1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống hóa văn bản pháp luật Hải quan về xuất nhập khẩu hàng hóa thương mại

109 748 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước .... Mặc dù vậy

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI 4

1.1 Hệ thống hoá pháp luật 4

1.1.1 Khái niệm hệ thống hoá pháp luật 4

1.1.2 Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật 5

1.1.3 Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật 8

1.1.4 Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hoá pháp luật 12

1.2 Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 15

1.2.1 Khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 15

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 21

1.2.3 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 26

Trang 2

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT HẢI QUAN

ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI 34 2.1 Một số chế định pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất,

nhập khẩu hàng hoá thương mại 34

2.1.1 Chế định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ

quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá 35 2.1.2 Chế định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan 38 2.1.3 Chế định về trách nhiệm của hải quan trong việc phòng chống

buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới 44 2.1.4 Chế định về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng

hoá xuất, nhập khẩu 48 2.1.5 Chế định về xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực xuất, nhập

khẩu hàng hoá thương mại 54

2.2 Đánh giá về thực trạng văn bản pháp luật hải quan về xuất,

nhập khẩu hàng hoá thương mại 61

2.2.1 Đánh giá tổng quan về giá trị, hiệu quả của pháp luật hải quan

điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 61 2.2.2 Một số nội dung bất cập cụ thể đang tồn tại trong pháp luật hải

quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 66

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP

THÚC ĐẨY CÔNG TÁC HỆ THỐNG HOÁ VĂN BẢN PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA THƯƠNG MẠI 71 3.1 Sự cần thiết của việc hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan

điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá 71

Trang 3

3.1.1 Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại có ý nghĩa quan trọng trong

việc tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước 72

3.1.2 Hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân, tổ chức thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại 75

3.2 Thực trạng công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thời gian qua và định hướng trong thời gian tới 77

3.2.1 Thực trạng công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thời gian qua 77

3.2.2 Định hướng công tác hệ thống hoá văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại trong thời gian tới 88

3.3 Những giải pháp hệ thống hóa văn bản pháp luật hải quan về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại 92

3.3.1 Đối với công tác tập hợp hóa 92

3.3.2 Đối với công tác pháp điển hóa 94

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia Mặc dù chỉ mới có sự chuyển biến rõ nét từ sau thời kỳ đổi mới, nhất là khi Luật Hải quan năm 2001 được ban hành, nhưng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ở nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ Từ thực tiễn này đã kéo theo nhu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có thể hỗ trợ Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý xuất, nhập khẩu, mặt khác có thể thiết lập môi trường pháp lý minh bạch, thông thoáng nhằm hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện

có hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước

Tuy nhiên, do hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ở nước

ta chỉ mới phát triển trong một thời gian ngắn, thực tiễn lại luôn có những chuyển biến phức tạp nên đòi hỏi Nhà nước phải liên tục ban hành các văn bản pháp luật nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu quản lý về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Chính điều này đã tạo nên một khối lượng văn bản pháp luật

đồ sộ, gây khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng pháp luật Mặt khác, do trình độ lập pháp còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm quản lý về xuất, nhập khẩu chưa nhiều nên không thể tránh khỏi tình trạng cùng lúc tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi

Xuất phát từ thực trạng đó, đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp hiệu quả để tiến hành tập hợp, rà soát và đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, nhằm kịp thời khắc phục những hạn chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và cán bộ, công chức ngành hải quan có thể dễ dàng tiếp cận, tra

Trang 5

cứu và áp dụng pháp luật Và hệ thống hoá pháp luật chính là một biện pháp hiệu quả có thể đáp ứng các yêu cầu đó

Mặc dù vậy, theo nhận thức của bản thân, hiện nay chưa có bất kỳ đề tài nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống hoá pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại được thực hiện, mà chỉ mới dừng lại ở các bài viết, tham luận về công tác hệ thống hoá pháp luật nói chung

Nhận thức được tầm quan trọng, và với nguyện vọng được nghiên

cứu sâu hơn, nhằm góp phần tạo lập cơ sở lý luận cho công tác “Hệ

thống hoá văn bản pháp luật hải quan về xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại”, tôi xin phép mạo muội chọn đây là đề tài nghiên cứu cho

Luận văn này

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới các mục đích nghiên cứu chính sau đây:

* Tìm hiểu các một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác hệ thống hoá pháp luật; về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

* Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

* Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng của hệ thống văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại; thực trạng tiến hành công tác hệ thống hoá pháp luật trong lĩnh vực hải quan,

từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đánh giá, phương pháp đối chiếu so sánh, … dựa trên những tài liệu, thông tin có được từ các công trình nghiên cứu, các tác phẩm của các tác giả và từ những nhận thức, đánh giá của bản thân

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương chính:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hệ thống hoá pháp luật và Pháp

luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Chương 2: Thực trạng văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt

động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hệ thống hoá văn bản pháp luật

hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều song do hạn chế về thời gian và trình độ, nên luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu từ quý Thầy, Cô

Trang 7

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT

VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG

XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI

1.1 Hệ thống hoá pháp luật

1.1.1 Khái niệm hệ thống hoá pháp luật

Trong khoa học pháp lý, hệ thống hoá pháp luật được hiểu là hoạt động

hệ thống, sắp xếp, chỉnh lý, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và áp dụng pháp luật Đồng thời thông qua công tác hệ thống hoá pháp luật cũng cho phép các

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có được sự nhìn nhận, đánh giá tổng quát về thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành, kịp thời phát hiện những quy định không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi của hệ thống pháp luật nhằm tiến tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật

Từ khái niệm này đã thể hiện khá rõ nét đặc điểm của công tác hệ thống hoá pháp luật không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tập hợp, sắp xếp cơ học các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn là một hoạt động trí tuệ thông qua việc đối chiếu, so sánh, chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Đây

là một công việc vô cùng phức tạp, đặc biệt là ở Việt Nam, với một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ; với trình độ lập pháp, lập quy còn nhiều hạn chế dẫn đến thực trạng tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật diễn ra khá phổ biến Thực trạng này đòi hỏi công tác

hệ thống hoá pháp luật phải được thực hiện cẩn trọng và có thể mất rất nhiều thời gian Kinh nghiệm thực hiện công tác hệ thống hoá pháp luật ở Hoa Kỳ

và một số quốc gia Châu Âu cho thấy để hoàn thành một bộ pháp điển quốc gia thông thường phải mất từ vài năm đến vài chục năm Cá biệt như Hoa Kỳ,

Trang 8

sau hơn 85 năm thực hiện bộ pháp điển quốc gia (US.code), chỉ mới có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hoá 1 Điều này đã phần nào nói lên tính chất phức tạp của công tác pháp điển hoá nói riêng và hệ thống hoá pháp luật nói chung.

Ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh công tác hệ thống hoá pháp luật

đã được thực hiện từ rất lâu, chứ không chỉ mới phát sinh trong nền pháp lý hiện đại Sự ra đời của các bộ luật Hình Thư (triều Lý), Hồng Đức (triều hậu Lê) và Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ, triều Nguyễn) đều được đánh giá là có

sự tham chiếu, tiếp thu và chỉnh sửa, bổ sung các quy định pháp luật trước đó,

mà một phần quan trọng là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa

2 Điều này đã thể hiện rất rõ công tác hệ thống hoá pháp luật ở nước ta đã hình thành, phát triển rất sớm và song hành cùng công tác lập pháp từ các triều đại phong kiến cho đến thời điểm hiện tại

Do ảnh hưởng của các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,…

và trình độ pháp lý của mỗi thời kỳ, nhất là ý chí của nhà cầm quyền mà công tác hệ thống hoá pháp luật có thể được thực hiện theo những định hướng khác nhau Tuy nhiên, suy cho cùng thì công tác hệ thống hoá pháp luật, dù được thực hiện dưới hình thức nào, ở bất kỳ thời điểm nào, cũng nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, dẫn dắt các quan hệ xã hội diễn biến theo ý chí của Nhà nước Đây cũng là một biểu hiện của bản chất giai cấp – một bản chất cố hữu của pháp luật

1.1.2 Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật

Ở Việt Nam, công tác hệ thống hoá pháp luật được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức: tập hợp hoá và pháp điển hoá Cả hai hình thức đều

là những hoạt động phức tạp, tỉ mỉ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Tập hợp hoá: là hoạt động sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật

Trang 9

hoặc các quy phạm pháp luật riêng biệt theo một trật tự nhất định, có thể theo trình tự thời gian ban hành, theo vần chữ cái hoặc theo từng vấn đề, thậm chí theo một trật tự khác tuỳ thuộc vào chủ thể tiến hành tập hợp 3 (ví dụ tập

“Hệ thống hoá luật lệ hình sự”, tập “Hệ thống hoá luật lệ dân sự” do Toà án nhân dân Tối cao thực hiện trước đây) Hoạt động này không làm thay đổi nội dung văn bản pháp luật, không bổ sung những quy định mới mà chỉ nhằm loại

bỏ các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực Do vậy, hình thức tập hợp hoá chưa giải quyết được vấn đề chỉnh sửa và loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên, cũng như chưa trực tiếp đóng góp vào quá trình chỉnh lý và hoàn thiện pháp luật,

mà chỉ mới dừng lại ở việc tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ công tác tra cứu

và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật

Pháp điển hoá: là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,

trong đó, không những chỉ tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ các quy phạm pháp luật lỗi thời, mâu thuẫn hoặc chồng chéo, mà còn bổ sung các quy phạm pháp luật mới để thay thế cho các quy phạm pháp luật đã bị loại bỏ, khắc phục những lỗ hổng đã được phát hiện, nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu lực pháp lý của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội 4

Từ khái niệm trên, ta thấy công tác pháp điển hoá được thực hiện qua

ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hay các quy

phạm pháp luật theo một trật tự nhất định tuỳ theo mục đích của chủ thể thực hiện

Giai đoạn 2: rà soát, đối chiếu, so sánh giữa các quy phạm phạm pháp

luật nhằm tìm ra sự khác biệt, mẫu thuẫn giữa quy phạm cấp dưới và quy phạm cấp trên; phát hiện những quy định pháp luật không còn phù hợp hoặc

Trang 10

thiếu tính khả thi hoặc những lỗ hổng pháp lý do thiếu sót những quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với một, một số quan hệ xã hội nhất định, nhất là những quan hệ xã hội mới phát sinh.

Giai đoạn 3: sửa đổi, bổ sung các thiếu sót đã được phát hiện, nhằm

đảm bảo xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, hiểu quả và khả thi

Như vậy, pháp điển hoá là hình thức phức tạp hơn rất nhiều so với công tác tập hợp hoá Nếu tập hợp hoá chỉ đơn thuần là việc sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật một cách có hệ thống, theo một trật tự nhất định thì đặc trưng của pháp điển hoá thể hiện ở việc chỉnh lý, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Kết quả của công tác pháp điển hoá có thể cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm hoàn thiện và thay thế cho các quy phạm pháp luật về cùng một lĩnh vực, một vấn đề mà trước đó được quy định rải rác trong nhiều văn bản, ở nhiều cấp độ khác nhau Chính vì vậy, pháp điển hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo

vệ pháp luật

Trong khoa học pháp lý, pháp điển hóa được phân chia thành hai hình thức: pháp điển hóa về mặt nội dung và pháp điển hóa về mặt hình thức

Pháp điển hóa về mặt nội dung: (hay còn được gọi theo các cách gọi

khác nhau như: pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới,…) là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ thống, tập hợp, rà soát, sắp xếp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi,

bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn Việc xây dựng các bộ luật của nước ta như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động,… đều được thực hiện theo hình thức pháp điển này Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường

Trang 11

Pháp điển hóa về mặt hình thức: (còn được gọi là pháp điển hóa

không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại nhiều văn bản khác nhau thành Bộ pháp điển theo từng chủ đề và theo một trật tự nhất định, với bố cục logic, phù hợp,

có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong hoạt động pháp điển hóa hình thức chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của Bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng tối đa Ở nước ta, công tác pháp điển hóa hình thức chưa được chính thức thực hiện Tuy nhiên, ngày 16 tháng 4 năm

2012 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (có hiệu từ ngày 01 tháng 7 năm 2012), đây là cơ sở pháp

lý để chúng ta tiến hành xây dựng Bộ pháp điển trong thời gian tới

1.1.3 Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật

Xuất phát từ bản chất và đặc điểm khác nhau của mỗi hình thức hệ thống hoá pháp luật dẫn đến chủ thể thực hiện cũng có sự khác nhau Vì tính chất đơn giản hơn và mục đích chỉ đơn thuần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể thực hiện công tác tập hợp hoá rất đa dạng, có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc thậm chí có thể là cá nhân Trình tự thực hiện tập hợp hoá cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ một quy định pháp lý nào, ngoại trừ nguyên tắc chủ thể tập hợp hoá phải đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của nội dung các văn bản quy phạm pháp luật

Tuỳ thuộc vào mục đích của chủ thể thực hiện mà phạm vi và cách thức thực hiện tập hợp hoá cũng khác nhau, có thể là tập hợp theo trình tự thời gian ban hành, theo cấp độ hiệu lực, theo từng chủ đề nhất định hoặc theo bất kỳ

Trang 12

một cách thức nào khác Ở Việt Nam hiện nay, công tác tập hợp hoá diễn ra khá phổ biến, không chỉ dừng lại ở các cơ quan Nhà nước, các cơ sở đào tạo pháp luật, các luật gia, mà còn được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tìm hiểu pháp luật phục vụ mục đích kinh doanh của chính họ Điều này thể hiện nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh đã được nâng cao, đây là một tín hiệu đáng mừng khi nền kinh tế Việt Nam đang dần vận hành theo cơ chế thì trường thì việc nắm bắt kịp thời và áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật là điều hết sức cần thiết và quan trọng

