1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

122 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống chính trị của chúng ta, chính quyền cấp cơ sở hay còn gọi là chính quyền cấp xã có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ KIM DUNG

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ KIM DUNG

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đức

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CÁN BỘ , CÔNG

CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG

8

1.1 Một số vấn đề về chính quyền cấp xã và cán bộ, công chức cấp xã 8

1.1.1 Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền địa phương 8

1.1.4 Cán bộ, công chức cấp xã- đội ngũ chủ chốt thực hiện nhiệm vụ của

chính quyền cấp xã

12

1.2 Khái niệm cán bộ, công chức; cán bộ, công chức cấp xã và hệ thống

chức danh cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật hiện

hành

14

1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ, công chức cấp xã 14

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc

2.1 Hệ thống, cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang hiện nay 29

2.1.1 Số lượng chức danh cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang 29

2.1.3 Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang 35

2.1.4 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang 48

2.1.5 Chế độ làm việc, kỷ luật của cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc

2.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc

Giang trong giai đoạn hiện nay

Trang 4

CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1 Yêu cầu phải nâng cao chất lượng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức

cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

83

3.2 Phương hướng nâng cao chất lượng , kiện toàn đội ngũ cán bộ, công

3.2.1 Nhận thức đúng đắn về vai trò của chính quyền cơ sở nói chung và vai

trò của cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

86

3.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (đặc biệt là cán bộ chủ chốt) ở

cấp xã đủ số lượng, bảo đảm chất lượng đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ

mới

87

3.2.4 Có cơ chế sử dụng hợp lý đối với cán bộ, công chức đảm bảo chuyên

môn hóa chức năng, nhiệm vụ tạo tính chuyên nghiệp trong hoạt động

quản lý nhà nước ở cơ sở

89

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và kiện toàn đội ngũ cán bộ , công

chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

91

3.3.1 Tăng số lượng cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu công việc 91

3.3.2 Có chế độ lương, phụ cấp và các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với cán

bộ, công chức cấp xã đặc biệt là đối với lãnh đạo chủ chốt và các đơn

vị vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

92

3.3.3 Quy định rõ về việc bầu và bầu lại đối với cán bộ, đặc biệt là các chức

danh lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở đảm bảo cho việc yên tâm công tác và

cống hiến

94

3.3.4 Xây dựng bộ tiêu chuẩn (trên cơ sở tiêu chuẩn chung của nhà nước)

các chức danh cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với thực tiễn và nhu

cầu của tỉnh

96

3.3.5 Thực hiện luân chuyển cán bộ, công chức về làm việc tại cấp xã 100

3.3.6 Có chính sách thu hút người có trình độ đại học trở lên và người trẻ

tuổi về làm việc ở cấp xã, đồng thời hỗ trợ đối với các cán bộ, công

chức chưa đạt chuẩn; mạnh dạn giải quyết chế độ đối với cán bộ, công

chức cấp xã có năng lực, trình độ, sức khỏe không đảm bảo thực hiện

nhiệm vụ của địa phương

101

3.3.7 Xây dựng chiến lược, quy hoạch cán bộ cấp xã đảm bảo khoa học, hợp

lý, phù hợp với thực tiễn của tỉnh

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, lý do chọn đề tài

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc

và giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân Trong hệ thống chính trị của chúng ta, chính quyền cấp cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cấp xã) có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế,văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được triển khai thực hiện trong cuộc sống

Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cơ sở (hay còn gọi là đội ngũ CBCC cấp xã) có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng

đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay

Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã khẳng định:

Cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở… Cấp cơ sở là cấp trực tiếp thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước trong thực tế Pháp luật của Nhà nước có được thực

Trang 6

thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả, một phần quyết định là ở cơ sở Cấp cơ sở trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng các phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn [14]

CBCC cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực

CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất Trong phạm

vi chức năng, nhiệm vụ của mình, họ là những người trực tiếp truyền tải pháp luật đến với nhân dân thông qua giải quyết các công việc liên quan tới quyền

và lợi ích của nhân dân, đồng thời cũng là người thấu hiểu nhất những tâm tư nguyện vọng của nhân dân, những vướng mắc, bất cập của chính sách, pháp luật khi áp dụng chúng trong thực tế

Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy nhưng sẽ khó có được hiệu lực, hiệu quả cao nếu như không được triển khai thực hiện bởi một đội ngũ CBCC cấp xã có năng lực pháp luật tốt Tuy nhiên, trên thực

tế, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, năng lực pháp luật của cán

bộ, công chức cơ sở nhìn chung còn hạn chế; một số CBCC chưa đáp ứng đầy

đủ yêu cầu của nhiệm vụ, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Chính vì đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch

về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm

vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Đây

cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ Nghị

Trang 7

quyết Trung ương 5 khóa IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ CBCC cấp xã đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước Đầu tư xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầng sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu

tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ Do vậy, nâng cao năng lực cho CBCC cấp xã là một yêu cầu bức thiết nhằm góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã trong sạch, vững mạnh, đủ khả năng thực thi chức năng, nhiệm

vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để thực hiện trọng trách là "công bộc" của nhân dân

Bắc Giang là một tỉnh miền núi, mới được tái lập từ ngày 01/01/1997, với diện tích 3.882,6 km2, dân số trên 1,5 triệu người, địa hình phức tạp Mặc dù tình hình chính trị-an ninh, trật tự, xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, song nhìn chung nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là nông nghiệp, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, GDP bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ CBCC nói chung, đặc biệt đối với CBCC cấp xã nói riêng, bởi lẽ đây là đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị ở

cơ sở trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn địa phương Tuy nhiên, một thực tế khách quan đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh hiện nay chất lượng còn thấp (đặc biệt đối với các vùng núi, vùng cao) không tương xứng với vai trò, vị trí của

họ cũng như chức trách của các chức danh do nhà nước quy định Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ

sở nói riêng và của Đảng và nhà nước nói chung; tình trạng bất ổn cục bộ ở một

số địa phương, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước

Để có một đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh có chất lượng, đảm bảo "vừa hồng, vừa chuyên" hết lòng phụng sự nhân dân, giữ gìn đoàn kết ở cơ

sở, "có năng lực tổ chức và vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết

Trang 8

phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân" [21, tr 15], tăng uy tín của Đảng và nhà nước với nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân đã đặt ra nhiều vấn đề lí luận, pháp lí cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc nghiên

cứu đề tài: "Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn

hiện nay" là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lí luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

2.1 Mục đích của luận văn

Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực trạng của đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh Bắc Giang để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm kiện toàn đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên đây, luận văn có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề lí luận về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của chính quyền cơ

sở, của đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và của CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang nói riêng Trên cơ sở phân tích thực trạng về hệ thống, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh, tiến hành đánh giá chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ CBCC cấp xã và rút

ra kết luận về thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh Bắc Giang Từ đó hình thành các quan điểm, kiến nghị phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh Bắc Giang

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu đội ngũ CBCC cấp xã bao gồm các chức danh thuộc cán bộ cấp xã và công chức cấp xã; làm rõ hệ thống các chức

Trang 9

danh, chức trách, trình độ năng lực, khả năng công tác trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để kiện toàn đội ngũ CBCC cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.

