 và NĐ 07/1999/NĐ - CP quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước ngày 13 tháng 02 năm 1999 và được bổ sung thêm Nghị định số 87/2007/NĐ - CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn ngày 28 tháng 05 năm 2007
Qua hơn mười năm thực hiện, pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đã đạt được kết quả tích cực và tương đối toàn diện, quy định về dân chủ cơ sở nhất là dân chủ ở xã đã thổi luồng sinh khí mới vào đời sống sinh hoạt chính trị, xã hội ở địa phương trong cả nước, nâng cao nhận thức về quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, giám sát hoạt động của chính quyền, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng tại cơ sở xã, phường, thị trấn
Các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đã tạo điều kiện mở rộng và phát huy dân chủ, thể hiện xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất là hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, việc mở rộng và nâng cao dân chủ sẽ góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Trang 29Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
2.1.1 Quy định về nội dung và phương thức thực hiện dân chủ cơ sở ở xã,
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) gồm 6 chương với 28 Điều, đã quy định các vấn đề: những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã và phương thức, biện pháp cụ thể để thực hiện từng nội dung, vấn đề được quy định trong pháp lệnh cũng như các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn - nơi sinh sống của cộng đồng dân cư
Các nội dung thực hiện dân chủ cơ sở đều nhằm hướng tới một mục đích là: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Quy định về nội dung công khai để dân biết: Quyền "dân biết" là sự cụ thể
hóa một quyền công dân cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp: đó là quyền được thông tin
Trong xã hội dân chủ, người dân có quyền được biết về tất cả mặt hoạt động
xã hội, đặc biệt là các hoạt động quản lý nhà nước: Biểu hiện cụ thể nhất qua các chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước, dân có biết thì mới hiểu rõ và làm đúng các quy định pháp luật nếu dân biết, họ sẽ tự bảo vệ được các quyền, lợi ích của mình, tránh sự xâm hại từ phía các cá nhân khác, hoặc thậm chí từ phía chính quyền Biết được quy định đó là cơ sở trước tiên để họ thực hiện được các quyền dân chủ tiếp theo như "bàn", "làm" và "kiểm tra" Quy định quyền của mọi người
Trang 30vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân tại cơ sở….và nghĩa
vụ của chính quyền phải thông tin kịp thời và công khai cho người dân tại Điều 5 Pháp lệnh bao gồm:
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
Trang 31- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Như vậy, so với các quy định của Nghị đinh 79/2003/NĐ – CP thì các quy định của Pháp lệnh đã có những sửa đổi bổ sung hợp lý, không chỉ là việc liệt kê ra những việc phải công khai, việc liệt kê rất dễ dẫn đến việc liệt kê thiếu, do đó, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Nghị định, Pháp lệnh đã không những quy định những nội dung chính quyền cần công khai kịp thời cho dân mà còn mở rộng các vấn đề khác, việc khác chính quyền thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu thông báo Với các quy định này, Pháp lệnh đã mở rộng quyền chủ động cho các chính quyền cơ sở
Các câu chữ của Pháp lệnh đã đầy đủ, ngắn gọn so với các quy định trước kia của Nghị định là chung chung, pháp lệnh đã tập trung quy định về các vấn đề đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và liên quan thiết thực đến quyền của người dân, mà trên thực tế trong một thời gian dài trước đây các quyền đó vẫn đang tiếp tục bị vi phạm, không được làm rõ, và gặp khó khăn do các quy định trong Nghị định quá
mơ hồ, các vấn đề quan trọng đó như: các quyền của nhân dân về các dự án đầu tư trên địa bàn quê hương mình (về phương án đầu tư, mục đích, triển vọng của dự án, tiến độ…) cũng như các quy định về đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đây
là các vấn đề cần được công khai và làm rõ