Ngược lại do tính chất phức tạp và mục đích của pháp điển hoá là chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện pháp luật nên chủ thể thực hiện pháp điển hoá chỉ có thể là cơ quan Nhà nước, và phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Ở Việt Nam hiện nay, hành lang pháp lý cho việc pháp điển hoá vẫn còn nhiều hạn chế, văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh vấn đề này là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2008 và Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội khoá 13 thông qua ngày

16 tháng 4 năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 Tại Điều 4 Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật đã quy định thẩm quyền thực hiện pháp điển như sau:

 Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của mình

 Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; quy phạm pháp luật

Trang 13

trong văn bản pháp luật do cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của mình

 Văn phòng Quốc hội thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh những vấn đề không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan Nhà nước nêu tại các mục trên

 Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện pháp điển đối với quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành không thuộc thẩm quyền thực hiện pháp điển của các cơ quan Nhà nước nêu tại các mục trên

Bên cạnh đó, Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật cũng quy định trình tự và thủ tục thực hiện công tác pháp điển Theo đó công tác pháp điển được thực hiện theo các chủ đề được sắp xếp theo thứ tự Alphabet,

có tất cả 45 chủ để được quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế xã hội mà Chính phủ có quyền quyết định bổ sung chủ

đề mới theo đề nghị của Bộ Tư Pháp Mỗi chủ đề có thể bao gồm nhiều đề mục Trong đề mục, tuỳ theo nội dung có thể có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác pháp điển theo đề mục và gửi kết quả đến Bộ Tư Pháp Bộ trưởng Bộ Tư Pháp sau khi nhận được hồ sơ sẽ quyết định thành lập Hội đồng thẩm định để thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục Hội đồng thẩm định này do Bộ trưởng

Bộ Tư Pháp làm Chủ tịch, và các thành viên bao gồm đại diện lãnh đạo cơ quan thực hiện pháp điển, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, cơ quan, tổ chức có liên quan và một số chuyên gia pháp luật Nội dung thẩm định kết quả pháp điển theo đề mục tập trung vào các vấn đề:

- Tính chính xác, đầy đủ của các quy phạm pháp luật trong đề mục;

- Sự phù hợp của vị trí quy phạm pháp luật trong đề mục;

Trang 14

- Sự tuân thủ trình tự, thủ tục pháp điển theo đề mục;

- Các vấn đề khác liên quan đến nội dung của đề mục

Kết luận của Hội đồng thẩm định sẽ được gửi đến cho cơ quan thực hiện pháp điển trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định, căn cứ vào kết luận này, cơ quan thực hiện pháp điển chỉnh lý, hoàn thiện kết quả pháp điển theo đề mục và thủ trưởng cơ quan thực hiện pháp điển sẽ ký xác thực kết quả pháp điển theo đề mục và gửi đến Bộ Tư Pháp, sau đó Bộ Tư Pháp sẽ tiến hành sắp xếp đề mục đã được pháp điển vào chủ đề

Sau khi kết quả pháp điển theo đề mục được Bộ tư Pháp sắp xếp theo chủ đề, Chính phủ sẽ quyết định thông qua kết quả pháp điển theo từng chủ

đề của Bộ pháp điển và dựa trên sự thông qua này, Bộ Tư Pháp thực hiện sắp xếp kết quả pháp điển theo chủ đề vào Bộ pháp điển và đăng tải trên Trang thông tin điển tử pháp điển

Như vậy, có thể nhận thấy rõ ràng việc pháp điển phải được thực hiện theo một quy trình tương đối chặt chẽ Điều này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công tác pháp điển

Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật thì công tác pháp điển chỉ mới dừng lại ở việc rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển, chứ chưa thực hiện được công tác chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Như vậy, rõ ràng việc xây dựng Bộ pháp điển theo quy định tại Pháp lệnh cũng chưa hoàn toàn đáp ứng được mục tiêu cao nhất của công tác pháp điển hoá là loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu

Trang 15

thuẫn, chồng chéo, những quy phạm không còn phù hợp hoặc thiếu tính khả thi và tăng cường chất lượng cũng như hiệu lực pháp luật của các văn bản quy phạm pháp luật

1.1.4 Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hoá pháp luật

1.1.4.1 Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam:

Không riêng Việt Nam, mà ở hầu hết các quốc gia đều tồn tại một hệ thống pháp luật rất đồ sộ, điều này gây khó khăn cho việc tra cứu và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong bối cảnh cùng lúc tồn tại quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề Chính sự phức tạp này dẫn đến Nhà nước khó có được cái nhìn chính xác về hiệu quả của công tác lập pháp, do đó chưa thúc đẩy tăng cường chất lượng của công tác lập pháp

Một cách khái quát, có thể nhận thấy hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đang tồn tại một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục:

- Tản mát, tức là có cùng lúc nhiều quy phạm pháp luật trong các văn

bản quy phạm pháp luật khác nhác cùng điều chỉnh một vấn đề Ví dụ về điều kiện nhà ở được đưa vào kinh doanh được quy định đồng thời trong Luật kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở và các văn bản dưới luật như Nghị định 71/2010/NĐ-CP

- Không đồng nhất, tức là có sự khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn giữa

các quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề Ví dụ về một trong các điều kiện để nhà ở được phép giao dịch theo quy định tại Điều 91 Luật Nhà ở

là phải “Có giấy chứng nhận quyền sở hữu theo quy định của pháp luật” Tuy

nhiên, đến Nghị định số 71/2010/NĐ-CP thì Chính phủ lại quy định cho phép giao dịch nhà ở hình thành trong tương lai, có nghĩa là nhà ở đang trong quá trình xây dựng hoặc đã xây dựng xong nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu vẫn được phép tham gia vào một số giao dịch nhất định Điều

Trang 16

này tạo ra rất nhiều rủi ro cho các chủ thể tham gia giao dịch vì về nguyên tắc, trường hợp có sự khác biệt hoặc mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ được ưu tiên áp dụng, nhưng trong thực tế, các chủ thể tham gia giao dịch thường chỉ tham khảo và áp dụng các văn bản dưới luật bởi tính chi tiết và cụ thể của nó.