Việt Nam về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,

phường, thị trấn" Luận văn có kế thừa và phát triển những giải pháp về nâng

cao chất lượng đối với cán bộ chủ chốt và công chức ở cơ sở của các công trình khoa học có liên quan

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp cụ thể khác như: hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước về kiện toàn đội ngũ CBCC cấp xã

5 Nhƣ ̃ng đóng góp mới của luâ ̣n văn

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của CBCC cấp xã, hệ thống chức danh, chức trách, cơ cấu, trình độ năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã;

- Đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 đến nay Với những kết quả bước đầu về nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm

Trang 10

kiện toàn đội ngũ CBCC cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính của tỉnh như:

+ Tăng số lượng cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu công việc; + Có chế độ lương, phụ cấp và các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với CBCC cấp xã đặc biệt là đối với lãnh đạo chủ chốt và các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn;

+ Quy định rõ về việc bầu, bầu lại, quy định thâm niên đối với cán bộ, đặc biệt là các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở đảm bảo cho việc yên tâm công tác và cống hiến;

+ Xây dựng bộ tiêu chuẩn (trên cơ sở tiêu chuẩn chung của nhà nước) các chức danh cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của tỉnh;

+ Thực hiện luân chuyển cán bộ, công chức về làm việc tại cấp xã; + Có chính sách thu hút người có trình độ đại học trở lên và người trẻ tuổi về làm việc ở cấp xã, đồng thời hỗ trợ đối với các cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn; mạnh dạn giải quyết chế độ đối với cán bộ, công chức cấp xã có năng lực, trình độ, sức khỏe không đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của địa phương;

+ Xây dựng chiến lược, quy hoạch cán bộ cấp xã đảm bảo khoa học, hợp lý, phù hợp với thực tiễn của tỉnh;

+ Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã nâng cao trình độ và kỹ năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung những vấn đề lí luận góp

phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về "Đổi mới và

nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn"

Luận văn là tài liệu để tỉnh Bắc Giang tham khảo và căn cứ vào tình hình thực tế áp dụng trong hoạch định chính sách về đổi mới công tác cán bộ

Trang 11

cơ sở Đồng thời có thể sử dụng luận văn là tài liệu trong nghiên cứu, giảng dạy các môn pháp luật, hành chính cũng như các khóa bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại Trường Chính trị tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh

Trang 12

Chương 1

NHƢ̃NG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHƢ́C CẤP XÃ

Ở TỈNH BẮC GIANG

1.1 Một số vấn đề về chính quyền cấp xã và cán bộ, công chức cấp xã

1.1.1 Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền địa phương

Hiện nay, về mặt lí luận có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về chính quyền cấp xã Nhưng nhìn chung họ đều thống nhất đồng nghĩa khái niệm chính quyền cấp xã với chính quyền cơ sở

Trên thế giới hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau của chính quyền cấp cơ sở Điều này gắn liền với thông lệ của quốc gia cũng như sự phân chia lãnh thổ quốc gia Tùy thuộc vào cách phân chia lãnh thổ thành bao nhiêu cấp

và đặt tên cho từng cấp đó mà chính quyền địa phương cơ sở các nước không giống nhau Nhiều nước chia hệ thống chính quyền địa phương thành hai cấp, thì cấp sát ngay cấp chính quyền địa phương sau cấp trung ương là chính quyền địa phương cơ sở Trong khi đó , nhiều nước chia chính quyền đi ̣a phương thành 3 cấp, thì chính quyền địa phương cấp thứ 3 mới là chính quyền địa phương cơ sở

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật

tổ chức HĐND và UBND thì chính quyền địa phương được chia thành 3 cấp:

- Chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

- Chính quyền huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Như vậy, chính quyền cơ sở được hiểu là một bộ máy quản lý nhà nước, cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở, nhưng gắn nhiều hơn với tính chất tự quản

Trang 13

Trong điều kiện chung của nhiều nước và cũng như ở Việt Nam, chính quyền cơ sở là bộ máy quản lý nhà nước nhằm đưa pháp luật vào đời sống Chính quyền cơ sở chính là bộ máy thực thi quyền hành pháp ở cấp cơ sở

1.1.2 Đặc điểm của chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống chính quyền ở nước ta Trong số các cấp chính quyền của nước ta thì chính quyền cấp xã là cấp chính quyền chiếm số lượng đông nhất Đây là chính quyền gần dân nhất, có tính tự quản, tính độc lập cao hơn so với các đơn vị hành chính cấp huyện Chính quyền cấp xã được hình thành để quản lý nhà nước trên địa bàn địa phương, trực tiếp hàng ngày hàng giờ tiếp xúc với người dân, giải quyết trực tiếp yêu cầu của người dân trong phạm vi thẩm quyền

Yếu tố quản lý của chính quyền cấp xã rất đặc biệt, nó không đơn giản như hoạt động quản lý nhà nước của các cấp hành chính khác:

Nó bị chi phối mạnh mẽ bởi các mối quan hệ cộng đồng gắn

bó chằng chịt, những thói quen, lệ làng… hay nói cách khác bên cạnh việc bị chi phối bởi các thiết chế chính thức còn bị chi phối bởi các thiết chế phi chính thức trong đó có cả những quy định và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa dạng [23, tr 25]

Điều đó đòi hỏi chính quyền cấp xã phải vừa mềm dẻo, vừa linh hoạt trong giải quyết các mối quan hệ với người dân đảm bảo các yêu cầu hợp pháp, hợp lý, hợp tình

Đội ngũ CBCC của chính quyền cấp xã đa phần được hình thành từ nguồn tại chỗ (do bầu cử ở địa phương, trưởng thành từ các phong trào của địa phương, bộ đội xuất ngũ trở về địa phương sinh sống…) Họ và gia đình,

họ hàng thường xuất thân, sinh sống ở địa phương, do đó có những mối quan

hệ cộng đồng chằng chéo ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ Nhưng cũng chính vì lẽ đó mà những người làm việc trong các cơ quan ở địa phương

Trang 14

được xem là ít quan liêu nhất, gần dân và hiểu dân, được dân biết cặn kẽ nhất Vấn đề này vừa là mặt mạnh đồng thời cũng là mặt hạn chế đối với chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền có tính chất đặc thù, nhiều công việc được giải quyết ở địa bàn xã mang tính chất tự quản Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan chính quyền cấp xã khi giải quyết các công việc ở địa bàn xã phải luôn chủ động, năng động với năng lực điều hành và trách nhiệm rất cao