Tiếp đó là các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính ở cấp cơ sở: như thủ tục khai sinh, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ tịch, hộ khẩu… trong thời gian vừa qua cũng là vấn đề gây nhiều bức xúc trong dân, các thủ tục hành chính cần đơn giản, gọn nhẹ để tiện cho dân, tuy nhiên trên thực tế các thủ tục hành chính ở nước ta còn rất nặng nề, phiền hạ, vì vậy, việc công khai các nội dung liên quan đến thủ tục hành chính là rất quan trọng, tránh mất thời gian của cán bộ nhà nước, cũng như gây khó dễ cho người dân Người dân có thể yêu cầu, kiến nghị lên thôn, tổ dân phố hoặc chính quyền xã - nếu những quyền "dân biết" nói trên chưa được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ Trong trường hợp những quyền dân biết nói trên bị vi phạm từ phía chính quyền, người dân có thể khiếu nại hoặc tố cáo
Trang 32Pháp lệnh cũng quy đĩnh rõ về trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung cần công khai về dân chủ thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã tại Điều 9 của Pháp lệnh
Như vậy, để đảm bảo quyền dân biết thì vai trò của chính quyền cấp xã là rất lớn, ở đâu làm tốt các nội dung liên quan đến thông báo công khai đến toàn thể nhân dân thì ở đó sẽ đảm bảo có một đời sống chính trị ổn định, tạo được niềm tin và ổn định nề nếp sinh hoạt trong dân, tạo cho nhân dân cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
Quy định về nội dung nhân dân bàn và quyết định: "Quyền dân bàn" có
nghĩa là: người dân có quyền bàn bạc, thảo luận hoặc tham gia ý kiến vào một số công việc của chính quyền Quyền dân làm - ở đây hiểu là quyền của người dân được bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc nhất định trong khuôn khổ pháp luật cho phép Đây là đỉnh cao quyền dân chủ của công dân, biểu hiện ở việc
tự mình quyết định hướng đi, cách xử lý công việc của cộng đồng
Khi người dân đã được bàn, được quyết các công việc chung họ sẽ tích cực tham gia thực hiện chúng, tránh xích mích, khiếu kiện tràn lan do không hiểu và không nhất trí Để dân bàn, các công việc sẽ được giải quyết tốt nhất, bởi lẽ không
ai hiểu mình cần gì và cần làm như thế nào - hơn là chính người dân ở cơ sở Và cuối cùng, khi dân được bàn và quyết định sẽ hạn chế và kiểm soát được phía chính quyền, tránh tình trạng tham nhũng hay độc đoán, chuyên quyền
Để thể chế hóa chủ trương dân bàn, Pháp lệnh đã quy định những việc mà nhân dân cơ sở bàn, những việc mà nhân dân cơ sở quyết định Các quy định trong pháp lệnh đã phân rõ ràng ra cái nào nhân dân cơ sở bàn và trực tiếp quyết định, cái nào nhân dân bàn, biểu quyết và để cấp có thẩm quyền quyết định thành hai mục trong một chương chứ không chia ra làm hai chương riêng biệt như trong Nghị định 79/2003/NĐ – CP, điều đó tạo nên một bố cục hợp lý vì hai nội dung đó đều nhằm thực hiện quyền dân bàn
Theo như quy định trong Pháp lệnh những việc nhân dân cơ sở bàn và trực tiếp quyết định (Điều 10): Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh
Trang 33phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
Những việc nhân dân bàn, biểu quyết, chính quyền xã ra quyết định: Điều 13
- Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
- Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Những việc này, trước đây theo quy định trong Nghị định 79/2003/NĐ – CP đều do nhân dân bàn và quyết định trực tiếp Trên thực tế các nội dung này cần được sự bàn bạc và nhất trí trong dân, để đảm bảo hợp lòng dân, tuy nhiên, đây là những nội dung liên quan mật thiết đến quy tắc sống trong cộng đồng làng xã, quy định về trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu tổ dân phố, thôn xóm… do đó, cần phải có giá trị pháp lý cao và để làm được điều đó thì phải qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận và làm căn cứ phổ biến trong dân, cũng như chính
cơ quan đó sẽ kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Như vậy, sự thay đổi này sẽ làm cho các quy định trên có giá trị pháp lý cao hơn và có căn cứ thi hành, áp dụng chung trong làng, bản, thôn xóm
Vấn đề xây dựng hương ước, quy ước: Các vấn đề về xây dựng hương ước,
quy ước là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, các nội dung đó đã được ghi nhận trong chỉ thị số 30/1998/CT – BCT và sau đó được cụ thể bằng Chỉ thị số:
24/1998/CT - TTg ngày 19 tháng 06 năm 1998 về việc xây dựng và thực hiện
hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, sau đó được quy định khá
rõ ràng trong TTLT số 03/2000/TTLT – BTP – BVHTT – BTTUBTMTTQVN ngày 31 tháng 3 năm 2000 về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng thôn, bản, ấp, cụm dân cư Pháp lệnh 34/2007/PL - UBTVQH cũng tiếp tục quy định và khẳng định một lần nữa về vai trò, tầm quan trọng của hương ước, quy ước trong việc quản lý đời sống ở cộng đồng dân cư nông thôn
