Từ chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính - những người tham gia công tác xây dựng pháp luật, triển khai thực hiện pháp luật và kiểm tra, giám sát quá trình thực hi
Trang 1Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Thu Thủy
Giáo dục pháp luật ở đô thị qua thực tiễn thành phố
Hải Dương
Luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội – 2010
Trang 2Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Thu Thủy
Giáo dục pháp luật ở đô thị qua thực tiễn thành phố
Hải Dương
Chuyên ngành : Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
Luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
Hà nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
1.1 Sự cần thiết giải quyết các tranh chấp, xích mích nhỏ trong cộng đồng bằng hòa giải 8
1.2 Vai trò của hòa giải ở cơ sở và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hòa giải ở cơ sở 21
1.2.1.1 Hòa giải góp phần giải quyết ngay, kịp thời, có hiệu quả các vi phạm, xích mích, tranh chấp nhỏ trong
nhân dân, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của nhân dân cũng như của Nhà nước 21 1.2.1.2 Hòa giải góp phần khôi phục, duy trì, củng cố sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn trật tự, an
1.2.1.4 Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc,
thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
23
1.3.1.1 Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập
1.3.1.2 Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải 26 1.3.1.3 Khách quan, công minh, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên tranh chấp; tôn trọng quyền,
lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng 27 1.3.1.4 Kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG
36
2.3.2 Những vấn đề mới phát sinh về tổ chức hòa giải chưa được giải quyết dứt điểm 68
Chương 3: PHƯƠNG HUỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÒA
GIẢI Ở CƠ SỞ
72 3.1 Những phương hướng chủ yếu hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 72 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở phải được tiến hành trong sự phù hợp với
các biện pháp thực thi chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020 theo tinh thần Nghị Quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị
72
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở phải đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở phải theo hướng phù hợp với việc kiện toàn
các thiết chế xã hội tự nguyện trong điều kiện xây dựng và củng cố xã hội dân sự định hướng xã hội
chủ nghĩa
74
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở phải đáp ứng được yêu cầu củng cố trật tự
xã hội, giáo dục đạo đức kết hợp giáo dục pháp luật và những quy ước tiến bộ của cộng đồng 75 3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở phải hướng tới việc bảo đảm hài hòa giữa
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở 77
Trang 43.2.5 Đổi mới công tác bồi dƣỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải cho tổ viên Tổ hòa giải 86
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo trong 25 năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực tiễn đổi mới đất nước đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng rằng: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật, phát huy dân chủ và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là phương thức không chỉ để xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mà còn là phương thức phổ biến, chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả
Điều 2 Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức "
Quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đó cũng đồng thời là phương pháp chủ yếu bảo đảm hiệu lực quản lý của nhà nước và đáp ứng những yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển
trong giai đoạn hiện nay Như chúng ta đã biết, pháp luật là hệ thống các quy
tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà
Trang 6nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, Pháp luật tự nó không đến được với đông đảo các thành viên trong xã hội, mà phải thông qua các hình thức phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích, giảng dạy ,
nghĩa là thông qua giáo dục pháp luật
Ở thành phố Hải Dương trong những năm gần đây, công tác giáo dục pháp luật nói chung được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm Giáo dục pháp luật được xác định là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng và là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp
để triển khai công tác giáo dục pháp luật trên địa bàn Song thực tế cũng phải thấy rằng, hiện nay việc giáo dục pháp luật để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới ở tỉnh Hải Dương nói chung và thành phố Hải Dương nói riêng đang là vấn đề bức xúc
Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là phẩm chất đạo đức và trình độ hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước, bởi vì họ vừa là chủ thể chấp hành pháp luật, vừa là chủ thể tổ chức triển khai đưa pháp luật vào cuộc sống Từ chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính - những người tham gia công tác xây dựng pháp luật, triển khai thực hiện pháp luật và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể thấy, công tác giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các bộ luật, đạo luật luôn giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Mọi hoạt động của công dân, tổ chức đều phải tuân theo các quy định của pháp luật Cán bộ, công chức là các “tế bào” cấu thành nên bộ máy nhà nước Các cơ quan hành
Trang 7chính nhà nước không thể hình thành, tồn tại và hoạt động nếu thiếu đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Về mặt lý thuyết, mỗi cán bộ, công chức đồng thời cũng là một công dân, cũng phải tuân thủ theo pháp luật Tuy nhiên, cán
bộ, công chức còn là những người trực tiếp thực thi pháp luật, là người đại diện cho cơ quan công quyền trước nhân dân Mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống và được thực hiện một cách hiệu quả hay không là do đội ngũ cán bộ, công chức hành chính quyết định
Thành phố Hải Dương vừa được Đảng và Nhà nước công nhận là đô thị loại 2, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Hải Dương Thành phố có thành phần dân cư đa dạng, nhiều đầu mối cơ sở với những đặc điểm địa bàn khác nhau, đang trong giai đoạn đô thị hoá với nhiều dự án, công trình được triển khai Chính vì vậy, hoạt động giáo dục pháp luật cần có bước đột phá, thực sự đổi mới về chất; cần phải có bước đi mạnh mẽ hơn, phải có trọng tâm, trọng điểm hơn trong kế hoạch tổng thể Mặt khác, để góp phần thực hiện các mục tiêu, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tiếp theo của thành phố, cần có sự nghiên cứu, đánh giá thực trạng,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật của thành phố Hải Dương trong giai đoạn tiếp theo
Là công chức công tác tại phòng Tư pháp thành phố Hải Dương, trực tiếp tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân thành phố về quản lý nhà nước trong lĩnh vực Tư pháp nói chung, trong đó bao gồm hoạt động giáo dục pháp luật, học viên nhận thấy cần phải có những giải pháp cho công tác giáo dục pháp luật để đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài trong quản lý nhà nước là một nhiệm vụ thường xuyên và cấp thiết, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế Với lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Giáo dục
Trang 8pháp luật ở đô thị qua thực tiễn thành phố Hải Dương" làm luận văn Thạc sỹ của mình
Tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc thực hiện nhiệm vụ cấp thiết đó
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
2.1 Mục đích:
Xây dựng luận cứ cho các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật và quản lý nhà nước đối với hoạt động này trên địa bàn thành phố Hải Dương trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ:
