Một số kinh nghiệm nước ngoài về tổ chức chính quyền đô thị 30 Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Thành
HÀ NỘI - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG TRONG
ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
10
1.2 Tổ chức, hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường 16
1.3 Yêu cầu cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân
1.4 Một số kinh nghiệm nước ngoài về tổ chức chính quyền đô thị 30
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY
BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG
TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
35
2.1 Hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước về thực hiện thí
điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường
35
Trang 42.2 Những kết quả đạt được về tổ chức, hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức
Hội đồng nhân dân
40
2.2.1 Về tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường 40 2.2.2 Về hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường 44 2.2.3 Đánh giá về hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường
trong thời gian thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân
51
2.3 Khó khăn, vướng mắc và những vấn đề đặt ra 52
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CẢI CÁCH TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG
TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
57
3.1 Mục tiêu, quan điểm cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy
ban nhân dân cấp quận, phường
57
3.2 Giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp quận, phường
62
3.2.1 Về tổ chức Ủy ban nhân dân cấp quận, phường 62 3.2.2 Về hoạt động Ủy ban nhân dân cấp quận, phường 70
3.3.1 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa
phương trong đó có cấp quận, phường
75
3.3.2 Tăng cường mối quan hệ giữa Ủy ban nhân dân quận, phường
với các cơ quan cơ quan hành chính cấp trên và các cơ quan khác
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Số liệu về kết quả bổ nhiệm các thành viên Ủy ban nhân
dân quận, phường nơi thực hiện thí điểm không tổ chức
Hội đồng nhân dân
43
2.2 Thống kê số lượng các văn bản quản lý, điều hành của
Ủy ban nhân dân quận, phường nơi thực hiện thí điểm
44
2.3 Tổng hợp thu - chi ngân sách năm 2009 trên địa bàn
quận, phường của 10 tỉnh, thành phố thực hiện thí điểm
46
2.4 Thống kê các cuộc giám sát của thường trực Hội đồng
nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với
hoạt động của Ủy ban nhân dân quận
48
2.5 Thống kê số lượng các cuộc kiểm tra định kỳ, đột xuất
của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp đối với hoạt động
của Ủy ban nhân dân quận, phường thí điểm
49
2.6 Thống kê giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp đối với
hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường thí điểm
50
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách hành chính nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết là cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị và nông thôn Quá trình cải cách hành chính ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực, song trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc về thể chế, tổ chức bộ máy, con người và hiệu quả quản lý Việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
bộ máy hành chính nhà nước ở cả trung ương và địa phương, phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn đang là đòi hỏi bức thiết hiện nay
Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của các địa phương trong những năm tiếp theo đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương, đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra yêu cầu:
Điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra hoạt động của
bộ máy chính quyền cơ sở [14, tr 159]
Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo[14, tr 170]
Trang 7Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn II (2006 - 2010) đã xác định:
Đến năm 2008, xác định xong và thực hiện các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phươ-ng; tổ chức hợp lý và ổn định các đơn vị hành chính, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn [19, tr 5]
Hiện nay, Quốc hội giao cho Chính phủ thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường với mục đích qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi Hiến pháp, pháp luật
về tổ chức chính quyền địa phương, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương
Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, vị trí của chính quyền địa phương (cụ thể là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) được quy định như sau:
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa
vụ của địa phương đối với cả nước
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm
Trang 8bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
Trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân, đơn vị hành chính huyện, quận, phường chỉ còn Ủy ban nhân dân, với tư cách
là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Việc nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường là yêu cầu bức thiết, góp phần kiến nghị đổi mới đồng bộ bộ máy chính quyền địa phương khi việc thí điểm đạt kết quả và triển khai trên diện rộng
Mặt khác, để có căn cứ sửa đổi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân, việc nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường khi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân
là việc làm cần thiết
Do vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề: "Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân" làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung
và Ủy ban nhân dân nói riêng là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước như hiện nay Tuy vậy, cho đến nay những công trình nghiên cứu về vấn
đề này đã được tiến hành nhưng vẫn có hạn chế về số lượng và tầm vóc của công trình Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về chính quyền địa phương có liên quan đến luận văn:
Các đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.04: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, như:
Trang 9Đề tài KX.04.02 "Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời
kỳ công nghiệp, hiện đại hóa" do GS.TS Đào Trí úc chủ nhiệm; Đề tài KX.04.08 "Cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân" do PGS.TS Lê Minh Thông chủ nhiệm
Một số đề tài khoa học khác tiếp cận vấn đề xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương dưới góc độ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước hoặc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta như: "Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta hiện nay" do TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ nhiệm; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" của Viện Khoa học Tổ chức nhà nước -
Bộ Nội vụ; Đề tài khoa học: mã số 93-98-397: "Đổi mới thể chế và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương" do PGS.TS Lê Sỹ Thiệp làm chủ
nhiệm đã luận chứng sự cần thiết phải đổi mới thể chế và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương, đánh giá thực trạng hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới thể chế và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương
Về sách chuyên khảo, có các công trình đáng chú ý như: "Một số vấn
đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam" chủ biên TS.Lê Minh Thông, Nxb Khoa học xã
hội, 2001, là công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, trong đó có tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Về chính quyền địa phương, một số tác giả đã
