Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử đều dễ dàng nhận thấy bên cạnh pháp luật của nhà nước, lệ làng luôn giữ một vị trí qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ MAI HƯƠNG
LÖ LµNG TRUYÒN THèNG TRONG QU¸ TR×NH H×NH THµNH ý THøC PH¸P LUËT
CñA N¤NG D¢N VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Thị Mai Hương
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LỆ LÀNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỆ LÀNG VỚI LUẬT NƯỚC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 7
1.1 LỆ LÀNG TRONG LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN 7
1.1.1 Làng xã Việt Nam trong quá trình lịch sử 7
1.1.2 Sự hình thành "lệ làng" và những nội dung cơ bản của nó 11
1.2 MỐI QUAN HỆ LỆ LÀNG - LUẬT NƯỚC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 22
1.2.1 Nguồn gốc và những đặc trưng cơ bản của pháp luật 22
1.2.2 Sự tương tác của lệ làng và pháp luật trong quá trình hình thành hành vi pháp luật 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2: LỆ LÀNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN 34
2.1 LỆ LÀNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ YÊU CẦU HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN 34
2.1.1 Đặc điểm của lệ làng hiện nay 34
2.1.2 Ý thức pháp luật của nông dân và yêu cầu nâng cao ý thức của nông dân hiện nay 37
2.2 TÁC ĐỘNG CỦA LỆ LÀNG ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 51
Trang 42.2.1 Những tác động tích cực 51
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của lệ làng 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG TÁC ĐỘNG CỦA LỆ LÀNG NHẰM XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NÔNG DÂN HIỆN NAY 66
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG SỬ DỤNG TÁC ĐỘNG CỦA LỆ LÀNG 66
3.1.1 Phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phá vỡ tính biệt lập khép kín của làng xã cổ truyền 66
3.1.2 Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền tạo môi trường pháp lý để nâng cao ý thức pháp luật của nông dân 71
3.1.3 Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 76
3.2 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA LỆ LÀNG TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN NƯỚC TA HIỆN NAY 79
3.2.1 Nâng cao ý thức và năng lực thực hành pháp luật cho nông dân 79
3.2.2 Đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở 84
3.2.3 Xây dựng và hoàn thiện hương ước mới phù hợp với từng địa phương 88
3.2.4 Chủ động xây dựng, từng bước nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nông dân 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta, điều đó đã được thể chế tại Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”[22, Điều 2] Một trong những tiêu chí rất quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện để quản lý thống nhất Trong những năm qua, cùng với những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chính quyền nhân dân, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật Trên thực
tế, một hệ thống pháp luật mới đã từng bước được hình thành, hoàn thiện, trở thành động lực mạnh mẽ cho những thay đổi tích cực diễn ra trên đất nước ta
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của văn hóa pháp lý Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử đều dễ dàng nhận thấy bên cạnh pháp luật của nhà nước, lệ làng luôn giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở các làng xã Việt Nam Pháp luật của nhà nước và lệ làng, hương ước dường như luôn là những hành trang pháp lý cho sự tồn tại, phát triển của các thế hệ người Việt Nam trụ vững và phát triển trong mọi thăng trầm của lịch sử Điểm lại các giai đoạn phát triển của dân tộc ta suốt mấy nghìn năm qua, đặc biệt từ thuở ông cha dựng nền độc lập, các vương triều Việt Nam đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật lớn, bên cạnh đó vẫn tích cực duy trì, tôn trọng các hương ước, lệ làng và xem đó là những công cụ điều chỉnh quan trọng để duy trì mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và các cộng đồng làng xã Trong các thời kỳ dựng và giữ nền độc lập của nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam, sử sách còn lưu lại danh tính của bốn luật tiêu
Trang 7biểu: Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê và Hoàng triều luật lệ của nhà Nguyễn Cả bốn bộ luật lớn ấy dù các giá trị pháp
lý có khác nhau nhưng đều tồn tại, phát huy hiệu lực của mình trên một nền tảng pháp lý có tính cơ bản của các cộng đồng người Việt Nam truyền thống
là hương ước, lệ làng Hương ước, lệ làng là môi trường văn hóa pháp lý đặc thù vừa để phát huy hiệu lực của luật nước và vừa hạn chế luật nước trong mối quan hệ bảo lưu các nét đặc trưng của lối sống cộng đồng ở một quốc gia nông nghiệp Có thể thấy rằng pháp luật của nhà nước và lệ làng là hai mặt của một thể chế chính trị pháp lý lưỡng tính phản ánh mối tương quan của sự thống nhất quốc gia và quyền tự quản của các cộng đồng, làm quân bình sự phát triển của mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi một đơn vị làng xã và của cả quốc gia
Lệ làng vốn được xem là công cụ quản lý xã hội trong các làng xã truyền thống Bên cạnh giá trị tích cực trong việc điều chỉnh mối quan hệ xã hội trên quy mô nhỏ hẹp của làng xã, nhìn chung, lệ làng còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới việc hình thành ý thức pháp luật ở người nông dân Đó
là những cản trở đáng kể cho việc thiết định trong thực tế nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật, một chuẩn mực của xã hội dân chủ văn minh, hiện đại Do vậy, xây dựng ý thức pháp luật cho nông dân, một mặt phải đẩy mạnh
sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, mặt khác, cần phải phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Quan tâm giữ gìn
và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc" [7], cũng là để đưa nông dân lên
chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành ý thức pháp luật cho họ, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 8Từ những điểm đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu
đề tài "Lệ làng truyền thống trong quá trình hình thành ý thức pháp luật của
nông dân Việt Nam hiện nay" trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn
nhằm đưa ra các giải pháp sử dụng tác động của lệ làng nhằm xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân thời kỳ đổi mới là hoàn toàn cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, nghiên cứu về nông thôn Việt Nam và lệ làng truyền thống, ý thức pháp luật nói chung đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu như:
- Từ góc độ di sản "luật pháp" làng xã có "Chúng ta kế thừa di sản
nào" của GS Văn Tạo, các công trình của TS Bùi Xuân Đính "Lệ làng phép nước"; "Hương ước và quản lý làng xã"; Lê Đức Tiết "Về lệ làng Hương ước"; “Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay” - GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, nhà xuất bản Chính trị Quốc
Gia, năm 2003 Nhà Việt Nam học Hàn Quốc, GS In Sun Yu với "Luật và xã
hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII";
- Từ góc độ tâm lý xã hội, phong tục tập quán, có tác phẩm "Tâm lý
cộng đồng và di sản" của Đỗ Long và Trần Hiệp; "Việt Nam phong tục" của
Phan Kế Bính
- Khảo sát một cách khá toàn diện xã hội nông thôn truyền thống có
một số công trình tiêu biểu: "Xã thôn Việt Nam" của GS Nguyễn Hồng Phong; hai tập sách về "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử", và hai tập về "Nông dân
và nông thôn Việt Nam thời cận đại" - những tập sách trên đã tập trung các
bài viết của các nhà sử học, dân tộc học
- Từ góc độ truyền thống và con người có "Giá trị tinh thần truyền
thống dân tộc Việt Nam" của GS Trần Văn Giàu; Đề tài KX-07-02 là công
Trang 9trình của nhiều nhà khoa học, được thể hiện ở hai tập sách do GS Phan Huy
Lê và PGS.TS Vũ Minh Giang chủ biên