Để thực hiện tốt mục đích đề ra, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận giáo dục pháp luật và việc áp dụng ở
đô thị; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương;
- Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương giai đoạn 2003-2009;
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương trong giai đoạn mới
3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật và hoạt động của đội
ngũ cán bộ, công chức làm công tác giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương;
- Các đối tượng được thụ hưởng kết quả giáo dục pháp luật
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 9Thực trạng giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương trong khoảng thời gian từ 2003-2009 Đây chính là thời điểm thực hiện Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật 5 năm lần thứ 2 (2003-2007) và thực hiện Chương trình phổ biến giáo dục pháp luật 5 năm lần thứ 3 của Chính phủ (2008-2012)
3.3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận chung được sử dụng trong luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, mô hình hoá
4 Tình hình nghiên cứu và những đóng góp của luận văn:
4.1 Tình hình nghiên cứu:
Giáo dục pháp luật với tư cách là một phạm trù pháp lý là một dạng hoạt động của Nhà nước trong tổ chức thực hiện pháp luật, biện pháp tăng cường pháp chế, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và các nhà khoa học từ trước đến nay đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, đổi mới xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài như:
"Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa" Luận án tiến sỹ Luật của Trần Ngọc Đường
"Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật cho nhân dân
lao động ở Việt Nam" Luận án Phó tiến sỹ luật của Nguyễn Đình Lộc
Ở trong nước, việc nghiên cứu giáo dục pháp luật được nhiều tác giả đề cập đến những khía cạnh và mức độ khác nhau, thể hiện trong các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí và giáo dục pháp luật đã là đề tài của nhiều luận án, luận văn luật học, các công trình nghiên cứu đó có thể
kể đến như:
Trang 10"Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của tác giả Nguyễn Ngọc Minh (Tạp
chí cộng sản, số 10, năm 1983);
"Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và
xây dựng con người mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4,
năm 1985);
"Giáo dục ý thức pháp luật" của Nguyễn Trọng Bích (Tạp chí xây dựng
Đảng, số 4, năm 1989);
Khoa Nhà nước và Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 1999), Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường Chính trị
ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội;
Nguyễn Ngọc Hoàng (2000), Đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo
trung học chính trị ở nước ta hiện nay Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội;
Trần Văn Trầm (2002), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên
địa bàn tỉnh Bình Định - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Hà Nội;
Lê Đình Khiên (2002), Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ
quản lý hành chính, Luận án Phó Tiến sĩ Luật học, Hà Nội;
Tiếp theo, có thể kể đến: Lương Thanh Cường (2004), Nâng cao ý thức
pháp luật cho đội ngũ công chức, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật;
Nguyễn Văn Động (2003), Một số ý kiến về đổi mới nội, dung, phương
pháp giảng dạy môn Lý luận nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, số
12/2003;
Nguyễn Văn Động (2005), Một số ý kiến về nâng cao chất lượng và hiệu
quả hệ thống hóa pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
số 9/2005;
Trang 11Trần Công Lý (2009), Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức
ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Hà Nội;
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp luật hay các cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức, cơ quan nhà nước được công bố tên các báo, tạp chí,
Các công trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản
về ý thức pháp luật, giáo dục pháp luật và đưa ra những mô hình, giải pháp thực tiễn về giáo dục pháp luật cho những đối tượng khác nhau Mỗi nhà khoa học có một cách khám phá, khai thác đề tài này ở những góc độ khác nhau Nhìn chung các công trình nghiên cứu đó đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giáo dục pháp luật; đồng thời góp phần bổ sung vào kho tài liệu quý báu cho các thế hệ tiếp theo tham khảo, kế thừa và tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình luận án, luận văn nào nghiên cứu cụ thể về hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương với đặc điểm kinh tế - xã hội, với những đối tượng đặc thù tại cơ sở Với tính cách là một đô thị thu nhỏ, trong giai đoạn hiện nay cần phải chú trọng đúng mức và cấp thiết của việc giáo dục pháp luật, coi đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng góp phần vào việc ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị nói chung và thành phố Hải Dương nói riêng
4.2 Những đóng góp của luận văn:
Luận văn tiếp cận việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò và thực trạng của hoạt động giáo dục pháp luật tại thành phố Hải Dương trong giai đoạn hiện nay Từ đó,
đề ra một số kiến nghị và giải pháp cần thiết để tăng cường quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật Kết quả nghiên cứu này có thể tham khảo vận dụng trong hoạt động giáo dục pháp luật trước hết đối với thành phố Hải Dương, sau nữa là đối với các đô thị trên phạm vi cả nước nói chung
Trang 12- Luận văn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với pháp luật và công tác giáo dục pháp luật
- Luận văn đã hệ thống hoá tư liệu, tài liệu, văn bản pháp lý về công tác giáo dục pháp luật nói chung, về công tác giáo dục pháp luật của tỉnh Hải Dương cũng như của thành phố Hải Dương nói riêng
5 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về giáo dục pháp luật và việc áp dụng ở đô thị;
Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố
Hải Dương giai đoạn 2003-2009;
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giáo dục
pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Dương trong giai đoạn mới
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
VÀ VIỆC ÁP DỤNG Ở ĐÔ THỊ 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong
khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệm giáo dục pháp luật thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật Với tư cách là một dạng giáo dục thì giáo dục pháp luật ở nước ta hình thành
và thực hiện muộn hơn so với giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức Với tư cách
là một khái niệm pháp lý - giáo dục pháp luật được hình thành trong khoa học pháp lý cũng như được tiến hành trong thực tế ở nước ta rất muộn so với nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, quan niệm về giáo dục pháp luật ở nước ta vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau là điều bình thường Song
để có một cách nhìn nhận đúng đắn khoa học về giáo dục pháp luật, trước hết cần xem xét một số các quan niệm cơ bản về giáo dục pháp luật sau đây:
Quan niệm thứ nhất cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo
dục chính trị tư tưởng, đạo đức Theo quan niệm này, khi giáo dục chính trị tư tưởng, các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật Điều đó có ý nghĩa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân Hay nói cách khác sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả tất yếu của sự giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức Vì vậy, chỉ cần tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng hay đạo đức là mọi chủ thể trong xã hội đã có ý thức pháp luật, có sự tự giác, tôn trọng và tuân thủ pháp luật
Trang 14Quan niệm thứ hai: xem giáo dục pháp luật chỉ đơn thuần là hoạt động phổ
biến, tuyên truyền giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình và sách báo Chỉ cần làm tốt công tác thông tin tuyên truyền pháp luật như vậy là có thể làm tốt công tác giáo dục pháp luật