1.1.3 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất của hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng trong

hệ thống chính quyền 4 cấp ở nước ta

Chính quyền cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước, các tổ chức và

cá nhân trên địa bàn, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước

Chính quyền cấp xã là cơ quan nhà nước sâu sát và nắm chắc tình hình dân cư nhất, là nơi thể hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân địa phương Mọi chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều hướng về cơ sở Chính quyền cấp xã đảm nhiệm vai trò là đối tượng thu thập và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng đó để giúp Đảng, Nhà nước có hướng đề ra các chủ trương, biện pháp tổ chức, quản lý phù hợp với thực tế đời sống nói chung và các đặc điểm đời sống của nhân dân vùng miền khác nhau nói riêng Những người làm việc trong các cơ quan này là người sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, hiểu dân,

am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương hơn cả do

đó đòi hỏi họ bên cạnh phẩm chất chính trị, lập trường quan điểm vững chắc còn phải quan tâm đến đạo đức công vụ, sự mềm dẻo linh hoạt trong giải quyết các quan hệ khi phát sinh

Trang 15

Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp thực thi, kiểm nghiệm phản ánh hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc phần lớn vào chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã đồng thời trực tiếp giải quyết nhiều nhất các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, tổ chức Các mối quan hệ hàng ngày phát sinh diễn ra từ khai sinh, khai tử, thay đổi tên họ, đăng ký kết hôn, công chứng, chứng thực, tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ… đều do chính quyền cấp xã giải quyết Do đó CBCC cấp xã trong công

việc, đòi hỏi phải thực sự vì dân, thương dân, lấy dân làm gốc, "không thể vì

cái toàn cục mà quên đi hoàn cảnh điều kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi người dân cụ thể mà làm trái pháp luật, trái đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước" 25, tr 25

Chính quyền cấp xã là biểu hiện rõ nhất, tập trung nhất tính ưu việt của chế độ Hồ Chí Minh khẳng định: "Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi" 33 Vì lẽ

đó nên đây cũng chính là nơi người dân dễ thấy nhất cách thức hoạt động quản lý của nhà nước Do đó chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Nếu chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả thì đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng và Nhà nước; đồng thời tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Ngược lại, nếu chính quyền cấp xã không giải quyết một cách thấu đáo những thắc mắc, vướng mắc của nhân dân, các cán bộ, công chức xã làm việc không tốt có thể sẽ làm bùng phát nhiều phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí có thể gây mất đoàn kết giữa các dòng họ, thôn, bản trong cộng đồng dân cư Chăm lo đến đội ngũ này chính là Đảng và Nhà nước tạo ra được cho mình cánh tay đắc lực duy trì

Trang 16

quyền lực chính trị, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý xã hội- chức năng chủ yếu của nhà nước

Mọi hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã sẽ tác động trực tiếp đến đời sống xã hội và công dân trên địa bàn lãnh thổ Do đó, về nguyên tắc, đòi hỏi phải xây dựng một chính quyền cấp xã giỏi về chuyên môn và thành thạo các hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ

1.1.4 Cán bộ, công chức cấp xã- đội ngũ chủ chốt thực hiện nhiệm

vụ của chính quyền cấp xã

Đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã Vì lẽ đó mà họ được xem

là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và "động" nhất của bộ máy chính quyền cấp xã,

là người tổ chức và điều hành hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ nói chung

và cán bộ cấp cơ sở nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã khẳng định:

Cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn Cán bộ, công chức cơ sở góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Không có đội ngũ cán

Trang 17

bộ, công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực [14]

CBCC cấp xã vừa là người trực tiếp đem các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng

và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân

CBCC cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cấp xã Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lí, tự quản mọi mặt ở địa phương

Bên cạnh đó CBCC cấp xã còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình

Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước:

Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ nói chung có vai trò quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng

và pháp luật của Nhà nước trong thực tế Pháp luật của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không, có hiệu quả hay không một phần quyết định là ở cơ sở Cấp cơ sở trực tiếp gắn với quần chúng,tạo

Trang 18

dựng các phong trào quần chúng Cán bộ xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc và chất lượng đội ngũ cán

bộ, xã, phương, thị trấn 4

Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ

Chính vì đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ

năng lực để thực hiện các nhiệm vụ dược giao luôn là mối quan tâm hàng đầu

của Đảng và Nhà nước ta Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ

1.2 Khái niệm cán bộ, công chức; cán bộ, công chức cấp xã và hệ thống chức danh cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật hiện hành

1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ, công chức cấp xã

Thuật ngữ cán bộ, công chức tiếp cận trên các giác độ khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về nó Về cơ bản thuật ngữ "cán bộ" bao hàm nghĩa chính là lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành Thuật ngữ "công chức" được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia, mang tính lịch sử, phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước Nội dung khái niệm công chức được hiểu theo những cách khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và chế độ chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Ở Việt Nam, khái niệm công chức hình thành và ngày càng hoàn thiện hơn gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam khái niệm cán bộ, công chức bao gồm: CBCC nhà nước và cán bộ cấp xã, công chức cấp xã Điều 4 Luật Cán

bộ, công chức (2008), CBCCđược định nghĩa như sau:

Trang 19

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân

mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [42]

Ngoài cán bộ, công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (còn gọi là cán bộ, công chức nhà nước) còn một bộ phận là CBCC cấp xã

Hiện nay thuật ngữ CBCC cấp cơ sở hay gọi chung là CBCC cấp xã được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, CBCC cấp xã là những người làm việc của nhà nước

ở cấp xã được nhà nước trả một khoản nhất định liên quan đến phụ cấp làm việc; chế độ lương, bảo hiểm Với nghĩa này, ở cấp xã có rất nhiều người và

Trang 20

bình quân một xã (xã, phường, thị trấn) có khoảng hơn 40người Đó là những người làm việc cho chính quyền cấp xã đến những người tham gia các hoạt động mang tính thường xuyên và không thường xuyên Phụ cấp của họ lấy từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước Bao gồm các đối tượng:

- Cán bộ cấp xã;

- Công chức cấp xã;

- Những người hoạt động không chuyên trách

Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho các

cơ quan quản lý nhà nước ở cấp xã Theo quy định của Nghị định 92/2009/NĐ-CP, đối tượng này được quy định không quá 21-25 người tùy từng loại cấp xã

+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

Trang 21

+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội nông dân Việt Nam);

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Bao gồm:

+ Trưởng Công an;

+ Chỉ huy trưởng Quân sự;

+ Văn hóa - xã hội

Như vậy theo quan niệm của Luật cán bộ, công chức thì khái niệm CBCC cấp xã được hiểu theo nghĩa hẹp Trong nội dung luận văn này, tác giả tiếp cận theo nghĩa hẹp của khái niệm CBCC cấp xã Điều cần thống nhất xuyên suốt là CBCC cấp xã cũng là người lao động làm việc cho nhà nước, có thẩm quyền, chức năng do nhà nước phân công, phân nhiệm và chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật nhà nước có liên quan đến người lao động nói chung và cán bộ, công chức nói riêng

1.3 Đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh

Trang 22

Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội), phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương

Tỉnh Bắc Giang mới được tái lập từ ngày 01/01/1997 với diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ Sông Hồng ở phía nam Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều

Về dân số: Ước điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 người, với mật độ dân số 407 người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả nước Trên địa bàn Bắc Giang có 21 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%