- Nhiều bài viết về dân chủ, con người của PGS.TS Hoàng Chí Bảo, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Dương Xuân Ngọc, PGS.TS Trần Quang Nhiếp đã được đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Nhà nước và Pháp luật, Thông tin lý luận, Nghiên cứu lý luận
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều góc độ của lệ làng truyền thống và ý thức pháp luật của nông dân Việt Nam, tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách riêng lẻ, cụ thể về lệ làng truyền thống trong quá trình hình thành ý thức pháp luật cho nông dân Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới dưới góc độ luật học
3 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở làm rõ quan hệ lệ làng và pháp luật của nhà nước trong xã hội Việt Nam cổ truyền và ảnh hưởng của lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật của người nông dân, luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân nước ta thời kỳ đổi mới
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ quá trình hình thành và mối quan hệ giữa lệ làng và pháp luật của nhà nước trong quá trình lịch sử
- Làm rõ nét đặc thù của lệ làng trong thời kỳ đổi mới và ảnh hưởng của
nó đối với việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân nước ta hiện nay
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát huy nhân tố tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của lệ làng truyền thống trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân nước ta thời kỳ đổi mới
Trang 10Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn ở mức độ nhất định có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước để phát huy nguồn lực lao động ở nông thôn vào sự nghiệp đổi mới đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu quan hệ của người nông
dân với lệ làng: ý thức sống và làm việc theo lệ làng của người nông dân trong xã hội Việt Nam cổ truyền Quan hệ của người nông dân với pháp luật trong thời kỳ đổi mới, ý thức sống và làm việc theo pháp luật để từ đó định hướng việc giáo dục ý thức pháp luật cho người nông dân hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu nông dân vùng
đồng bằng Bắc Bộ, nơi làng xã truyền thống hình thành sớm, có kết cấu xã hội bền chặt và cũng là nơi chịu ảnh hưởng sâu đậm của lệ làng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số chế định
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn khái quát từ góc độ chính trị - xã hội mối quan hệ giữa lệ làng truyền thống với luật nước trong lịch sử; Những nét đặc thù của lệ làng trong thời kỳ đổi mới; làm rõ nội hàm khái niệm ý thức pháp luật của người nông dân Việt Nam và ảnh hưởng của lệ làng đối với quá trình hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho người nông dân
Trang 11Luận văn nêu lên một số phương hướng, giải pháp góp phần xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân phù hợp với dân chủ hóa xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Trang 12Chương 1
LỆ LÀNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỆ LÀNG VỚI LUẬT NƯỚC
TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
1.1 LỆ LÀNG TRONG LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN
1.1.1 Làng xã Việt Nam trong quá trình lịch sử
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn chiếm khoảng 80%, khi tìm hiểu về xã hội nông thôn ở nước ta thường bắt gặp các
từ thôn, làng, xã trong văn nói cũng như văn viết của người nông dân Suốt nhiều thế kỷ qua, làng là đơn vị cư tụ cổ truyền lâu đời ở nông thôn người Việt và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước Từ thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ Đơn vị này có thể được coi tương đương với sóc của người Khơ Me; bản, mường của người dân tộc thiểu số phía Bắc Làng là cộng đồng
dân cư, cộng đồng "lãnh thổ", cơ cấu tổ chức, tâm lý, phong tục tập quán tín ngưỡng và "thổ ngữ" riêng Còn xã chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước
phong kiến ở vùng nông thôn Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần nhiều mỗi làng là
một xã Do vậy, người nông dân thường ghép hai từ này làm một: làng xã
Thôn thường được dùng trong văn bản giấy tờ hành chính, trong văn tế Một
xã mà gồm nhiều làng thì các làng họp thành xã ấy được gọi là thôn
Còn trong ngôn ngữ của người nông dân, mỗi người khi nói về quê hương, nơi mình sinh sống vẫn thường nói làng này, làng kia hơn là xã này,
thôn nọ Từ “làng” in đậm dấu ấn trong ý nghĩ tình cảm, ngôn ngữ thường
ngày của người nông dân hơn là xã, thôn
Làng Việt tồn tại trên cơ sở sự kết hợp trực tiếp giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Những di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đồng: Đồng Đậu, Gò Mun ở Vĩnh Lạc và Phong Châu Vĩnh Phú đã thấy sự tập hợp cư dân như
Trang 13những làng cổ Với truyền thuyết Thánh Gióng - người con trai làng Gióng, người anh hùng phá giặc Ân - thì các làng của người Việt đã định hình trước thời Bắc thuộc Theo các nhà sử học cho đến thế kỷ XVIII trên đất nước ta đã
có đến gần 2 vạn làng được hình thành từ ba nguồn:
Thứ nhất, từ công xã nguyên thủy, loại làng này không phải là ít vì sự
phát triển của xã hội Việt Nam không tạo ra một giai đoạn phá vỡ hoàn toàn các công xã nguyên thủy, để rồi đến một lúc khác thành lập lại trên cơ sở một
xã hội mới
Thứ hai, các làng xã khác hình thành trong xã hội có giai cấp theo
nhiều con đường: do một họ, nhiều họ, một điền trang của quan lại phong kiến hoặc có nguồn gốc từ đồn điền của nhà nước
Thứ ba, làng do nhà nước chủ trì khai hoang lập nên [31]
Do điều kiện tự nhiên đất đai màu mỡ, dân số chưa đông, người Việt có thể khai khẩn bất cứ nơi nào thuận tiện xung quanh đủ ruộng cấy lúa và nơi
cư trú là thành làng Cư trú thành làng là một đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa của người Việt Là một đơn vị quần cư, mỗi làng được xác định bởi một không gian bằng những đường ranh giới giữa làng này với làng khác, giữa đất làng với đất không phải của làng Đất đai của làng tạo nên bởi những ranh giới do các thế hệ người làng lập nên Nó vừa là của chung, của làng vừa là của riêng mỗi gia đình Ruộng đất đó dân làng cày cấy nuôi sống mình và đóng góp một phần cho nhà nước Ngoài phần đất canh tác, mỗi làng thường giành một phần làm nơi cư trú thuận lợi cho hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, giao thông và được gọi là làng Nơi cư trú ấy của cộng đồng làng thường được bao bọc bởi lũy tre, trong đó được chia thành xóm ngõ Trong cái không gian bé nhỏ đó, có đường làng ngõ xóm để mọi người dùng chung,
có giếng làng để mọi người lấy nước sinh hoạt, có đình làng vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi hội họp Không gian kinh tế - xã hội, văn hóa thiêng liêng ấy là yếu tố gắn kết mọi người chung một làng
Trang 14Qua hàng ngàn năm, do điều kiện đặc thù của lịch sử quy định, làng Việt Nam tồn tại như những đơn vị độc lập tương đối Tính độc lập và khép kín được xác định bởi những lũy tre xanh bao bọc như những tường thành ngăn cách và bằng cả một hệ thống thiết chế, tập tục của từng làng Về mặt kinh tế, đó là những thể thức phân chia và sử dụng công điền, công thổ, sử dụng nguồn nước của làng Về mặt chính trị - xã hội mỗi làng đều có những quy ước quy định các vị trí đẳng cấp xã hội, cả quyền lợi và nghĩa vụ, là sự tồn tại và thực hiện chức năng xã hội của các hội, các phường được thiết lập trong làng Về mặt văn hóa, đó là các hình thức hội hè, tập tục, lễ cưới, lễ tang, lễ khao vọng và gắn với văn hóa tôn giáo, là tín ngưỡng thành hoàng
Bên cạnh những khác biệt trên, làng Việt nào cũng có đủ tất cả: ruộng công, ruộng tư, đình chùa, hội hè, đình đám, có phường hội, có chính quyền quản lý và đó cũng là điểm giống nhau của tất cả các làng
Làng là đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp, có thể thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người: hầu hết các làng đều có một vài hộ làm nghề rèn, dăm ba
hộ làm thợ mộc, thợ nề, một số hộ buôn bán tạp hóa ở chợ làng, một vài ông