Quan niệm thứ ba cho rằng: giáo dục pháp luật là lấy "trừng trị" để giáo dục
người vi phạm và răn đe giáo dục người khác thông qua việc xử lý những hành vi
vi phạm pháp luật như áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, xử phạt vi phạm hành chính hay áp dụng các chế độ trách nhiệm dân sự sẽ có tác dụng giáo dục pháp luật cho mọi người mà không cần phải tuyên truyền hay giải thích pháp luật
Quan niệm thứ tư: đồng nghĩa giáo dục pháp luật với dạy và học pháp luật ở
các nhà trường, còn việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là giáo dục pháp luật
Tất cả những quan niệm trên mặc dù ở những góc độ khác nhau nhưng đều
có sự nhìn nhận giáo dục pháp luật ở các khía cạnh và mức độ hợp lý nhất định Song ở các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện hoặc đơn giản đến mức tầm thường hoá vai trò của giáo dục pháp luật; chưa thấy được đặc thù và giá trị vốn có của giáo dục pháp luật Vì vậy các quan niệm đó đã hạ thấp vai trò, vị trí
xã hội của giáo dục pháp luật Mặt khác, trong thực tiễn các quan niệm trên đây đã không tạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động có tổ chức cũng như quy mô việc thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong thực tế không cao Nhận định trên thể hiện trong quan niệm thứ nhất Việc hình thành nên ý thức pháp luật của con người được xem như là sản phẩm của quá trình giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức Nếu quan niệm như vậy thì vấn đề giáo dục pháp luật sẽ không được coi trọng đúng mức, vô hình chung đã xem nhẹ vai trò của công tác giáo dục pháp luật, do vậy không được đặt
ra như một hoạt động độc lập Chính quan niệm này trong thực tiễn đã gây ra một
Trang 15hậu quả tai hại kéo dài trong nhiều năm ở nước ta dẫn đến không có nội dung, chương trình giáo dục pháp luật riêng biệt mà chương trình này được lồng ghép với chương trình giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức Thực tế ở nước ta, sau hơn ba thập kỷ lập nước đến năm 1979, việc đào tạo cử nhân chuyên ngành luật mới được đặt ra và đến năm 1987 - 1988, việc giáo dục pháp luật mới chính thức được đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông qua môn học Giáo dục công dân với ba phân môn: chính trị, đạo đức và pháp luật.Thực tế là trong một thời gian dài nêu trên, pháp luật không đến với người dân nên ý thức pháp luật trong xã hội thấp kém
pháp luật thực chất là những đợt tuyên truyền, cổ động không mang tính thường xuyên liên tục với nội dung, chương trình cụ thể mà theo "thời vụ", lồng ghép, gắn kết với việc tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật mỗi khi có văn bản pháp luật mới được ban hành Ví dụ: khi sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi Bộ Luật dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, hay mỗi khi có đợt bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp Quan niệm giáo dục pháp luật như vậy là phiến diện, thiếu đồng bộ và liên tục nên hiệu quả giáo dục không cao
Các quan niệm thứ ba, thứ tư cũng đều bộc lộ những khiếm khuyết nên trong thực tiễn đã không tạo ra khả năng triển khai hoạt động giáo dục pháp luật một cách rộng rãi Sự nhận thức không đầy đủ về giáo dục pháp luật nên khó có thể khái quát được nội hàm của khái niệm này
Giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng được coi là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể và có ý nghĩa rất quan trọng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” [12, tr.132] Để mọi cán bộ, công chức nhà nước cũng như các tầng lớp nhân dân có kiến thức, hiểu biết pháp
Trang 16luật, biết sống và làm việc theo pháp luật thì giáo dục pháp luật phải được đặt
ra một cách nghiêm túc, khoa học và phải được giải quyết đúng đắn cả về mặt
lý luận và thực tiễn
Để có quan niệm đúng đắn về giáo dục pháp luật, con đường duy nhất cần tiếp cận là những thành tựu của khoa học giáo dục học Giáo dục là một hiện tượng xã hội và chỉ có trong xã hội loài người thể hiện nền văn minh nhân loại Giáo dục luôn luôn là một nhu cầu của xã hội, nó có vai trò tác động trở lại xã hội
Vì thế mà các nhà nước của giai cấp cầm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình đều thông qua giáo dục Trong khoa học sư phạm, giáo dục được hiểu theo 2 nghĩa đó
là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều kiện khác quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống, ) và của cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ định và định hướng của nhân tố con người nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục)
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các nhà
lý luận cũng đã thừa nhận những yếu tố ảnh hưởng của các điều kiện khách quan tác động đến sự hình thành ý thức cá nhân con người
Song các nhà lý luận khoa học cho rằng khái niệm giáo dục pháp luật được tiếp cận từ nhiều góc độ rộng, hẹp khác nhau tùy theo việc nghiên cứu
và vận dụng vào quá trình giáo dục pháp luật cụ thể
Thứ nhất, giáo dục pháp luật được coi là một bộ phận - một tiểu hệ
thống của hệ thống giáo dục nói chung, là một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con khác, như kinh tế,
Trang 17chính trị, văn hóa, đạo đức, Quan niệm này xuất phát từ nghĩa rộng nhất của thuật ngữ giáo dục, đồng nhất nó với quá trình xã hội hóa cá nhân Nhân cách con người được hình thành và phát triển là do tác động của tổ hợp các nhân tố
xã hội, như môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, đạo đức, trong quá trình con người tham gia vào các quan hệ xã hội Quan niệm
giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng có hai ý nghĩa quan trọng: Một là, thấy
được quá trình xã hội hóa cá nhân nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng chịu sự tác động, chi phối của rất nhiều yếu tố xã hội Chủ thể giáo dục có thể chủ động khai thác, phát huy các yếu tố tích cực và hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực, có tính tự phát, làm hạn chế hoặc suy giảm hiệu quả của
giáo dục pháp luật trong thực tiễn hiện nay Hai là, không đồng nhất, không
coi giáo dục pháp luật đã có trong giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, dẫn đến hạ thấp vai trò của giáo dục pháp luật Ví dụ, do quan niệm đạo đức là pháp luật tối đa, còn pháp luật chỉ là đạo đức tối thiểu nên không cần phải giáo dục pháp luật, mọi người dân phải có nghĩa vụ chấp hành pháp luật Quan niệm như vậy rõ ràng là đã bó hẹp phạm vi của giáo dục pháp luật, coi giáo dục pháp luật chỉ còn là việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp
luật của Nhà nước, là việc mọi công dân phải chấp hành pháp luật
Thứ hai, giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp là quá trình tác động (hoạt
động) có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (chủ thể giáo dục pháp luật) để chuyển tải, truyền đạt những nội dung (thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật ), thông qua các phương pháp giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật nhằm
đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định
Từ sự phân tích trên, có thể kết luận: giáo dục pháp luật là quá trình
hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục pháp luật,
Trang 18tác động đến đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật
Trong lĩnh vực giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà nước ta xác định là một công việc trọng tâm và thường xuyên của các cơ quan nhà nước và của các cấp, các ngành Công tác giáo dục pháp luật được xác định cụ thể là nhằm:
- Phổ cập kiến thức cơ bản về pháp luật cho các đối tượng áp dụng pháp luật; phổ biến các quy định của pháp luật về các lĩnh vực liên quan đến đời sống của các tầng lớp nhân dân; thực hiện chương trình giáo dục pháp luật
có nề nếp trong các nhà trường;
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường trật tự, kỷ cương, ngăn ngừa có hiệu quả sự vi phạm pháp luật; nâng cao dân trí pháp lý, văn hoá pháp luật;