Bắc Giang là một tỉnh có diện tích tương đối rộng, có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 9 huyện, với 230 xã, phường và thị trấn (trong đó có 207 xã, 16 thị trấn, 07 phường) Địa hình phức tạp đồng thời là một tỉnh gần biên giới Việt Trung, song tình hình chính trị- an ninh, trật tự của tỉnh tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng tốc độ khá (đạt 9%/năm) nhưng nhìn chung nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp (70% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp), nguồn thu ngân sách hạn hẹp (chỉ đáp ứng ¼ nhu cầu chi), bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (bằng ½ bình quân chung của cả nước), người dân sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn (90%)

Toàn tỉnh hiện nay số lượng CBCC cấp xã có 4490, trong đó cán bộ là

2460 người, công chức là 2030 người

* Về số lượng CBCC cấp xã

Bắc Giang là một tỉnh có diện tích khá rộng so với các tỉnh khác của

cả nước (diện tích tự nhiên 3.823 km²) Do đó số lượng đơn vị hành chính cấp

Trang 23

xã trên địa bàn tỉnh tương đối lớn (gồm 230 xã, phường, thị trấn) Cũng chính

vì vậy nên số lượng CBCC cấp xã rất đông (tính đến năm 2010 toàn tỉnh có

4490 cán bộ, công chức cấp xã) Điều này đòi hỏi tỉnh phải có cơ chế quản lý,

sử dụng hợp lý cán bộ, công chức đảm bảo hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước ở cơ sở cũng như kế hoạch đề ra chủ trương quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng hợp lý, kịp thời, chất lượng Đồng thời với lượng CBCC cấp xã lớn, đặc biệt là số lượng người hoạt động không chuyên trách như hiện nay, đòi hỏi nguồn kinh phí chi trả tương đối lớn, trong khi nền kinh tế của tỉnh hiện nay còn nhiều khó khăn, đây cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với tỉnh

* Về dân tộc

Bắc Giang là một tỉnh miền núi, đa dạng về dân tộc sinh sống (22 dân tộc) do đó số lượng CBCC cấp xã là dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước Trong 2030 công chức cấp xã thì công chức là người dân tộc có 217 người (chiếm 11%) Trong 1316 cán bộ chủ chốt có 152 cán bộ là người dân tộc (chiếm 12%) Trong số 1144 trưởng các đoàn thể có 112 cán bộ là người dân tộc (chiếm 9,8%) Qua khảo sát, hầu hết cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số có trình độ nhận thức hạn chế, trình độ văn hóa, chuyên môn đào tạo không cơ bản… là nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến lập trường tư tưởng, khả năng tiếp thu và triển khai chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và chất lượng lãnh đạo, thực thi công vụ ở địa phương

* Về giới tính

CBCC cấp xã của tỉnh Bắc Giang có sự chênh lệch khá lớn về giới tính Mặc dù trong văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và XVII đều nhấn mạnh quan tâm đến cán bộ nữ, song số lượng cán bộ CBCC cấp xã là nữ vẫn thấp so với chỉ tiêu đề ra, cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác cán bộ ở cơ sở Trong khi tỉ lệ cán bộ, công chức nữ của cả tỉnh hiện nay chiếm 57% (theo Báo cáo của tỉnh ủy năm 2010), thì tỷ lệ CBCC cấp xã là nữ

Trang 24

rất thấp Cán bộ chủ chốt nữ ở cấp xã là 50/1316 (chiếm 3,8%), trưởng các đoàn thể là 264/1144, chiếm (23,1%), công chức cấp xã là 444/2030 (chiếm 21,9%) Nhưng so với các năm trước đây, tỷ lệ CBCC cấp xã là nữ đã được tăng đáng kể Đặc biệt, gần đây số lượng cán bộ, công chức là nữ giữ các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền ngày càng tăng, đây là dấu hiệu đáng mừng trong xu thế hội nhập, dân chủ hóa đời sống chính trị của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng

* Về độ tuổi

Đề án số 02-ĐA/TU ngày 23/5/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về

"xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ chủ

chốt xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo" đề

cập vấn đề quan tâm và phát triển cán bộ trẻ, song đến nay đội ngũ CBCC cấp

xã ở tỉnh có độ tuổi trung bình tương đối cao Tỷ lệ cán bộ chủ chốt cấp xã ở

độ tuổi 45 trở lên vẫn chiếm 64,6%, cán bộ là trưởng các đoàn thể chiếm 62,1% Đội ngũ công chức cấp xã trong 5 năm trở lại đây, thực hiện chủ trương chung của Đảng và chính sách cụ thể của địa phương đã dần được trẻ hóa, hầu hết công chức có độ tuổi từ 22 đến 45, số công chức có độ tuổi trên

45 chỉ chiếm 25% Như vậy, có thể thấy, ở tỉnh Bắc Giang, công chức cấp xã

đã dần được trẻ hóa song đội ngũ cán bộ cấp xã vẫn ở độ tuổi trung bình tương đối cao Đây cũng chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã

* Về nguồn CBCC cấp xã:

CBCC cấp xã ở tỉnh do nguồn hình thành đội ngũ chủ yếu là nguồn tại chỗ như bộ đội xuất ngũ, cán bộ nghỉ hưu, mất sức lao động, một số trưởng thành từ các phong trào của địa phương… nên trình độ chắp vá, thiếu chuyên nghiệp, chủ yếu được tuyển dụng, bầu, sau đó mới tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nên nhìn chung chất lượng chưa đáp ứng được với yêu cầu công việc trong giai đoạn hiện nay ở địa phương Số cán bộ có trình độ văn hóa tiểu

Trang 25

học, trung học cơ sở trong đội ngũ cán bộ chủ chốt là 6,4 %, trưởng các đoàn thể là 24%

độ của CBCC cấp xã đã được nâng lên theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công việc thời kỳ mới

Có thể khẳng định bên cạnh những đặc điểm chung của đội ngũ CBCC cấp xã của cả nước, đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang có nhiều nét riêng biệt, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, điều kiện khác biệt của tỉnh Bắc Giang Những đặc trưng đó vừa đặt ra cho tỉnh Bắc Giang điều kiện thuận lợi đồng thời cũng là những thách thức đòi hỏi phải có cơ chế hợp lý trong việc kiện toàn đội ngũ CBCC cấp xã của mình

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

Thứ nhất, cơ chế hình thành đội ngũ CBCC là yếu tố đầu tiên có sự

ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh hiện

Trang 26

nay Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy việc lựa chọn cán bộ, tuyển dụng công chức đúng tiêu chuẩn, khách quan thì sẽ hình thành được đội ngũ CBCC cấp

xã chất lượng, đảm bảo cơ cấu đáp ứng được yêu cầu của công việc và ngược lại Theo quy định của pháp luật hiện nay thì có hai hình thức hình thành đội ngũ CBCC cấp xã Đối với cán bộ cấp xã thì được hình thành bằng cơ chế bầu, đối với công chức chuyên môn thì hình thành bằng cơ chế tuyển dụng, các tiêu chuẩn đặt ra cho các đối tượng này là khác nhau

Cơ chế bầu đội ngũ cán bộ cấp xã:

Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND (năm 2003) thì có hai phương thức tham gia ứng cử đại biểu HĐND:

Một là, công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi trở lên có đủ điều kiện theo

quy định của pháp luật có quyền tự ứng cử đại biểu HĐND được Mặt trận tổ quốc hiệp thương đưa vào danh sách bầu cử

Hai là, công dân Việt Nam được các tổ chức ở cơ sở giới thiệu ứng cử

và cũng được Mặt trận tổ quốc hiệp thương để đưa vào danh sách để bầu cử

Theo đó công dân ở địa phương từ đủ 18 tuổi có có năng lực chủ thể

có quyền bầu cử để lựa chọn người ưu tú nhất, đại diện cho ý chí nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương HĐND trong

kỳ họp đầu tiên tiến hành bầu chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các Phó chủ tịch UBND và thành viên UBND

Như vậy qua phương thức bầu cán bộ cấp xã như trên có thể thấy việc hình thành đội ngũ cán bộ cấp xã, đặc biệt là đối với cán bộ chủ chốt ở cơ sở

bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

- Yếu tố trình độ dân trí của nhân dân trên địa bàn:

Hầu hết nhân dân trên địa bàn tỉnh nói chung hiện nay có mặt bằng dân trí còn hạn chế Đặc biệt, đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức của người dân rất thấp, họ chưa ý thức sâu sắc được ý

Trang 27

nghĩa của việc bầu đại biểu HĐND địa phương Việc đi bầu cử còn qua loa cho xong việc Do đó dẫn đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở các địa phương này còn hạn chế

- Yếu tố chất lượng của công tác lựa chọn ứng cử viên và hiệp thương

để đưa vào danh sách bầu cử những đại biểu có đủ tiêu chuẩn để bầu cử Nhìn chung công tác hiệp thương ở các địa phương được tiến hành khách quan, có trách nhiệm Song bên cạnh đó cũng có địa phương trong quá trình hiệp thương còn chưa thực sự khách quan trong việc đưa ra khỏi danh sách bầu cử những đại biểu có năng lực, uy tín, dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã

- Yếu tố lựa chọn sáng suốt của nhân dân địa phương: Khi bầu cử đòi hỏi cử tri phải khách quan, sáng suốt lựa chọn những đại biểu ưu tú để đảm bảo chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã - đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của người dân Song thực tế hiện nay việc lựa chọn đại biểu lại phụ thuộc quá nhiều vào việc đánh giá của cử tri đối với ứng cử viên và chất lượng tiếp xúc cử tri Đôi khi xuất phát từ cảm tính dây chuyền (số đông nhân dân dị ứng với cử tri có trình độ đại học tại chức, chuyên tu, từ xa, người có khả năng diễn thuyết thiếu trôi chảy…, thậm chí còn đánh giá hình thức của ứng cử viên)

- Yếu tố sáng suốt lựa chọn của đại biểu HĐND đối với các chức danh

do HĐND bầu

Ngoài ra đối với các cán bộ là trưởng các đoàn thể cũng phụ thuộc rất lớn vào sự lựa chọn của các hội viên Như vậy để có một đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, chất lượng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

Cơ chế tuyển dụng đối với công chức cấp xã:

Theo quy định Điều 63 Luật cán bộ, công chức đối với công chức cấp

xã có hai phương thức tuyển dụng: "Việc tuyển dụng công chức cấp xã phải

thông qua thi tuyển; đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,

Trang 28

vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể được tuyển dụng thông qua xét tuyển " Để có đội ngũ công

chức chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ địa phương thì phụ thuộc nhiều vào hội đồng tuyển dụng các tiêu chuẩn đối với người được tuyển dụng Các

kỳ thi tuyển phụ thuộc phần lớn vào quy trình, nội dung thi tuyển và hình thức

tổ chức kỳ thi Đặc biệt đối với các địa phương xét tuyển vấn đề này đòi hỏi càng phải nghiêm túc và khách quan đảm bảo lựa chọn được đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, đạo đức công chức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Thứ hai, văn hóa địa phương là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp có thể tích

cực hoặc tiêu cực đến việc hình thành đội ngũ CBCC cấp xã Nền văn hóa địa phương được hình thành từ giá trị tinh thần, những thói quen, cách ứng xử, quan niệm, truyền thống tốt đẹp, đặc biệt là truyền thống đoàn kết, hiếu học của các dòng họ Ở các xã nông thôn tỉnh Bắc Giang hiện nay các dòng họ có

xu hướng ngày càng phát triển Khi kinh tế ngày càng khá dần lên, các dòng

họ lớn càng muốn khẳng định uy danh của mình qua việc cạnh tranh, phấn đấu của những người giữa các dòng họ khác nhau, điều đó đã tạo cho mỗi thành viên ý chí phấn đấu, rèn luyện vươn lên trên con đường sự nghiệp, công danh, đảm trách các vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị ở địa phương Vấn đề đặt ra, nếu việc phấn đấu, cạnh tranh đó là lành mạnh chính là yếu tố tác động tích cực đến việc hình thành đội ngũ CBCC cấp xã có trình độ, năng lực, đạo đức tạo ra được nguồn nhân lực đáng quý cho địa phương Ngược lại, nếu việc cạnh tranh đó thiếu lành mạnh, dùng mọi thủ đoạn, mọi cách, mọi giá để "chiến thắng" nhau thì sẽ tạo ra một hệ thống chính quyền bè phái, tranh giành quyền lực, cục bộ, kìm hãm sự phát triển của địa phương Hiện tượng này vẫn diễn ra ở một số địa phương hiện nay, khi bầu cử, những ứng

cử viên có dòng họ lớn thường được trúng cử, hoặc nếu không trúng cử thì những người trong dòng họ gây khó khăn cho những người dòng họ khác khi nắm quyền Đặc biệt nhân dân trong xã rất khó chấp nhận những người ngoài

Trang 29

địa phương giữ các chức vụ lãnh đạo, làm việc trên địa bàn của mình Điều này tạo nên sự trì trệ, bảo thủ của chính quyền địa phương, chậm tiếp thu cái mới, cái tích cực của địa phương khác, đồng thời là nguyên nhân tích cực cho

sự lục đục, chia rẽ, mất đoàn kết hình thành Những yếu tố tiêu cực đó là nền tảng tạo nên đội ngũ CBCC cấp xã quan liêu, xa dân, hách dịch, chủ nghĩa cá nhân, dòng họ mà quên đi mất vị trí, vai trò, sứ mệnh của mình đối với cộng đồng

Thứ ba, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với CBCC cấp xã là yếu tố

ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo, quản lý và thực thi nhiệm vụ

Để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng thì đào tạo, bồi dưỡng để bù đắp những thiếu hụt kiến thức và kỹ năng là phương thức hữu hiệu nhất Có thể nói CBCC cấp xã của tỉnh hiện nay có xuất phát điểm về trình độ tương đối thấp đặc biệt đối với cán bộ Hiện nay vẫn còn tồn tại cán bộ có trình độ văn hóa tiểu học, trung học cơ sở, trong đó cán bộ chủ chốt là 86/1316 (chiếm 8%); trưởng các đoàn thể là 263/1144 (chiếm 25%)

Mặc dù tỉnh đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp

xã song số lượng CBCC cấp xã đạt chuẩn hiện nay vẫn chưa cao Về chuyên môn: cán bộ chủ chốt có trình độ sơ cấp là 76/1316 (chiếm 5,78%), trình độ trung cấp 796/1316 (chiếm 60,5%), trình độ cao đẳng, đại học là 260/1316 (chiếm 19,8%); trưởng các đoàn thể có trình độ sơ cấp là 119/1144 (chiếm 10,4%), trình độ trung cấp 525/1144 (chiếm 45,9%), trình độ cao đẳng, đại học là 143/1144 (chiếm 12,5%) Do đó việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đảm bảo khắc phục những thiếu hụt đối với CBCC cấp xã hiện nay là rất cần thiết Song việc bồi dưỡng, đào tạo cần tính đến:

- Chất lượng như giáo trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng đòi hỏi phải phù hợp với các chức danh, công việc ở cơ sở, tập trung vào kỹ năng giải quyết công việc (kỹ năng thực tế), tránh nặng về lí luận…

Trang 30

- Việc cử người đi học, đi tập huấn phải đúng với mục đích đào tạo, bồi dưỡng Hiện nay ở nhiều địa phương cử cán bộ đi học không đúng đối tượng (cử cán bộ làm công tác văn phòng đi học các lớp đào tạo kiến thức tài chính, kế toán, hoặc công chức tư pháp đi học các lớp đào tạo kiến thức quản trị kinh doanh…) ảnh hưởng đến việc sử dụng cán bộ sau này, gây tình trạng lãng phí thời gian, tiền của, nhân lực

- Chất lượng giảng viên, báo cáo viên: việc giảng dạy cho CBCC cấp

xã đòi hỏi phải sát thực, "cầm tay chỉ việc", không quá nặng về lí luận, bởi họ khó tiếp thu cũng như khó vận dụng vào thực tế quản lý Do đó việc sắp xếp,

bố trí giảng viên, báo cáo viên phù hợp với trình độ của đối tượng và yêu cầu của người học là yếu tố quan trọng trong việc có đạt được hay không mục đích đề ra

Hơn nữa, đối với CBCC cấp xã hiện nay là đối tượng có mức thu nhập thấp hơn so với cán bộ, công chức nhà nước, do đó việc quan tâm từ phía nhà nước, hỗ trợ kinh phí, thời gian đảm bảo cho CBCC cấp xã yên tâm học tập

để cống hiến đòi hỏi phải thường xuyên và hợp lý hơn nữa để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Hiện nay tồn tại hiện tượng học viên là CBCC cấp

xã học theo kiểu "đánh trống ghi tên", học chống chế để lấy bằng cấp hoàn thiện tiêu chuẩn, do nhiều nguyên nhân khác nhau, song nguyên nhân chủ yếu nhất là họ chưa được tạo điều kiện về thời gian đi học

Thứ tư, quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối

với CBCC cấp xã là yếu tố quyết định đến việc hình thành đội ngũ CBCC cấp

xã Nếu Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư đến đội ngũ CBCC cấp xã thì sẽ hình thành nên đội ngũ CBCC cấp xã có năng lực, đủ phẩm chất "vừa hồng",

"vừa chuyên" Nghị quyết trung ương và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và XVII đều nhấn mạnh vai trò, vị trí của chính quyền cơ sở, đồng thời

có chủ trương cụ thể trong việc cải cách hệ thống chính trị ở cơ sở và xác định vai trò trọng tâm là đội ngũ CBCC cơ sở Song hiện nay CBCC cấp xã trên

Trang 31

địa bàn tỉnh còn có "tâm trạng" trong việc "phân biệt, đối xử" trong quan niệm của Nhà nước về cán bộ, công chức nhà nước và CBCC cấp xã CBCC cấp xã được xếp riêng, không nằm trong hệ thống cán bộ, công chức nhà nước, có những quy định cụ thể, quản lý riêng biệt và chưa được quan tâm đúng mức, chưa tôn trọng công việc của một cấp, một cơ quan có thẩm quyền, chưa bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ công chức, tính thống nhất trong tổ chức

để đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, đặc biệt là ở cấp chính quyền gần dân nhất Do đó rất cần thiết có sự nhìn nhận đúng đắn về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực chính quyền cấp xã từ phía Đảng và Nhà nước để đảm bảo phát huy hết sự cống hiến từ phía đội ngũ này

Thứ năm, Chế độ chính sách bảo đảm cơ sở vật chất cho CBCC cấp

xã Thực tế chứng minh, chỉ khi con người được đảm bảo về nhu cầu tối thiểu thì người ta mới nghĩ tới nhu cầu cao hơn Chế độ chính sách bảo đảm cơ sở vật chất cho CBCC cấp xã bao gồm: tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền thưởng… đây là động lực thúc đẩy CBCC cấp xã tận tâm, tận lực, phấn đấu rèn luyện, nâng cao trình độ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó với tinh thần trách nhiệm cao Bởi chỉ khi CBCC cấp xã được đảm bảo về điều kiện vật chất cần thiết cho bản thân và gia đình thì họ mới tận tâm cống hiến, yên tâm công tác; phấn đấu rèn luyện, thúc đẩy học tập, nâng cao trình độ

Thứ sáu, yếu tố nhận thức của CBCC cấp xã là yếu tố chủ quan, nội

tại, quyết định đến chất lượng của đội ngũ Nhận thức đúng đắn là kim chỉ nam cho hành động, là tiền đề cho những việc làm đúng đắn, tận tâm, trách nhiệm với công việc, ý thức được nhiệm vụ của CBCC và ngược lại nhận thức lệch lạc sẽ dẫn đến những việc làm thiếu nghiêm túc, tư lợi, bè phái, sách nhiễu nhân dân…Nhìn chung, hiện nay đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt đa phần có lập trường tư tưởng vững vàng, ý

Trang 32

thức tốt trong vấn đề rèn luyện, học tập nâng cao trình độ, kỹ năng lãnh đạo quản lý, đạo đức công vụ Do đó uy tín của chính quyền địa phương ngày càng được nâng lên, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý

và chấp hành chủ trương chính sách một cách tự nguyện Song bên cạnh đó một số CBCC cấp xã còn có biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, xem thường chuẩn mực đạo đức, nhân cách, thiếu nghiêm khắc với bản thân, không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng dẫn đến quan liêu, thực dụng, tư lợi, mất cảnh giác, phai nhạt lí tưởng, gây bè phái, tha hóa đạo đức lối sống làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Một số cán bộ công chức bị kỷ luật, đưa ra xét xử như ở xã Cao Thượng huyện Tân Yên, xã Yên Sơn huyện Lục Nam…

Do đó chú trọng đến nâng cao nhận thức của CBCC cấp xã là yếu tố cần thiết trong việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã chất lượng của tỉnh

Trang 33

2.1.1 Số lượng chức danh cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là một tỉnh có diện tích khá rộng so với các tỉnh khác của

cả nước Do đó số lượng đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh tương đối lớn (gồm 230 xã, phường, thị trấn) Trung bình mỗi xã, phường, thị trấn

có từ 21 đến 25 cán bộ, công chức Trong đó mỗi xã, phường, thị trấn có từ

11 đến 13 cán bộ, từ 10 đến 13 công chức Vì vậy, số lượng CBCC cấp xã rất đông, tính đến năm 31/12/2010 toàn tỉnh có 4490 CBCC cấp xã (trong đó

2030 công chức và 2460 cán bộ) Bên cạnh đó, còn có những người hoạt động không chuyên trách số lượng tương đối lớn, trung bình mỗi xã, phường, thị trấn có từ 19 đến 22 người, hiện toàn tỉnh có 3609 người hoạt động không chuyên trách

Tuy số lượng CBCC cấp xã đông, nhưng so với khối lượng công việc thì vẫn còn tình trạng một chức danh phải kiêm nhiệm nhiều công việc, khối lượng công việc tương đối lớn như: 01 công chức Địa chính - xây dựng còn kiêm nhiệm vụ phụ trách đô thị, môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc phụ trách giao thông, xây dựng, môi trường (đối với xã); 01 công chức Văn hóa - xã hội đồng thời kiêm phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội; 01 công chức Tư pháp - hộ tịch kiêm thường trực tại bộ phận "một cửa"

và tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra về mặt pháp chế đối với văn bản của HĐND và UBND trong khi trình độ của CBCC cấp xã có hạn (hầu hết có trình độ sơ cấp, trung cấp hoặc đại học không chính quy) Phần lớn

Trang 34

việc tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, thôn bản của họ phụ thuộc sự hợp tác của những người hoạt động không chuyên trách

Qua khảo sát cho thấy, 100% công chức cho rằng đầu việc quá nhiều,

số lượng công chức không đủ để đảm bảo giải quyết công việc kịp tiến độ và chất lượng, 82% công chức có ý kiến tăng số lượng cho một số chức danh để đảm bảo công chức tập trung công việc chuyên môn theo bề sâu, tránh phát triển chuyên môn theo bề rộng, dẫn đến lúng túng, mơ hồ khi giải quyết công việc ở những lĩnh vực kiêm nhiệm

Trên cơ sở các quy định của Luật Cán bộ, công chức; Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 10 năm 2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, UBND tỉnh ban hành quy định về chức vụ, chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối

với cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách ở xã,

phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố (ban hành kèm theo Quyết định số 236/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010), theo đó số lượng CBCC cấp xã được

bố trí theo phân loại đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể:

18 chức vụ, chức danh cán bộ, công chức quy định Số biên chế còn lại được

bố trí tăng thêm như sau:

- Cấp xã loại 3 được bố trí tăng thêm:

Trang 35

+ 01 công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) phụ trách giao thông, xây dựng, đô thị và môi trường;

+ 01 công chức Văn hóa - xã hội phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội;

+ 01 công chức Tư pháp - hộ tịch phụ trách công tác chứng thực, quản

lý, đăng ký hộ tịch; thường trực tại bộ phận "một cửa" và tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Cấp xã loại 2 được bố trí tăng thêm so với cấp xã loại 3:

+ 01 Công chức Tài chính - kế toán phụ trách kế toán, thống kê;

+ 01 Phó Chủ tịch UBND (nếu bố trí thêm theo quy định của Chính phủ)

- Cấp xã loại 1 được bố trí tăng thêm so với cấp xã loại 2:

01 công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) phụ trách quản lý đất đai và thường trực tại bộ phận "một cửa"

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ của địa phương và trình độ, năng lực của cán bộ có thể bố trí việc kiêm nhiệm theo hướng: Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND; Bí thư hoặc Phó Bí thư hoặc Thường trực Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND; Phó Bí thư hoặc Thường trực Đảng ủy kiêm Phó Chủ tịch HĐND

Việc tăng cường số lượng công chức cho một số chức danh như hiện nay phần nào đã giảm tải được số lượng công việc cho công chức, thuận lợi cho họ tập trung hoạt động bề sâu của chuyên môn, đảm bảo về tiến độ và hiệu quả công việc

2.1.2 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

* Về độ tuổi

Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế

hệ cán bộ, có sự kế thừa và phát triển, có cơ cấu hợp lý giữa 3 độ tuổi; tăng

Trang 36

cường cán bộ trẻ Trong khi đó, cơ cấu độ tuổi của cán bộ chủ chốt hiện nay còn bất hợp lí: dưới 35 tuổi, chiếm 4,9%; từ 35 đến 45, chiếm 30,7%; từ 46 đến 50, chiếm 36,1%; trên 50 tuổi 28,3%

Nguồn: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang, 2010

Cơ cấu độ tuổi cán bộ chủ chốt cấp xã chưa đảm bảo yêu cầu, tỷ lệ tuổi trẻ thấp: dưới 35 tuổi có 64 người, chiếm tỷ lệ 4,9% (giảm 1,2% so với năm 2006); từ 35 đến 45 tuổi 405 người, chiếm tỷ lệ 30,7% (giảm 11,7% so với năm 2006); từ 46 đến 50 tuổi có 477 người, chiếm tỷ lệ 36,1% (tăng 1,3%

so với năm 2006), trên 50 tuổi có 374 người, chiếm tỷ lệ 28,3% (tăng 11,6%

so với năm 2006) Chức danh bí thư, phó bí thư thường trực hoặc thường trực đảng ủy có 160 người tuổi từ 45 trở xuống (giảm 5,9% so với năm 2006)

Trang 37

Chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND có 626 người tuổi từ 50 trở xuống (giảm 14,7% so với năm 2006)

Cơ cấu độ tuổi của Trưởng các đoàn thể chưa hợp lý, chưa đạt yêu cầu của tỉnh đề ra:

Tỉ lệ cán bộ tuổi trẻ tương đối thấp, dưới 35 tuổi có 200 người, chiếm

tỷ lệ 17.5%; từ 35 đến 45 tuổi 239 người, chiếm tỷ lệ 20,9%; từ 46 đến 50 tuổi có 217 người, chiếm tỷ lệ 19%, trên 50 tuổi có 488 người, chiếm tỷ lệ 42,7% Cơ cấu tuổi trẻ chủ yếu tập trung là chức danh Bí thư Đoàn thanh niên

có 165 người, chiếm 14,4%, trưởng các đoàn thể khác ở độ tuổi trẻ quá thấp Chức danh Chủ tịch Hội cựu chiến binh có độ tuổi trung bình quá cao, chủ yếu độ tuổi 46 trở lên (79,1%), không có người nào dưới 35 tuổi

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có độ tuổi tương đối hợp lý, cân đối giữa các độ tuổi, đảm bảo phát huy được mặt mạnh của cơ cấu độ tuổi Trong

5 năm trở lại đây, đội ngũ này đã dần được trẻ hóa, hầu hết công chức có độ tuổi từ 22 đến 45, số công chức có độ tuổi trên 45 chỉ chiếm 25% Tỉ lệ tuổi trẻ cao, dưới 35 tuổi có 823 người, chiếm tỷ lệ 40,5%; từ 35 đến 46 tuổi có