Theo các quy định này: Thôn, làng xây dựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và phát huy thuần phong mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín
Trang 34dị đoan, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh
Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống của cộng đồng dân cư, nội dung của hương ước tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau đây:
+ Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân, hộ gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ vàng truyền thống, nêu gương người tốt việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích học tập của tập thể, cá nhân, bình xét, khen thưởng các gia đình văn hóa và các hình thức khen thưởng khác do cộng đồng dân cư tự thỏa thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền ra quyết định
+ Hương ước cũng quy định đối với những người vi phạm cũng có những biện pháp đối với người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước: Trước tiên là hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, nếu vi phạm nghiêm trọng thì trên cơ sở thảo luận thống nhất của cộng đồng có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp dụng những biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp phạt nặng nề mang tính xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tính mạng, tài sản, quyền lợi…
+ Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những người có hành vi vi phạm pháp luật bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn, giúp đỡ, cảm hóa người phạm tội sau khi ra tù trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội [6]
Như vậy, Hương ước phản ánh tâm lý của dân làng, phản ánh một phương
Trang 35phải, điều dở, điều trái, về cái đúng - sai, đáng trọng - đáng khinh Sức mạnh cưỡng chế của hương ước dựa vào lề thói, nếp sống quen thuộc của cộng đồng làng Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, và động viên người ta hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, đồng thời điều tiết các trách nhiệm
và các quyền lợi của mọi thành viên trong làng Do đó, hương ước có ý nghĩa trong việc bổ sung cho luật pháp khi cần xử lý những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của làng
Tiếp đó, tại chương IV có quy định về những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định cũng là nội dung thể hiện quyền dân bàn Chương này quy định các nội dung sau:
- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã
- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã
- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã
- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Các vấn đề này cần được đưa ra để nhân dân thảo luận, cho ý kiến trước khi quyết định Đây là các nội dung quan trọng liên quan đến việc phát triển địa phương, liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, đất đai, vấn đề địa giới hành chính và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật
Trong thời gian vừa qua, không ít nơi các thông tin liên quan đến việc công khai thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, các kế hoạch sử dụng đất, việc triển khai các dự án tại địa phương… không những dân không được bàn mà
Trang 36còn bị bưng bít, không công khai để dân biết, đến khi có quyết định, tất cả mọi thứ
đã hoành thành thì người dân mới được biết thông tin, điều đó không những vi phạm các nội dung về dân chủ mà con gây bất bình trong nhân dân, nhất là đối với những trường hợp quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm Ví dụ: Đối với việc phát triển một dự án sân golf xây dựng các khu du lịch, nghỉ dưỡng bất hợp lý… liên quan đến đất nông nghiệp của người dân, các đơn vị chủ đầu tư không tiến hành các bước từ cấp cơ sở mà đi từ trên đi xuống, xin chủ trương thực chất là làm các công tác bôi trơn để trên ra quyết định và có văn bản chỉ đạo xuống dưới làm các công tác với xã, huyện, các sở ban ngành có liên quan và người dân là người biết cuối cùng Khi các dự án đã được phê duyệt, người dân cũng rất khó lòng được tiếp cận với các thông tin, thông tin công khai một cách chung chung như đánh đố người dân Vì vậy, việc quy định các nội dung trên để đảm bảo quyền dân bàn là rất cần thiết, đảm bảo được các nội dung này sẽ đem lại niềm tin của người dân đối với các quyết sách của cơ quan Nhà nước
Quy định về những nội dung nhân dân giám sát (quyền dân kiểm tra)