đề cập đến mô hình tổ chức của chính quyền địa phương hiện nay, yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, tiếp tục hoàn thiện cơ chế "một cửa, một dấu"
Trang 10Sách chuyên khảo: "Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (lịch
sử và hiện tại)" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Đồng Nai, 1997 Tác
giả đã đi sâu phân tích về chính quyền nhà nước ở địa phương, khái niệm, vị trí vai trò của nó Cuốn sách cũng đề cập về tổ chức xã, phường, thị trấn trước cách mạng tháng 8/1945 và hiện tại, về lịch sử và vai trò của tổ chức chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ngoài ra, tác giả đi sâu thêm về
tổ chức chính quyền huyện, quận thành phố thuộc tỉnh, thị xã
Sách chuyên khảo: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay" đồng chủ biên: PGS.TS.Lê Minh Thông,
PGS.TS Nguyễn Như Phát, Nxb Chính trị quốc gia, 2002 Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương, kinh nghiệm lịch sử trong xây dựng và phát triển chính quyền địa phương ở nước
ta từ 1945 đến nay, tập thể tác giả đã đi sâu phân tích về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương tỉnh, về tổ chức chính quyền cơ sở ở nông thôn, đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thị và đưa ra ý kiến về việc tổ chức, quản lý tốt chính quyền đô thị
Sách chuyên khảo: "Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay" của PGS.TS Bùi Xuân Đức, Nxb Tư pháp, 2004 Trên cơ sở
xác định quan điểm, nguyên tắc cải cách bộ máy nhà nước, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới căn bản của bộ máy nhà nước qua các bản Hiến pháp từ đó tác giả đã đưa ra những phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó
có đổi mới tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương ở nước ta
Sách chuyên khảo: "Đổi mới nội dung hoạt động các cấp chính quyền địa phương trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế" của tập thể
tác giả: Nguyễn Ký, TS.Nguyễn Hữu Đức; ThS Đinh Xuân Hà, Nxb Chính trị quốc gia, 2006 đã trình bày khái quát tóm tắt quá trình hình thành chính quyền địa phương, những điều chỉnh lớn về địa giới hành chính ở nước ta qua từng thời kỳ lịch sử, phân tích những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội
Trang 11nhập kinh tế quốc tế đối với chính quyền địa phương và đề ra phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của tình hình mới
Sách chuyên khảo: "Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả GS.TSKH Đào Trí Úc, Nxb Tư
pháp, 2006 đã đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay, đưa ra nguyên tắc xác định mô hình tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương đồng thời đề xuất mô hình đổi mới tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng đề cập đến vấn đề tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương như:"Đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện - từ thực tiễn tỉnh Thái Bình", luận văn Thạc sĩ
quản lý hành chính công của Nguyễn Hồng Diên, Học viện Hành chính Quốc
gia, 2005; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện theo hướng phân cấp - Từ thực tiễn thành phố Hải phòng", luận văn Thạc sĩ của
Nguyễn Văn Khanh, Học viện Hành chính Quốc gia, 2007
Ngoài ra, một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính, Đại học Quốc gia, Đại học Luật… cũng đã đề cập đến vấn đề xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương dưới các góc độ khác nhau
Một số công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu như: Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu lập pháp, Nhà nước và pháp luật, Quản lý nhà nước, Tổ chức nhà nước của các nhà khoa học, các nhà quản lý về quá trình hình thành và phát triển, vấn đề đổi mới chính quyền địa phương, những vấn đề bức xúc trong thực tiễn và lý luận tổ chức chính quyền địa phương, đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được nhiều tác giả quan tâm như:
Trang 12"Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, 1999, của TS Lê Minh Thông
"Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương", Tạp chí Thông
tin khoa học pháp lý, 2001 của GS.TS Nguyễn Đăng Dung
"Đánh giá thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 170, 3/2010 của TS Nguyễn Minh Phương
"Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân", Tạp chí Quản lý nhà
nước, số 177, 10/2010 của ThS Dương Thị Lan Chi
Nhìn chung các đề tài, công trình nghiên cứu, bài viết trên đã phân tích khá toàn diện cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và bước đầu đề xuất các quan điểm, phương hướng giải pháp xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta Các quan điểm, nhận định, đánh giá, kiến nghị của các công trình nghiên cứu trên đã được tác giả tham khảo, chọn lựa có chọn lọc Song hiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu mô hình tổ chức, hoạt động riêng cho quận, phường nhất là trong điều kiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường như hiện nay Do đó học viên lựa chọn
đề tài:"Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân" với mục tiêu
nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất quan điểm, giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13cách hành chính nhà nước, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương
- Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
1 Phân tích một số vấn đề về lý luận tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân
2 Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường
3 Đề xuất quan điểm và các giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
+ Ủy ban nhân dân cấp quận của các thành phố trực thuộc Trung ương;
+ Ủy ban nhân dân phường của thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận để tiến hành nghiên cứu trong luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy chính quyền địa phương nói riêng
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được luận văn sử dụng là: Hệ thống hóa; thống kê; so sánh; phân tích, tổng hợp; lấy ý kiến chuyên gia Phương pháp khảo sát và điều tra được sử dụng chừng mực cần thiết
Trang 146 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau: Trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường luận văn đã phân tích một số vấn đề lý luận về tổ chức chính quyền địa phương, luận giải yêu cầu đổi mới
tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường; đánh giá thực trạng
về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong thời gian thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân và đưa ra các giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp
quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân
Chương 3: Quan điểm, giải pháp cải cách tổ chức và hoạt động của
Ủy ban nhân dân cấp quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG TRONG ĐIỀU KIỆN
KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Chính quyền địa phương
Chính quyền là khái niệm chỉ hình thức tổ chức bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia từ trung ương đến cấp cơ sở, sử dụng quyền lực nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để cai trị, quản lý và phát triển đất nước
Ở nước ta, khái niệm chính quyền địa phương được hiểu ở theo nghĩa
rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương: "Bao gồm hoạt
động của tất cả các cơ quan nhà nước có phạm vi hoạt động trong vùng lãnh thổ địa phương của các cơ quan quyền lực nhà nước, hành chính, tư pháp, kiểm sát" [8, tr 13]
Theo nghĩa hẹp, chính quyền địa phương chỉ cơ quan quyền lực nhà