Trách nhiệm của Nhà nước được xác định là: xây dựng cơ chế phối hợp
để công tác giáo dục pháp luật có hiệu quả, phát huy trách nhiệm của các ngành, các cấp, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn
xã hội để đưa công tác giáo dục pháp luật vào nề nếp; phát huy tính chủ động, sáng tạo, cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị dân cư, gia đình và của mọi công dân trong công tác giáo dục pháp luật
Lịch sử cho thấy, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
ra đời, Hồ Chủ tịch đã quan tâm đặc biệt đến giáo dục ý thức tiến bộ cho nhân dân Người chỉ rõ rằng:
Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta bằng rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ đoạn nhằm hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười
Trang 19biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH
Như vậy, cái "khó" mà V.I Lê nin nêu ra trong việc giữ chính quyền không chỉ là ở chỗ đánh bại kẻ thù giai cấp đang âm mưu phá hoại mà còn là
ở chỗ tạo ra nguồn lực to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, ý thức mới của hàng chục triệu con người để đưa xã hội tiến lên nhờ kỷ luật và lao động tự giác của họ Hồ Chí Minh đã nhìn thấy yếu tố quyết định trong tính tất yếu xây dựng kinh tế và sự giác ngộ của nhân dân về văn hoá, pháp lý trong điều kiện phương Đông, nơi mà theo V.I Lênin, nhiệm vụ đấu tranh chống những tàn tích thời Trung cổ có ý nghĩa rất quan trọng Do đó, việc nâng cao dân trí, trong đó có dân trí pháp luật là một công việc cấp bách của chính quyền mới Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc xây dựng nước nhà Việc tìm đến pháp luật, hiểu biết pháp luật vừa là quyền, vừa
là trách nhiệm của công dân, chứ không chỉ là trách nhiệm từ phía Nhà nước phải tuyên tuyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân Dân có hiểu biết pháp luật thì mới tự bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình, mới có thể đóng góp vào công cuộc cách mạng
1.1.2 Mục đích, yêu cầu chung của giáo dục pháp luật
Hoạt động của con người (hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn) bao giờ cũng có tính mục đích Giáo dục pháp luật cũng là loại hình hoạt động
xã hội mang tính mục đích chung, cùng với các hoạt động xã hội khác, làm cho hệ thống pháp luật được duy trì, ổn định, thống nhất trong toàn xã hội
Trang 20nhằm xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân
Việc xác định mục đích của giáo dục pháp luật có vai trò rất quan trọng, bởi lẽ, nếu không xác định đúng đắn, rõ ràng mục đích của giáo dục pháp luật thì không thể đưa ra các nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật tương ứng, phù hợp, dễ rơi vào tình trạng hình thức, giáo điều, kém hiệu quả Nếu lấy định hướng của Ủy ban Quốc tế về Giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO về mục đích của giáo dục nói chung là học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học cách sống, học để tự khẳng định mình làm cơ sở để xác định mục đích của giáo dục pháp luật thì có thể khái quát
mục đích đó như sau: giáo dục pháp luật là để hiểu biết pháp luật, để làm
theo các quy định của pháp luật, để vận dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống và để khẳng định phẩm chất, năng lực của con người trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Mục đích của giáo dục pháp luật là hướng tìm kiếm cơ bản, chủ yếu và xuyên suốt, là cái cuối cùng phải đạt được của hoạt động giáo dục pháp luật
Đó chính là những thông tin, kiến thức, hiểu biết về pháp luật; thái độ, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật; và thói quen, lối sống, hành vi xử sự tích cực theo pháp luật của đối tượng được giáo dục pháp luật có thể tiếp thu, hấp thụ
và hiện thực hóa sau khi kết thúc quá trình giáo dục pháp luật
Để đạt được mục đích của giáo dục pháp luật cần cụ thể hóa nó thành những mục tiêu Khi xác định mục tiêu giáo dục pháp luật cho một đối tượng
cụ thể, chủ thể giáo dục pháp luật phải căn cứ vào mục đích chung của giáo dục pháp luật để nêu ra các yêu cầu đạt được là gì Theo chúng tôi, mục tiêu của giáo dục pháp luật nói chung là phải làm cho đối tượng được giáo dục có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật, thường xuyên cập nhật với những thay đổi, đổi mới của các qui phạm pháp luật thực định, có ý thức thường trực chấp
Trang 21hành các chuẩn mực pháp luật hiện hành để biết sống, làm việc theo pháp luật
và tránh được những vi phạm pháp luật Còn đối với đối tượng được đào tạo chuyên về pháp luật thì phải đặt ra mục tiêu cao hơn, sâu hơn, như phải có giác ngộ về nhà nước và pháp luật, nắm được hệ thống tri thức pháp luật chung và chuyên ngành để rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ, vận dụng đúng pháp luật trong nghề nghiệp hay trong các tình huống cụ thể khác nhau Như vậy, việc xác định mục tiêu giáo dục pháp luật càng rõ ràng, cụ thể bao nhiêu thì càng thực hiện có hiệu quả mục đích giáo dục pháp luật bấy nhiêu
Với mục tiêu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng
và Nhà nước ta đã quyết tâm phấn đấu đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - trong bối cảnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì công tác giáo dục pháp luật được xác định là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội bằng pháp luật
Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân Đặc trưng rõ nét của ý thức pháp luật - thể hiện thái độ của các thành viên trong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật chỉ có thể trở thành công
cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối
Trang 22với xã hội được ghi nhận, chấp nhận; khi mà nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có
ý thức của bản thân mỗi người Bởi thế, có thể coi ý thức pháp luật như là tiền
đề tư tưởng cho sự củng cố và phát triển nền pháp chế
Như vậy, giáo dục pháp luật với ý nghĩa là một bộ phận không thể tách rời của quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, có vai trò to lớn trong việc xây dựng ý thức pháp luật trong nhân dân; tăng cường sự hiểu biết pháp luật, khuyến khích thói quen ứng xử theo pháp luật; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội; nâng cao dân trí pháp lý,
ý thức pháp luật và văn hoá pháp luật của các cá nhân, tổ chức và các cộng đồng dân cư trên mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội; góp phần tăng cường trật tự, kỷ luật, kỷ cương xã hội, phòng ngừa có hiệu qủa các hành
vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và công dân Do vậy, việc nâng cao ý thức, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân thông qua
công tác giáo dục pháp luật tới người dân có một vị trí hết sức quan trọng
Công tác giáo dục pháp luật có một vị trí, vai trò hết sức to lớn, nó không chỉ nhằm nâng cao ý thức hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và nhân dân mà còn góp phần nâng cao ý thức chính trị, trình độ dân trí, giữ gìn, bảo tồn và nâng cao đạo đức dân tộc Bởi vì:
Thứ nhất, giáo dục pháp luật có tác động tương hỗ một cách sâu sắc với
nâng cao ý thức chính trị Đường lối chính sách của Đảng - chỗ dựa của đổi mới mọi mặt về chính trị, kinh tế xã hội đã đi vào tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội chỉ đạo nội dung của pháp luật Có thể thấy rằng mỗi một quy phạm pháp luật đều là phương tiện để củng cố, ghi nhận một giá trị xã hội, một quy tắc để điều chỉnh các quan hệ xã hội đã, đang và sẽ nảy sinh nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bởi vậy, giáo
Trang 23dục pháp luật tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng được giáo dục pháp luật những quan hệ giá trị xác định đối với chính trị Ngược lại, trong quá trình giáo dục ý thức chính trị có sự đan xen nhất định những nội dung, quan điểm chính trị pháp lý nhất định Chính vì thế, giáo dục
ý thức chính trị kích thích lợi ích trong việc điều chỉnh pháp luật, củng cố quan