- Không minh bạch Sự không minh bạch này thể hiện ở chủ yếu ở tính

mơ hồ, không rõ ràng của các quy phạm pháp luật Từ đó dẫn đến hệ luỵ là cùng một quy phạm pháp luật nhưng có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều công văn hướng dẫn khác nhau

- Hiệu lực văn bản không rõ ràng Điều này nhận thấy rõ ràng nhất

trong trường hợp văn bản luật đã chấm dứt hiệu lực nhưng hệ thống các văn bản hướng dẫn dưới luật vẫn tồn tại và vẫn được áp dụng

Và tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng khi số lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng gia tăng Trong khi đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cả những quy định còn hiệu lực lẫn những quy định đã chấm dứt hiệu lực do thông lệ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật “sửa đổi một số điều” của văn bản ban hành trước đây

Nhiều văn bản thường có điều khoản nói rằng “các quy định được ban hành

trước đây trái với quy định của luật này sẽ hết hiệu lực và không có giá trị áp dụng” nhưng lại không nêu cụ thể các quy định bị bãi bỏ là gì Điều này dẫn

đến hệ quả là người dân và doanh nghiệp lạc giữa “rừng luật và văn bản hướng dẫn”, gây khó khăn và gia tăng chi phí tiếp cận văn bản, cũng như gây

ra những rủi ro pháp lý không đáng có cho xã hội

1.1.4.2 Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hóa pháp luật

- Tập hợp được tất cả các quy phạm pháp luật đang nằm phân tán, rải

rác ở nhiều văn bản trong một văn bản pháp luật duy nhất trong đó gồm những quy phạm pháp luật còn hiệu lực trong một lĩnh vực, chủ đề nhất định (hoặc ở

Trang 17

một số nước là do một cơ quan ban hành), theo một trật tự logic, nhằm bảo đảm thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng, thực hiện văn bản pháp luật

- Minh bạch hóa và bảo đảm tính cập nhật của các quy phạm pháp luật

thông qua việc bãi bỏ các nội dung không rõ ràng, mâu thuẫn, không phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế; chỉ ra sự mâu thuẫn, chồng chéo, không đầy đủ trong hệ thống luật pháp và chuẩn bị đề xuất các sửa đổi, bổ sung cần thiết từ đó nâng cao tính thống nhất của các quy định pháp luật

- Góp phần bảo đảm duy trì tính hệ thống của hệ thống pháp luật Theo

cách thức pháp điển này, phần lớn các quy phạm pháp luật sẽ được sắp xếp vào các bộ luật với phạm vi nội dung được xác định rõ ràng, ổn định, có tính hệ thống cao Bộ Pháp điển sẽ được sử dụng như một phương tiện để thực hiện việc hệ thống hóa các quy định pháp luật một cách liên tục vì tất cả các quy định mới được ban hành đều được đưa vào Bộ pháp điển ngay lập tức và các việc thay thế các quy định cũ cũng được thực hiện ngay trên Bộ pháp điển

- Nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật Việc

xây dựng các bộ pháp điển một cách có hệ thống và toàn diện sẽ nâng cao sự

ổn định và thống nhất của hệ thống pháp luật và vì vậy sẽ nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật

- Tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm luật Trong bối cảnh tất

cả quy phạm pháp luật đã được sắp xếp một cách hệ thống trong các bộ pháp điển thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định sẽ được thực hiện một cách dễ dàng hơn trên cơ sở các quy định của bộ pháp điển mà không phải tiến hành rà soát, kiểm tra các văn bản phân tán trong hệ thống pháp luật như hiện nay Hơn thế nữa, trong trường hợp các bộ pháp điển đã được xây dựng ổn định, việc làm luật trong một lĩnh vực có thể chỉ dừng lại ở việcsửa đổi, bổ sung các bộ pháp điển trong lĩnh vực đó mà không nhất thiết phải chỉnh sửa hay ban hành mới cả một luật hay một bộ luật như hiện nay

Trang 18

Như vậy, lợi ích của công tác hệ thống hóa pháp luật là hiển nhiên và không thể phủ nhận Thực hiện thành công hệ thống hóa pháp luật giúp Nhà nước có thể đánh giá chính xác thực trạng hệ thống pháp luật, từ đó kịp thời chỉnh sửa, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước Người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận, tra cứu pháp luật một cách đơn giản hơn và áp dụng pháp luật chính xác, hiệu quả hơn, đồng thời cũng giúp giảm thiểu được các rủi ro pháp lý Tất cả những hiệu quả tích cực này sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng lập pháp

và quản lý Nhà nước, tăng cường ý thức pháp luật cho người dân nhằm tiến đến mục tiêu cao nhất là hoàn thiện nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, theo định hướng của Đảng và Nhà nước

1.2 Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.1 Khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Để tìm hiểu về khái niệm “Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại”, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu một số

khái niệm có liên quan

 Khái niệm “Pháp luật” và “Văn bản quy phạm pháp luật”

Pháp luật được hiểu là “toàn bộ những quy định do các cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền đặt ra để hướng dẫn cách xử sự, có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

“hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan

“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật… Các cơ quan Nhà nước, tổ chức

Trang 19

kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật” Dù được diễn giải dưới

hình thức nào, nhìn chung pháp luật có một số đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Pháp luật bao gồm một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà

nước ban hành để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong xã hội

- Thứ hai: Pháp luật do Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh

quyền lực nhà nước

- Thứ ba: Pháp luật là một hiện tượng xã hội vừa mang tính xã hội,

vừa mang tính giai cấp Bản chất xã hội của pháp luật xuất phát từ mục tiêu ban hành pháp luật là để quản lý xã hội và vì lợi ích chung của toàn xã hội Tuy nhiên, vì Nhà nước là đại diện cho một hoặc một số giai tầng cụ thể, nên

dù ít hay nhiều, pháp luật do Nhà nước ban hành cũng mang bản chất giai cấp, là công cụ phục vụ lợi ích riêng của giai cấp thống trị

Văn bản quy phạm pháp luật: theo quy định tại Điều 1 Luật Ban hành

văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì “Văn bản quy phạm pháp luật là

văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” Cũng theo

luật này, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam bao gồm:

- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

- Nghị định của Chính phủ

- Quyết định của Thủ tướng chính phủ

- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà an nhân dân tối cao, Thông

tư của chánh án Toà án nhân dân tối cao

Trang 20

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Quyết định của Tổng kiểm toán Nhà nước

- Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, xã hội

- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Như vậy, về bản chất, văn bản quy phạm pháp luật chính là nơi chứa đựng các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, là hình thức thể hiện nội dung của từng ngành luật, từng vấn đề pháp lý cụ thể Một vấn đề đáng lưu ý là ở Việt Namhiện nay các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế được tập hợp, hệ thống bởi các tổ chức phi chính phủ không được thừa nhận là một hình thức văn bản quy phạm pháp luật Tương tự, các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật do các cơ quan hành chính ban hành, mà phổ biến nhất là hình thức “công văn” cũng không được thừa nhận như một loại hình văn bản quy phạm pháp luật, có nghĩa là các văn bản này chỉ mang tính chất định hướng, tham khảo chứ không có hiệu lực bắt buộc thi hành, dù đây là một hình thức văn bản rất phổ biến ở Việt Nam