đồ dạy học, ông lang bốc thuốc "Làng có nông, làng cũng có sĩ, công,
thương" [31] Sự giống nhau đó đảm bảo cho các làng có tính độc lập, tương
đối ít phụ thuộc vào nhau Như C.Mác từng nhận xét:
Cái cơ cấu sản xuất đơn giản của các cộng đồng tự cung tự cấp ấy, - những cộng đồng không ngừng được tái sản xuất ra dưới cùng một hình thức ấy và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thì cũng lại xuất hiện trên địa điểm cũ với một tên cũ - cái cơ cấu ấy cho chúng ta cái chìa khóa để hiểu được sự bí ẩn của tính chất bất di bất dịch của những xã hội châu Á, nó trái ngược một cách lạ thường với hiện tượng các nhà nước châu Á không ngừng bị phá hủy rồi lại được lập lại, với những sự biến đổi không ngừng của
Trang 15các triều vua Kết cấu của các yếu tố kinh tế cơ bản của xã hội vẫn không bị những cơn dông tố của lĩnh vực chính trị đầy mây ảnh hưởng tới [2]
C.Mác còn chú thích thêm:
Dưới hình thức đơn giản ấy những người dân các nước đó
đã sống từ thời thượng cổ đến nay Ranh giới giữa các làng mạc ít khi bị thay đổi Và mặc dù bản thân những làng mạc đó đôi khi bị thiệt hại, hay thậm chí còn bị tàn phá vì chiến tranh, nạn đói, bệnh dịch, nhưng cũng cái tên ấy, những ranh giới ấy, với những lợi ích
ấy, thậm chí với cả gia tộc ấy vẫn cứ tiếp tục tồn tại hàng thế kỷ Sự sụp đổ hay sự phân biệt của các vương quốc chẳng hề làm cho họ lo lắng; trong khi làng xóm vẫn còn nguyên vẹn, thì dù nó nằm dưới quyền lực của ai hay được chuyển cho một ông vua nào, điều đó đối với họ cũng không quan trọng lắm, nền kinh tế nội bộ của họ vẫn không thay đổi [2]
Chính cơ cấu kinh tế - xã hội khép kín ấy là cơ sở hình thành ý thức người nông dân làng xã Việt Nam, ý thức cộng đồng - cái cá nhân dường như bị tan ra, bị hòa vào cộng đồng Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích cộng đồng, danh dự của người nông dân gắn với danh dự của làng xã - họ không chỉ sống cho mình mà sống cho làng xã Người nông dân chấp nhận những quy tắc ứng
xử, nếp sinh hoạt, quan hệ cộng đồng làng xã như một lẽ tự nhiên Quan hệ làng
xã ấy, vừa có mặt trì trệ bảo thủ của nó, nhưng chính nó lại là nơi thể hiện khá
rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là
"dân chủ làng xã" Quan hệ ấy cũng là những bức tường thành kiên cố vững
chắc nhất bảo tồn văn hóa làng, cũng là bản sắc văn hóa dân tộc đã chiến thắng mọi yếu tố tiêu cực của luồng văn hóa từ bên ngoài
Trang 161.1.2 Sự hình thành "lệ làng" và những nội dung cơ bản của nó
Tập thể cư dân trong mỗi cộng đồng sinh sống lâu dài trong một địa bàn, có những mối liên hệ với nhau trong đời sống sản xuất và xã hội, trong cuộc đấu tranh thường nhật với thiên tai và địch họa, đều muốn xây dựng những mối quan hệ ổn định, hòa thuận, một lối sống có kỷ cương, trật tự Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có những quy ước, những thỏa thuận ràng buộc nghĩa vụ
và trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cá thể với cộng đồng làng xã Đó cũng là một trong những biểu hiện tiêu biểu tính tự quản của mỗi cộng đồng dân cư mỗi làng Mỗi làng đều có quy ước riêng để các thành
viên của mình thực hiện được gọi là "lệ làng"
Lệ làng là toàn bộ những quy định, lề lối, phép tắc, những phong tục tập quán được hình thành trong các hoạt động của dân làng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa tín ngưỡng của từng làng Lệ làng quy định điều chỉnh hành vi, ứng xử của con người trong các hoạt động đó Trước Cách mạng tháng Tám, ở các làng xã người Việt đều có những lệ làng thành văn với những tên gọi riêng, tùy theo cách ghi chép của người soạn thảo: Hương ước, Hương biên, Hương lệ Nhưng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến các lĩnh vực đời sống của từng làng, từng cộng đồng dân cư mà người ta quen gọi bằng tên phổ biến
nhất – Hương ước
Quá trình phát triển của làng xã làm cho cư dân đông đúc dần, các mối quan hệ và thiết chế xã hội lần lượt ra đời và tăng lên để quản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống Đó là tiền đề để làm phong phú các quy ước nhằm đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng Các hình thức
tổ chức, các mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, các tổ chức trong làng cũng như quan hệ giữa làng xã với nhà nước phong kiến ngày càng phức tạp Những tục lệ tập quán trong làng cũng phức tạp thêm lên Để duy trì các mối
Trang 17quan hệ đó, giữ "thăng bằng" cho làng xã, những quy ước truyền miệng phải
được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, mặt khác cũng không ai có thể nhớ nổi những quy ước ngày càng phức tạp đó Để cho cộng đồng có thể thống nhất với nhau trong khi vận dụng những điều về các quy tắc ứng xử, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng và ngược lại Do vậy, việc văn bản hóa những tục lệ, tập quán là sự đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển các mối quan hệ cộng đồng Hương ước ra đời vừa là kết quả, vừa là yêu cầu của quá trình phát triển nội tại của đời sống làng xã Nó kế tục và hoàn chỉnh những quy ước trước đó của mỗi nhóm dân cư, của các hình thức cộng đồng người trong mỗi làng xã
Như vậy, trải qua quá trình phát triển lịch sử, do yêu cầu quản lý xã hội
các "bộ luật" hay các bản hương ước của các làng xã người Việt ra đời trong
những điều kiện:
- Chữ viết (chữ Hán) phải trở thành thứ văn tự phổ biến, được sử dụng trong giấy tờ sổ sách để giải quyết, ghi chép các công việc, các mối quan hệ trong đời sống hàng ngày của làng xã Cùng với chữ viết còn có một tầng lớp trí thức (nho sĩ) trực tiếp sử dụng thứ văn tự đó
- Sự tác động của nhà nước phong kiến đối với làng xã để hướng các làng xã đi vào quỹ đạo của nó Nhà nước phong kiến thông qua lệ làng để buộc các làng xã, các đơn vị tụ cư của người nông dân ấy phải khuôn theo hình mẫu của nó Muốn làm được việc đó phải văn bản hóa các tục lệ, các quy ước của làng xã [8]
Theo các nhà dân tộc học, từ cuối thời Trần trở đi trong mỗi làng Việt
đã có những điều kiện để những bản lệ làng thành văn ra đời Những điều kiện đó là: Cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, các phong tục, tập quán, các tục lệ ngày càng phức tạp; Nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp vào làng xã, biến nó thành đơn vị hành chính cơ sở, tuy vậy mỗi làng còn giữ được tính
Trang 18"tự trị" thể hiện ở một số tập tục truyền thống; Trong mỗi làng đã xuất hiện
một tầng lớp nho sĩ có thể đại diện cho làng soạn thảo các sổ sách giấy tờ trong đó có bản lệ làng thành văn - Hương ước [8]
Hương ước, lệ làng xưa có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống làng xã Việt Nam Vai trò ấy thể hiện khái quát qua các bình diện sau:
- Tổ chức và quản lý các mặt của đời sống làng xã, duy trì trật tự, kỷ cương, tạo môi trường ổn định và an toàn cho cả cộng đồng làng xã
- Nuôi dưỡng, vun đắp ý thức cộng đồng, tinh thần bất khuất, tinh thần
tự chủ, tự lực cho mỗi thành viên và toàn bộ cộng đồng làng xã
- Tạo lập một cuộc sống dân chủ, gần con người với tự nhiên, gần cá nhân với cộng đồng
- Duy trì và phát huy thuần phong, mỹ tục và truyền thống văn hóa cộng đồng, củng cố các giá trị đạo lý và nhân bản
- Củng cố, tăng cường sự đoàn kết, gắn bó tương thân, tương ái trong mỗi gia đình, dòng họ và trong toàn bộ cộng đồng
- Xây dựng ý thức cộng đồng làng xã, gắn ý thức cộng đồng làng xã với
ý thức quốc gia, ý thức chấp hành pháp luật
Là những "bộ luật" của làng xã, tùy theo cách ghi chép của từng làng
mà lệ làng tồn tại dưới các tên khác nhau, hương khoán, điều ước, điều lệ, khoán lệ, tục lệ và tùy điều kiện cụ thể của từng làng mà mỗi bản hương ước gồm nhiều hay ít các điều khoản Tỷ lệ các điều khoản của từng vấn đề và
sự sắp xếp chúng cũng theo những trình tự khác nhau, tùy theo đặc điểm của mỗi làng mà có những tập tục quy ước riêng Nhưng nhìn chung, các điều khoản trong hương ước khá đa dạng phong phú, phản ánh khá sinh động các mặt hoạt động của đời sống sinh hoạt làng xã theo một khuôn phép mà không một luật nước nào có thể bao quát hết được Nếu đem chắt lọc những khác biệt của từng làng ta thấy các bản hương ước đều phản ánh những nội dung cơ bản dưới đây:
Trang 19* Quy ước về chế độ lãnh thổ, đất đai
Mỗi làng có một địa vực riêng, được hình thành do những dòng họ hay tập đoàn người đầu tiên đến khai phá và mở rộng theo thời gian nhờ công sức của nhiều thế hệ Hương ước của một số làng đã ghi lại quá trình khai hoang lập nên làng xóm Chủ quyền của làng, được khẳng định qua điều khoản của hương ước: ranh giới của làng giáp đâu? Xác định bởi mốc giới nào? Diện tích công tư điền thổ bao nhiêu? Hương ước cũng quy định, các thành viên
trong làng có nghĩa vụ bảo vệ "lãnh thổ" của làng, chống lại sự xâm phạm của
người làng khác, cũng như phải tuân thủ nghiêm ngặt về việc sử dụng các bộ phận lãnh thổ của làng Chính cái giới hạn lãnh thổ của mỗi làng đã làm nên
cái "ta làng" cái văn hóa làng Người nông dân ý thức về quyền sở hữu "tập
thể làng" cái ý thức "co cụm để đề kháng" để bảo vệ làng và rộng hơn là bảo
vệ bản sắc dân tộc Do vậy, "làng và văn hóa làng từng là cái nôi, lá chắn, đã
sáng tạo giữ gìn và che chở những giá trị tinh thần chống lại các âm mưu đồng hóa về văn hóa của bên ngoài" [8]
* Quy ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, môi trường
Như chúng ta đã biết, đối với một nền kinh tế tiểu nông, người nông
dân "kiếm tư liệu sinh hoạt cho mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều
hơn là giao tiếp với xã hội" [2] Quy trình sản xuất diễn ra một thời gian dài,
kết quả của nó phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên Trong quá trình sản xuất
người nông dân một mặt phải "trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa,
trông nắng, trông ngày, trông đêm" cầu cho "mưa nắng phải thì" mặt khác
vừa phải tìm cách đối phó với thiên nhiên để tồn tại
Với một nền nông nghiệp trồng lúa nước, thủy lợi luôn đặt lên hàng
đầu Không chỉ đối với nhà nước phải có hẳn một bộ "công trình công
cộng"[2] mà thủy lợi đã trở thành một hoạt động cộng đồng mang tính phổ
biến ở hầu hết các làng xã Việt Nam Đối với người nông dân trồng lúa nước
Trang 20thì nước là yếu tố thứ nhất rồi mới đến đất, công việc thủy lợi phải được thực hiện thường xuyên Việc đắp đê, hộ đê, sửa chữa bồi đắp chỗ sạt lở, đào sông, đào kênh, khơi ngòi khơi lạch trở thành công việc mang tính truyền thống của các làng xã Hương ước nhiều làng quy định chặt chẽ việc sử dụng nước
Chẳng hạn, trong "Vĩnh Lại khoán lệ" quy định "Việc giữ nước hoặc mở nước
với nhà nông rất là quan hệ Nếu ruộng nhà nào bị hạn, bị ngập người chủ ruộng làm đơn trình cho thôn, xã trưởng xem, nếu đúng sự thật chỉ sẽ cho làm, nếu người nào tự ý giữ nước lại hoặc mở nước ra để đến nỗi có hại cho việc nhà nông thì sẽ bị phạt lợn và ruộng trị giá một quan, 2 mạch tiền" hoặc
hương ước làng Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây): Phiên tuần phải trông nom việc giữ nước, khi nào nên tháo nước thời phải hỏi ý kiến hội đồng, không được tự tiện làm ngay, người nào tháo nước, chắn cá làm cho ruộng lúa mất nước phải
bị phạt [12]
Ngoài việc bảo vệ nguồn nước, hương ước các làng còn có những điều khoản quy định việc bảo vệ hoa màu: không được tự ý thả trâu bò, gà vịt ra đồng khi lúa đã cấy xong, không được lội vào ruộng lúa bắt cá tôm Với nền nông nghiệp phong kiến kỹ thuật canh tác lạc hậu, công cụ thô sơ, những công trình công cộng - đê điều và hệ thống thủy lợi cần có sự chăm lo bảo vệ của cả cộng đồng Người nông dân phải biết và dám hy sinh cả lợi ích riêng, tài sản và sở hữu của chính mình để bảo vệ lợi ích cộng đồng một khi lợi ích
đó bị đe dọa Nếu cộng đồng cần thì mỗi người nông dân phải tự nguyện, tự giác hy sinh thời gian, sức lực, nhà cửa cây trái sắp đến ngày thu hoạch để bảo vệ lợi ích chung Cơ sở vật chất và tinh thần tự nguyện đó chính là mối liên hệ tất yếu giữa lợi ích cá nhân gia đình với lợi ích cộng đồng làng xã
"nước lụt thì lút cả làng" Nước dâng đê vỡ cả làng ngập lụt thì nhà cửa ruộng
vườn của mỗi người không thể không bị ngập lụt Cả làng mất mùa thì mỗi nhà không thể không mất mùa Thực tiễn của công cuộc trị thủy - thủy lợi đã
Trang 21đặt lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ trong lợi ích cộng đồng làng xã Ở mặt này nó còn góp phần thúc đẩy sự phát triển tinh thần, ý thức cộng đồng ra ngoài khuôn khổ làng xã nhỏ sang cộng đồng tập thể rộng lớn hơn
Hương ước khuyến khích tất cả mọi người tận dụng đất đai, chăm chỉ cày cấy Nếu gia đình nào để đất hoang hoặc để gia súc, gia cầm phá hoại mùa màng đều phải phạt nặng, nhẹ tùy mức độ vi phạm Với mục đích bảo đảm và phát triển sản xuất, các bản hương ước khuyên mọi người khai khẩn đất hoang, phục hóa giữ gìn bảo vệ nguồn nước, đồng thời trừng trị những ai
cố tình vi phạm những quy định của làng
Lệ làng phản ánh ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sống của làng Những công trình công cộng được chăm lo tu sửa Nhất là những công trình thể hiện bộ mặt của làng: đường làng, giếng nước, ngôi đình
Đường làng để cả làng đi lại, mọi người đều phải có ý thức giữ gìn tôn tạo Hương ước của nhiều làng quy định không được tự ý thả trâu bò, lợn để phóng uế ra đường, không xẻ rãnh, tháo nước qua đường Hương ước quy định và khuyến khích phát triển giao thông: trai gái xây dựng gia đình, những người đỗ đạt, khao danh vọng phải nộp gạch để lát đường đã góp phần tạo nên
bộ mặt làng xóm phong quang sạch đẹp
* Quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm các chức dịch của làng
Quan hệ tổ chức - xã hội ở làng xã khá chặt chẽ, được thể hiện ở các điều mục trong hương ước quy định bộ máy tổ chức, phân định trật tự đẳng cấp trong bộ máy, trong cư dân làng xã Lệ làng gồm những quy ước đề cập tới các
tổ chức trong làng, chức năng quyền hạn của các tổ chức và những thành viên của nó: Hội đồng kỳ mục, xóm ngõ, phường hội, phe, giáp, dòng họ
Hương ước còn dành những điều khoản quy định việc cưới xin, sinh,
tử Việc sinh đẻ, công nhận một thành viên mới ra đời được tiến hành qua lễ vọng giáp Việc hôn nhân của đôi trai gái muốn được làng công nhận phải
Trang 22nộp "cheo"; cheo có giá trị pháp lý như giấy kết hôn Nếu không nộp cheo
cuộc kết hôn coi như vô nghĩa và không được làng công nhận Cheo có thể nộp bằng tiền, cũng có thể bằng hiện vật tùy theo từng làng quy định Việc ma chay cũng được quy định chặt chẽ, tỉ mỉ trong các bản hương ước, như những điều luật của làng
Quan hệ xã hội của người dân trong làng được quy định bởi những quy ước về việc cư xử giữa người với người trong làng xã Những điều khoản này chiếm một số lượng tương đối trong hương ước Nội dung chủ yếu trong những điều khoản đó đề cao tinh thần đoàn kết đùm bọc làng xóm, giữ gìn những quan hệ tốt đẹp, khuyến khích dân làng ăn ở hòa thuận giúp đỡ nhau trong đời sống hàng ngày Chẳng hạn, Điều 71 hương ước làng Quỳnh Đôi quy định: Mọi người phải đến giúp người khác lợp nhà, đưa ma
mà không cần lời mời, khi đưa ma thì tùy tang chủ kính biếu mà không được đòi hỏi Điều 83 lại ghi: Ai gặp người già mà không giúp sức mang vác thì
bị phạt Hoặc ở Điều 97: Gặp hoạn nạn, người trong làng phải giúp đỡ lẫn nhau, nếu không khi trở về làng bị phạt 20 quan mới được ghi tên vào sổ làng (được công nhận lại là thành viên của làng) [9]
Làng xã coi trọng việc lập các điếm canh, điếm tuần phòng để phòng
"thủy, hỏa, đạo, tặc" bảo vệ tính mạng, tài sản chung của cả làng Vì thế hết
thảy các tráng đinh trong làng (thường từ 18 đến 49 tuổi) đều phải tham gia và được tổ chức thành các đội dân binh của các xóm ngõ gọi là tuần phiên hay hàng phiên (nhưng cũng có làng chỉ lấy những người vào phiên từ 20 đến 40 tuổi) Hương ước làng Phú Xuyên (Ba Vì - Hà Tây) Điều 26 ghi:
Trong làng đặt ra các ngõ như ngõ Trên, ngõ Hương, ngõ Đình, ngõ Đồng Phải cắt cử những tráng đinh trong ngõ từ 20 đến