nước (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ủy ban nhân dân hoặc Ủy ban hành chính) ứng với mỗi cấp hành chính - lãnh thổ được tổ chức và hoạt động theo các quy định của pháp luật Chính quyền địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo sự phân cấp của chính quyền nhà nước trung ương và tổ chức thực hiện các công việc của địa phương trong khuôn khổ pháp luật chung Chính quyền địa phương quản lý công việc của địa phương với sự tham gia của nhân dân địa phương, đáp ứng nhu cầu hợp pháp của cộng đồng địa phương, phục vụ mục đích phát triển của mỗi địa phương, góp phần vào sự phát triển chung của quốc gia
Trước Cách mạng Tháng tám 1945, chính quyền địa phương được tổ chức theo các đơn vị hành chính như: kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), tỉnh,
Trang 16huyện, tổng, xã và làng Mỗi kỳ có một số tỉnh, mỗi tỉnh có một số huyện, mỗi huyện có một số tổng, mỗi tổng có một số xã và mỗi xã có một số làng,
Hiến pháp năm 1959, Điều 87 quy định: "Ủy ban hành chính các cấp
là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phương, là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương" [19, tr 53]
Hiến pháp năm 1980, xác định chính quyền địa phương được tổ chức theo ba cấp: tỉnh, huyện, xã; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương, thay tên gọi Ủy ban hành chính bằng Ủy ban nhân dân nhưng vẫn là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, chính quyền địa phương bao gồm: chính quyền cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), chính quyền cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) Mỗi đơn vị hành chính lãnh thổ đều
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và là
cơ quan đại biểu cho nhân dân ở địa phương, do nhân dân bầu ra, chịu trách
Trang 17nhiệm trước nhân dân và trước cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân
có hai chức năng: 1) Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; 2) Giám sát hoạt động của cơ quan hành chính cùng cấp
Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Ủy ban nhân dân có các chức năng: 1) Quản lý hành chính nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn, theo chính sách, pháp luật của Nhà nước; 2) Đảm bảo cung ứng các dịch
vụ công, đáp ứng nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người dân địa phương Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Ủy ban nhân dân có bộ máy các cơ quan chuyên môn: Ở cấp tỉnh là các sở, ban, ngành; ở cấp huyện là các phòng, ban; còn ở cấp xã là các chức danh chuyên môn
Như vậy, chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay được hiểu là
một bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống chính quyền nhà nước, là bộ máy thực thi quyền lực nhà nước ở ba cấp tỉnh, huyện, xã Ở mỗi đơn vị hành
chính - lãnh thổ đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
1.1.2 Chính quyền đô thị
Mặc dù đô thị là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu nhưng hiện nay khái niệm đô thị vẫn chưa thực sự thống nhất Sự không thống nhất này không chỉ thể hiện giữa các quốc gia với nhau (với các cách gọi khác nhau về đô thị như Stadt, Cité, City, Town…) mà thậm chí khái niệm, các chỉ tiêu xác định đô thị cũng không đồng nhất ở ngay trong một nước Việt Nam cũng vậy, hiện nay chúng ta có nhiều từ để chỉ đô thị như thành phố, thị trấn, thị xã, thành thị… và các khái niệm, các chỉ tiêu xác định đô thị cũng không đồng nhất ở những thời điểm khác nhau Theo Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương
Trang 18Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn; lãnh thổ của đô thị gồm nội thành hay nội thị và ngoại ô hay ngoại thành (thị)
Mỗi đơn vị hành chính đô thị đều gắn liền với một bộ phận lãnh thổ nhất định, được xác định bởi một ranh giới lãnh thổ nhất định, do đó còn có khái niệm "đơn vị hành chính - lãnh thổ" Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, trong nội bộ đô thị còn chia ra thành các đơn vị hành chính như quận, phường
ở nội thị và huyện, xã, thị trấn ở nông thôn Việc phân chia này chỉ có ý nghĩa thuần túy về quản lý hành chính mà không dựa theo đặc điểm tự nhiên về địa
lý, lãnh thổ của mỗi khu vực
Về khái niệm chính quyền đô thị, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa, và chính quyền đô thị ở Việt Nam bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành Thuật ngữ "chính quyền đô thị" là khái niệm phát sinh từ khái niệm "hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương" Nếu hiểu chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, với ngân sách riêng, được tổ
chức ở các đơn vị hành chính lãnh thổ ở cả ba cấp: tỉnh, huyện và xã thì chính
quyền đô thị là chính quyền địa phương (chính quyền thành phố thuộc trung ương), hoặc là một bộ phận của chính quyền địa phương (chính quyền thành phố thuộc tỉnh; thị xã; thị trấn) thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa bàn đô thị
Như vậy, cần phân biệt khái niệm đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) với khái niệm đơn vị hành chính đô thị (thành phố, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thị trấn, phường Và theo đó,phân biệt chính quyền đô thị (thành phố, thị
xã, thị trấn) và chính quyền đơn vị hành chính thuộc đô thị (phường, quận)
Các loại hình đơn vị hành chính đô thị bao gồm:
- Thành phố: thường là các trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi khu vực lãnh thổ, là nơi có mật độ dân cư đông đúc, sống tập trung và chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp
Trang 19Thành phố là nơi có trình độ phát triển kinh tế, xã hội và kết cấu hạ tầng kỹ thuật cao hơn các loại hình khác Căn cứ vào quy mô và tính chất đặc thù của
đô thị, thành phố được chia thành hai loại, đó là: thành phố trực thuộc TW và thành phố thuộc tỉnh
+ Thành phố trực thuộc Trung ương: là các trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa của cả nước hoặc của từng vùng, từng khu vực lãnh thổ của đất nước, có quy mô lớn, dân số đông, kinh tế văn hóa phát triển cao hơn các khu vực khác, hoặc là các thành phố có đặc thù riêng như thủ đô, hoặc có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng của đất nước
+ Thành phố thuộc tỉnh, thị xã: là những đô thị tỉnh lỵ hoặc là những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một địa phương Trong đó, thị xã thường là đô thị có quy mô nhỏ hơn, chậm phát triển hơn so với thành phố
- Thị trấn: Đơn vị hành chính thị trấn có vị trí ngang với xã, đều trực thuộc huyện và có vai trò, vị trí là đơn vị hành chính cấp cơ sở Thị trấn là đô thị có quy mô nhỏ, thường là trung tâm chính trị, văn hóa của một huyện; hoặc các địa điểm tập trung dân cư, có sự phát triển cao hơn trong địa phương
về tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ
- Quận: là loại hình đơn vị hành chính nội bộ của đô thị, được tổ chức
ở khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương
- Phường: cũng giống như quận, phường cũng là loại hình đơn vị hành chính trong nội bộ đô thị, trực thuộc quận, thành phố thuộc tỉnh hoặc thị xã
Việc phân chia đô thị thành các đơn vị hành chính quận và phường là nhằm thực hiện các công việc quản lý hành chính nhà nước ở đô thị một cách
có hiệu quả Tuy nhiên, đô thị chỉ nên được quản lý bởi một cấp chính quyền hoàn chỉnh; việc bộ máy chính quyền đô thị chia thành nhiều cấp chính quyền hoàn chỉnh và đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và tình trạng mệnh lệnh quản lý từ chính quyền thành phố, thị xã xuống tới quận, phường
bị cắt khúc, triển khai chậm do trong nhiều trường hợp phải được Hội đồng