 Khái niệm “Xuất khẩu, nhập khẩu”

Một cách khái quát, khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu có thể được hiểu như sau:

- Xuất khẩu là những giao dịch hàng hoá, dịch vụ (mua bán, trao đổi,

tặng cho, đối ứng) từ cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ của một nước đến cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ nước ngoài và hàng hoá, dịch vụ đó phải di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia

Trang 21

- Nhập khẩu là những giao dịch hàng hoá, dịch vụ (mua bán, trao đổi,

tặng cho, đối ứng) từ cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ ở nước ngoài đến cư dân, công ty, tổ chức, chính phủ của một nước và hàng hoá, dịch vụ đó phải di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia

Điều 28 Luật Thương Mại (2005) đã diễn giải chi tiết hơn về khái niệm xuất, nhập khẩu hàng hoá:

- Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt

Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt

Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

Như vậy, không còn như cách hiểu truyền thống, xuất, nhập khẩu hàng hoá có thể thực hiện ngay trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Theo

Luật Hải Quan, Luật Thuế Xuất Khẩu, Thuế Nhập Khẩu, khái niệm “khu vực

hải quan riêng” được diễn giải bao gồm “khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”.

 Khái niệm “Hàng hoá thương mại”

Hàng hoá là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hoá là vật chất tồn tại có hình dang xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hoá là tất

cả những gì có thể trao đổi, mua bán được

Trong kinh tế chính trị Mark-Lenin, hàng hoá cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hoá có thể là hữu

Trang 22

hình hay ở dạng vô hình như sức lao động Theo Karl Mark, định nghĩa hàng hoá trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thoả mãn nhu cầu của con người nhờ vào các tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hoá phải có:

- Tính ích dụng đối với người dùng

- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động

- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm

Theo quan điểm của David Ricardo, hàng hoá phải thoả mãn hai thuộc tính cơ bản:

- Giá trị sử dụng: giá trị sử dụng của hàng hoá là ích dụng của hàng

hoá thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Ví dụ, công dụng của một cái kéo là để cắt nên giá trị sử dụng của nó là để cắt; công dụng của bút để viết nên giá trị sử dụng của nó là để viết Một hàng hoá có thể có một hoặc nhiều công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau

- Giá trị: giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất

hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Mọi hàng hoá đều là sản phẩm của quá trình sản xuất thông qua lao động, là sản phẩm của lao động, có lao động kết tinh vào trong đó Có sự chi phí về thời gian, sức lực và trí tuệ của con người khi sản xuất chúng Khi đưa ra ngoài thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hoá thể hiện thông qua giá trị trao đổi hay giá cả của hàng hoá

Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế dẫn đến các cách hiểu hàng hoá không còn bó hẹp như các nhà kinh tế cổ điển đã xác định Phạm trù hàng hoá mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật lý của vật thể

và tiến sát đến gần phạm trù giá trị Tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động,… đều được xem là hàng hoá cho

dù chúng có thể không đáp ứng đầy đủ các tính chất đã được các nhà kinh tế

cổ điển xác định như đã phân tích ở trên

Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại, hàng hoá bao gồm:

Trang 23

- Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

- Những vật gắn liền với đất đai

Theo Điều 174 Bộ Luật Dân Sự thì bất động sản bảo gồm:

- Đất đai;

- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đại, kể cả các tài sản gắn

liền với nhà, công trình xây dựng đó;

- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

- Các tài sản khác do pháp luật quy định

Và động sản được xác định là những tài sản không phải là bất động sản

Cũng theo Bộ Luật Dân Sự, tài sản bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản” Từ các quy định này cho thấy “giấy tờ có giá, quyền tài sản” cũng được xem là hàng hoá, và các giao dịch mua bán, chuyển

nhượng các tài sản này qua biên giới quốc gia (hoặc qua ranh giới của khu vực hải quan riêng) cũng được xem là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá

Trong phạm vi ngành luật hải quan, hàng hoá được giải thích bao gồm

“hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quí, đá quí, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan” và “Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh bao gồm tất cả động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan”

(Khoản 1 Điều 4 Luật Hải Quan)

Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch xuất, nhập khẩu đều là xuất, nhập

khẩu hàng hoá thương mại Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại: “Hoạt

động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi…” Như vậy, xuất,

nhập khẩu hàng hoá chỉ là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Trang 24

khi và chỉ khi nó mang mục đích sinh lợi Mọi hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá không nhằm mục đích sinh lợi đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài viết này.

Như vậy, từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại như sau:

“Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là tập hợp tất cả các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm mục tiêu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích sinh lợi”

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.2.1 Nguồn của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Trong tiếng Việt, “nguồn” được hiểu là “nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra

lý, nguồn của luật được hiểu là nơi chứa đựng các quy tắc xử sự của các chủ thể trong xã hội do Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước 8 Như vậy, khi nói đến nguồn của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại tức là nói đến các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh hành vi của các chủ thể có liên quan đến xuất, nhập khẩu hàng hoá như: các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện xuất, nhập khẩu; các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu;…

Cũng như các ngành luật khác, pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại được hình thành từ các nguồn sau:

Trang 25

 Nguồn luật quốc tế

Sau hơn hai mươi lăm năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới thông qua việc tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia và tổ chức quốc tế Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thành viên các diễn đàn kinh tế khu vực như Diễn đàn hợp tác liên khu vực Á – Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC),… và không ngừng mở rộng hợp tác kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới Chính việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế này đã xây dựng nên một hệ thống nguồn mang tính chất quốc tế của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, thể hiện thông qua các nhóm văn bản sau:

- Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đặc biệt liên quan trực

tiếp đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là cam kết chung về thuế quan và các cam kết về các nhóm hàng hoá nhất định như dệt may, điện

tử, giấy, ô tô, thép, lương thực, rau quả, cây công nghiệp, chăn nuôi,…; các cam kết về Trợ cấp nông nghiệp, Các biện pháp bảo hộ nông nghiệp phi thuế, Cam kết WTO về hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu,…

- Các Hiệp định và các văn bản khác của WTO liên quan đến hoạt

động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Các hiệp định và văn bản khác trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á (ASEAN) và các Hiệp định giữa ASEAN với các quốc gia khác

- Hiệp định song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác trên

thế giới

- ……

 Nguồn luật quốc gia

Nguồn luật quốc gia của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất,

Trang 26

nhập khẩu hàng hoá thương mại bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật Có thể liệt kê một số văn bản quan trọng như:

Văn bản luật:

- Luật Hải Quan (2001)

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005)

- Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu (2005)

- Luật Quản lý thuế (2006)

Văn bản dưới luật:

Hệ thống văn bản dưới luật về pháp luật hải quan trong lĩnh vực xuất, khẩu hàng hoá thương mại rất đa dạng và có số lượng văn bản rất lớn, nên không thể sử dụng phương pháp liệt kê để mô tả chi tiết hệ thống nguồn luật trong nước về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Để có cái nhìn tổng quan, chúng tôi tạm thời dựa trên tiêu chí về hình thức và nội dung văn bản để

mô tả khái quát về hệ thống nguồn trong nước của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Về hình thức văn bản: bao gồm Nghị định của Chính phủ, Quyết định

của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của các bộ, Quyết định của Tổng cục Hải quan,… và các công văn hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật Hải quan trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại của Tổng cục Hải quan và các cơ quan Hải quan địa phương

Về nội dung: có thể dựa vào nội dung để phân chia các văn bản pháp

luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thành các nhóm cơ bản sau:

- Nhóm các văn bản quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ

thống các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Nhóm các văn bản quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát

hải quan

Trang 27

- Nhóm các văn bản quy định về tổ chức thu thuế và các khoản phải thu

khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

- Nhóm các văn bản quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật

hải quan trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá

1.2.2.2 Phạm vi, đối tượng và phương pháp điều điều chỉnh

 Phạm vi điều chỉnh

Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005)

xác định: “Luật này quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hoá

được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động của hải quan”

Từ quy định này, có thể xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại như sau:

- Điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về xuất nhập, khẩu hàng hoá

thương mại, bao gồm: quản lý về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; quản lý về thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản phải thu khác phát sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá

- Quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan

hải quan

- Quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong

lĩnh vực hải quan

 Đối tượng điều chỉnh:

Theo quy định tại Điều 3 Luật Hải Quan (2001), đối tượng áp dụng của pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại bao gồm các chủ thể sau đây:

- Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Cơ quan hải quan, công chức hải quan

- Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Trang 28

Từ quy định này, có thể xác định đối tượng điều chỉnh của pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, từ hành vi của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện xuất, nhập khẩu và hành vi của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu

 Phương pháp điều chỉnh

Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu thương mại và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Đây là một lĩnh vực pháp luật mang bản chất công, do vậy phương pháp điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật này là phương pháp hành chính – mệnh lệnh

Phương pháp hành chính - mệnh lệnh là cách thức tác động trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước lên đối tượng và khách thể quản lý bằng các quy định mang tính chất bắt buộc phải thi hành, và tính chất bắt buộc này được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước thông qua các hình thức chế tài được quy định trong pháp luật hải quan và các ngành luật có liên quan khác Phương pháp điều chỉnh hành chính – mệnh lệnh của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thể hiện thông qua các dấu hiệu sau:

- Quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan

quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Quy định về thủ tục hải quan, thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan đối

với hàng hoá xuất, nhập khẩu mang tính chất bắt buộc các chủ thể thực hiện xuất, nhập khẩu phải chấp hành

- Quy định về tổ chức thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản

phải thu khác đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu

Trang 29

Như vậy, với phương pháp điều chỉnh hành chính – mệnh lệnh, pháp luật hải quan không chỉ tác động về mặt tổ chức mà còn trực tiếp điều chỉnh hành vi của các chủ thể trực tiếp thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, cũng như hành vi của cán bộ, công chức hải quan trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước Nhờ vậy, các quan hệ pháp luật phát sinh liên quan đến xuất, nhập khẩu hàng hoá được thực hiện và giám sát có hiệu quả, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo tuân thủ đúng chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước

1.2.3 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.3.1 Vai trò của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Cũng như pháp luật nói chung, tất cả các ngành luật hoặc các chế định pháp luật đều có những vai trò nhất định trong xã hội và được thể hiện chủ yếu thông qua ba khía cạnh: vai trò chính trị, vai trò kinh tế và vai trò xã hội Tuỳ thuộc vào chức năng của mỗi ngành luật mà biểu hiện về tầm quan trọng của các vai trò này có thể có sự khác nhau Trong phần này, chúng tôi sẽ tập trung phân tích những vai trò nổi bật nhất của Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, qua đó có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của lĩnh vực pháp luật này trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước

 Vai trò chính trị của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Thể chế hoá chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng về định

hướng phát triển lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Vai trò

này thể hiện rõ nét thông qua sự thay đổi về chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng thời kỳ trước đổi mới và trong giai đoạn đổi mới Từ sự

Trang 30

chuyển hướng về chính sách, hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá đã ra đời Và sau hơn hai mươi lăm năm đổi mới, Nhà nước ta đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Nhờ vậy, đường lối, chính sách của Đảng đã được cụ thể hoá thành các quy phạm pháp luật và triển khai sâu rộng trong đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước đạt được kết quả bước đầu đáng khích lệ như hôm nay.

- Quy định khung pháp lý về tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước trong

lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Vai trò này được thể hiện rõ

nét thông qua hai mục tiêu quan trọng:

 Xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước trong hoạt động quản lý xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại một cách tinh gọn, hiệu quả

 Xây dựng một cơ chế đồng bộ để đảm bảo các chính sách, pháp luật được thực thi đúng đắn, hiệu quả theo định hướng của Đảng, Nhà nước

Để thực hiện được vai trò chính trị này, đòi hỏi hệ thống pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại phải giải quyết có hiệu quả các vấn đề sau đây:

 Xây dựng khung pháp lý về hệ thống, cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

 Quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý Nhà nước về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

 Quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

 Quy định biện pháp chế tài nhằm đảm bảo hoạt động quản lý xuất, nhập khẩu hàng hoá được thực hiện phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trang 31

Như vậy, cả hai biểu hiện của vai trò chính trị đều nhằm một mục tiêu chung là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thành pháp luật của Nhà nước Vai trò thứ nhất thực hiện chuyển hoá từ định hướng chung thành các quy phạm pháp luật cụ thể, mang giá trị bắt buộc thi hành bởi quyền lực Nhà nước Vai trò thứ hai nhằm xây dựng cơ chế điều hành, quản lý, kiểm soát và đảm bảo các quy phạm pháp luật được thực thi đúng đắn, phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng đã đề ra Tóm lại, một cách ngắn gọn, có thể hiểu rằng vai trò chính trị của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là thể chế các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật của Nhà nước

 Vai trò kinh tế của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Bên cạnh vai trò chính trị, pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại còn thể hiện rõ nét vai trò kinh tế ở các khía cạnh sau đây:

- Xây dựng khung pháp lý để các cơ quan Nhà nước tiến hành hoạt

động quản lý trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Là công

cụ để Nhà nước khắc phục các nhược điểm của nền kinh tế thị trường, bảo đảm sự phát triển ổn định của quốc gia thông qua việc điều chỉnh linh hoạt các chính sách xuất, nhập khẩu từng thời kỳ; đảm bảo lợi ích hài hoà của các thành phần trong xã hội; và góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước từng bước tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Xây dựng hành lang pháp lý để các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có

thể thực hiện quyền xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại; là công cụ pháp lý