40 tuổi, ngõ lớn cử 12 người, ngõ nhỏ cử 8 người làm tuần phiên để tuần thú trong ngõ Nếu bất cẩn để nhà nào mất trộm vật gì đáng từ một đồng trở lên thì tuần phiên phải đền [12]
Trang 23Chế độ tuần tra, canh gác của các đội tuần phiên tùy thuộc vào tập tục của từng làng, nhằm bảo vệ an ninh trật tự, tài sản chung của cả làng cũng như
mỗi thành viên của làng Họ có trách nhiệm bảo vệ "nội hương ấp, ngoại đồng
điền", nếu để mất mát căn cứ vào giá trị phải bồi thường cho người bị mất
Chẳng hạn làng Lộc Du (Thường Tín, Hà Tây) quy định phiên tuần canh gác không cẩn thận để kẻ gian vào ăn trộm mỗi con trâu bị mất phải bồi thường
30 quan, bò 20 quan Làng Kiêu Trì quy định nếu ban đêm xảy ra mất trộm tuần phải đền mỗi con trâu 10 quan, bò 6 quan ở ngoài đồng mất từ 3 lượm lúa trở lên thì đền 3 lượm, mất 1 sào trở lên thì đền 3 gánh Hương ước các làng còn quy tội nặng hơn cho những tuần phiên lợi dụng việc canh gác, tuần phòng để ăn trộm Ở làng Dương Liễu (Hoài Đức - Hà Tây) nếu phiên lợi dụng canh gác đi ăn trộm súc vật, hoa quả thì phạt 2 quan, hoặc trong lúc tuần
phòng cố ý thả kẻ trộm sẽ bị "luận tội" và phạt 3 quan Ở làng Đồng Lư phiên
tuần lợi dụng lúc làm nhiệm vụ để ăn trộm thì bị phạt gấp đôi kẻ trộm bình thường, nặng thì giải trình quan trên Phiên mở cổng làng cho kẻ gian vào làng phải đền những của cải bị mất phạt 10 quan (tiền năm 1829) nhẹ đánh 30 roi và đuổi về, nặng thì trình quan xét xử [9]
* Quy ước về văn hoá tinh thần và tín ngưỡng
Mỗi làng Việt là một cơ cấu kinh tế khép kín mang tính "nửa tự trị"
Nét khác biệt giữa các làng được đặc trưng bởi những nét văn hóa riêng, các
tục hèm, lệ thờ thành hoàng: mỗi làng tôn một vị thần làm "thành hoàng"
được thờ ở đình, đình được xây dựng ở nơi tốt nhất về phong thủy Thành hoàng có thể là thiên thần, cũng có thể là nhân thần, cũng có thể là người có công với làng, với nước nhưng cũng có thể là người mà dân làng cho là linh thiêng luôn che chở cho làng [5] Thần thành hoàng là vị thần bảo trợ cho cả cộng đồng làng Cuộc sống của cộng đồng và số phận mỗi thành viên trong
làng có yên ổn hay ly loạn, thịnh hay suy đều phụ thuộc vào sự "bảo trợ" ấy
Trang 24Việc mỗi làng có riêng một vị thần của mình được cả cộng đồng tôn kính thờ phụng phản ánh một thực tế là mỗi cộng đồng làng có quyền lợi kinh
tế, chính trị và những truyền thống văn hóa, lịch sử riêng, làm nên cái riêng
của mỗi làng - cái "ta làng" Cái riêng của mỗi làng trong quan hệ với làng
khác vốn lại là cái chung của mỗi thành viên trong làng mà người dân làng xã
có trách nhiệm gìn giữ bảo vệ Người dân trong mỗi làng tin rằng dù chỉ một thành viên trong làng vi phạm những quy tắc cấm kỵ của thần thành hoàng thì không những người đó bị thần phạt mà toàn thể cộng đồng cũng bị trừng phạt Điều đó đã ràng buộc, gắn bó số phận của mỗi cá nhân vào cộng đồng, làm cho toàn thể cộng đồng đoàn kết gắn bó với nhau, nhắc nhở nhau thực hiện những quy ước nhằm bảo vệ những nơi mà họ cho là tôn nghiêm của cả làng -
bảo vệ "đời sống tâm linh" của làng xã [5]
Gắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng là các hoạt động lễ hội Lễ hội của
mỗi làng mang một sắc thái văn hóa khác nhau, nhưng cốt lõi của nó là sự "tái
hiện lịch sử" Thông qua lễ hội và các hoạt động văn hóa khác các thành viên
trong làng biểu lộ sự hòa đồng cộng cảm với nhau Vì vậy, tất cả trách nhiệm
và nghĩa vụ mà làng đặt ra nhằm tiến hành các hoạt động tín ngưỡng (tế lễ, tu sửa đình chùa) hay lễ hội đều được người nông dân tuân thủ một cách nghiêm túc không chỉ bằng ý thức mà bằng cả những hành động thực tế Từ ý thức cao
về trách nhiệm, họ tự giác tham gia vào các công việc chung của làng mà không tính toán thiệt hơn Hững hờ hay vô trách nhiệm đối với các công việc chung của làng sẽ bị mọi người lên án Ý thức về trách nhiệm và bổn phận trước cộng đồng đã hình thành và ăn sâu vào tiềm thức của người nông dân được chấp nhận một cách tự nhiên và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Bên cạnh các quy ước trong các hoạt động tín ngưỡng lễ hội, nhiều làng còn có các quy ước ngăn cấm tệ cờ bạc quy định rõ mức phạt tùy theo mức độ nặng nhẹ [9]
Trang 25Trong lĩnh vực giáo dục, hầu hết các làng xã đều có những quy ước
khuyến khích việc học tập Giành ruộng "học đường" để làm phần biếu cho
người đỗ đạt, lấy hoa lợi để trả lương cho thầy và làm phần thưởng cho học trò giỏi Lệ làng có những quy ước đón rước những người đỗ đạt cao về làng
"vinh quy bái tổ", những quy ước không chỉ buộc học trò mà cả dân làng phải
tôn vinh người thầy Mặc dù chỉ là "thầy giáo làng" nhưng cũng được làng
giành cho vị trí xứng đáng trong các sinh hoạt làng xã, chỗ ngồi trong chốn đình chung
Hương ước nhiều làng quy định những gia đình khá giả hoặc đủ ăn nếu
có con đến tuổi mà không cho đi học thì người cha nếu có "vị thứ sẽ bị huyền
vị thứ" (hương ước làng Phú Xuyên - Ba Vì - Hà Tây) và làng Phù Xá Đoài
(Đông Anh - Hà Nội) đề ra lệ: Con trai con gái 5-6 tuổi phải cho vào trường
học, bằng không chỉ nuông con để "nghịch giặc" chửi đánh nhau thì bố mẹ
phải bị phạt [8]
Cùng với các quy ước đã được văn bản hóa còn có những quy ước "bất
thành văn" được truyền từ đời này sang đời khác được gọi là giáo dục bình
dân hay giáo dục truyền thống [9] Hướng tới việc giáo dục nhân cách, duy trì bản sắc tốt đẹp nó hướng vào hai mối quan hệ thiêng liêng bền vững của người dân làng xã là quan hệ huyết thống và quan hệ địa vực Giáo dục truyền thống muốn rằng mỗi thành viên của làng phải là đứa con ngoan của gia đình
họ tộc, là người tốt của làng xóm Giáo dục làng xã giữ vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là chủ yếu hình thành những đức tính quý báu của con người Việt Nam: Yêu quê hương (làng xã) đất nước, tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau xung quanh mối quan hệ họ hàng - làng nước
Điểm lại những nội dung trên cho thấy, lệ làng đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống làng xã, các mặt hoạt động của con người Trong các hoạt động đó, quan hệ của người nông dân làng xã truyền thống được quy về
Trang 26hai mối quan hệ cơ bản: người con của họ hàng và người dân của làng xã Nếu như trong quan hệ họ hàng có các quy ước, các phép tắc đặt ra đòi hỏi mỗi người phải có ý thức và nghĩa vụ thực hiện che chở đùm bọc nhau, trong quan hệ huyết thống, thì với xóm làng lại đòi hỏi mỗi thành viên phải tuân thủ mọi quy ước nề nếp bảo vệ lợi ích tập thể của xóm làng
Để đảm bảo hiệu lực của lệ làng, làng xã dùng các biện pháp thưởng
phạt theo "lệ" nhưng khá nghiêm ngặt nhất là "lệ" thành văn thể hiện ở hương
ước, khoán ước
Việc khen thưởng phổ biến các làng thường áp dụng là thưởng tiền hay
hiện vật, nhưng cũng có thể là tăng thêm ngôi vị, thứ bậc trong làng hoặc được giảm một số nghĩa vụ phải đóng góp tùy theo mức độ công trạng mà người có công đã lập được đối với làng Ngoài việc khen thưởng, làng xã còn
có các khoản bồi thường cho những người bị thiệt hại trong khi làm nhiệm vụ, được trợ cấp thương tật hay tiền tuất
Các hình thức xử phạt cũng rất đa dạng, từ việc tẩy chay "không thèm
ngồi", đến phạt tiền hoặc hiện vật, bị hạ vị ngôi thứ, thậm chí bị đuổi khỏi
làng Đây là, một hình phạt cao nhất của làng xã đối với kẻ vi phạm
Ngoài việc trừng phạt, thực hiện một cách có tổ chức, làng xã còn một
tòa án vô hình nhưng hữu hiệu và công bằng đó là dư luận Dư luận của làng
xã không tha thứ một ai Qua gạn lọc, chỉnh lý của thời gian, dư luận đem lại cho người đương thời cũng như các thế hệ tiếp nối những tấm gương tốt đẹp
và những hình mẫu xấu xa với những lời khen, chê xác đáng mà người ta không thể đem tiền tài để mua chuộc, dùng quyền uy để áp đảo dư luận Chính sức mạnh của dư luận xã hội làng xã đã góp phần không nhỏ vào điều chỉnh những hành vi ứng xử, khép mọi thành viên vào những khuôn khổ đạo đức truyền thống làng xã
Trong các quy ước trên thì quy ước về chế độ ruộng đất có vị trí
Trang 27quan trọng nhất, bởi vì đại đa số người dân của các làng đều làm nông nghiệp là chủ yếu.