Trang 20nhân dân cấp dưới ra nghị quyết để thực hiện, đó là chưa kể các trường hợp không thống nhất giữa Hội đồng nhân dân với mệnh lệnh của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên đã làm chia tách tính thống nhất đó
Do tất cả các cấp đều thực hiện chế độ "trực thuộc hai chiều" nên tính tập trung thống nhất trong quản lý đô thị không cao Mọi mệnh lệnh chỉ huy của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên đối với cơ quan hành chính cấp dưới thường bị khuếch tán qua nhiều cơ chế dẫn đến trách nhiệm không dứt khoát, không rõ rệt của cấp dưới đối với cấp trên và đồng thời là sự kiểm soát không chặt chẽ của cấp trên đối với cấp dưới
Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đều được tổ chức ở các đơn vị hành chính lãnh thổ của cả ba cấp: tỉnh, huyện, xã và mô hình tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị cũng được tổ chức tương tự
Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bộ máy chính quyền đô thị ở các thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và các thị
xã, thành phố thuộc tỉnh của 7 tỉnh đã được tổ chức lại Các đơn vị hành chính thuộc nội thị gồm: quận, phường và đơn vị hành chính ngoại thị là huyện chỉ
có Ủy ban nhân dân
- Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền đô thị:
Thứ nhất, quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ bao gồm:
+ Xây dựng và quản lý chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất đai, tài nguyên, lao động… của địa phương
+ Tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước trên địa bàn
+ Kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách của công dân, tổ chức trên địa bàn;
Trang 21Thứ hai, chức năng tự quản của chính quyền đô thị
Là việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phục vụ nhu cầu của cộng đồng dân cư ở đô thị, bao gồm:
+ Hướng dẫn và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, xây dựng cuộc sống mới của nhân dân;
+ Tổ chức thực hiện và mở rộng xã hội hóa dịch vụ công để cung ứng các phúc lợi công cộng như phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, công trình phúc lợi công cộng: y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, bảo vệ trật tự trị an, vệ sinh, môi trường… trên địa bàn đô thị
1.2 Tổ chức, hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường
Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003,
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn Ủy ban
nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
1.2.1 Ủy ban nhân dân quận
Hiến pháp 1959 quy định đơn vị hành chính của thành phố bao gồm các khu phố Có thể xem khu phố là tiền thân của quận
Đến Hiến pháp 1980 có quy định thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã Bộ máy lãnh đạo - quản lý quận gồm có:
Trang 22Quận ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng lãnh đạo - quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi lãnh thổ, quyết định và thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng quận toàn diện, bảo đảm phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống nhân dân
Hiện nay, quận được tổ chức tại thành phố trực thuộc Trung ương, là đơn vị hành chính nội bộ của đô thị Quận là bộ phận cấu thành nên thành phố trực thuộc Trung ương và quận được chia thành các phường
- Về cơ cấu tổ chức: Ủy ban nhân dân quận được tổ chức theo Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4 tháng 2 năm 2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh Theo đó, cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân quận, huyện gồm:
+ Chủ tịch
+ Các phó chủ tịch phụ trách các lĩnh vực: Văn hóa xã hội; Kinh tế, đất đai; Xây dựng, giải phóng mặt bằng
+ Các phòng ban chuyên môn thuộc quận là cơ quan tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự phát triển của ngành hoặc lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế
và công tác của Ủy ban nhân dân quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, báo cáo công tác trước Ủy ban nhân dân quận và cơ quan chuyên môn cấp trên Hiện nay, cơ cấu tổ chức các phòng ban chuyên môn thuộc quận gồm: 1 Văn phòng Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân; 2 Phòng Nội vụ; 3 Phòng Tư pháp; 4 Phòng Tài chính;
5 Phòng Tài nguyên môi trường; 6 Phòng Lao động thương binh và xã hội;
7 Phòng Văn hóa - thể thao; 8 Phòng Giáo dục đào tạo; 9 Phòng Y tế; 10 Thanh tra quận; 11 Thanh tra xây dựng quận; 12 Phòng Quản lý đô thị; 13 Phòng
Trang 23Kinh tế - Kế hoạch; 13.Trung tâm phát triển quỹ đất và quản lý duy tu hạ tầng
đô thị
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân quận được quy định
giống như Ủy ban nhân dân huyện, tại các điều từ 97 -107, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 trên 11 lĩnh vực sau: 1 Kinh tế;
2 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và đất đai; 3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; 4 Xây dựng, giao thông vận tải; 5 Thương mại, dịch vụ và
du lịch; 6 Giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; 7 Khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; 8 Quốc phòng, an ninh và trật tự,
an toàn xã hội; 9 Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; 10 Thi hành pháp luật; 11 Xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính
Ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn như đối với Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân quận, còn có thêm những nhiệm vụ, quyền hạn riêng được quy định ở điều 109, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
- Phương thức làm việc của Ủy ban nhân dân thông qua các kỳ họp,
mỗi tháng họp ít nhất một lần và các quyết định của Ủy ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành Theo Điều 124, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Ủy ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:
1 Chương trình làm việc của Ủy ban nhân dân; 2 Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định; 3 Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định; 4 Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định; 5 Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế - xã hội; thông qua báo cáo của Ủy ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân; 6 Đề án
Trang 24thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương
1.2.2 Ủy ban nhân dân phường
Theo Hiến pháp 1980, thị xã chia thành phường và xã, quận chia thành phường Tổ chức bộ máy ở phường gồm có: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước ở địa phương
Hiện nay cũng giống như quận, phường cũng là loại hình đơn vị hành chính trong nội bộ của đô thị, được tổ chức ở thành phố, thị xã và trong các quận Phường tương đương xã, thị trấn
- Về cơ cấu, tổ chức: Ủy ban nhân dân phường được tổ chức theo Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ quy định về số lượng Phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Ủy ban nhân dân các cấp; Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã do Chính phủ ban hành Theo
đó, Ủy ban nhân dân phường gồm có Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các phó Chủ tịch, và các công chức phụ trách các lĩnh vực khác nhau gồm: Địa chính - xây dựng; Hộ tịch - Tư pháp; Văn phòng - Thống kê; Kế toán - Tài chính, Văn hóa - xã hội; Quân sự; Công an
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường được quy định
giống như Ủy ban nhân dân xã, thị trấn tại các điều từ 111-118, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 trên 7 lĩnh vực sau: 1 Kinh tế; 2 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và tiểu thủ công nghiệp;