để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Trang 32

- Cũng thông qua pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập

khẩu hàng hoá, Nhà nước có thể chủ động thực thi một cách đúng đắn các chính sách bảo hộ mậu dịch thương mại nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước

 Vai trò xã hội của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động

xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Như đã phân tích ở phần trên, bên cạnh bản chất giai cấp, pháp luật còn mang bản chất xã hội Bản chất xã hội này thể hiện ở việc pháp luật chính là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước, nhưng cũng là để phục vụ lợi ích của

xã hội Tùy thuộc vào từng thể chế chính trị, hình thức Nhà nước mà bản chất

xã hội của pháp luật được thể hiện ít hay nhiều Đặc biệt, là một Nhà nước của dân, do dân và vì dân thì bản chất xã hội của pháp luật Việt Nam được đặc biệt xem trọng Do vậy, mặc dù là một ngành luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ kinh tế, nhưng pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại vẫn thể hiện rõ nét vai trò xã hội của mình thông qua các dấu hiệu:

- Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá

thương mại phải đảm bảo hài hoà lợi ích của mọi thành phần trong xã hội, mà mục tiêu cao nhất là giúp người tiêu dùng trong nước tiếp cận hàng hoá giá rẻ

và giúp nhà sản xuất trong nước tiêu thụ được sản phẩm giá cao

- Nhà nước trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu đối

với một số loại hàng hoá quan trọng, thiết yếu nhằm đảm bảo ổn định xã hội

- Thông qua pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu

hàng hoá thương mại, Nhà nước có thể chủ động khuyến khích hay hạn chế việc xuất nhập khẩu đối với một số loại hàng hoá nhất định, đặc biệt là hạn chế hoặc cấm nhập khẩu các sản phẩm không phù hợp với môi trường văn hoá, giáo dục và đạo đức Việt Nam, góp phần định hướng tiêu dùng cho người dân và giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá quốc gia

Trang 33

- Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay thì vai trò xã hội của pháp luật hải

quan còn thể hiện thông qua việc hạn chế xuất, nhập khẩu các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường; hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô nhằm đảm bảo một sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai chứ không thể đánh đổi sự phát triển bằng mọi giá

1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập, khẩu hàng hoá thương mại

Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định:

“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí

Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng

hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Vì Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng trên cơ sở thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, và pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại cũng không phải là một ngoại

lệ Do vậy, có thể khẳng định nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất ảnh hưởng đến pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại chính là đường lối kinh tế đối ngoại do Đảng khởi xướng trong từng giai đoạn cụ thể Mặc dù vậy, việc đề ra chủ trương, đường lối của Đảng phải dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia chứ không thể thực hiện một cách chủ quan, tuỳ tiện Có thể nhận thấy rằng, việc xây dựng pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại trong từng thời kỳ bị chi phối bởi một số yếu tố sau:

- Nhu cầu phát triển kinh tế đất nước: đây là nhân tố ảnh hưởng

mạnh mẽ và rõ nét nhất Sự phát triển của bất kỳ một quốc gia nào cũng

Trang 34

trải qua nhiều giai đoạn và trong từng giai đoạn có thể có những định hướng và mục tiêu khác nhau, từ đó dẫn đến chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá nói riêng sẽ có những đặc điểm khác nhau Mặc khác, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhu cầu và năng lực sản xuất của nền kinh tế trong nước, mà nhu cầu và năng lực này có thể biến đổi theo thời gian Do vậy, từ tình hình thực tiễn của từng giai đoạn mà Nhà nước sẽ

đề ra những chính sách chiến lược về xuất, nhập khẩu cụ thể, từ đó tác động trực tiếp đến công tác xây dựng và thực thi pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- An ninh quốc gia: Theo cách hiểu truyền thống, an ninh ninh quốc gia

là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Với khái niệm này, an ninh quốc gia mang bản chất chính trị rõ nét Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề an ninh quốc gia được hiểu không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực quốc phòng, chính trị mà còn bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hoá,… hoặc chậm chí trong phạm vi một vấn đề như an ninh năng lượng, an ninh lương thực,… Trong phạm vi bài viết này, an ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng.Mục tiêu đảm bảo an ninh quốc gia sẽ trực tiếp tác động đến đường lối kinh tế đối ngoại của đất nước, từ đó ảnh hưởng đến công tác xây dựng và thực thi pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Ổn định xã hội: Bất kỳ một chính sách kinh tế nào cũng phải tính đến

những tác động xã hội của nó Một chính sách kinh tế không thể thành công nếu gây ra những tác động tiêu cực (dù là vật chất hay phi vật chất) cho xã hội Quản lý xuất nhập, khẩu hàng hoá thương mại cũng không nằm ngoài

Trang 35

quy luật đó Bên cạnh nhu cầu phát triển kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá phải tính đến những tác động của nó gây ra cho đời sống văn hoá,

xã hội, nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của mọi thành phần trong xã hội, nhất là thành phần dân cư có thu nhập thấp Từ đó xây dựng những chính sách, quy phạm pháp luật cụ thể đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu phát triển xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, vừa duy trì sự ổn định xã hội, đặc biệt là giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống của dân tộc

- Phát triển bền vững: Hiện nay, phát triển bền vững đang là vấn đề

cấp bách và đặc biệt quan trọng, thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam Vấn đề phát triển bền vững chủ yếu được đề cập trên các khía cạnh:

 Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu

 Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tăng cường nghiên cứu, phát triển các nguyên vật liệu nhân tạo nhằm thay thế nguồn tài nguyên thiên nhiên Không thể phủ nhận nhu cầu phát triển bền vững đã tác động trực tiếp đến chính sách kinh tế của các quốc gia, trong đó

có chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại, cụ thể như:

 Hạn chế sản xuất, xuất, nhập khẩu hàng hoá tác động xấu đến môi trường, từ đó hình thành thói quen và ý thức tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường cho người dân

 Hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, nâng cao công nghệ nhằm sử dụng

có hiệu quá và tăng cường giá trị gia tăng cho nguồn tài nguyên thiên nhiên

 Khuyến khích nhập khẩu các sản phẩm, các nguồn nguyên vật liệu sạch, thân thiện với môi trường,…

Tất cả các chính sách này sẽ là định hướng để Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm phát luật về xuất, nhập khẩu hàng hoá Do vậy, nó cũng

Trang 36

chính là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Bên cạnh các yếu tố đã phân tích, yếu tố chính trị cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng và thực thi pháp luật về xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại Yếu tố này ảnh hưởng khá mạnh đến chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ bao cấp Tuy nhiên, bước sang thời kỳ đổi mới, với chủ trương hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì vai trò của yếu tố chính trị trong chính sách phát triển kinh tế ngàycàng trở nên mờ nhạt Bằng chứng là chúng ta đã từng bước bình thường hoá quan hệ với nhiều quốc gia và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nền kinh tế có thể chế chính trị khác biệt như Liên minh Châu Âu, Nhận Bản, Hàn Quốc,…

Trang 37

xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật 9 Chế định pháp luật có thể hiểu theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp Nghĩa chung và rộng là các yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội, nghĩa hẹp là tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý Trong phạm vi bài viết này, chế định pháp luật được sử dụng theo nghĩa hẹp.

Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định pháp luật có một đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, chúng không tồn tại một cách biệt lập 10 Việc xác định ranh giới giữa các chế định nhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội Các chế định pháp luật phải được đặt trong mối liên hệ qua lại trong một chỉnh thể thống nhất của pháp luật cũng như trong một ngành luật Mỗi chế định pháp luật dù mang đặc điểm riêng nhưng nó cũng phải tuân theo các quy luật vận động khách quan, chịu sự ảnh hưởng và tác động của chế định khác trong hệ thống pháp luật Do vậy, sự phân chia thành các chế định pháp luật trong bài viết này chỉ mang tính chất tương đối Trong phạm vi từng chế định, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày các

cơ sở pháp lý, là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong lĩnh vực đó và các nội dung cơ bản của vấn đề pháp lý, nhằm giúp người đọc có

Trang 38

cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp luật hải quan và có thể dễ dàng tiếp cận các vấn đề khác nhau của một ngành luật khá phức tạp, nhất là liên quan đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại.

Liên quan đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, pháp luật hải quan có thể được phân chia thành các chế định cơ bản sau:

2.1.1 Chế định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống

cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá

2.1.1.1 Cơ sở pháp lý

Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là một chế định quan trọng của ngành luật hải quan và được quy định chủ yếu trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Luật Hải Quan (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Hải Quan (2005);

- Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài Chính do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/01/2010;

- Quyết định số 1027/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tài Chính ban hành;

- Quyết định 2053/QĐ-BTC sửa đổi Quyết định số 1027/QĐ-BTC quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tài Chính ban hành;

- Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ năm 2010 về quy định chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan trực thuộc Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành

Trang 39

2.1.1.2 Nội dung cơ bản của chế định:

Hệ thống cơ quan hải quan là đơn vị được Nhà nước thành lập nhằm mục đích thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan nói chung và lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại nói riêng; được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên

 Hệ thống cơ quan Hải quan Việt Nam:

Theo quy định tại Điều 3 của Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg, hệ thống

cơ quan hải quan được tổ chức như sau:

Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương: Tổng cục Hải quan là cơ

quan trực thuộc Bộ Tài Chính, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và có trụ sở tại Thành phố Hà Nội Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Hải quan bao gồm các đơn vị hành chính có chức năng hỗ trợ Tổng Cục trưởng thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan và các đơn vị sự nghiệp Các đơn vị hành chính trực thuộc Tổng cục Hải quan bao gồm: Vụ Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tài chính – Quản trị, Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh), Thanh tra, Cục Giám sát quản lý về hải quan, Cục Thuế xuất nhập khẩu, Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Hải quan bao gồm: Trung tâm Phân tích, phân loại hàng hoá xuất nhập khẩu (có Chi nhánh ở một số khu vực), Viện nghiên cứu Hải quan, Trường Hải quan Việt Nam, Báo Hải quan

Cơ quan hải quan ở địa phương: Hệ thống cơ quan hải quan ở địa

phương được tổ chức bao gồm:

- Các Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

thuộc Tổng cục Hải quan (trong phạm vi bài viết này được gọi chung là “Cục

Trang 40

Hải quan”), hiện nay trên cả nước có tất cả 33 Cục Hải quan;

- Các Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát Hải quan và đơn vị tương

đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Tất cả các cơ quan hải quan ở địa phương đều có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật Việc quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan hải quan được thực hiện theo nguyên tắc phân quyền, theo đó việc thành lập, sáp nhập, giải thể Cục Hải quan sẽ do Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định, việc thành lập, sáp nhập, giải thể các Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn

vị tương đương do Bộ trưởng Bộ Tài Chính quyết định

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan hải quan:

Trong lĩnh vực quản lý xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thương mại và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, pháp luật đã thực hiện phân chia chức năng và quyền hạn của Hải quan các cấp, cụ thể:

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Hải quan được quy định tại Điều 2 của Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài Chính do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/01/2010

- Nhiệm vụ và quyền hạn của các Cục Hải quan được quy định tại

Điều 2 của Quyết định số 1027/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ,

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Chính (2006), Hướng dẫn quy trình, thủ tục thuế, hải quan, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy trình, thủ tục thuế, hải quan
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
2. Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2008
4. Lê Văn Chấn (2007), Tìm hiểu pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, NXB Tổng hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Tác giả: Lê Văn Chấn
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.HCM
Năm: 2007
5. Luật Thương mại, Luật hải quan và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hải quan và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005)
Tác giả: Luật Thương mại, Luật hải quan và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
7. Nguyễn Thừa Lộc (2008), Luật Hải quan Việt Nam và Quốc tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật Hải quan Việt Nam và Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thừa Lộc
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
8. Nhà pháp luật Việt – Pháp, Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt (2009), NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt
Tác giả: Nhà pháp luật Việt – Pháp, Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2009
1. Đặng Thị Bình An, Báo cáo rà soát Luật Hải quan 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hải quan (2005), Công ty Luật Leadco Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát Luật Hải quan 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Hải quan
Tác giả: Đặng Thị Bình An
Nhà XB: Công ty Luật Leadco
Năm: 2005
2. Nguyễn Đình Lộc, Truyền thống pháp điển hoá qua các triều đại phong kiến Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống pháp điển hoá qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Lộc
3. Nguyễn Thị Bình, Góp ý hoàn thiện pháp luật quản lý thuế, VPLS Leadco Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý hoàn thiện pháp luật quản lý thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: VPLS Leadco
4. Trần Văn Lợi, Một số kinh nghiệm pháp điển của Hoa Kỳ, Cổng thông tin Bộ Tư Pháp.Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm pháp điển của Hoa Kỳ
Tác giả: Trần Văn Lợi
Nhà XB: Cổng thông tin Bộ Tư Pháp
1. Quốc Hội, (2005), Bộ luật Dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2005
5. Quốc Hội, (2001), Luật Hải Quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hải Quan
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2001
7. Quốc Hội, (2006), Luật Quản lý thuế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý thuế
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2006
8. Quốc Hội, (2008), Luật thuế giá trị gia tăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế giá trị gia tăng
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2008
9. Quốc Hội, (2008), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2008
13. UBTVQH, (2012), Pháp lệnh về Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh về Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: UBTVQH
Năm: 2012
17. Chính phủ, (2002), Nghị định số 107/2002/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 107/2002/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
18. Chính phủ, (2005), Nghị định số 154/2005/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 154/2005/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
19. Chính phủ, (2006), Nghị định số 12/2006/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
20. Chính phủ, (2007), Nghị định số 85/2007/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 85/2007/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w