Ngoài bốn loại quy ước cơ bản trên, có làng lại ghi thêm vào hương ước những điều khoản về sự đóng góp các loại công quỹ, về tổ chức khao
vọng, về “lễ ra làng” (lễ thành đinh)…
1.2 MỐI QUAN HỆ LỆ LÀNG - LUẬT NƯỚC TRONG XÃ HỘI
VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
1.2.1 Nguồn gốc và những đặc trưng cơ bản của pháp luật
1.2.1.1 Nguồn gốc của pháp luật
Theo học thuyết Mác - Lê nin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị xã hội, là hai người bạn đồng hành
có số phận lịch sử như nhau: cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển, cùng tiêu vong khi nhân loại đã tiến tới chủ nghĩa cộng sản Đó là khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, có sự phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp với sự tồn tại của nhà nước và các quan hệ chính trị với những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Trong xã hội nguyên thủy chưa có nhà nước và vì vậy cũng chưa có pháp luật, nhưng cũng cần phải có một trật tự nhất định để tồn tại và phát triển Sự giao lưu trong sản xuất, phân phối, trao đổi sản phẩm
và các hoạt động tinh thần đòi hỏi mọi người phải tuân theo những chuẩn mực, những quy tắc xử sự chung Quy tắc xử sự chung đó chính là các quy phạm xã hội bao gồm: tập quán, các tín điều tôn giáo, các quy phạm đạo đức Các quy phạm này mặc dù chưa phải là pháp luật nhưng nó phù hợp với lợi ích của cộng đồng được mọi thành viên trong cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện trong các hành vi ứng xử và trở thành thói quen chấp hành, trở thành
ý thức cộng đồng
Dần dần, với quá trình phát triển sản xuất, xuất hiện tư hữu và phân hóa giai cấp, nhiều quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy không
Trang 28còn phù hợp với lợi ích của giai cấp giàu có (giai cấp chiếm số lượng ít trong
xã hội so với giai cấp nghèo) Do đó, khi nắm được địa vị thống trị trong xã hội, tự tổ chức thành nhà nước, giai cấp thống trị chỉ thừa nhận những quy phạm xã hội nào phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Các quy phạm xã hội (trong đó đa phần là tập quán) được giai cấp thống trị - nhà nước, thừa nhận được gọi là tập quán pháp Đó là con đường thứ nhất, con đường sớm nhất hình thành nên pháp luật đầu tiên trong lịch sử Tập quán pháp cũng là loại pháp luật phổ biến nhất trong những nhà nước đó
Là tổng thể những quan hệ giữa con người với con người, xã hội càng không phải là một hiện tượng bất biến mà luôn luôn thay đổi, phát triển Khi nhà nước mới xuất hiện các quan hệ xã hội phát triển tăng đột biến cả về nội dung và số lượng, trong đó đáng chú ý là sự xuất hiện những quan hệ mới đặc thù cho xã hội có giai cấp Đương nhiên, chưa có quy tắc tập quán làm tiêu chuẩn cho những ứng xử trong những quan hệ này và nhiều quan hệ trong số
đó chưa có quy định của nhà nước điều chỉnh do khả năng ban hành pháp luật của nhà nước còn vô cùng hạn chế Trong trường hợp đó cơ quan hành pháp
và xét xử phải tự mình phán xét những vụ việc cụ thể phát sinh trên cơ sở lợi ích giai cấp và năng lực cá nhân Những cách phán xét đó nếu tốt, phù hợp, có thể trở thành khuôn mẫu cho chính cơ quan đó hoặc các cơ quan khác để giải quyết những vụ việc tương tự sau đó Cách phán xét – giải quyết như vậy được gọi là tiền lệ pháp Và đây là con đường thứ hai, cũng rất phổ biến, hình thành nên pháp luật đầu tiên trong lịch sử
Nhưng với kinh nghiệm được tích lũy dần trong quá trình tồn tại và phát triển, nhà nước ngày càng chú trọng xây dựng và ban hành những quy tắc xử sự mới để điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng mới phát sinh trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là những quy tắc bảo vệ, củng cố chế độ tư hữu của giai cấp giàu có (chủ nô, phong kiến) và bảo vệ địa vị thống trị, đặc quyền
Trang 29của giai cấp đó trong xã hội Cũng có những loại quy định mới điều chỉnh những quan hệ xã hội trước đây được điều chỉnh bằng tập quán mà dưới con mắt của nhà nước những tập quán đó không còn phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, cần thiết phải quy định lại cho chặt chẽ hơn Đây là con đường thứ ba hình thành nên pháp luật Loại pháp luật hình thành bằng con đường này có thể tồn tại dưới dạng bất thành văn, sau đó cùng với sự hoàn thiện của chữ viết và văn bản chúng được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật
Cùng với sự hoàn thiện của bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật ngày càng phát triển hơn, nhất là hệ thống văn bản pháp luật và pháp luật ngày càng đóng vai trò to lớn trong xã hội, là công cụ chủ yếu trong tay nhà nước
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý xã hội, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội và lợi ích của giai cấp thống trị
1.2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của pháp luật
a) Tính bắt buộc chung
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, tức là hệ thống quy phạm Mọi loại quy tắc xử sự đều là khuôn mẫu hành vi mà một phạm vi các cá nhân, tổ chức nhất định phải tuân theo Nhưng quy phạm pháp luật thì mang tính bắt buộc phải tuân theo đối với mọi đối tượng thuộc phạm vi quản lý của nhà nước, bất kể thuộc dòng họ, địa phương, bất kể giới tính, dân tộc, tôn giáo Nghĩa là pháp luật mang tính quy phạm phổ biến, tính bắt buộc chung
b) Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Những quy phạm tập quán, luân lý đạo đức, tín điều tôn giáo nhiều khi có hình thức không xác định vì đa phần không thành văn, hoặc có thành văn thì cũng không chặt chẽ, cũng giống như quy phạm của nhiều tổ chức xã hội Nhưng pháp luật thì mang tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức (cả về hình thức pháp lý và hình thức cấu trúc), vì pháp luật bao gồm những quy phạm được thể hiện thành văn bản rõ ràng, ngay cả đối với tập quán pháp thì
Trang 30chí ít cũng phải nhắc tới tên loại quy tắc tập quán đó trong văn bản của nhà nước Đặc biệt, nếu là văn bản pháp luật thì phải mang những tên gọi xác định
và chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; và điều đó được quy định trong chính các văn bản pháp luật Nghĩa là pháp luật mang tính xác định chặt chẽ về hình thức pháp lý; văn bản pháp luật được viết bằng lời văn rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, không đa nghĩa; cấu trúc chặt chẽ và đa phần cấu trúc
đó được mẫu hóa bởi chính cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, nghĩa là pháp luật mang tính xác định chặt chẽ về hình thức cấu trúc
c) Pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước
Nhà nước ban hành pháp luật thì nhà nước phải bảo đảm để pháp luật được thực hiện, và về nguyên tắc, nhà nước chỉ có trách nhiệm pháp lý (tức là trách nhiệm do chính pháp luật quy định) bảo đảm thực hiện pháp luật mà thôi, tuy rằng trên thực tế nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện nhiều loại quy phạm xã hội khác, từ những phong tục, tập quán, quy tắc tôn giáo tiến bộ cho đến quy định của các tổ chức xã hội, đặc biệt là những đường lối, chính sách của Đảng lãnh đạo Nhưng đặc trưng được bảo đảm bằng nhà nước của pháp luật mang tính đặc trưng riêng
Nhà nước bảo đảm thực hiện pháp luật bằng hai cách:
Một là, nhà nước tạo điều kiện, giúp đỡ bằng các biện pháp giáo dục, hướng dẫn, khuyến khích, tổ chức hoặc cung cấp cơ sở vật chất để các chủ thể có liên quan tự mình thực hiện pháp luật Ở khía cạnh này có thể hiểu rộng ra rằng chính nhà nước bằng trí tuệ và uy tín của mình là người bảo đảm tính khoa học, hợp lý của pháp luật, khiến cho pháp luật có khả năng thực hiện thuận lợi trong cuộc sống Nhà nước cũng bảo đảm hoặc góp phần bảo đảm thực hiện các quy phạm xã hội khác bằng cách này
Hai là, pháp luật là hình thức thể hiện tập trung nhất ý chí của nhà nước, do đó nó luôn mang tính cưỡng chế nhà nước – nếu nó không được
Trang 31thực hiện một cách tự nguyện thì nhất thiết nhà nước sẽ áp dụng cưỡng chế Dưới chủ nghĩa xã hội, mặc dù nhà nước ít sử dụng các biện pháp cưỡng chế
mà chủ yếu sử dụng các biện pháp thuyết phục, nhưng tính cưỡng chế nhà nước vẫn là nội dung cơ bản trong thuộc tính này của pháp luật Để thực hiện các quy phạm xã hội khác thì không thể áp dụng cưỡng chế nhà nước
Chính nhờ ba đặc trưng trên mà pháp luật là công cụ toàn năng và có hiệu quả nhất để quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của con người
1.2.2 Sự tương tác của lệ làng và pháp luật trong quá trình hình thành hành vi pháp luật
1.2.2.1 Những điểm tương đồng giữa lệ làng và pháp luật
Một là, cả lệ làng và pháp luật nhà nước sinh ra với mục đích nhằm duy trì bảo đảm các hoạt động xã hội ổn định, bền vững trong một trật tự
Hai là, các quy định của lệ làng và pháp luật nhà nước được bảo đảm hiệu lực thi hành nhờ các biện pháp khen thưởng và xử phạt rõ ràng đối với mọi cá nhân, tổ chức
Ba là, lệ làng và pháp luật đều là công cụ quản lý, lấy hoạt động xã hội