3 Xây dùng, giao thông vận tải; 4 Giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa và thể dục thể thao; 5 Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; 6 Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; 7 Thi hành pháp luật
Trang 25Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cấp phường được quy định thêm những nhiệm vụ và quyền hạn riêng của tại Điều 119
- Phương thức làm việc, cũng như Ủy ban nhân dân quận, Ủy ban
nhân dân phường thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương thông qua các kỳ họp Ủy ban nhân dân phường họp mỗi tháng ít nhất
1 lần và thảo luận, quyết định theo đa số các vấn đề sau: 1 Quy chế làm việc, chương trình hoạt động hàng năm và thông qua báo cáo của Ủy ban nhân dân trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp trên 2 Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm và quỹ dự trữ của ngân sách cấp mình, đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm, huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp trên 3 Các chủ trương, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương và thực hiện các vấn đề khác theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp
- Khi thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân, mô hình tổ chức bộ máy ở chính quyền phường đã có sự thay đổi Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân không còn tồn tại song song, tổ chức ở phường chỉ còn Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân được xem là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Ủy ban nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân phường chỉ là cánh tay nối dài của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Hay nói các khác, Ủy ban nhân dân phường là cơ quan chấp hành, thừa lệnh, không có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội ở địa bàn
Tóm lại, về vị trí, quận, phường là những đơn vị hành chính nằm trong
nội bộ của đô thị Trước thời điểm thực hiện thí điểm quận, phường là đơn vị
có tổ chức bộ máy chính quyền đầy đủ gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức
Trang 26Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 Sau thời điểm thực hiện thí điểm, quận, phường là đơn vị hành chính được tổ chức theo mô hình chỉ có
Ủy ban nhân dân, là cơ quan hành chính thực hiện chức năng thừa hành, thừa lệnh từ Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân cấp trên
1.3 Yêu cầu cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân
1.3.1 Thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường
Nhằm cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về hoàn thiện bộ máy nhà nước, trong đó có chính quyền địa phương, Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
X đã nêu rõ yêu cầu: "Thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường" Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân nằm trong
bối cảnh, yêu cầu cải cách hành chính phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Trong thực tế hoạt động, từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, Hội đồng nhân dân đã phát huy tốt vai trò của mình, có đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bên cạnh những kết quả đạt được đáng ghi nhận trong quá trình hoạt động của Hội đồng nhân dân còn có một số hạn chế nhất định, mà nguyên nhân chủ yếu là
do mô hình tổ chức của chính quyền địa phương chưa hợp lý Cả ba cấp của chính quyền địa phương đều có tổ chức Hội đồng nhân dân, nhưng nhiệm vụ, thẩm quyền được quy định gần như giống nhau, không phân định rõ ràng, dẫn đến trùng lắp, chồng chéo trong tổ chức thực hiện, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hạn chế
Tuy nhiên, khi tiến hành giải quyết những bất cập đó của Hội đồng nhân dân lại vướng mắc bởi các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và các văn bản khác Với tinh thần chủ
Trang 27động cải cách mô hình tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 1/8/2007 đã đề ra chủ trương thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Qua việc thí điểm sẽ có tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp Ngày 16/1/2009, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số: 724/2009/UBTVQH12 về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Theo đó, có 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, gồm: Tỉnh Lào Cai (8 huyện, 12 phường), Vĩnh Phúc (7 huyện, 13 phường); Thành phố Hải Phòng (7 huyện, 7 quận, 70 phường); Nam Định (9 huyện, 20 phường); Quảng Trị (7 huyện, 13 phường); thành phố Đà Nẵng (1 huyện, 6 quận và 45 phường); Phú Yên (7 huyện, 12 phường); Thành phố Hồ Chí Minh (5 huyện, 19 quận, 259 phường); Bà Rịa - Vũng Tàu (5 huyện, 24 phường) và Kiên Giang (11 huyện, 15 phường)
Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường được thực hiện bởi những lý do sau:
- Không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận:
Thứ nhất, việc không tồn tại Hội đồng nhân dân huyện, quận không
phải là việc làm mới mẻ, lịch sử tổ chức nhà nước ở Việt Nam đã có thời gian không có Hội đồng nhân dân ở huyện, quận Cấp huyện được hình thành trong điều kiện nhất định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và ý chí chính trị của Đảng cầm quyền Theo từng thời kỳ lịch sử mà cấp này được tổ chức khác nhau, có khi có đầy đủ cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (có thời kỳ gọi là Ủy ban hành chính), và có khi chỉ có Ủy ban hành chính Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước mà
có thể nhìn nhận vai trò của Hội đồng nhân dân cấp huyện một cách khác
Trang 28nhau Để quản lý các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn quận, huyện, cần có một đội ngũ cán bộ, công chức, chính quyền đảng, đoàn thể làm trong
cơ quan tổ chức của bộ máy cấp huyện Điều này dẫn đến cần khoản chi phí rất lớn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, đồng thời duy trì tổ chức
và hoạt động của bộ máy này
Thứ hai, việc tồn tại Hội đồng nhân dân huyện, quận và bộ máy hành
chính cấp huyện đồng nghĩa với đặt một chính quyền cấp trung gian trong bộ máy chính quyền địa phương, làm cho bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, gây khó khăn cho sự quản lý điều hành công việc của cơ quan nhà nước Thực tế hiện nay là những vấn đề quan trọng chi phối
sự phát triển của tỉnh do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định, còn những vấn
đề cụ thể, xuất phát từ chính người dân do Hội đồng nhân dân xã quyết định Chính quyền huyện chủ yếu thực hiện các quyết định của cấp trên và chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của chính quyền cấp xã Việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân và quyết định những chủ trương biện pháp phát triển kinh
tế - xã hội về cơ bản thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh và xã là chủ yếu Trong điều kiện cải cách nền hành chính, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, việc tồn tại một cấp hành chính trung gian hoạt động kém hiệu quả, với nhiều thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp sẽ trở thành rào cản cho sự phát triển kinh tế của địa phương, ảnh hưởng đến đời sống của người dân
Do vậy, việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận giảm bớt cồng kềnh, tăng hiệu lực hiệu quả hoạt động trong tổ chức bộ máy chính quyền địa phương là việc làm phù hợp và có cơ sở
- Không tổ chức Hội đồng nhân dân phường, tổ chức Hội đồng nhân dân xã: Phường và xã xét về cấp hành chính là hai đơn vị có địa vị pháp lý
tương đương nhau, đều là cấp hành chính nhỏ nhất, gần dân, sát dân nhất Song xét về nhiều mặt như kinh tế, văn hóa, xã hội, hai cấp hành chính này có