623 người, chiếm tỷ lệ 30,7%; từ 46 đến 50 tuổi có 305 người, chiếm tỷ lệ 15%, trên 50 tuổi có 204 người, chiếm tỷ lệ 10%

Số liệu trên cho thấy cơ cấu độ tuổi của đội ngũ CBCC xấp xã của tỉnh dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ ít, tỷ lệ từ 46 đến 50 chiếm tỷ lệ rất cao Về cơ cấu độ tuổi tuy đã đáp ứng được yêu cầu và có được trẻ hóa hơn so với những năm trước, song vẫn cần quan tâm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ, đội ngũ cán bộ kế cận, để tiếp thêm sức mạnh cho cơ sở, khắc phục tình trạng hẫng hụt cán bộ trong tương lai, tạo nên sự kế cận chuyển tiếp cán bộ ở các độ tuổi một cách hợp lý

* Về dân tộc, giới tính

- Về dân tộc

Nhìn chung, tỉ lệ CBCC cấp xã là người dân tộc thiểu số so với các năm trước có chiều hướng tăng lên Hiện nay có 11% công chức cấp xã, 12% cán bộ chủ chốt, 9,8% trưởng các đoàn thể là người dân tộc thiểu số

Trang 38

Nguồn: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang, 2010

Nhìn chung đội ngũ CBCC cấp xã của tỉnh còn có sự chênh lệch lớn về

cơ cấu giới tính Tỉ lệ CBCC cấp xã là nữ rất thấp so với mặt bằng chung CBCC của tỉnh và CBCC cấp xã của cả nước Đặc biệt, cán bộ là nữ chiếm tỉ lệ rất thấp Cán bộ chủ chốt có 1.320 người trong đó nam 1.270, chiếm 96,2%; nữ

có 50 người, chiếm 3,8% Đặc biệt, số lượng nữ nắm chức danh Bí thư đảng ủy

Trang 39

quá thấp (3/230 người) Trưởng các đoàn thể có 1144 người, trong đó nam có

880 người, chiếm 76,9%; nữ có 264 người, chiếm 23,1% Như vậy, cán bộ nam chiếm tỷ lệ rất cao, thậm chí có một số xã, phường, thị trấn có 100% cán bộ chủ chốt là nam giới

Tỉ lệ công chức cấp xã là cũng tương đối thấp 444/2030 người, chiếm 21,9%

Từ thực tế trên, đã phản ánh năng lực, trình độ cán bộ nữ còn thấp, chưa đảm bảo bình đẳng về giới hiện nay Điều đó, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, các ngành cần phải có chính sách chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng, đề bạt đội ngũ cán bộ nữ ở cơ sở

2.1.3 Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang

Hiện tại, việc quy định chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ CBCC cấp

xã tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ như sau:

* Đối với Bí thư:

- Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết và chỉ thị của cấp trên

và chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cấp mình; nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết có hiệu quả công việc đột xuất; nắm chắc và sát tình hình đảng bộ, tổ chức đảng trực thuộc và của nhân dân trên địa bàn; chịu trách nhiệm chủ yếu về các mặt công tác của đảng bộ

- Chủ trì cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và chỉ đạo việc chuẩn bị xây dựng nghị quyết của đảng bộ, của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi các nghị quyết đó

- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động và giữ vai trò trung tâm đoàn kết giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn

Trang 40

- Lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, của đảng bộ, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Đảng ủy

* Đối với Phó Bí thư, Thường trực Đảng ủy:

- Giúp Bí thư đảng bộ chuẩn bị nội dung các cuộc họp và dự thảo nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về các mặt công tác của Đảng bộ

- Tổ chức việc thông tin tình hình và chủ trương của Ban chấp hành, Ban thường vụ cho các Ủy viên Ban chấp hành và tổ chức đảng trực thuộc

- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ

* Đối với Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội LHPN, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội CCB:

- Là cán bộ chuyên trách đứng đầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

- Chuẩn bị nội dung, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của tổ chức mình

- Cùng tập thể Ban Thường trực (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc), Ban Thường trực (4 tổ chức đoàn thể) xây dựng chương trình kế hoạch công tác, hướng dẫn hoạt động đối với Ban Công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố

- Phối hợp với chính quyền, các đoàn thể cùng cấp vận động, hướng dẫn cán bộ, đoàn viên, hội viên tổ chức mình, các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, hiệp thương bầu cử xây dựng chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ tại xã, phường, thị trấn và các phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình, nghị quyết của tổ chức chính trị - xã hội cấp trên tương ứng đề ra

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang (2010), Báo cáo kết quả 04 năm thực hiện Đề án số 02-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 04 năm thực hiện Đề án số 02-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang
Năm: 2010
2. Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang (2006), Một số nội dung, giải pháp đổi mới và nâng cao năng lực đánh giá cán bộ các cấp trong tỉnh, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung, giải pháp đổi mới và nâng cao năng lực đánh giá cán bộ các cấp trong tỉnh
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Giang
Năm: 2006
3. Bộ Nội vụ (2004), Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
4. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2004
5. Bộ Nội vụ (2004), Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
7. Chính phủ (2003), Nghị định 114/2003/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 114/2003/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
8. Chính phủ (2004), Nghị định số 107/2004/NĐ-CP về quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 107/2004/NĐ-CP về quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
9. Chính phủ (2009), Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
10. Nguyễn Đăng Dung (2004), "Bầu cử một hình thức thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân", Dân chủ và pháp luật, (3), tr. 12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bầu cử một hình thức thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2004
11. Nguyễn Đăng Dung (2010), "Bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân- những điều cần phải bàn luận", Dân chủ và pháp luật, (1), tr.4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân- những điều cần phải bàn luận
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2010
12. Phạm Kim Dung (2005), Tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở
Tác giả: Phạm Kim Dung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
13. Vũ Đức Đán (2005), "Vấn đề đa ̀o ta ̣o , bồi dưỡng đô ̣i ngũ cán bô ̣ chính quyền cơ sở", Quản lý nhà nước, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đào ta ̣o , bồi dưỡng đô ̣i ngũ cán bô ̣ chính quyền cơ sở
Tác giả: Vũ Đức Đán
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 25/01 về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 25/01 về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11 của Bộ Chính trị về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11 của Bộ Chính trị về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Qui định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị, ban hành kèm theo Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04/7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp độ tuổi CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1. Tổng hợp độ tuổi CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 36)
Bảng 2.2. Cơ cấu giới tính, thành phần dân tộc CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.2. Cơ cấu giới tính, thành phần dân tộc CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 38)
Bảng 2.3. Trình độ của CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.3. Trình độ của CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 55)
Bảng 2.4. Trình độ của cán bộ cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.4. Trình độ của cán bộ cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 58)
Bảng 2.5. Trình độ của công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.5. Trình độ của công chức cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 62)
Bảng 2.6. Độ tuổi của đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.6. Độ tuổi của đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh Bắc Giang (Trang 69)
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát năng lực lãnh đạo, điều hành - Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát năng lực lãnh đạo, điều hành (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w