là cơ sở để phản ánh và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Trên lĩnh vực chính trị xã hội, lệ làng và pháp luật nhà nước có những quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làng xã; quy định về hôn nhân và gia đình và quy định
về hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và tập thể Trên lĩnh vực đời sống tinh thần như văn hóa, giáo dục, tín ngưỡng, tôn giáo lệ làng và pháp luật nhà nước đều có những quy định về cơ cấu tổ chức, nội dung và hình thức thực hiện
1.2.2.2 Sự tương tác của lệ làng và pháp luật trong quá trình hình thành hành vi pháp luật
Mối quan hệ giữa luật nước và hương ước, lệ làng trong lịch sử văn hóa
Trang 32pháp lý Việt Nam, cho thấy rằng, vượt lên các hạn chế tiêu cực, về cơ bản luật nước luôn gắn bó với lệ làng, vừa chi phối lệ làng, vừa chịu sự chi phối của lệ làng Chính sự tương tác qua lại giữa pháp luật và lệ làng đã tạo nên bản sắc văn hóa pháp lý Việt Nam, hình thành ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của nông dân Việt Nam
a) Pháp luật phải dựa vào hương ước, lệ làng mà “thẩm thấu” vào đời sống xã hội
Tính chất tự trị của các làng xã Việt Nam trong lịch sử về phương diện hình thức tưởng chừng như phong tỏa quyền lực của nhà nước trung ương và
sự hiện diện của hương ước dường như ngăn chặn khả năng điều chỉnh của pháp luật Nhưng trên thực tế, cơ cấu tổ chức bộ máy tự quản của các làng xã
được quy định trong các bản hương ước đều là công cụ “cai trị” của chính
quyền nhà nước hóa thân trong các loại cơ cấu như Hội đồng kỳ mục, bộ máy
lý dịch Tương tự như vậy, trong một ý nghĩa nào đó, hương ước trong sự phù hợp với phong tục, tập quán và lối sống của từng cộng đồng Sở dĩ như vậy
bởi vì như lời tựa hương ước làng Tây Mỗ đã viết: “Đối với làng tức là đối
với nước, vì góp làng lại thành nước, làng là gốc nước, làng có hay thì nước mới thịnh vậy ” [8] Như vậy, làng là gốc nước và luật nước ban hành chủ
yếu là cho các làng và thực hiện ở các làng Theo lý luận, pháp luật là các quy phạm có tính phổ biến và điển hình tạo ra các khuôn khổ pháp lý chung cho
sự điều chỉnh Tuy nhiên, các khuôn khổ pháp lý chừng ấy không thể áp dụng chung cho mọi đối tượng, mọi nơi trong hoàn cảnh làng xã Việt Nam tự trị và khép kín với lối sống và tập tục khác nhau Để có thể đi vào đời sống, phát huy khả năng điều chỉnh của mình, các quy phạm của luật nước phải tìm cách hóa thân vào các quy định của hương ước, lệ làng thông qua đó để đưa các mục tiêu điều chỉnh của mình đến từng cộng đồng làng xã Sự thống nhất giữa luật nước và hương ước có thể tìm thấy trong rất nhiều bản hương ước cổ Ví
Trang 33như: hương ước làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm đã viết: “
làng có luân lý, ăn ở cho phải đạo có khoán ước ràng buộc cho hợp lệ cũng như nhà nước có quy thức, luật lệ để khuyên răn, ngăn cấm lòng dân, chính là nghĩa trời đất sinh người đặt nước làm vậy ” [9] Hoặc hương ước làng Phú
Cốc (Hà Tây) cũng xác định:
Từng nghe, nước có trăm điều pháp luật để làm cho chính sự được ngay ngắn, xóm làng có từng ước lệ để mà giúp cho phong tục thêm thuần hậu Gốc của nước chính là dân này Trên thuận, dưới hòa, anh em thương kính, phong tục dần thêm tốt đẹp, tình người ngày một hợp hòa ”.[9]
Như vậy, nhà nước phong kiến đã thông qua hương ước để lồng ý thức
hệ chính trị - pháp lý của mình
Xem xét các hương ước cổ còn lại đến ngày nay ta thấy rằng: về cơ bản các quy định trong các bản hương ước đều thể hiện tinh thần ý thức hệ Nho
giáo Đó là các quy định về “Tam cương, ngũ thường”, về “Tôn ti trật tự”
trong các quan hệ có tính thứ bậc trong làng xã
b) Nhà nước kiểm soát việc xây dựng và thực thi các hương ước, lệ làng Chính yếu tố này đã tạo nên sự gắn kết giữa luật nước và lệ làng
Đạo dụ của Lê Thánh Tông (1442-1497) đã quy định:
Các làng xã không nên có hương ước riêng vì đã có pháp luật chung của nhà nước Làng nào có phong tục khác lạ thì có thể cho lập khoán ước Những người thảo ra hương ước phải là người có trình độ Nho học, có đức hạnh, có chức phận chính thức, có tuổi tác Khoán ước thảo xong phải được quan trên kiểm duyệt cho phép hoặc bãi bỏ Khi khoán ước đã cho phép áp dụng, ai không tuân theo quan trên sẽ bị trị tội [23]
Sự kiểm soát của nhà nước đố với việc soạn thảo hương ước, thi hành
Trang 34hương ước cho thấy mặc dù nước có luật nước, làng có luật làng nhưng luật làng không thể vượt ra khuôn khổ luật nước và về thực chất là hình ảnh cụ thể của luật nước trong các điều kiện đặc thù của mỗi làng
c) Hương ước, lệ làng về phần mình không chỉ là sự biểu hiện cụ thể của luật nước mà còn là sự bổ sung quan trọng cho luật nước
Luật nước dù cụ thể đến mấy cũng không thể bao quát được tất cả các đặc thù của quan hệ làng xã Đặc biệt là các làng xã cổ truyền Việt Nam bên cạnh các đặc điểm có tính phổ quát mỗi làng xã lại có các đặc điểm riêng của mình Do vậy, mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định
cụ thể gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển của mỗi làng, xã cụ thể Trong ý nghĩa ấy, hương ước là phương tiện, công cụ bổ sung quan trọng cho khả năng điều chỉnh của pháp luật Vai trò bổ sung, hỗ trợ của hương ước cho luật nước thể hiện ở các nội dung sau:
- Hương ước biến các quy định chung của pháp luật thành các quy định
cụ thể của làng
Hương ước đơn giản hóa các quy định của luật nước, không chỉ làm cho ý thức hệ pháp luật của nhà nước trở nên gần gũi mà thâm nhập vào hệ tư tưởng làng xã, vào tâm lý và lối sống của mỗi người thường dân, mà còn làm cho luật nước trở nên dễ hiểu, dễ áp dụng Với lối hành văn dung dị, có vần,
có điệu theo kiểu dân gian, hương ước đi vào đời sống người dân một cách tự nhiên Do vậy, mà tinh thần của luật nước thấm sâu vào đời sống cộng đồng
mà tí cần đến các phương tiện tuyên truyền, phổ biến ồn ào, tốn kém
- Hương ước góp phần biến cải khuôn khổ cứng nhắc, các quy tắc có tính nghiêm khắc lạnh lùng của pháp luật thành cái uyển chuyển, linh động và biến hóa trong lối hành xử của các cộng đồng Ở hương ước, lệ làng, ta nhận thấy các tinh thần khoan dung, độ lượng và uyển chuyển, hóa giải cái khô cứng, hà khắc, đôi khi là táo bạo của luật pháp
Trang 35- Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết vào các lỗ hổng của pháp luật, trong các mối quan hệ cụ thể của cuộc sống làng xã Các vấn
đề như chia ruộng đất công, lão quyền, nam quyền, phụ quyền, trưởng quyền,
an ninh làng xã, đời sống tâm linh của cộng đồng Thường là những vấn đề được quy định chung chung trong luật nước lại rất cụ thể trong các hương ước
d) Tính cưỡng chế của các hương ước dựa vào tính cưỡng chế của luật nước
Thực tế, hương ước sở dĩ có hiệu lực điều chỉnh khá cao đối với các công việc và quan hệ trong khuôn khổ các làng không chỉ ở chỗ chúng phù hợp với các đặc điểm về phong tục, lối sống và tâm lý của người dân trong xã, còn là ở chỗ tính cưỡng chế của chúng suy cho cùng luôn được bảo đảm bởi tính cưỡng chế của luật nước Điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua các quy định về xử phạt Các hình thức chế tài, xử phạt được quy định trong các hương ước về thực chất đều xuất phát từ các chế tài đã được xác định trong các hình luật của các vương triều trước đây Các hình thức phạt quy định trong các hương ước là sự cụ thể hóa về phạm vi, mức độ trong mối quan hệ với luật nước và được chính quyền nhà nước chấp nhận, bảo trợ Do vậy, có thể thấy rằng đằng sau các chế tài của hương ước là chế tài của luật nước Nhờ đó, hương ước có được sức mạnh điều chỉnh, dù rằng không phải lúc nào
nó cũng được người dân tự giác tuân theo và người ta tuân thủ các quy định của hương ước đôi khi không phải là nó có lợi cho họ mà do sự sợ hãi bị
trừng phạt từ phía bộ máy thực thi luật nước, “khi khoán ước đã cho phép áp
dụng, ai không tuân theo quan trên sẽ bị trị tội” như đã khẳng định trong đạo
dụ của Lê Thánh Tông
e) Hương ước không chỉ bị quy định bởi luật nước mà về phần mình, hương ước cũng chi phối mạnh mẽ đến luật nước
Sự tác động trở lại của hương ước đối với luật nước có thể được khái quát trên các điểm sau:
Trang 36- Hương ước phản ánh lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộng đồng làng xã buộc các chính quyền nhà nước phải tính đến trong việc ban hành và thực thi luật nước Điều này có nghĩa là bộ máy nhà nước khi xây dựng và ban hành pháp luật đều phải xử lý mối quan hệ lợi ích của nhà nước và lợi ích của các cộng đồng làng xã Trong bối cảnh các làng xã Việt Nam trước đây là
“một tiểu triều đình” thì lợi ích của các cộng đồng làng xã chi phối mạnh mẽ
lợi ích của nhà nước Do vậy, luật nước chỉ có thể phát huy hiệu lực và thẩm thấu vào đời sống khi chúng tương đồng trên những nội dung cơ bản về quan
hệ lợi ích được xác định trong các hương ước