sự khác nhau Phường là đơn vị hành chính thuộc địa bàn đô thị, xã là cấp
Trang 29hành chính thuộc địa bàn nông thôn Tổ chức quản lý phường thực chất là cánh tay nối dài của chính quyền thành phố, là cơ quan hành chính trong một chính quyền đô thị chứ không phải là chính quyền cơ sở của cộng đồng dân
cư có mối quan hệ chặt chẽ như ở xã Thực tế là đối với việc phát triển kinh
tế, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng của đô thị phải được cấp thành phố trực thuộc trung ương quyết định, phường chỉ là đơn vị tổ chức thực hiện, không được quyết định những vấn đề này Trong khi đó, sự phát triển của một xã là
do chính quyền xã quyết định và quyết định này có liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của xã Như vậy, hoạt động quyết nghị của phường trong thực tế là mang tính hình thức, không hiệu quả, việc bỏ Hội đồng nhân dân phường là việc làm đúng đắn và có cơ sở Còn xã là tổ chức cơ sở, cần giữ nguyên bởi đây là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở
Như vậy, việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường
là chủ trương nhằm tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương, khắc phục được vấn đề chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, phân định rõ chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn nhằm đảm bảo tính thông suốt
và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước
1.3.2 Yêu cầu cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường
là khách quan, phù hợp với xu hướng đổi mới, cải cách bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay
Chính quyền địa phương (bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) là bộ phận cấu thành hữu cơ của chính quyền nhà nước, có vị trí, vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và đã có đóng góp to lớn trong thành quả xây dựng đất nước, về chức năng, nhiệm vụ
cơ bản ổn định Song điều dễ nhận thấy là trong nhiều năm qua, hiệu lực, hiệu
Trang 30quả hoạt động của chính quyền địa phương chưa thực sự phát huy hết mức
Về thiết chế hiện hành quá rườm rà, nặng nề về nội dung quản lý nhà nước, Hội đồng nhân dân chưa thực sự làm "tròn vai" là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chưa phải là công cụ để người dân thể hiện quyền làm chủ của mình và chưa là chỗ dựa tin cậy của người dân Bên cạnh đó, khối lượng và tính đa dạng trong công việc của Ủy ban nhân dân là khá lớn, tuy nhiên tính tự chủ không cao, phụ thuộc khá nhiều vào sự điều hành, chỉ đạo từ cấp trên, điều này dẫn đến việc khó xây dựng một nền hành chính mang tính chất chuyên nghiệp
Từ yêu cầu về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Đảng và nhà nước ta thấy không thể không cải cách, đổi mới hợp lý chính quyền địa phương Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách này Việc cải tổ lại bộ máy, sắp xếp lại công việc cho hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương là việc làm cần thiết Do vậy, Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng X tháng 4/2006 đã khẳng định nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp, tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo, điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ Phân biệt rõ sự khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp Cải cách
về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường góp phần phân biệt rõ sự khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị Thực tiễn cho thấy nhu cầu quản lý và điều hành các mặt của đời sống đô thị rất khác so với nhu cầu quản lý và điều hành cuộc sống tại nông thôn Sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại các đô thị cũng khác ở nông thôn Điểm mấu chốt của sự khác nhau chủ yếu là do đặc điểm, đặc thù, tính chất
Trang 31và yêu cầu quản lý các lĩnh vực, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn đô thị và nông thôn khác nhau, từ đó dẫn đến chức năng, nhiệm vụ khác nhau Trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường thì việc cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân là cần thiết, nhằm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình mới và phù hợp với đặc điểm, đặc thù, tính chất của địa bàn đô thị
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường là yêu cầu khách quan, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt trong quản lý, điều hành chính quyền đô thị
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, các cơ quan hành chính đô thị ở cả ba cấp đều đang hoạt động theo chế độ Ủy ban nhân dân, bao gồm chủ tịch, một số phó chủ tịch và một số ủy viên ủy ban Đây là cơ chế điều hành tập thể, những vấn đề quan trọng đều do tập thể
Ủy ban nhân dân quyết định theo đa số trong các phiên họp định kỳ (mỗi tháng một lần) Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu hành chính (chủ tịch Ủy ban nhân dân) rất hạn hẹp, mang nhiều tính hình thức, ít thực quyền Bên cạnh đó còn nhiều yếu tố bất cập khác như năng lực quản lý điều hành, tổ chức thực hiện của Ủy ban nhân dân còn yếu kém, việc duy trì kỷ cương, luật pháp không nghiêm, quản lý các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội lỏng lẻo, các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công còn nhiều lúng túng, bị động, chất lượng thấp, chi phí cao, thời gian chậm
Khi không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, phường, cũng đồng nghĩa với việc quận, phường trở thành đơn vị hành chính nội bộ của đô thị Trước thời điểm thực hiện thí điểm, Ủy ban nhân dân ở địa phương nói chung
và ở quận, phường nói riêng đã bộc lộ nhiều hạn chế trong tổ chức, điều hành, hoạt động Đến nay, khi thực hiện thí điểm có nhiều vấn đề đặt ra cho cơ quan hành chính này:
Trang 32Thứ nhất, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý, điều hành từ chế độ tập thể
(chế độ ủy ban) sang chế độ thủ trưởng hành chính là vấn đề quan trọng, cần xem xét và có cơ chế chính sách cho phù hợp
Thứ hai, khi tiến hành thực hiện thí điểm, cần xác định đúng địa vị
pháp lý của Ủy ban nhân dân quận, phường là một cấp chính quyền ở cơ sở, đại diện cho quyền và lợi ích của người dân, hay chỉ là cơ quan hành chính, thực hiện các nhiệm vụ được giao, mang tính thực thi trong nội bộ đô thị
Thứ ba, pháp luật nào điều chỉnh về cơ cấu tổ chức và hoạt động của
cơ quan hành chính này cho phù hợp với đặc điểm đặc thù của đô thị
Việc cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường là yêu cầu bức thiết, nhằm xác định vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm
vụ của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện thực hiện thí điểm, đồng thời giải quyết được những vướng mắc, hạn chế trong quá trình tổ chức, hoạt động của Ủy ban nhân dân ở địa phương nói chung và Ủy ban nhân dân quận, phường nói riêng
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân phải đảm bảo thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân tại quận, phường
Một trong những yêu cầu đối với cải cách hành chính là phát huy dân chủ đời sống trong xã hội, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và
sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển của đất nước Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân
ở địa phương Do vậy, khi không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, phường cần tính đến cơ chế đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Khi không
có Hội đồng nhân dân quận, phường quyền đại diện của người dân vẫn được bảo đảm Người dân vẫn có 2 -3 đại biểu là người đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân như: Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, và gần nhất là thông qua cơ quan là Ủy ban nhân