hệ tích cực của con người đối với những đòi hỏi của pháp luật Mối quan hệ chặt chẽ của giáo dục pháp luật và giáo dục ý thức chính trị đòi hỏi các chủ thể tác động phải kết hợp và bổ sung cho nhau trong quá trình giáo dục ý thức con người nói chung
Thứ hai, pháp luật là chỗ dựa, là cơ sở cho việc hình thành đạo đức
mới Các nguyên tắc căn bản của đạo đức mới được thể chế hóa thành các qui phạm pháp luật Do đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức, bảo vệ tính công bằng, chủ nghĩa nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Vì vậy, giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết hình thành ở công dân
sự tôn trọng sâu sắc đối với pháp luật Ngược lại, giáo dục pháp luật tạo khả năng thiết lập trong đời sống thực tiễn hàng ngày những nguyên tắc của đạo đức, củng cố các nghĩa vụ đạo đức, thiết lập quan hệ triệt tiêu đối với các biểu hiện chống đối xã hội, bảo vệ quyền tự do, bình đẳng, bác ái và góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Thứ ba, giáo dục pháp luật là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao
trình độ dân trí "Trình độ dân trí" là sự hiểu biết của nhân dân ở mức độ nào
đó về các mặt của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, pháp luật, Trình độ dân trí là thước đo sự tiến bộ, văn minh hay lạc hậu của một cộng đồng, một dân tộc hay của một quốc gia, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức tuân thủ pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân
Vì vậy, vấn đề nâng cao dân trí là một yêu cầu, nhiệm vụ được xác định là có
ý nghĩa sống còn ở mọi quốc gia
Trang 24Thứ tư, giáo dục pháp luật nhằm hình thành lòng tin của nhân dân vào
hệ thống pháp luật Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì có tri thức pháp luật mà thiếu tình cảm tôn trọng đối với pháp luật thì không thể dự đoán trước
và không đảm bảo mọi hành vi xử sự của người đó là hợp pháp Như chúng ta
đã biết, quá trình thực hiện các quy phạm pháp luật là sự tác động qua lại giữa các đòi hỏi của pháp luật đối với ý thức của cá nhân con người Trong cơ cấu tâm lý của ý thức con người có một yếu tố rất quan trọng đó là lòng tin Nếu một người nào đó thiếu lòng tin đối với pháp luật thì hành vi của người đó thường lệch khỏi chuẩn mực mà pháp luật qui định Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở hình thành động cơ của hành vi hợp pháp của con người
Thứ năm, giáo dục pháp luật nhằm hình thành động cơ và hành vi ứng
xử phù hợp với quy định của pháp luật Việc cung cấp những tri thức pháp luật, giáo dục lòng tin sâu sắc vào sự cần thiết phải tuân thủ một cách tự nguyện những qui định của pháp luật là những yếu tố rất quan trọng nhằm hình thành động cơ và hành vi hợp pháp của con người Cụ thể như sau:
+ Thói quen tuân theo những quy phạm pháp luật Đó là thói quen kiềm chế không thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm đoán
+ Thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và sử dụng quyền và nghĩa vụ pháp lý đó trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, của người khác và của toàn xã hội
+ Thói quen áp dụng pháp luật là thói quen biết vận dụng một cách thành thạo các tri thức pháp luật trong thực tiễn cuộc sống
Bởi vì, những trí thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp chiếm vị trí hàng đầu trong việc sử dụng quyền lực Nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ thực hiện các quyền và tự do của mỗi người Giáo dục pháp luật tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong
Trang 25môi trường quản lý Nhà nước, khắc phục sự bảo thủ của tư tưởng ích kỷ và cục bộ; kích thích các hành vi tự giác và xây dựng Giáo dục pháp luật tạo khả năng hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, làm xuất hiện và củng cố những phẩm chất tích cực của
ý thức và hành vi quản lý tạo ra khả năng không tiếp nhận những hiện tượng tiêu cực chống đối pháp luật
1.1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện và phương pháp giáo dục pháp luật
Như trên đã phân tích, công tác giáo dục pháp luật có một vị trí, vai trò hết sức to lớn trong xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; góp phần xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục pháp luật xuất phát
từ đặc trưng cơ bản, vốn có và đặc thù của giáo dục pháp luật Cụ thể như sau:
1.1.3.1 Về chủ thể
Chủ thể thực hiện giáo dục pháp luật được hiểu là tất cả những người
đã tham gia góp phần thực hiện các mục tiêu đã được xác định của công tác giáo dục pháp luật, bao gồm: cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, giáo viên giảng dạy pháp luật trong các nhà trường, các cộng tác viên trợ giúp pháp lý, luật sư tư vấn pháp luật, hoà giải viên ở cơ sở, những người có uy tín ở cộng đồng dân cư, Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục tiêu giáo dục pháp luật với chức năng nhiệm vụ
do luật định của công dân và chủ thể của giáo dục pháp luật được phân ra:
Chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp
Chủ thể chuyên nghiệp: Là những người mà nhiệm vụ chủ yếu trực
tiếp là thực hiện các mục tiêu của giáo dục pháp luật, bao gồm:
Trang 26+ Các giáo viên, giảng viên giảng dạy pháp luật trong các trường từ phổ thông đến đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, các trường Đảng, hành chính, đoàn thể;
+ Cán bộ thuộc Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và cán bộ Tư pháp cơ sở; cán bộ pháp chế ở các Bộ, ngành;
+ Các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật ở các hệ thống Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội ở các cấp;
+ Các phóng viên, biên tập viên các báo, đài truyền hình phụ trách các nội dung liên quan đến pháp luật hoặc các chuyên mục pháp luật;
+ Các cán bộ chuyên gia làm công tác nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục pháp luật tại các cơ quan Nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp pháp luật, các tổ chức xã hội
Đây là lực lượng nòng cốt của các chủ thể giáo dục pháp luật
Chủ thể không chuyên nghiệp là những người phải làm nhiều việc với
những mục tiêu khác nhau nhưng trong đó có nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục pháp luật bao gồm :
+ Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
+ Các cán bộ thuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp có nhiệm vụ tham gia giáo dục pháp luật
+ Các cán bộ, thành viên của các tổ chức chính trị, xã hội: Đảng, Đoàn, Công đoàn, phụ nữ,
+ Các luật gia đang hành nghề dịch vụ, tư vấn pháp luật, luật sư bào chữa, + Các cán bộ, nhân viên ở các ngành kinh tế, quản lý Nhà nước ở một
số lĩnh vực (thuế, đất đai, ) trong khi thực hiện nghiệp vụ chuyên môn của mình có trách nhiệm giáo dục pháp luật chuyên ngành cho các đối tượng bị quản lý và nhân dân nói chung
Trang 27Cuối cùng, chủ thể giáo dục pháp luật là chính các công dân, cá nhân bằng sự gương mẫu trong ý thức và trách nhiệm thi hành pháp luật trong đời sống đã có tác dụng ảnh hưởng tích cực đến sự hiểu biết, nhận thức của các công dân, cá nhân khác
1.1.3.2 Đối tượng được giáo dục pháp luật
Đối tượng của giáo dục pháp luật chính là những người chịu sự tác động của chủ thể giáo dục pháp luật, trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục pháp luật để tiếp thu, hấp thụ những thông tin, kiến thức pháp luật xuất phát
từ nhu cầu hình thành, tích lũy, củng cố hay nâng cao vốn tri thức, hiểu biết pháp luật của bản thân, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống, của công tác chuyên môn, nghiệp vụ Hay nói cách khác, đối tượng được giáo dục pháp luật là những cá nhân, công dân hay những nhóm cộng đồng xã hội
cụ thể tiếp nhận tác động của hoạt động giáo dục pháp luật mà ý thức pháp luật
và hành vi của họ là khách thể của giáo dục pháp luật
Đối tượng ưu tiên trong hoạt động giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay được xác định là: cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, các nhà kinh doanh trong các thành phần kinh tế, thanh thiếu niên, những người sống trong điều kiện khó khăn được Nhà nước đặc biệt quan tâm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp để bảo đảm cho sự bình đẳng trước pháp luật của họ (phụ nữ, người dân tộc thiểu số, trẻ em, )
Ở đây, cần chú ý đến vai trò kép của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong mối quan hệ với giáo dục pháp luật Xét ở góc độ thứ nhất, họ là đối tượng của giáo dục pháp luật với những yêu cầu về tri thức pháp luật, tình cảm, thái độ như trên đã phân tích, từ đó cần phải được tiếp nhận giáo dục pháp luật gắn liền với giáo dục đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trong các nhà trường đến bồi dưỡng, nâng cao thường xuyên trong quá trình làm việc Xét ở góc độ khác, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của Nhà nước
Trang 28trong các quan hệ pháp luật họ lại là chủ thể tham gia giáo dục pháp luật Bằng việc giải thích nội dung các điều luật cần được áp dụng, căn cứ pháp lý
để áp dụng các điều luật đó cũng như làm rõ các hiệu quả pháp lý (tích cực hay tiêu cực) do việc tuân theo hay vi phạm điều luật Bằng việc áp dụng trên thực tế các quy định của pháp luật, các cán bộ, công chức, viên chức là người trực tiếp, có tác động rất mạnh đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Với vị trí này, cán bộ, công chức, viên chức phải được trang bị các kiến thức và kỹ năng nhất định về pháp luật và trước tiên họ phải có ý thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tham gia giáo dục pháp luật trong khi tiến hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ
1.1.3.3 Về nội dung giáo dục pháp luật
Muốn hiện thực hóa mục đích, mục tiêu giáo dục pháp luật thì phải có những nội dung giáo dục cụ thể Đó là toàn bộ những gì mà chủ thể giáo dục pháp luật cần truyền đạt, chuyển tải cho đối tượng được giáo dục pháp luật, giúp họ có những kiến thức, hiểu biết về pháp luật; trên cơ sở đó, hình thành
và phát triển ý thức pháp luật, niềm tin đối với pháp luật và lối sống theo pháp
luật
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật - nội dung của giáo dục pháp
dục pháp luật, cho nên nội dung giáo dục pháp luật vừa phải có tính trực tiếp cho từng đối tượng, vừa phải có tính rộng rãi chung cho toàn xã hội, mang tính thời sự, cập nhật Do đó, nội dung giáo dục pháp luật phải mang tính cụ thể, trực tiếp về các văn bản pháp luật để đối tượng được giáo dục nắm bắt và thực hiện Phạm vi của nội dung giáo dục pháp luật bao gồm hệ thống pháp luật thực định, các văn bản pháp luật; các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật và thực tiễn pháp luật, các thông tin về tình hình vi phạm pháp luật; kết
Trang 29quả xử lí các vi phạm pháp luật; các thông tin phản hồi của các tầng lớp nhân dân góp ý, đề xuất ý kiến về việc xây dựng, thực hiện và hoàn thiện pháp luật
Nội dung giáo dục pháp luật bao gồm một phạm vi rộng nhưng có nét đặc thù riêng Đó là:
+ Các thông tin về pháp luật (gồm cả kiến thức pháp luật căn bản và văn bản quy phạm pháp luật);
+ Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình phạm pháp, về việc điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật;
+ Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học, về thực hiện, áp dụng pháp luật, về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật lên từng đối tượng, đồng thời phản ánh những yêu cầu, đề xuất của các tầng lớp dân cư, các chuyên gia pháp luật và các ngành khác trong việc hoàn thiện pháp luật;
+ Các thông tin định hướng hành động theo pháp luật cụ thể của cá nhân, công dân (quyền và nghĩa vụ theo pháp luật, các quy trình, thủ tục để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp)
Có thể chia nội dung giáo dục pháp luật theo 3 nhóm đối tượng giáo dục pháp luật lớn sau đây:
Nội dung tối thiểu của giáo dục pháp luật phổ cập bao gồm:
+ Một số kiến thức cơ bản về hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy Nhà nước để thực hiện pháp luật
+ Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do hiến pháp quy định + Một số thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
và thực hiện các nghĩa vụ của công dân
Ở mức độ này, giáo dục pháp luật là yếu tố quan trọng giúp cho mỗi công dân ý thức được vị trí của mình trong quan hệ với Nhà nước và với công dân
Trang 30khác, biết mình có những quyền và nghĩa vụ và khi cần thì biết mình phải đến đâu? phải làm gì? và phải làm như thế nào để bảo vệ các quyền đó
Nội dung giáo dục pháp luật theo yêu cầu của từng ngành nghề
Mỗi công dân trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội lại
có những nhu cầu hiểu biết và kỹ năng sử dụng các công cụ pháp luật khác nhau ở mức độ cao hơn và mang tính định hướng nghề nghiệp rõ hơn Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm:
+ Hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực tiễn (bản chất Nhà nước và pháp luật, các nguồn và hình thức pháp luật, các quan hệ pháp lý, );
+ Các quy định pháp luật thực hiện liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng;
+ Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; quá trình tố tụng và vị trí của các chủ thể tố tụng để thực hiện, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó
Nội dung giáo dục pháp luật chuyên ngành cho những người hành nghề pháp luật
Đây là cấp độ cao nhất của giáo dục pháp luật bởi vì những hiểu biết và thái độ, tình cảm cũng như những kỹ năng sử dụng pháp luật của những người hành nghề pháp luật phải là chuẩn mực của ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật
1.1.3.4 Hình thức, phương tiện, phương pháp giáo dục pháp luật
Hình thức giáo dục pháp luật là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức
hoạt động giáo dục pháp luật Hay có thể nói, hình thức giáo dục pháp luật thực chất là những hoạt động mà thông qua đó, chủ thể giáo dục pháp luật
thực hiện công tác giáo dục pháp luật của mình Như vậy, có thể hiểu hình
Trang 31thức giáo dục pháp luật là tập hợp các mô hình tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật, bao gồm những hoạt động khác nhau được lặp đi, lặp lại; thông qua đó, chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật, chuyển tải nội dung giáo dục pháp luật bằng những phương pháp nhất định
và hướng tới đạt được mục đích giáo dục pháp luật cho đối tượng giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật nói chung được thể hiện khá đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau, như dạy và học pháp luật trong các nhà trường, các cơ
sở đào tạo luật; bồi dưỡng, tập huấn chuyên đề về nhà nước và pháp luật; giáo dục pháp luật qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, ; giáo dục pháp luật qua hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực công tác, nhất là các hoạt động trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; giáo dục pháp luật qua hệ thống thông tin pháp luật như công báo, bản tin pháp luật,
Hình thức giáo dục pháp luật có thể được chia thành 2 loại chủ yếu (phổ biến, đặc thù) sau đây:
-Các hình thức giáo dục pháp luật mang tính phổ biến như:
+ Giáo dục pháp luật trong nhà trường: phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; các trường đại học không chuyên về luật, các trường đoàn thể (Đảng, Đoàn, công đoàn, phụ nữ, ), các trường bồi dưỡng thuộc các ngành
+ Giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nói chuyện pháp luật tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; thông qua hoạt động của các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật tại các hội nghị chuyên đề, các hội thảo khoa học về các lĩnh vực, các vấn đề pháp luật; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; phổ biến, tuyên truyền pháp luật qua các loại sách, báo, tạp chí,
Trang 32+ Giáo dục pháp luật thông qua phương tiện thông tin đại chúng như: đài phát thanh và truyền hình, báo chí ở trung ương và địa phương;
+ Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý;
+ Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở;
- Các hình thức giáo dục pháp luật đặc thù:
Ngoài các hình thức giáo dục pháp luật cụ thể như trên đã nêu, việc giáo dục pháp luật còn được thực hiện thông qua các hình thức đặc thù, cụ thể như sau:
+ Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp (Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát), các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành;
+ Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp pháp luật (tổ hoà giải, dịch vụ tư vấn pháp luật);
+ Giáo dục pháp luật thông qua các sách, báo, tạp chí pháp luật, tác phẩm văn học nghệ thuật, các câu lạc bộ pháp lý, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật,
Qua phân tích trên cho thấy, công tác giáo dục pháp luật không chỉ là nhiệm vụ riêng biệt của một cơ quan nào mà nó là một mục tiêu, một định hướng, một bộ phận cấu thành trong hoạt động của từng cơ quan, tổ chức, từng công chức, thành viên của tổ chức Với nhận thức như vậy, cần huy động được các lực lượng vật chất và con người cho công tác giáo dục pháp luật Từ quan niệm và phân loại hình thức giáo dục pháp luật như trên, dẫn đến yêu
cầu về chỉ đạo quá trình giáo dục pháp luật sao cho:
- Các chủ thể phải xác định rõ định hướng, yêu cầu, nội dung giáo dục pháp luật ngay trong khi xây dựng các chương trình công tác nghiệp vụ, chuyên môn từng thời kỳ hoặc từng sự việc (một phiên toà, một quyết định
Trang 33giải quyết khiếu nại, tố cáo, ) Trên cơ sở đó, chuẩn bị các điều kiện vật chất, cán bộ, đủ để tổ chức hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với nhiệm vụ chuyên môn
- Để truyền tải một nội dung pháp luật cần phải kết hợp các hình thức giáo dục pháp luật khác nhau nhằm phát huy hết sức mạnh tác động của từng hình thức, bổ sung, hỗ trợ, bù đắp cho những hạn chế của từng loại hình
Phương tiện giáo dục pháp luật là các công cụ, các kênh truyền tải nội
dung giáo dục pháp luật từ chủ thể đến đối tượng để đạt mục tiêu giáo dục pháp luật Ở nước ta thực tiễn cho thấy rằng sự hiểu biết về pháp luật thường qua các kênh như: qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua học tập chính trị và quản lý; thông qua thảo luận các dự án pháp luật, qua đào tạo; qua hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật; qua thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử; qua kinh nghiệm bản thân, thông qua hoạt động quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động ở cương vị khác nhau trong bộ máy Đảng Nhà nước, các tổ chức quần chúng; qua môi trường ở nơi công tác, nơi học tập, nơi sinh sống; qua bạn bè, đồng nghiệp,
Phương pháp giáo dục pháp luật là các cách thức, biện pháp, tổ chức
quá trình giáo dục pháp luật
Hiện đang còn các quan niệm khác nhau về phương pháp giáo dục pháp luật Chẳng hạn, coi hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật là đồng nhất, không có phương pháp giáo dục pháp luật mà chỉ có các hình thức giáo dục pháp luật (như giảng dạy pháp luật, tuyên truyền pháp luật, nói chuyện pháp luật, bình luận về các văn bản pháp luật, tư vấn pháp luật, hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực xây dựng, thực hiện pháp luật, )
Pháp luật không tự nó đến với mọi người được mà phải có phương pháp, cách thức chuyển tải khác nhau để biến pháp luật từ chỗ là cái có tính khách quan, bên ngoài ý thức thành cái chủ quan, bên trong ý thức của mỗi cá
Trang 34nhân (nhận thức, hiểu biết, động cơ, ý thức, tình cảm pháp luật) và biết thể hiện trong cuộc sống, biết hành động và ứng xử trong các quan hệ xã hội theo các quy phạm pháp luật Phương pháp giáo dục pháp luật là một thành tố rất quan trọng trong quá trình giáo dục pháp luật Phương pháp giáo dục không thể áp dụng như nhau đối với các nhóm cư dân, nhóm xã hội
Phương pháp giáo dục pháp luật bao gồm hai loại:
- Các phương pháp áp dụng trong một hoạt động giáo dục pháp luật cụ thể (phương pháp giải thích, thuyết phục; phương pháp thực hành trực quan; kết hợp lý luận và thực tiễn, )
- Các phương pháp tổ chức giáo dục pháp luật (các mô hình và phương pháp tổ chức sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai giáo dục pháp luật ở từng cấp, từng địa phương và ở từng ngành, )
1.1.4 Các nguyên tắc hoạt động giáo dục pháp luật
1.1.4.1 Đảm bảo quyền được thông tin, quyền được tham gia quản lý nhà nước của công dân
Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay luôn luôn lấy quyền con người làm mục tiêu đấu tranh, phấn đấu, tôn trọng và bảo vệ Quyền con người, quyền công dân được khẳng định là nguyên tắc hiến định trong mọi hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì hơn bao giờ hết quyền con người, quyền công dân được đặc biệt quan tâm Trong các quyền
đó, quyền được thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng Có thể nói quyền được thông tin là cầu nối để công dân thực hiện các quyền của mình
Hoạt động giáo dục pháp luật với những đặc trưng, tính chất của mình góp phần đảm bảo “quyền truyền thông tin và nhận thông tin” của công dân,
Trang 35cụ thể trong lĩnh vực pháp luật, qua đó công dân có những điều kiện cần thiết
để chủ động tham gia tích cực vào các hoạt động của nhà nước và xã hội Thông tin pháp luật là thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên ký kết hoặc tham gia, các tin tức, tri thức, giữ kiện được tạo lập và thu nhận trong quá trình lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong nghiên cứu và giảng dạy pháp luật Thông tin pháp luật
và giáo dục pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Thông tin là nguồn nội dung cho hoạt động giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật là hoạt động truyền tải các thông tin pháp luật tới mọi đối tượng trong xã hội Giáo dục pháp luật không giới hạn về phạm vi thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin Thông tin trong giáo dục pháp luật là những thông tin toàn diện và chung nhất về những vấn đề liên quan đến pháp luật, trước hết là hệ thống pháp luật hiện hành Với quyền được thông tin pháp luật, mọi công dân sẽ nắm được hệ thống pháp luật hiện hành từ khâu dự thảo, xây dựng đến khi công bố và đưa vào áp dụng, thực hiện pháp luật trong cuộc sống
Nội dung của giáo dục pháp luật có phạm vi rộng song lại có đặc thù riêng, bao gồm: các thông tin về pháp luật (cả kiến thức pháp luật cơ bản và văn bản pháp luật thực định); các thông tin về thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm; về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật đối với đời sống xã hội, đối với từng đối tượng và ý kiến của nhân dân, của các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá hiệu lực pháp lý, hiệu quả kinh tế -
xã hội của các văn bản pháp luật và các biện pháp thi hành pháp luật; các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể (các quá trình, thủ tục đơn giản
để người dân có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình)
Hoạt động giáo dục pháp luật góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân Nguyên tắc này được thể hiện ngay từ khâu xây dựng pháp luật, để nội dung pháp luật đến nhân dân và để
Trang 36pháp luật đi được vào cuộc sống, đồng thời để người dân gián tiếp thực hiện quyền năng của mình trong quản lý nhà nước và xã hội theo quy định tại Hiến pháp Cụ thể đó là việc tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý được thể hiện trong bốn bản Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Thực tế cho thấy, việc lấy ý kiến nhân dân, tiếp thu, chỉnh lý là khâu quan trọng góp phần hoàn chỉnh dự án, bảo đảm tính khả thi của dự án
Khi nhà nước ta đang hướng đến việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì một trong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật Tăng cường dân chủ cũng có nghĩa là mở rộng sự tham gia của người dân vào các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước Chính điều này đã nâng cao trách nhiệm của mỗi người trong xã hội Giáo dục pháp luật góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự lớn mạnh của tính tích cực, đảm bảo hành trang kiến thức pháp lý cần thiết cho sự tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật, để mỗi cơ quan đơn vị, các cấp, các ngành quan tâm đến pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật một cách có hiệu quả Đó chính là mục đích, yêu cầu đồng thời là kết quả của công tác giáo dục pháp luật
1.1.4.2 Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng, địa bàn, tính khả thi, tính hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật
- Tính phù hợp với đối tượng
Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật phải xuất phát từ đối tượng được giáo dục Đối tượng của giáo dục pháp luật là những cá nhân hay những nhóm cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp tác động của các hoạt động giáo dục pháp luật do các chủ thể giáo dục tiến hành nhằm đạt
Trang 37được mục đích đã đề ra Mỗi đối tượng giáo dục pháp luật có vị trí khác nhau trong xã hội, do đó có những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận thông tin pháp luật ở những mức độ khác nhau Vì vậy, để sự tác động tới các đối tượng giáo dục pháp luật có hiệu quả thì việc xác định các nội dung, hình thức, phương thức phù hợp đến đối tượng của các chủ thể giáo dục pháp luật
là đòi hỏi khách quan
Trên cơ sở phân loại đối tượng, các chủ thể giáo dục pháp luật lựa chọn các nội dung, hình thức, phương thức phù hợp nhằm trang bị cho từng đối tượng những thông tin, kiến thức cần thiết để họ có những hành vi xử sự phù hợp với vị trí của mình trong các quan hệ pháp luật Có thể phân loại đối tượng theo năng lực chủ thể, địa vị xã hội, nghề nghiệp, độ tuổi,…
Nội dung giáo dục pháp luật có ý nghĩa quyết định cho việc đạt tới mục đích của giáo dục pháp luật Tuy nhiên, để nội dung đó đi vào nhận thức, tình cảm của đối tượng được giáo dục phải thông qua các kênh truyền tải thông tin, qua cách thức và biện pháp tác động nhất định phù hợp với khả năng tiếp cận của từng loại đối tượng Do đó, hiệu quả pháp luật của quá trình giáo dục pháp luật còn phụ thuộc vào sự hoàn thiện của hình thức, phương thức giáo dục pháp luật
Trong một hình thức giáo dục pháp luật có thể sử dụng nhiều phương tiện, phương pháp khác nhau với từng đối tượng, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, chủ thể giáo dục pháp luật cần vận dụng sáng tạo việc sử dụng các phương tiện, phương pháp khác nhau nhằm tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới ý thức pháp luật của công dân
- Tính khả thi
Giáo dục pháp luật là hoạt động vừa mang tính thời sự, vừa mang tính lâu dài, thường xuyên Do đó, khi tiến hành giáo dục pháp luật phải xem xét
Trang 38đến tính khả thi Ngoài việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương thức giáo dục pháp luật cho phù hợp với đối tượng, tính khả thi trong hoạt động giáo dục pháp luật còn dựa trên những yếu tố về tổ chức và nguồn nhân lực; về cơ
sở vật chất và điều kiện của địa bàn thực hiện
Giáo dục pháp luật là một hoạt động quan trọng đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan nhà nước, nhiều cấp, nhiều ngành, tổ chức xã hội Với tính chất và quy mô như vậy, hoạt động giáo dục pháp luật đòi hỏi phải được
tổ chức chặt chẽ, có định hướng, có kế hoạch, tổ chức triển khai đôn đốc, kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm và nhân rộng kết quả Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác giáo dục pháp luật Do vậy, để đảm bảo tính khả thi cho hoạt động giáo dục pháp luật, người làm công tác này cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản: có kiến thức pháp lý nhất định, biết tích luỹ tư liệu, kiến thức, có khả năng nói và viết, có khả năng hoà đồng và giao tiếp, có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền, tuỳ từng vị trí công tác, địa bàn hoạt động, cần phải
có những hiểu biết về xã hội, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền nhất định
Với mỗi hình thức, phương thức được lựa chọn, đều đặt ra các nhu cầu riêng về các phương tiện, tài liệu, kinh phí,… Đảm bảo các nhu cầu trên là điều kiện cần thiết để có thể triển khai thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật trên địa bàn cụ thể Để nâng cao khả năng thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật, trước hết cần tận dụng các điều kiện kinh tế, kỹ thuật trong địa bàn thực hiện nhằm sử dụng tối đa cơ sở vật chất sẵn có Trên cơ sở đó để lập kế hoạch chuẩn bị và bố trí cơ sở vật chất và nguồn kinh phí hợp lý để phục vụ hoạt động giáo dục pháp luật
- Tính hiệu quả
Trang 39Hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật là sự so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra trên cơ sở đầu tư các nguồn lực để tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật Trong đó, kết quả của hoạt động giáo dục pháp luật
là sản phẩm của toàn bộ hoạt động giáo dục pháp luật Kết quả của hoạt động giáo dục pháp luật được xác định, đo bằng sự thay đổi trong ý thức và hành động của đối tượng (sự thay đổi trong nhận thức pháp luật, thái độ đối với pháp luật và hành vi trong thực hiện, chấp hành, bảo vệ pháp luật)
Cụ thể, kết quả của hoạt động giáo dục pháp luật được xác định trên các tiêu chí sau:
+ Sự thay đổi trong hiểu biết, tri thức pháp luật
+ Sự thay đổi trong thái độ, tình cảm, niềm tin vào pháp luật: Từ chỗ chỉ coi pháp luật là bắt buộc, vì sợ phạt mà phải tuân thủ pháp luật đến chỗ nhận thức được giá trị lợi ích của pháp luật đối với mỗi người nên tự giác tôn trọng
và tuân theo pháp luật
+ Sự thay đổi trong hành vi ứng xử theo pháp luật
Ngoài những tiêu chí về “chất”, kết quả của hoạt động giáo dục pháp luật còn được xác định bằng các tiêu chí định lượng như sự thay đổi về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm, số lượng người vi phạm pháp luật; số lượng người phạm tội được giáo dục, hoàn lương và trở về hoà nhập với cuộc sống;
sự thay đổi những biểu hiện tiêu cực trong khiếu nại, tố cáo và mâu thuẫn, tranh chấp; số lượng người được biểu dương gương người tốt, việc tốt, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự,…
Chí phí để thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật bao gồm những chi phí vật chất và tinh thần, chi phí về nhân lực tham gia giáo dục pháp luật Đối với từng hoạt động cụ thể, đó là con người cụ thể trực tiếp thực hiện giáo dục pháp luật, là các chi phí tổ chức hội nghị, chi phí in ấn tài liệu, chi phí cho các
Trang 40phương tiện, công cụ hỗ trợ,… Ngoài ra, chi phí cho hoạt động giáo dục pháp luật còn phải tính đến các chi phí gián tiếp khác nhau như chi phí cho đội ngũ phục vụ hoạt động giáo dục pháp luật, chi phí đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ thực hiện giáo dục pháp luật,… Mức độ chi phí thể hiện tính kinh tế và hữu ích của hoạt động giáo dục pháp luật Trong mỗi giai đoạn và điều kiện
cụ thể, cần tính toán các chi phí để tổ chức và triển khai hoạt động giáo dục pháp luật một cách hợp lý và đạt được những kết quả tốt nhất
1.2 Đặc điểm của hoạt động giáo dục pháp luật và quản lý nhà nước đối với hoạt động giáo dục pháp luật ở đô thị
Đối với chính quyền địa phương nói chung và ở đô thị nói riêng, giáo dục pháp luật được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng Uỷ ban nhân dân các cấp, trong đó có Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện pháp luật trên địa bàn Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 quy định: Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Trong cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn, có vai trò chủ đạo và là đầu mối tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức giáo dục pháp luật
Kể từ khi Bộ Tư pháp được tái lập lại năm 1981, theo Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Phòng
Tư pháp đã được thành lập Trong những ngày đầu có nhiều khó khăn, các Phòng Tư pháp thông qua việc giúp Uỷ ban nhân dân trong việc giáo dục pháp luật đã có những đóng góp quan trọng cho sự điều hành, quản lý của chính quyền cấp huyện Trong khoảng thời gian từ 1981 đến 2004, mặc dù có