- Các tư tưởng chính trị - pháp lý và đạo đức đề xuất và xác định trong các hương ước không hoàn toàn là sản phẩm của tư tưởng pháp lý, đạo đức nho giáo vốn là cơ sở tư tưởng của luật nước phong kiến trước đây Trong một ý nghĩa nào đấy từ mạch nguồn văn hóa của các thế hệ người Việt Nam, các tư tưởng chính trị, pháp lý và đạo đức nảy sinh từ thực tiễn đời sống làng
xã thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa dân tộc Vì lẽ đó, các tư tưởng chính trị, pháp lý ở làng xã Việt Nam trở nên một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên diện mạo của đời sống pháp luật Việt Nam, tạo nên bản sắc văn hóa pháp lý
Việt Nam Nếu quy luật “tam giáo đồng nguyên” hóa giải cuộc sống tinh thần
và tâm linh con người Việt, thì các tư tưởng pháp lý – chính trị ở làng xã Việt Nam đã góp phần làm cho các bộ quốc triều hình luật của các Vương triều Việt Nam trước đây chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp lý Nho giáo vẫn giữ được bản sắc văn hóa pháp lý Việt Nam, tiếp thu luật của các vương triều Trung hoa phong kiến nhưng vẫn là pháp luật phản ánh đúng đời sống kinh tế
- văn hóa và tâm linh của dân tộc Việt Nam
f) Pháp luật và hương ước, lệ làng không chỉ thống nhất và tác động lẫn nhau mà còn mâu thuẫn với nhau
Luật nước luôn có thiên hướng khẳng định sự quản lý có tính tập trung, thống nhất, hạn chế quyền tự chủ của làng xã Ngược lại, hương ước có xu
Trang 37hướng xác lập và củng cố quyền tự chủ, tự quản cộng đồng Do vậy, về phương diện hình thức, hương ước luôn được quan niệm là sự biểu hiện quyền tự trị của làng xã cổ truyền Việt Nam Hương ước đa số các làng đều khẳng định nước có luật nước, làng có hương ước riêng hoặc nhà nước có pháp luật quy định, còn dân có điều ước riêng Về phần mình, không phải lúc nào chính quyền nhà nước cũng hoan nghênh hương ước, mà ngược lại tìm nhiều cách để hạn chế hương ước, kiểm soát hương ước Trở lại đạo dụ
của Lê Thánh Tông ta thấy: “Các làng xã không nên có khoán ước riêng vì đã
có pháp luật chung của nhà nước ”, “khoán ước thảo xong phải được quan trên kiểm duyệt cho phép hoặc bãi bỏ” [23]
Luật nước có xu hướng xác lập sự thống nhất của không gian pháp lý trong phạm vi toàn quốc Hương ước, lệ làng tạo ra tính khép kín đối với cuộc sống của các làng xã, sự chia cắt không gian pháp lý không chỉ trong mối quan hệ giữa nước và làng mà cả trong các quan hệ giữa các làng xã trong xã hội cổ truyền Việt Nam
Mâu thuẫn giữa luật nước và hương ước, lệ làng được biểu hiện tập
trung qua câu “phép vua thua lệ làng” Thật ra, “phép vua thua lệ làng” phản
ánh tính mâu thuẫn không chỉ giữa các quy định của luật nước và các quy tắc của hương ước trên phương diện nội dung mà còn đặc biệt thể hiện trên phương diện thực thi luật nước
Dĩ nhiên, các quy định của luật nước phù hợp với lợi ích của cộng đồng làng xã, hoặc được hương ước hóa đều dễ dàng đi vào đời sống cộng đồng và
vấn đề này thì “thua” hay “thắng” không đặt ra Chỉ các quy định nào của luật
nước xâm hại đến lợi ích cục bộ của làng xã, đặc biệt xâm hại đến lợi ích của các thế lực chức sắc địa phương thường bị vô hiệu hóa và không được tuân thủ Trong những trường hợp này, bộ phận chức dịch trong làng thường lợi dụng hương ước để trốn tránh nghĩa vụ trước nhà nước, đục khoét dân làng
Trong thực tiễn đời sống pháp lý ở làng xã cổ truyền Việt Nam, quan
Trang 38niệm phép vua thua lệ làng đã tạo ra các điều kiện cho sự thể hiện các tác động tiêu cực của bản thân các hương ước Bởi lẽ, hương ước về cơ bản là một hiện tượng văn hóa độc đáo với rất nhiều các giá trị tích cực đã góp phần gìn giữ kỷ cương, trật tự xã hội, thuần phong, mỹ tục với các quy định mang tính cách địa phương đặc thù nhiều sắc thái Bên cạnh đó, hương ước chứa đựng không ít các quy tắc mang tính tiêu cực thể hiện tư tưởng cục bộ địa phương, bè phái trên cơ
sở “tâm lý làng” và bởi tư duy, hành động theo kiểu “ăn cây nào rào cây ấy”,
“ở đình nào chúc đình ấy”, “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng
ấy thờ”, ít quan tâm đến lợi ích của làng khác và lợi ích của cả nước
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với tư cách là "bộ luật" của làng, lệ làng ra đời và tồn tại do nhu cầu ổn
định và quản lý làng xã Lệ làng đã từng đóng vai trò to lớn trong việc bảo
tồn, lưu giữ các giá trị truyền thống dân tộc, góp phần làm nên "văn hóa làng
xã" - cơ sở của văn hóa dân tộc
Cùng với những thiết chế chính trị xã hội nông thôn truyền thống, lệ làng với những quy định mang tính chất pháp luật của nó thường xuyên tác động và giám sát các hành vi ứng xử của người nông dân, hình thành ở người nông dân những tập quán thói quen ý thức về nghĩa vụ đối với làng xã, bằng sự tác động trực tiếp và thường xuyên của lệ làng đến người nông dân qua hoạt động giao tiếp Do vậy, mặc dù còn hạn chế về trình độ học vấn, nhưng bằng kinh nghiệm sống của mình, người nông dân chấp nhận lệ làng một cách tự nguyện - hình
thành ý thức sống theo "lệ làng" Sẽ là phiến diện và không công bằng nếu cho
rằng, ngay nay sự biến đổi mạnh mẽ các mặt của đời sống nông thôn Việt Nam, vấn đề hương ước chỉ còn là câu chuyện lịch sử Ngược lại, bất chấp các biến đổi thăng trầm của thời gian, các giá trị tích cực của hương ước xưa vẫn còn là những mạch ngầm ẩn dưới tầng sâu của văn hóa dân tộc, hình thành thái độ, tình cảm và cách hành xử của người nông dân với pháp luật
Trang 39Chương 2
LỆ LÀNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN
2.1 LỆ LÀNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ YÊU CẦU HÌNH
THÀNH VÀ NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN
2.1.1 Đặc điểm của lệ làng hiện nay
Sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta không chủ trương xây dựng hương ước, lệ làng ở nông thôn Thời gian này, người ta quan niệm rằng, hương ước, lệ làng là biểu hiện tập trung của những tư tưởng
cổ hủ, lối sống lạc hậu, không có cơ sở để tồn tại trong môi trường xã hội mới Vào thời điểm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí vai trò của hương ước, lệ làng khi về thăm Thái Bình (năm 1958) Bác nói:
Hương ước là những khoán ước trong làng, người ta quy định với nhau không để trâu bò phá hoại lúa, gà qué ăn rau, mạ, không được trộm cắp của nhau Đó là những phong tục đẹp trong nông thôn nước ta trước đây Từ sau Cách mạng, các chú bỏ hết tất cả, thế là không đúng Cách mạng chỉ xóa đi cái dở, cái xấu, còn cái tốt, cái hay cần giữ gìn và phát huy chứ [28]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã khởi xướng đường lối đổi mới, đem lại nhiều chuyển biến quan trọng trong xã hội Trong lĩnh vực kinh
tế, Nghị quyết 10 về nông nghiệp được ban hành với chính sách khoán đến hộ gia đình đã làm thay đổi cơ chế quản lý và tổ chức sản xuất ở khu vực nông thôn Hộ gia đình trở thành đơn vị cơ sở trong sản xuất kinh tế Tiếp theo đó làng (thôn, ấp, bản) dần trở lại vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Chính sách đổi mới đã đem lại hiệu quả thiết thực không chỉ trong kinh tế
Trang 40mà cả trong đời sống văn hoá của nhân dân Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp như lễ hội, diễn xướng dân gian truyền thống được phục hồi, lệ làng truyền thống vẫn còn được bảo lưu nhưng với đặc điểm riêng biệt, phản ánh sự tiếp thu và đổi mới trên cơ sở tồn tại xã hội và cả ý thức xã hội đang trong quá trình thay đổi
Một là, "lệ làng" thời kỳ đổi mới phản ánh và thể hiện sự đổi mới của
hệ thống chính trị và luật pháp Hệ thống chính trị ở nông thôn đã có sự đổi mới một bước về tổ chức và phương thức hoạt động Các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng tự quản phát triển đa dạng hơn, như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân Quá trình dân chủ hóa trong Đảng và trong xã hội được mở rộng, dân chủ có sự khởi sắc hơn trong kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng Người nông dân tiếp xúc với pháp luật tốt hơn, và họ tham gia tích cực hơn vào các quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội, như: tham gia ý kiến vào các dự án luật của Quốc hội, bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, bầu
Bí thư, trưởng thôn Nông thôn đang vận hành trong khuôn khổ luật pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa Nhưng hiện thực đổi mới cũng cho thấy những chuẩn mực, những tập quán của làng xưa vẫn chưa mất hẳn, luật pháp cũng chưa đủ sức bao quát hết mọi lĩnh vực của cuộc sống, việc xây dựng nông thôn mới vẫn cần tới những yếu tố tích cực của lệ làng trong hoạt động quản lý Do vậy, việc xây dựng những bản hương ước mới ở các làng xã với vai trò như là khung pháp lý tự nguyện để dân làng cùng nhau xây đắp những giá trị tinh thần văn hóa để từ đó mà hành động phù hợp với pháp luật là điều cần thiết
Hai là, làng xã ngày nay không còn nguyên vẹn như xưa, lệ làng không
còn là "bộ luật" của làng nữa Ngay sau khi ra đời, một trong những nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho Nhà nước dân chủ nhân dân là "phải có một Hiến pháp