Trang 33dân, người dân có thể phản ánh đầy đủ, kịp thời nguyện vọng của mình Cả nước hiện nay có 493 đại biểu Quốc hội, 306.262 đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (cấp tỉnh có 3.852 đại biểu, cấp huyện có 23.450 đại biểu, cấp xã có 278.960 đại biểu) Tổng số cả nước có 306.755 người đại biểu đại diện cho nhân dân [24, tr 34] Cứ sau 1 nhiệm kỳ 5 năm, một người dân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đi bầu cử cho 4 người đại diện cho mình đó là bầu
cử Đại biểu Quốc hội, bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, thực tế hiện nay có nhiều cơ quan, đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của người dân, song vẫn còn tồn tại nhiều đơn thư khiếu nại, kiến nghị và đòi hỏi của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời Có nhiều cơ quan, người đại diện cho dân dẫn đến nhiệm vụ, quyền hạn chồng chéo, không rõ ràng Tình trạng một việc có nhiều cơ quan giải quyết, nhiều đại biểu giám sát nhưng hiệu quả lại rất thấp Điều quan trọng cần giải quyết ở đây là chúng ta cần một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, thực sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng và giải quyết được những bức xúc, mong mỏi của người dân chứ không cần có nhiều người đại diện cho ý chí, nguyện vọng đó Một cơ quan, tổ chức thực sự là người đại diện cho nhân dân
sẽ tốt hơn rất nhiều lần khi có nhiều người đại diện nhưng không mang lại hiệu quả Việc không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, phường là nhằm tinh giản bộ phận, tổ chức trong bộ máy của chính quyền địa phương, nhưng không được làm mất đi quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời với việc tinh giản tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường sẽ là củng cố bộ máy của Ủy ban nhân dân, là tổ chức lại cho hợp lý và hoạt động có hiệu quả Như vậy, cùng với việc tinh giản bộ máy ở quận, phường là Hội đồng nhân dân, việc đổi mới tổ chức và hoạt động Ủy ban nhân dân rất cần thiết và phải đảm bảo quyền và lợi ích của người dân luôn được tôn trọng, thực hiện
Mặt khác, Hội đồng nhân dân còn có nhiệm vụ quan trọng là quyết định các biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền
Trang 34và lợi ích hợp pháp của công dân… trên địa bàn Trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân, vai trò của Ủy ban nhân dân trong việc tổ chức đời sống nhân dân và tổ chức các biện pháp đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa
vụ của nhân dân trên địa bàn là quan trọng Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cho Ủy ban nhân dân có quyền hạn, nhiệm vụ mới này Do vậy cần cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân nói chung và Ủy ban nhân dân quận, phường nói riêng cho phù hợp với tình hình mới theo hướng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người dân tại địa phương
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường nhằm đảm bảo đời sống nhân dân tại địa bàn và phát triển kinh tế - xã hội
Vai trò của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo luật hiện hành là phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở địa phương Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị về lãnh đạo thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường có yêu cầu việc đảm bảo giữ
vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Khi có
thay đổi trong tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ít nhiều sẽ có ảnh hưởng tới việc điều hành phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân Khi không tổ chức Hội đồng nhân dân tại quận, phường, Ủy ban nhân dân quận, phường là cơ quan gánh vác trách nhiệm đó
Việc phát triển kinh tế - xã hội là động lực thúc đẩy cải cách hành chính và ngược lại tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, trong đó có Ủy ban nhân dân quận, phường là yếu tố quan trọng đạt mục đích ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, việc cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường, điều chỉnh về mô hình tổ chức, hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới là cần thiết
Trang 35- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường phải đảm bảo tính liên tục và hiệu quả trong hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa phương
Việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường sẽ gây ra sự xáo trộn nhất định về tổ chức, nhân sự ở địa phương nơi tiến hành thí điểm Vận hành của bộ máy chính quyền địa phương ở nơi thực hiện thí điểm có sự khác biệt so với các địa phương khác và trật tự hoạt động trong một thời gian dài của bộ máy của chính quyền địa phương có sự thay đổi Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra cho việc thí điểm là cần duy trì hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền địa phương, đồng thời yêu cầu đảm bảo tiến độ công việc thường kỳ cũng như đột xuất hằng năm Do vậy, để đạt được mục đích trên, tại quận, phường cần điều chỉnh chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan như: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… trong đó có Ủy ban nhân dân quận, phường nhằm đảm bảo tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực hiệu quả hoạt động của
bộ máy hành chính
Khi không còn Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận, phường phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số nhiều vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, về tài chính ngân sách, đầu tư, xây dựng nên thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cần được tăng lên
Mặt khác, khi không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, phường, Ủy ban nhân dân phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình Do vậy, việc cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong giai đoạn này là quan trọng và cần thiết, nhằm duy trì hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa phương
1.4 Một số kinh nghiệm nước ngoài về tổ chức chính quyền đô thị
Mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào hình thức tổ chức nhà nước, truyền thống văn hóa, đặc điểm dân cư Tuy
Trang 36nhiên, có thể nêu ra một số điểm chung về tổ chức chính quyền đô thị của nhiều quốc gia trên thế giới
Nhiệm vụ chính của chính quyền đô thị là: Cung cấp các loại hình dịch
vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, ban hành các quy định
có lợi cho người dân đô thị về sức khỏe, phúc lợi xã hội và trật tự an ninh
- Địa vị pháp lý và nguồn kinh phí cho hoạt động của tổ chức, quản lý chính quyền đô thị: Tổ chức chính quyền đô thị được quy định rõ trong Hiến
pháp một số nước ở Châu Á, Châu Phi, Đông Âu, Mỹ la tinh, ngược lại, các quốc gia như Mỹ, Anh vấn đề này không được đề cập trong Hiến pháp mà được quy định bởi các văn bản luật của chính quyền địa phương Ví dụ ở Anh, thẩm quyền cho chính quyền thành phố là: "Các thành phố tự quản có thể làm bất kỳ việc gì có lợi cho công dân địa phương mình và không thuộc thẩm quyền của chính quyền trung ương" [24, tr 54] Về nguồn kinh phí cho hoạt động của chính quyền đô thị cũng có sự khác biệt đáng kể: ở một số nước châu Á, thường do Trung ương cấp và các nguồn thu trực tiếp của chính quyền đô thị trên địa bàn đô thị đó Tuy nhiên ở nhiều nước phương tây, nguồn kinh phí này được quy định trong luật tự quản địa phương và chính quyền đô thị được đồng nhất với chính quyền tự quản địa phương
- Mô hình tổ chức chính quyền đô thị: Mô hình Thị trưởng - Hội đồng