Quyền kiểm tra, giám sát là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, người dân tích cực vào công tác kiểm tra, giám sát thì có nghĩa là họ tích cực tham gia vào công cuộc quản lý đất nước, góp phần vào công cuộc xây dựng làng, bản, thôn xóm, hạn chế những hành vi vi phạm dân chủ cơ sở Cơ quan, chính quyền cấp xã tạo điều kiện và tôn trọng quyền kiểm tra của người dân một mặt sẽ thúc đẩy sự minh bạch, mặt khác hạn chế sự lạm quyền, tham nhũng trong hoạt động điều hành và quản lý của chính quyền cơ sở, và đồng thời thúc đẩy mối quan
hệ giữa nhân dân với chính quyền
Kiểm tra, giám sát tức là việc xem xét đến hoạt động của cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền, người được Nhà nước trao quyền để đảm bảo pháp chế và hệ thống kỷ cương trong hoạt động của cơ quan Nhà nước
Điều 23 Pháp lệnh có quy định: Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội
dung quy định tại các Điều 5, 10, 13, 19 của Pháp lệnh này
Như vậy, nhân dân sẽ giám sát các nội dung yêu cầu cần phải công khai
Trang 37nhân dân bàn, biểu quyết và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định (Điều 13), các nội dung nhân dân tham gia ý kiến (Điều 19)
Pháp lệnh đã quy định đầy đủ hơn các quyền giám sát của người dân, đây là điểm mới so với Nghị định 79/2003/NĐ – CP, theo các quy định của Nghị định này thì các quyền nhân dân giám sát được liệt kê một cách máy móc và chưa đầy đủ, chưa đảm bảo được quyền giám sát của nhân dân
Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm như sau:
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần thiết cho ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng
- Xem xét, giải quyết và trả lời kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng, của Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận cấp xã hoặc báo cáo với
cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình
Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn quy định về vấn đề lấy phiếu tín nhiệm tại Điều
26, trước đây vấn đề này cũng được ghi nhận tại Nghị định 79/2003/NĐ – CP tại khoản 3 Điều 14, nhưng các quy định còn rất chung chung, nay theo quy định của Pháp lệnh đã được quy định thành một điều cụ thể tương đối rõ ràng
Pháp lệnh quy định: Hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã Các nội dung cụ thể hướng dẫn về vấn đề này được quy định tại Nghị Quyết liên tịch số 09/2008/NQLT- CP –UBTWMTTQVN quy định rõ về nguyên tắc lấy phiếu tín nhiệm, thời hạn lấy phiếu tín nhiệm, công tác chuẩn bị cũng như việc công khai kết quả lấy phiếu tín nhiệm đến người dân
Trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở, nếu phát huy và làm tốt công tác bỏ phiếu tín nhiệm thì hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở rất cao, nếu cán bộ xã, phường, làng bản thôn xóm, không còn được tín nhiệm nữa nhưng vẫn đương chức, đương quyền sẽ gây nhiều bức xúc, mâu thuẫn nhân dân, dẫn đến việc nhân dân
Trang 38không tin vào hoạt động của chính quyền cấp cơ sở Cán bộ không còn được nhân dân tín nhiệm thì phải bị bãi miễn, tránh việc tham quyền cố vị cản trở đến việc đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở, gây bất bình trong dân, làm mất niềm tin của nhân dân với những đường lối đúng đắn của Đảng cũng như các quy định của pháp luật Do
đó, việc bỏ phiếu tín nhiệm thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công tác này phải được tiến hành một cách công khai, dân chủ, đúng quy định để đảm bảo quá trình thực hiện dân chủ cơ sở đạt kết quả cao
Các quy định của Pháp lệnh về dân chủ ở xã đã góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay, cũng như góp phần vào quá trình xây dựng điểm dân cư nông thôn tiến bộ hiện đại, việc đảm bảo dân chủ cơ sở là vô cùng cần thiết đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của người dân, làm cho người dân tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, họ hăng hái tham gia vào việc xây dựng chính quyền cơ sở, góp phần xây dựng quê hương ngày càng đổi mới, ấm no, hạnh phúc
2.1.1.2 Quy định về phương thực thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn
Việc ghi nhận quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân đặt ra đòi hỏi phải có cách thức để nhân dân thực hiện quyền lực của mình Thông thường có hai cách thức thực hiện dân chủ: Người dân trực tiếp thực hiện (dân chủ trực tiếp), và người dân thực hiện thông qua người đại diện (dân chủ gián tiếp) Thể hiện đúng tinh thần của Đảng ta phát huy vai trò của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, vừa nâng cao chế độ dân chủ đại diện, vừa mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp nhất là cơ sở…‟‟[23, tr.46] góp phần mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước
Dân chủ đại diện là hình thức dân chủ mà theo đó nhân dân thông qua đại diện của mình để bày tỏ chính kiến, để qua họ phản ánh lại và sử dụng các ý kiến đó
để quyết định những vấn đề của đời sống cộng đồng Nhân dân bầu ra những người đại diện cho mình và ủy quyền cho họ thực hiện các công việc của chính quyền, trong hình thức này quyền lực của người dân là không thường xuyên, chỉ chủ yếu là tập trung vào các kỳ bầu cử, quyền lực của người dân thể hiện ở việc họ chọn những
Trang 39Qua hình thức này quyền lực người dân sẽ không hề mất đi mà bằng nhiều hình thức khác nhau người dân vẫn có quyền tham gia ý kiến vào các hoạt động của chính quyền cũng như giám sát hoạt động của họ Hiện nay ở nước ta hình thức dân chủ đại diện được thực hiện thông qua Hội đồng nhân dân và các đoàn thể, tổ chức
xã hội
Phương thức thực hiện dân chủ đại diện ở xã được tiến hành bằng các cách sau:
- Dân chủ cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của đại biểu hội đồng nhân dân ở cơ sở Trong các phương thức thực hiện dân chủ, phương thức thực hiện thông qua Hội đồng nhân dân có vai trò rất lớn
- Dân chủ đại diện còn được thực hiện thông qua các đoàn thể, tổ chức xã hội như: Mặt trận tổ quốc, công đoàn, đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội Liên hiệp phụ nữ…
Dân chủ trực tiếp là hình thức theo đó nhân dân bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp quyết định những vấn đề của cuộc sống cộng đồng xã hội Dân chủ trực tiếp có vai trò quan trọng, dân chủ trực tiếp tạo nên tính tích cực chính trị - xã hội ở mỗi công dân, phát huy được tính tự giác giải quyết công việc trong cộng đồng, khắc phục thói quèn chờ đợi và ỷ lại, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước
và nhân dân
Dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng những phương thức sau:
- Trưng cầu dân ý;
- Chế độ bầu, bãi nhiệm đại biểu Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp;
- Hỏi ý kiến nhân dân, đưa ra thảo luận những chủ trương, chính sách các quyết định quản lý;
- Khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu tố của nhân dân;
- Chế độ công khai báo cáo công việc trước dân của cơ quan Nhà nước, cán
bộ công chức Nhà nước;
- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh trật tự… trên phạm vi địa phương mình;
- Tiếp nhận và giải quyết các đơn thư khiếu tố;
- Chế độ tự phê bình trước dân;
Trang 40- Xây dựng chế độ và các tổ chức tự quản đời sống địa phương
Ngoài các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp trên, còn có sự kết hợp dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở
Trên thực tế chúng ta đã thực hiện tương đối tốt các phương thực thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn bằng các phương thức dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp như đã phân tích ở trên
Phương thức thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn được thực hiện như sau:
Phương thức thực hiện dân chủ liên quan đến nội dung công khai để dân biết:
Pháp lệnh 34/2007/PL - UBTVQH có quy định về các hình thức công khai thực hiện dân chủ tại Điều 6 như sau:
a) Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã; b) Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;
c) Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân
Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai quy định tại khoản 1 điều này
Như vậy, việc truyền tải thông tin đến người dân được chính quyền cấp xã thực hiện bằng nhiều hình thức: thông tin qua hệ thống truyền thanh, niêm yết công khai tại trụ sở xã phường thị trấn, thông tin qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân xã, các cuộc họp sơ kết, tổng kết, kiểm điểm của Ủy ban nhân dân, các cuộc họp tổ dân phố, thôn, làng bản, các cuộc họp tiếp xúc cử tri của Hội đồng nhân dân xã… Mỗi hình thức đều có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nội dung về dân chủ, tuy nhiên không phải phương pháp nào cũng đều có hiệu quả như nhau
Đối với hình thức niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh 34/2007/PL - UBTVQH:
1 Hình thức niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã được áp dụng với các nội dung tại các khoản 2, 3, 9 và 10 Điều 5 của Pháp lệnh