được áp dụng khá nhiều ở các quốc gia khác nhau Với mô hình này, tùy thuộc vào sự phân quyền, cách thức tổ chức nhà nước mà mỗi đô thị có mô hình Thị trưởng mạnh hay Hội đồng mạnh
+ Thị trưởng: Ở một số nước, thị trưởng được bầu trực tiếp song ở
nhiều quốc gia thì thị trưởng lại được bổ nhiệm từ trung ương Ví dụ, ở Trung
và Đông Âu, Mỹ, Nhật Bản thị trưởng thành phố là do người dân bầu trực tiếp Quyền điều hành thành phố được tập trung vào thị trưởng và thị trưởng chỉ đạo hoạt động dưới sự giám sát của hội đồng Hội đồng và thị trưởng hoạt động dưới cơ chế giám sát lẫn nhau, song hội đồng không có quyền miễn nhiệm Thị trưởng
Trang 37Một số nước ở Châu Á và Châu Phi, thị trưởng không phải do nhân dân bầu mà do chính quyền hành pháp trung ương bổ nhiệm Theo đó, quyền lực của thị trưởng phụ thuộc vào mức độ độc lập mà chính quyền trung ương cho phép
+ Hội đồng: Hội đồng thường là cơ quan có quyền quyết định những
vấn đề về chính sách, tài chính, quyết định những dự luật có liên quan đến thành phố Hội đồng ở nhiều đô thị là do nhân dân bầu Ví dụ ở Hàn Quốc, Hội đồng thành phố do dân bầu, có nhiệm kỳ hoạt động 4 năm Chủ tịch là người đứng đầu Hội đồng, đại diện cho hội đồng thực hiện chức năng giám sát hành chính và tiếp nhận, giải quyết các đơn thư kiến nghị của người dân Giúp việc cho Chủ tịch có các phó chủ tịch, thay mặt chủ tịch giải quyết công việc khi được ủy quyền hoặc khi chủ tịch vắng mặt
Ngoài Thị trưởng và Hội đồng, tùy thuộc mỗi đô thị khác nhau của các quốc gia mà có thêm các ủy ban giúp việc cho Hội đồng hoặc các cơ quan
hỗ trợ, hội đồng tư vấn Các cơ quan này thường được Thị trưởng hoặc Hội đồng trực tiếp thành lập, có nhiệm vụ giúp Thị trưởng, Hội đồng hoàn thành tốt nhiệm vụ được pháp luật quy định Thông thường nhiệm vụ chính của các
cơ quan này là phụ trách các vấn đề mang tính chất chuyên môn như: môi trường, giao thông, vận tải, ngân hàng hoặc Hội đồng tư vấn có nhiệm vụ tư vấn những vấn đề có tính chất chiến lược, chính sách phát triển bền vững, lâu dài của đô thị
Mối quan hệ giữa Thị trưởng và Hội đồng: Thông thường thị trưởng
và hội đồng là hai cơ quan độc lập và bình đẳng do mỗi cơ quan đảm nhiệm một loại công việc khác nhau Tuy nhiên, cả hai cơ quan này đều thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân
Như vậy có thể thấy, có nhiều mô hình tổ chức chính quyền địa phương trên thế giới, nhưng việc thiết lập cơ quan hội đồng của chính quyền địa phương phụ thuộc vào các nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 38- Các chính quyền địa phương không kể trong nhà nước đơn nhất hay nhà nước liên bang, nếu là chính quyền phân quyền, tự quản thì có hội đồng
để giải quyết các công việc của mình Còn nếu là cấp hành chính thì không có hội đồng
- Tổ chức chính quyền đô thị trên thế giới nói chung đều theo mô hình một cấp chính quyền Tùy theo quy mô, tính chất đô thị mà có các cấp hành chính đại diện khác nhau nhưng đó không phải là các cấp chính quyền đầy đủ
Kết luận chương 1
Trong chương 1 của luận văn gồm có các nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, luận văn đã đưa ra một số khái niệm cơ bản có liên quan
đến nội dung cần giải quyết của đề tài gồm: khái niệm chính quyền địa phương; đô thị; chính quyền đô thị
Theo đó, chính quyền địa phương được hiểu là một bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống chính quyền nhà nước, là bộ máy thực thi quyền lực nhà nước ở ba cấp tỉnh, huyện, xã Ở mỗi đơn vị hành chính - lãnh thổ đều tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Chính quyền đô thị là chính quyền địa phương (chính quyền thành phố thuộc trung ương), hoặc là một bộ phận của chính quyền địa phương (chính quyền thành phố thuộc tỉnh; thị xã; thị trấn) thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa bàn đô thị
Thứ hai, luận văn khái quát về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp quận, phường theo quy định của pháp luật hiện hành Luận văn đã khái quát về thay đổi tổ chức sau thời điểm thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Theo đó, ở quận, phường không tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính thực hiện chức năng thừa hành, thừa lệnh từ Hội đồng nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân cấp trên
Trang 39Thứ ba, luận văn đã đi sâu phân tích việc thực hiện thí điểm không tổ
chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, lý giải nguyên nhân của việc không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường nhưng vẫn tồn tại Hội đồng nhân dân xã Đồng thời, đưa ra các yêu cầu về cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân, bao gồm các yêu cầu sau:
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường là khách quan, phù hợp với xu hướng đổi mới, cải cách bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường
là yêu cầu khách quan, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt trong quản lý, điều hành chính quyền đô thị
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp quận, phường khi không tổ chức Hội đồng nhân dân phải đảm bảo thực hiện các quyền của nhân dân tại quận, phường
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường nhằm đảm bảo đời sống nhân dân tại địa bàn và phát triển kinh tế - xã hội
- Cải cách tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận, phường trong điều kiện không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường phải đảm bảo tính liên tục và hiệu quả trong hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa phương
Thứ tư, trên cơ sở tham khảo các tài liệu trong nước và nước ngoài về
chính quyền địa phương, luận văn đã nêu một số kinh nghiệm nước ngoài về
tổ chức chính quyền đô thị Nhìn chung, tổ chức chính quyền đô thị ở mỗi quốc gia có sự khác biệt, do khác nhau về lịch sử phát triển, văn hóa, kinh tế -
xã hội, tổ chức nhà nước Song chính quyền nhà nước ở địa phương ở mỗi quốc gia, nếu là chính quyền phân quyền, tự quản thì có Hội đồng Đối với chính quyền đô thị có thể có các cấp hành chính đại diện, song không phải là cấp chính quyền đầy đủ
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, PHƯỜNG TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỔ CHỨC
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
2.1 Hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước về thực hiện thí điểm
không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường
Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường là việc làm cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về hoàn thiện bộ máy nhà nước, trong đó có tổ chức hợp lý chính quyền địa phương Theo đó, Nghị quyết số 17/NQ/TW ngày 1/8/2007, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa X) đã nêu rõ yêu cầu phải tiến hành "Thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường" Ngày 15/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Đến ngày 23/02/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch triển khai Nghị quyết nói trên Có nhiều văn bản thể hiện chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường Cụ thể là:
- Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị số 187-TB/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 24/9/2008 về Đề án thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Theo thông báo này, việc thực hiện thí điểm sẽ thực hiện với số lượng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các quận, phường ở các địa phương theo tỉ lệ mà Đề án đã nêu
- Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 12/3/2009 của Bộ Chính trị về lãnh đạo thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường