Việc đổi mới kinh tế, dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội đang đặt ra yêu cầu bức thiết phải từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước cũng như điều chỉnh ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI - NĂM 2003
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng tôi đã tự hoàn thành bản luận văn này, không có sự trợ giúp của người khác và chỉ sử dụng những tài liệu được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo Tất cả các đoạn trích dẫn đều được ghi chú đầy đủ Tôi cũng biết rằng nếu tôi vi phạm những điều đã cam đoan thì có thể sẽ không được thi tốt nghiệp
Đồng thời, tôi muốn nói lời cảm ơn của tôi đốivới Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Dung, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Huế, ngày 01 tháng 5 năm 2003 Người cam đoan
ĐẶNG SỸ
Trang 31.1 Tầm quan trọng của chnh quyền địa phương trong tổ chức
vă hoạt động của bộ mây Nhă nước
1.2 Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND câc cấp vă vị tr, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến phâp
1992 vă Luật tổ chức HĐND vă UBND năm 1994
1.2.1 Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND câc cấp
1.2.2 Vị tr, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến phâp 1992 vă Luật tổ chức HĐND vă UBND năm 1994
Chương 2: THỰC TRẠNG, VAI TR, TỔ CHỨC VĂ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND TỈNH THỪA THIÍN HUẾ
2.1 Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế vă vai tr của n trong quản lý Nhă nước tại địa phương trong thời kỳ hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiín, kinh tế, xê hội, dđn cư của tỉnh Thừa Thiín Huế
2.1.2 Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế
2.2 Vai tr của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế trong quản lý nhă
nước tại đại phương trong thời kỳ hiện nay
26
26
26
28
33
Trang 42.3 Thực trạng tổ chức của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế
2.4 Thực trạng hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế
2.5 Thực trạng đội ngũ cân bộ,cng chức của tỉnh Thừa Thiín Huế
Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ VĂ GIẢI PHÂP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VĂ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND TỈNH THỪA THIÍN HUẾ
3.1 Yíu cầu đổi mới tổ chức vă hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế
3.2 Kiện toăn câc cơ quan chuyín mn của UBND tỉnh
3.3 Đổi mới phương thức hoạt động, chế độ lăm việc của UBND
tỉnh để nđng cao hiệu lực quản lý, cải câch thủ tục hănh chnh
3.4 Xđy dựng đội ngũ cân bộ cng chức trong sạch, c năng lực, chế độ thu ht nhđn tăi vă sử dụng nhđn tăi
3.5 Tăng cường sự lênh đạo của Đảng, sự gam sât của HĐND vă phât huy vai tr của quần chng trong việc xđy dựng chnh quyền vững mạnh
3.6 Một số kiến nghị đối với Trung ương
Trang 5BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BHXH : Bảo hiểm xã hội CHXHCN : Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
HĐND : Hội đồng Nhân dân
KH : Kế hoạch PTNT : Phát triển nông thôn TBXH : Thương binh xã hội
TS : Tiến sỹ UBHC : Ủy ban hành chính UBMTTQ : Uy ban Mặt trận Tổ quốc UBND : Uy ban Nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
UBND tỉnh là một bộ phận quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh
Qua mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử, nhiệm vụ của cấp tỉnh đều có sự điều chỉnh và thay đổi cho phù hợp Từ đó vấn đề tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh cũng có những thay đổi theo Sự thay đổi đó chính là quá trình tìm kiếm mô hình tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với những thay đổi của quá trình phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội Ở Việt Nam hiện nay, các mối quan hệ kinh tế, xã hội đã và đang có những thay đổi lớn Sự phát triển kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Việc đổi mới kinh tế, dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội đang đặt ra yêu cầu bức thiết phải từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước cũng như điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các bộ phận của bộ máy này để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới là “xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa”1
Vì vậy, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND các cấp, phát hiện ra những thiếu sót, hạn chế để từ đó đề xuất những biện pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND là góp phần cải cách nền hành chính nhà nước và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương (khóa VII) và Đại hội IV của Đảng nhằm “xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực
và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu qủa công việc của Nhà
1
[ 12, 133 ]
Trang 7nước nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp Đề cao trách nhiệm và kỷ luật của HĐND và UBND trong việc chấp hành pháp luật và các Nghị định của Quốc hội, Chính phủ và cơ quan hành chính cấp trên”
Về vấn đề này đã có nhiều tác giả nghiên cứu và nhiều công trình khoa học đã được công bố như: Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, PTS Nguyễn Hữu Đức,
Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1998; TS ThangVăn Phúc, Cải cách hành chính Nhà nước thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2001; Bùi Xuân Đức, Vấn đề tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 3/1991; Vũ Văn Thái, Một số quan điểm và giải pháp tiếp tục cải cách, kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước, Tạp chí Quản lý Nhà nước
2/2001.Nhưng hầu hết các đề tài nghiên cứu đều ở phạm vi rộng, chưa đi sâu vào một tỉnh, một địa phương cụ thể
Đề tài của Luận văn này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu vấn đề: ”Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế”, vì ngoài những nguyên tắc chung thì các yếu tố như vị trí địa lý, dân cư, phong tục tập quán, truyền thống cũng ảnh hưởng đến vấn đề tổ chức và hoạt động của UBND mỗi tỉnh Do vậy, yêu cầu về tổ chức và hoạt động của UBND mỗi tỉnh sẽ có những điểm không giống nhau
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cụ thể về tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của nó trong quản lý nhà nước tại địa phương,
từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và lý luận Nhà nước và pháp luật Qua nghiên cứu những tài liệu đã thu thập được luận văn này sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để rút ra những ưu, khuyết điểm, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế từ đó đưa ra những
Trang 8ý kiến riêng
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu trình bày về tính cấp thiết của đề tài; tình hình nghiên cứu đề tài; mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu bao gồm các phần sau:
Chương 1: UBND các cấp trong cơ cấu của bộ máy hành chính Chương
này trình bày lịch sử hình thành và phát triển của UBND các cấp; tầm quan trọng của chính quyền địa phương và vị trí, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh
Chương 2: Vai trò, vị trí, thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh
Thừa Thiên Huế Chương này tập trung đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh
Chương 3: Kiến nghị các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế được đánh giá ở chương 2, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ được trình bày ở chương này
Trang 9“là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân” 2 Tôn chỉ hoạt động của nhà nước ta là: ”Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (điều 3 Hiến pháp 1992)
Để đảm bảo cho nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội thì việc phân cấp, phân quyền trong quản lý hành chính chiếm vị trí hết sức quan trọng Từ khi xuất hiện Nhà nước cho đến nay, dù là hình thức Nhà nước cát cứ hay tập quyền thì việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để Nhà nước Trung ương thực hiện quyền quản lý, điều hành luôn tồn tại Điều này mang tính khách quan Bởi lẽ, “không một Chính phủ của một Nhà nước nào chỉ thực hiện quyền lực Nhà nước của mình ở tại một chỗ, nơi tọa ngự của các cơ quan Nhà nước Trung ương” 3 Như các quốc gia khác trên thế giới, nền hành chính quốc gia nước ta cũng được phân theo thứ bậc: Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, bởi lẽ:
- Các cơ quan Nhà nước Trung ương không thể tự mình trực tiếp quản lý, điều hành, xử lý tất cả mọi công việc, tình huống nảy sinh ở các địa phương Thông qua việc phân cấp trong quản lý, chính quyền địa phương sẽ thay mặt
2[ 12, 131 ]
3[ 12, 131-132]
Trang 10Nhà nước Trung ương thực hiện công việc quản lý tại địa phương Chính quyền địa phương vừa thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình do Nhà nước Trung ương giao vừa căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để xây dựng những chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, giải quyết các vấn đề nảy sinh phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình
- Thông qua chính quyền địa phương, Nhà nước Trung ương sẽ gần dân hơn, nâng cao năng lực nắm bắt thực tiễn để có cơ sở và căn cứ hoạch định chính sách hoặc điều chỉnh, bổ sung, bãi bỏ các chính sách không còn phù hợp trong phạm vi toàn quốc Và cũng thông qua chính quyền địa phương, các mệnh lệnh, quy định của Nhà nước Trung ương sẽ được thực thi trong cuộc sống Hiện nay, theo Hiếp pháp 1992 thì chính quyền địa phương nước ta được chia thành ba cấp hành chính:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
- Xã, phường, thị trấn
Các cơ quan chính quyền địa phương chịu sự quản lý, chỉ huy trực thuộc:
xã trực thuộc huyện, huyện trực thuộc tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương
(Tính đến hết tháng 12/2002 ở nước ta có 61 đơn vị hành chính cấp tỉnh, 623 đơn vị hành chính cấp huyện và 10.538 đơn vị hành chính cấp xã - Theo số liệu của Ban tổ chức cán bộ Chính phủ)
Ở mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã đều có HĐND và UBND Các cấp chính quyền đều thực hiện những công việc do pháp luật quy định, chịu sự giám sát kiểm tra của cấp trên và của Trung ương Quản lý địa phương là công việc đa dạng, phong phú và phức tạp, vì vậy tất yếu phải có việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương trên cơ sở quán triệt nguyên tắc: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
Trang 11pháp”4 Có nghĩa là, không thể có quan niệm quyền lực nhà nước ở Trung ương
và quyền lực nhà nước ở địa phương mà chỉ có một bộ máy thống nhất Trong
bộ máy đó có các cấp chính quyền Trung ương và địa phương, đó là sự phân cấp thứ bậc cần thiết mà không phải là sự phân chia quyền lực tạo ra sự cát cứ địa phương
Trong các cấp chính quyền địa phương, chính quyền cấp tỉnh chiếm vị trí rất quan trọng, là cấp chính quyền sau cấp Trung ương và là cấp chính quyền đầu tiên trong hệ thống chính quyền địa phương UBND tỉnh là một bộ phận của chính quyền cấp tỉnh UBND tỉnh là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương, thực hiện hoạt động mang tính chấp hành - điều hành để quản lý các lĩnh vực khác nhau trong địa bàn tỉnh UBND tỉnh là một tổ chức có cơ cấu thống nhất, nằm trong hệ thống hành chính thống nhất có tính thứ bậc từ Trung ương đến địa phương và được thành lập theo Hiến định
1.2 Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp và vị trí chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994
1.2.1 Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp
Lịch sử hình thành và phát triển của chính quyền địa phương (HĐND và UBND các cấp) gắn liền với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Sự phát triển của chính quyền địa phương có thể chia ra làm 4 giai đoạn: từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước tháng 12/1959; từ tháng 12/1959 đến trước tháng 12/1980; từ tháng 12/1980 đến trước tháng 4/1992 và từ tháng 4/1992 đến nay
* Giai đoạn từ sau Cách mạng thángTám 1945 đến trước tháng
12/1959
Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam
Trang 12
Dân chủ Cộng hòa đã đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử của dân tộc ta Ngay sau khi chính quyền Trung ương được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 29/11/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương và Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố Hai Sắc lệnh này đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống cơ quan chính quyền địa phương kiểu mới, chính quyền của dân, do dân và vì dân
Theo quy định của Sắc lệnh 63/SL, chính quyền địa phương được chia thành 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Ở cấp xã, cấp tỉnh có HĐND
và Uy ban hành chính; ở cấp kỳ và cấp huyện chỉ thành lập Uy ban hành chính HĐND là cơ quan thay mặt cho dân, Uy ban hành chính là cơ quan vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ
Uy ban hành chính có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh của cấp trên và Nghị quyết của HĐND; giải quyết các công việc trong phạm vi địa phương; triệu tập
kỳ họp của HĐND cùng cấp; kiểm soát các cơ quan chuyên môn; phát lệnh viên ngân sách địa phương Ngoài ra, Uy ban hành chính còn có quyền kiểm soát các
Uy ban hành chính và HĐND cấp dưới, duyệt y Nghị quyết của HĐND xã, ra Nghị định để giữ trị an, điều khiển đội cảnh binh lo việc tuần phòng và trị an, ra lệnh điều động quân đội đóng trong tỉnh để bảo vệ đất nước
Vị trí, vai trò của Uy ban hành chính theo quy định của Sắc lệnh 63/SL cho thấy sự kết hợp giữa nguyên tắc tự quản địa phương với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền Trung ương Theo đó, Uy ban hành chính không những là
cơ quan thay mặt cho dân, mà còn là cơ quan đại diện cho Chính phủ, vì vậy Uy ban hành chính có quyền duyệt y Nghị quyết của HĐND cấp dưới, có quyền bãi
bỏ Nghị quyết của HĐND nếu xét thấy Nghị quyết đó trái với mệnh lệnh cấp trên
Uy ban hành chính tỉnh gồm 3 thành viên do HĐND tỉnh bầu ra trong số đại biểu biết đọc, biết viết của mình
Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cho cả nước, ngày
Trang 1309/11/1946 Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta Hiến pháp 1946 tiếp tục duy trì mô hình tổ chức chính quyền địa phương như Sắc lệnh số 63/SL
Trước tình hình thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ngày 28/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 3-NV/SL về việc tạm hoãn các cuộc bầu cử vào HĐND và UBHC
Để tiếp tục củng cố kiện toàn chính quyền địa phương trong tình hình thời chiến, ngày 19/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 254/SL về
tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến Theo quy định của Sắc lệnh này, chính quyền địa phương được chia thành 4 cấp: liên khu (thay cho cấp kỳ), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Ở cấp tỉnh và cấp xã có HĐND và Uy ban kháng chiến hành chính; liên khu và cấp huyện có Uy ban kháng chiến hành chính
Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban kháng chiến hành chính tập trung vào lĩnh vực thực hiện các chính sách của Chính phủ , các Sắc lệnh, mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên, điều hòa phối hợp và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản này tại đại phương Nhìn chung, nhiệm và quyền hạn của Uy ban kháng chiến hành chính cũng được thay đổi phù hợp với điều kiện chiến tranh
Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh do HĐND tỉnh bầu ra, nơi chưa có HĐND thì Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh do Hội đồng quốc phòng tối cao chỉ định theo đề nghị của Uy ban kháng chiến hành chính liên khu Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh có từ 5-7 thành viên Như vậy, số lượng thành viên
Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh tăng so với quy định của Sắc lệnh 63/SL Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại ở miền Bắc và miền Bắc bắt đầu tiến hành công cuộc xây dựng CNXH Ngày 29/4/1958 Quốc hội khóa I đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương Luật này quy định chính quyền địa phương gồm 3 cấp: tỉnh, thành phố hoặc khu tự trị trực thuộc Trung ương; huyện, thành phố hoặc châu thuộc tỉnh; xã, thị xã hoặc thị trấn Như vậy, so với Sắc lệnh số 63/SL ngày 29/11/1945 và Sắc lệnh số 254/SL
Trang 14ngày 19/11/1948 thì trong tổ chức hành chính lãnh thổ của nước ta không còn cấp kỳ (liên khu) nữa Ở cấp tỉnh và cấp xã có HĐND và Uy ban hành chính; cấp huyện chỉ thành lập Uy ban hành chính Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 không xác định Uy ban hành chính là cơ quan thay mặt cho dân và đại diện cho Chính phủ nữa, mà là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương, cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp Uy ban hành chính không
có quyền trực tiếp bãi bỏ Nghị quyết của HĐND cấp dưới, mà chỉ có quyền đình chỉ việc thi hành và đề nghị HĐND cùng cấp bãi bỏ
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng CNXH, Uy ban hành chính được bổ sung một số nhiệm vụ và quyền hạn mới Ngoài ra, nhiệm
vụ và quyền hạn của UBHC được quy định cụ thể và đầy đủ hơn trên các lĩnh vực quản lý nhà nước Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 số lượng thành viên của Uy ban hành chính các cấp được tăng lên từ
5 đến 19 người; các cơ quan chuyên môn được tổ chức thêm Ngoài ra, Luật còn quy định nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong hoạt động của Ủy ban hành chính cũng như việc thành lập Thường trực Ủy ban gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uy ban hành chính
Như vậy, trong giai đoạn này hệ thống cơ quan chính quyền địa phương trong đó có Uy ban hành chính các cấp bắt đầu được thiết lập và từng bước được củng cô, phát triển Các cơ quan này đã đóng một vai trò quan trọng trong
sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc
* Giai đoạn từ tháng 12/1959 đến trước tháng 12/1980
Ngày 31/12/1959 Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sự ra đời của Hiến pháp 1959 đánh dấu một bước phát triển mới trong tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương Hiến pháp 1959 quy định chính quyền địa phương gồm ba cấp: tỉnh, huyện, xã Khác với trước đây, HĐND chỉ được thành lập ở cấp tỉnh và cấp xã, theo Hiến pháp 1959 ở tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ đều thành lập HĐND và Uy ban hành chính Uy ban hành chính là cơ quan chấp hành của HĐND và cơ
Trang 15quan hành chính của Nhà nước ở địa phương
Trên cơ sở Hiến pháp 1959, ngày 27/10/1962 Quốc hội khóa II đã thông qua Luật tổ chức HĐND và Uy ban hành chính các cấp Luật tổ chức HĐND và
Uy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định cụ thể về tổ chức, quyền hạn và hoạt động của HĐND và Uy ban hành chính ở mỗi cấp
Luật tổ chức HĐND và Uy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định
Uy ban hành chính tỉnh có từ 9-15 thành viên, như vậy có giảm so với trước đây Các thành viên của Uỷ ban hành chính không những phải chịu trách nhiệm chung về công tác của Uy ban mà còn phải chịu trách nhiệm riêng về phần công tác của mình Ngoài ra, luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn cho UBHC tỉnh Đây là sự phân cấp quản lý thể hiện quan điểm từng bước mở rộng quyền hạn cho UBHC tỉnh về quản lý kinh tê - xã hội, luật cũng quy định việc tham gia của UBHC tỉnh vào việc quản ly các đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh UBHC có quyền thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc UBHC
Như vậy, từ giai đoạn này cơ quan chính quyền địa phương được tổ chức trên cơ sở Hiến định và hoạt động ổn định trong một thời gian tương đối dài Nguyên tắc “song trùng trực thuộc” đã được áp dụng một cách toàn diện trong
tổ chức và hoạt động của UBND các cấp Chính quyền địa phương đã đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam
* Giai đoạn từ tháng 12/1980 đến trước tháng 4/1992
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cho cả nước năm
1976 đã thống nhất đất nước về mặt chính trị Ngày 18/12/1980 Quốc hội khóa
VI đã thông qua Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam
Theo Hiến pháp 1980, các đơn vị hành chính lãnh thổ được chia thành 3 cấp: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; huyện (quận), thành phố và thị xã; xã (phường) và thị trấn.Các đơn vị hành
Trang 16chính này đều thành lập HĐND và UBND Hiến pháp 1980 đã thay đổi tên gọi
Uy ban hành chính thành Uy ban nhân dân, mặc dù vị trí pháp lý của Uy ban nhân dân không khác so với Uy ban hành chính
Trên cơ sở Hiến pháp 1980, ngày 30/06/1983 Quốc hội đã thông qua Luật
tổ chức HĐND và UBND, đặt nền tảng cho việc thiết lập hệ thống chính quyền địa phương kiểu mới trên toàn bộ lãnh thổ nước ta Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 quy định nhiều điểm mới trong tổ chức và hoạt động của Uy ban nhân dân, ví dụ như thành viên của Uy ban nhân dân phải là thành viên của HĐND cùng cấp Luật không quy định cụ thể nhiệm và quyền hạn của Uy ban nhân dân, mà quy định cho Uy ban nhân dân giữa hai nhiệm kỳ của HĐND giải quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cùng cấp, trừ những vấn đề mà HĐND phải thảo luận và quyết định tại kỳ họp Ngoài các cơ quan chuyên môn, Uy ban nhân dân còn thành lập Thường trực Uy ban nhân dân Thường trực Uy ban có nhiệm vụ chuẩn bị phiên họp của Uy ban, bảo đảm thực hiện Nghị quyết của HĐND và Quyết định của Uy ban nhân dân, giải quyết những vấn đề thuộc quyền han của Uy ban giữa hai phiên họp
Theo Luật 1983, Uy ban nhân dân tỉnh có từ 11-17 thành viên, tăng so với Luật tổ chức HĐND và UBHC năm 1962
Qua thực tế hoạt động, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 bộc lộ một số điểm hạn chế như: các kỳ họp của HĐND do UBND triệu tập do đó dẫn đến việc hạn chế tính chủ động của HĐND trong hoạt động của mình hay như hoạt động của thường trực Uy ban không những không đạt hiệu quả như mong muốn mà còn làm hạn chế vai trò của Chủ tịch UBND
Trong thời kỳ này, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, hiệu quả quản lý Nhà nước có nhiều hạn chế, khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài Yêu cầu đặt ra là phải có những thay đổi cơ bản trong quản lý, Đại hội Đảng VI đã đề ra chu trương đổi mới toàn diện, trong đó có cải cách bộ máy Nhà nước Văn kiện Đại hội Đảng VI đã chỉ rõ:”Theo phương hướng sắp xếp lại
bộ máy Nhà nước Trung ương, bộ máy UBND các địa phương cũng phải được
Trang 17tổ chức lại tinh gọn, có đủ quyền hạn, nhiệm vụ và năng lực quản lý trên địa bàn lãnh thổ” 5
Do vậy, ngày 30/06/1989 Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND Đây là một bước thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND, một khâu quan trọng nhằm tăng cường sức mạnh của hệ thống chính quyền địa phương, phát huy dân chủ XHCN Khắc phục những hạn chế của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, luật quy định bỏ thường trực UBND Cũng như Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 không liệt kê nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của UBND, mà chỉ quy định những nhiệm vụ và quyền hạn chung, đồng thời vẫn giữ nguyên quy định giao cho UBND, giữa hai kỳ họp của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND, trừ những vấn đề thuộc nội dung kỳ họp và thuộc thẩm quyền của Thường trực HĐND
Trong giai đoạn này, tổ chức và hoạt động của UNBD các cấp có nhiều
có nhiều thay đổi Sự thay đổi đó tạo tiền đề cho việc tiếp tục củng cố và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND sau này
* Giai đoạn từ tháng 4/1992 cho đến nay
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đất nước Theo tinh thần Nghị quyết đại hội Đảng VI, ngày 15/04/1992 Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Hiến pháp mới của nước CHXHCN Việt nam Hiến pháp 1992 đã tạo cơ sở pháp lý tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các cấp chính quyền địa phương
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, ngày 21/06/1994 Quốc hội đã thông qua Luật
tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ; ngày 26/06/1996 Uy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND
ở mỗi cấp Luật và Pháp lệnh này tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 đồng thời bổ sung một số quy định nhằm hoàn thiện một bước về tổ chức và hoạt động của các cơ quan chính
5[ 9, 120]
Trang 18quyền địa phương Một trong những điểm mới của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 là việc bãi bỏ quy định tại điều 45 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989 cho phép UBND, trong thời gian giữa hai kỳ họp của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND Điều này tránh được sự chồng chéo thẩm quyền, tránh cho HĐND những bị động, lúng túng khi gặp các Quyết định “đã rồi” đồng thời cũng phản ánh chủ trương của Đảng là phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan chính quyền địa phương Bên cạnh đó, việc quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của UBND ở mỗi cấp tạo điều kiện cho UBND các cấp thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương
Điều 47 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 quy định UBND cấp tỉnh có từ 9-11 thành viên Nghị định số 174/CP ngày 29/09/1994 quy định cơ cấu thành viên của UBND tỉnh gồm 1 Chủ tịch, 3 Phó chủ tịch và các Uy viên Chủ tịch phải là đại biểu HĐND cùng cấp, các thành viên khác của UBND không nhất thiết phải là đại biểu HĐND (điều 46 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994) Kết qủa bầu cử của UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn, đây là điểm mới so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm1989
1.2.2 Vị trí, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994
Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương có một vị trí rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước ta, là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của bộ máy Nhà nước Vì vậy, xác định vị trí của UBND cấp tỉnh là một bước quan trọng trong việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan này
Nói đến vị trí của UBND tỉnh tức là nói đến mối quan hệ của UBND tỉnh trong hệ thống các cơ quan Nhà nước Vị trí theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là:”địa vị, vai trò trong tổ chức” 6
Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND
6[42, 1147 ]
Trang 19tỉnh có một vị trí quan trọng Vị trí pháp lý của UBND tỉnh được Hiếp pháp
1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 xác định là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (điều
123 Hiến pháp và điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994) Như vậy, trong quan hệ với HĐND tỉnh, UBND tỉnh là cơ quan do HĐND cùng cấp bầu
ra, về nguyên tắc nó có thể bị HĐND tỉnh bãi miễn Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh, UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của HĐND trong phạm vi toàn tỉnh, chịu trách nhiệm trước HĐND, thực hiện chế độ báo cáo trước HĐND, mọi hoạt động của UBND đều nằm dưới sự kiểm tra, giám sát của HĐND Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, xét trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, UBND cấp tỉnh là cấp thứ 2 sau cấp Trung ương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cơ quan nhà nước cấp trên trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản khác của Chính phủ, các bộ, ngành của Trung ương tại địa phương mình Trên phương diện quản lý nhà nước, UBND tỉnh chịu sự đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra của Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương và đồng thời chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp trên về tình hình quản lý nhà nước trên các lĩnh vực Thực chất hoạt động quản lý địa phương của UBND tỉnh
là những hoạt động chấp hành và điều hành
Từ đó có thể thấy rằng, cũng như UBND các cấp, UBND tỉnh là một cơ quan được tổ chức theo nguyên tắc “song trùng trực thuộc” Tính song trùng thể hiện ở chỗ UBND tỉnh do HĐND cùng cấp bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND Mặt khác, UBND tỉnh chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp
Trong Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND được quy định từ điều 41 đến điều 45 Với tư cách là cơ quan hành chính ở địa phương, hay nói cách khác là đại diện của Chính phủ ở địa phương, UBND thi hành việc quản lý Nhà nước ở địa phương theo Hiến pháp, luật, pháp
Trang 20lệnh và các văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trong các lĩnh vực:
- Phát triển kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế;
- Thu chi ngân sách địa phương;
- Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc thi hành pháp luật;
- Đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội;
- Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức
và công dân, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân;
- Công tác thi hành án dân sự
Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ở mỗi cấp đã cụ thể hóa các nhiệm vụ và quyền hạn của UBND tỉnh tại các điều 14 đến điều 30
Tóm lại: UBND cấp tỉnh là cơ quan thẩm quyền chung, thực hiện quản lý
toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh UBND tỉnh có thể hình dung như một “Chính phủ thu nhỏ”, gắn với đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp tỉnh Hoạt động quản lý của UBND tỉnh phải tuân theo những quy định của những văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND tỉnh và bảo đảm việc thi hành pháp luật và các văn bản, Nghị quyết đó ở địa phương Hoạt động của UBND tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình mang tính chất tác nghiệp cụ thể và nằm trong mối quan hệ chặt chẽ, tiếp nối hoạt động quản lý của Chính phủ của cơ quan nhà nước cấp trên và HĐND tỉnh, bảo đảm cho hệ thống hành chính thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả 7
7[ 19, 185 ]
Trang 21CHƯƠNG 2:
VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và vai trò cúa nó trong quản lý Nhà nước tại địa phương trong thời kỳ hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh của miền Trung Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp nước bạn Lào, phía Đông giáp biển Đông Diện tích tự nhiên 5.009
km2, dân số 1.045.513 người, có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố (trong đó có hai huyện miền núi, thành phố Huế là đô thị loại 2) với 150 xã, phường, thị trấn (trong đó có 20 phường, 8 thị trấn, 122 xã)
Thừa Thiên Huế nằm ở trung độ cả nước trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, giữa hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của hai miền Bắc - Nam, là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước và la một trong những cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung
Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và cảng Chân Mây với
độ sâu 18 - 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có sân bay Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có 81 km biên giới với Lào
Ngoài những nét chung của đất nước, tỉnh Thừa Thiên Huế còn có những nét đặc thù riêng của vùng đất vốn xưa kia là thủ phủ của xứ Đàng trong, kinh
đô của cả nước dưới triều Tây Sơn và triều Nguyễn, lại có đủ ba vùng: vùng biển, đầm phá; vùng trung du, miền núi, đồng bằng và đô thị với những phong tục, tập quán đa dạng Cố đô Huế là một trong những trung tâm văn hoá lớn của
Trang 22Việt Nam, hiện đang lưu giữ một kho tàng vật chất đồ sộ, có quần thể di tich cố
đô Huế, với những công trình kiến trúc cung đình và danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới Huế còn có hàng trăm chùa chiền với kiến trúc dân tộc độc đáo và một kho tàng văn hoá phi vật thể đồ sộ với các loại hình lễ hội tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội cung đình Thành phố Huế ngoài ưu thế về du lịch văn hoá, còn là trung tâm Đại học
Thu ngân sách nhà nước năm 2002 là 502,8 tỷ đồng (KH 393,6 tỷ đồng) Tổng chi ngân sách địa phương là 1002,5 tỷ đồng (KH 660,8 tỷ) 8
Tóm lại: Ngoài những ưu thế về điều kiện tự nhiên, du lịch, văn hóa , y
tế như đã trình bày, Thừa Thiên Huế còn có những hạn chế như: khí hậu thời tiết khá khắc nghiệt, bão lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên; cơ sở hạ tầng thiếu, yếu kém và xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt ở khu vực miền núi và miền biển; địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh; dân số tăng nhanh, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi và ngư dân ven biển, lao động chưa có việc làm ở các đô thị còn nhiều; trình độ dân trí và thu nhập của các tầng lớp dân cư chênh lệch lớn Tất
cả những yếu tố này cần phải được đánh giá đúng mức trong quá trình tìm kiếm các giải pháp đổi mới tổ chức và chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Lịch sử hình thành và phát triển của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế gắn liền với quá trình cách mạng ở miền Nam Việt Nam UBND tỉnh Thừa Thiên
8[ 2, 1 ]
Trang 23Huế đã đóng góp một phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Cách mạng tháng Tám thành công đã kết thúc chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, chế độ phong kiến đã tự tuyên bố cáo chung Nhân dân ta đã giành được độc lập và kiến tạo một nền dân chủ mới Chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó lịch sử phát triển của HĐND và UBND tỉnh đã trải qua một quá trình lâu dài với đặc trưng nổi bật xuyên suốt mọi thời kỳ là chính
quyền:”của dân, do dân và vì dân”
* Thời kỳ thứ nhất (thời kỳ tiền khởi nghĩa)
Ngày 20.8.1945 Thường vụ Việt Minh tỉnh được sự đồng ý của Trung ương đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 9 người (gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch và các uỷ viên) Trong thời gian này, Uỷ ban khởi nghĩa sắp xếp kế hoạch, huy động quần chúng ở các huyện tập trung về Huế cùng quần chúng của các phường thuộc thành phố tham gia mít tinh, tuần hành trong ngày 23 tháng 8, vận động binh lính trong hàng ngũ địch đầu hàng làm tê liệt bộ máy chính quyền bù nhìn, buộc Bảo Đại thoái vị
Đây là giai đoạn chưa hình thành chính quyền cách mạng (chưa có tổ chức chính quyền), nhưng đây là một giai đọan cách mạng quan trọng trong lịch
sử của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, vì vậy có thể coi Uy ban khởi nghĩa là tiền thân của chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế sau
này
* Thời kỳ thứ hai từ 23/08/1945 đến 26/03/1975 ( Thời kỳ đấu tranh
giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và bảo vệ chính quyền cách mạng)
- Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên Huế
Chiều ngày 23.8.1945 tại cuộc mít tinh ở Sân vận động Huế, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức ra mắt đồng bào, với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch và các Ủy viên: nội vụ, quốc phòng, giáo dục, cứu tế xã hội, thanh niên, tài chính, kinh tế Các đơn vị hành chính được sắp xếp lại, bãi bỏ cấp tổng, sát nhập 500 thôn thành 98 xã
Trang 24Chính quyền cách mạng lâm thời đã khẩn trương tiến hành các biện pháp cấp bách để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền, mở rộng khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển các đoàn thể quần chúng
- HĐND và UBHC tỉnh Thừa Thiên Huế
Thực hiện sắc lệnh số 63/SL ngày 22.11.1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký về việc tổ chức HĐND và UBHC các cấp, giữa tháng 3 năm 1946 tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành bầu cử HĐND các cấp và đã bầu ra được 30 đại biểu Cuối tháng 3 năm 1946, HĐND tỉnh họp phiên đầu tiên tại Duyệt Thị Đường trong Đại Nội và bầu ra UBHC tỉnh Thừa Thiên Huế với các thành phần như sau: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, Ủy viên thư ký và các Ủy viên: nội vụ, quốc phòng, giáo dục, cứu tế xã hội, thanh niên, tài chính, kinh tế UBHC tỉnh có các
cơ quan chuyên môn giúp việc và thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh vực ở địa phương
Ngày 23/09/1945, thực dân Pháp chiếm Sài Gòn, âm mưu xâm lược trở lại Việt Nam Theo Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946, Huế là điểm tiếp nhận quân Pháp thay thế quân đội Tưởng dưới danh nghĩa “quân tiếp phòng” Cuối tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp đến Huế và gây ra những vụ khiêu khích nghiêm trọng Cuối tháng 11 năm 1946, theo chỉ đạo chung của Trung ương, Ủy ban kháng chiến được thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch,
1 Ủy viên và các đại diện đoàn thể
- Ủy ban kháng chiến hành chính
Ngày 28/07/1947 Hội nghị hành chính toàn khu quyết định thống nhất UBHC và Uy ban kháng chiến thành Uỷ ban kháng chiến hành chính
Ngày 01/10/1947 Chính phủ ban hành sắc lệnh số 91/SL về việc thành lập Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, huyện, xã Để tiếp tục củng cô, kiện toàn chính quyền địa phương trong tình hình thời chiến, ngày 19.11.1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 254/SL về tổ chức chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Theo quy định của sắc lệnh này, ở cấp tỉnh có HĐND và
Trang 25Uy ban kháng chiến hành chính Thực hiện sắc lệnh này, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đã được thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Ủy viên quân sự, Tỉnh đội trưởng dân quân, 2 uỷ viên dân chính
Nhiệm vụ của Ủy ban kháng chiến hành chính tập trung vào việc thực hiện các chính sách của Chính phủ, các sắc lệnh, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, kiểm tra việc thực hiện các chính sách trên địa bàn tỉnh, thực hiện kế hoạch kháng chiến của cấp trên
- Mặt trận giải phóng Thừa Thiên Huế (từ tháng 5/1954 - tháng 4/1975)
Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế tạm thời rút khỏi địa bàn, đến năm 1960 tái lập và hoạt động bí mật cho đến ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/03/1975) dưới hình thức và tên gọi mới: Mặt trận giải phóng Thừa Thiên Huế với nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
* Thời kỳ thứ 3 từ tháng 3/1975 đến nay ( Thời kỳ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt nam XHCN)
- Uỷ ban quân quản tỉnh Thừa Thiên
Sau khi giành được tỉnh Thừa Thiên Huế từ tay chính quyền ngụy quyền, ngày 26/03/1975, Uỷ ban quân quản tỉnh được thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch Bộ máy chính quyền được thành lập từ tỉnh xuống xã, thôn khá hoàn chỉnh gồm 102 xã, 589 thôn, Ủy ban quân quản có nhiệm vụ quản lý xã hội, khắc phục hậu quả chiến tranh
- Uỷ ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên Huế
Tháng 7 năm 1975 Uỷ ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên Huế được thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Ủy viên thư ký và 2
Ủy viên khác Nhiệm vụ của UBND cách mạng là quản lý mọi mặt đời sống xã hội, đảm bảo an toàn chính trị và trật tự an toàn xã hội
- HĐND và UBND tỉnh Bình Trị Thiên
Ngày 27/12/1975 Quốc hội nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ban hành
Trang 26Nghị quyết về hợp nhất một số tỉnh trong đó sáp nhập ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế thành tỉnh Bình Trị Thiên có diện tích 18.430 km2
, dân số gần 1,7 triệu người, có 20 huyện, 1 thành phố, 2 thị xã và 1036 thôn
HĐND tỉnh Bình Trị Thiên chính thức đi vào hoạt động ngày 11/05/1977, sau kết quả bầu cử HĐND tỉnh Ngày 31/07/1977 tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Bình Trị Thiên khoá 1 HĐND đã bầu ra UBND tỉnh Bình Trị Thiên UBND tỉnh Bình Trị Thiên chính thức đi vào hoạt động từ ngày
01/08/1977 đến ngày 30/06/1989
- HĐND và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngày 30/06/1989, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 5 ban hành Nghị quyết về việc phân vạch địa giới hành chính của một số tỉnh, trong đó tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh như cũ: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế UBND tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/07/1989
2.2 Vai trò của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trong quản lý Nhà nước tại địa phương trong thời kỳ hiện nay
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế là cơ quan do HĐND tỉnh bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước ở phương ở Thừa Thiên Huế, chịu trách nhiệm trước HĐND tỉnh và các cơ quan Trung ương UBND tỉnh Thừa Thiên Huế chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật ,các văn bản của nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND tỉnh nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triễn kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa xuất phát từ lợi ích chung của quốc gia, vừa xuất phát từ lợi ích riêng của mỗi địa phương Do vậy, UBND tỉnh đóng vai trò rất quan trong việc cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của Nhà nước Trung ương trong lĩnh vực quản lý nhà nước đồng thời căn
cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để hoạch định chương trình phát triển kinh tế, xã hội cho địa phương Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi tỉnh cần có sự
Trang 27chuyển đổi trong hoạch định phương hướng phát triển từ chiến lược tình thế sang chiến lược dài hạn, có cách nhìn xa hơn, tổng quát hơn về cách tiếp cận quy hoạch và nhiều lĩnh vực khác Nắm bắt tinh thần này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế không ngừng đổi mới quan điểm, nội dung, phương pháp tiếp cận các vấn đề trong quản lý vĩ mô nền kinh tế Trên cơ sở xác định những lợi thế so sánh, những khó khăn và hạn chế, những thách thức mà tỉnh cần vượt qua, những cơ hội thuận lợi mà tỉnh cần nắm bắt và tranh thủ nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh, giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững, hòa nhập vào xu thế chung của vùng, cả nước và khu vực
Bên cạnh lĩnh vực phát triển kinh tế, vai trò của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế còn được thể hiện rõ nét trong những lĩnh vực sau:
- Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, nâng cao đời sống của nhân dân Chỉ đạo sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bảo đảm các điều kiện vật chất, chăm
lo xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên phục vụ cho công tác giáo dục đào tạo; phát triển các loại hình trường lớp tạo điều kiện cho con em các thành phần xã hội; các dân tộc, đặc biệt là con em các dân tộc vùng sâu, vùng xa đến tuổi đi học được đến trường và đều có thể phát triển trí tuệ, tài năng của mình Thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khỏe nhân dân, chăm sóc sức khỏe người già, trẻ
em, thực hiện quản lý Nhà nước về y tế, phòng chữa bệnh; chăm lo sự nghiệp y
tế miền núi, tạo điều kiện cho mọi người dân đều được chăm lo sức khỏe Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa,xóa bỏ các tập tục lạc hậu, bảo vệ các tài sản, di sản văn hóa, nghệ thuật, danh lam thắng cảnh
- Tổ chức chỉ đạo và thực hiện các chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, UBND tỉnh xây dựng các dự án hỗ trợ phát triển kinh tế cho các vùng cao,vùng dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn
- Tổ chức thực hiện các chính sách xã hội đối với các gia đình thương, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó
Trang 28khăn về kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo
- Tổ chức xây dựng các biện pháp bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo đảm an toàn cho sản xuất và sinh hoạt phục
vụ cho sự phát triển kinh tế
- Vai trò quan trọng của UBND tỉnh còn được thể hiện ở nhiệm vụ xây dựng chính quyền địa phương không chỉ đối với cấp tỉnh mà còn đối với cả cấp huyện và xã
2.3 Thực trạng tổ chức của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Theo quy định tại điều 46 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 thì
“UBND do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch, và các
Uỷ viên Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND Các thành viên khác của UBND không nhất thiết phải là đại biểu của HĐND”
Như vậy, theo quy định của Luật, UBND tỉnh do HĐND tỉnh bầu ra tại
kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá UBND tỉnh là một khâu trong bộ máy hành chính Nhà nước, có mối quan hệ chặt chẽ theo chiều dọc, vì vậy kết quả bầu cử các thành viên của UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn (điều 46 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994)
UBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên (điều 47 Luật tổ chức HĐND
và UBND năm 1994) Về cơ cấu, Nghị định 174/CP ngày 29/09/1994 của Chính phủ hướng dẫn cụ thể: ”UBND cấp tỉnh gồm có 1 Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch, 5
Uỷ viên” Theo quy định hiện hành, số lượng thành viên UBND đã được tinh giảm so với trước kia Về mặt tổ chức thì số lượng giảm cũng đồng nghĩa với việc tăng chất lượng mới đáp ứng được yêu cầu công việc Đó là một nét quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực quản lý của UBND và tăng cường chất lượng công việc
Mặt khác, theo Nghị định 174/CP ngày 29/09/1994 của Chính phủ thì các thành viên UBND đã được phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể Căn cứ vào việc phân công rõ ràng mà Chủ tịch UBND quản lý tốt hơn công việc của UBND, ngoài ra còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trước công việc được giao,
Trang 29tránh tình trạng công việc của UBND không rõ ràng, trách nhiệm không ai chịu
Theo quy định của pháp luật, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế được HĐND tỉnh bầu gồm 9 thành viên, các thành viên UBND tỉnh Thừa Thiên Huế được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau:
- Trực tiếp chỉ đạo các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, đối ngoại, ngân sách, qui hoạch, kế hoạch, trực tiếp điều hành việc phân bổ, điều chỉnh kế hoạch ngân sách, tư pháp, thanh tra, chống tham nhũng, tổ chức cán bộ, cải cách hành chính và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng trong từng thời gian và chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia
- Trực tiếp theo dõi các cơ quan: Ban chỉ huy quân sự tỉnh, Ban chỉ huy
bộ đội biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, các Sở: Tư pháp, Ngoại vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính Vật giá, Cục Thống kê, Thanh tra nhà nước, Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, Ban biên giới tỉnh
- Quan hệ phối hơp giữa UBND tỉnh với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thường trực HĐND tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
* Một Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh:
- Phụ trách và chỉ đạo các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, giá cả, hải quan, du lịch, bảo hiểm (trừ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế), xây dựng cơ bản, xây dựng và quản lý đô thị bao gồm công tác nhà đất (phân phối, hoá giá quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, đất ở thuộc các khu dân cư, đô thị theo quy hoạch), công tác chống buôn lậu, quản lý thị trường
- Phụ trách các cơ quan, các Sở: Thương mại, Du lịch, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các khu công nghiệp, Ngân hàng Nhà nước
Trang 30tỉnh, Hải quan, Quỹ hỗ trợ phát triển, Kho bạc nhà nước, Cục thuế tỉnh, Bảo Việt, Bảo Minh
* Một Phó Chủ tịch UBND tỉnh:
- Phụ trách và chỉ đạo các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi, phòng chống bão lụt, công tác dân tộc và miền núi, khí tượng thuỷ văn, khoa học và công nghệ, bưu điện, đổi mới
và cổ phần hoá doanh nghiệp, đổi mới hợp tác xã, kinh tế trang trại
- Quy hoạch xây dựng phát triển nông thôn mới, công nghiệp hoá nông nghiệp, phát triển ngành nghề và giải quyết việc làm trong nông thôn, nông nghiệp
- Phụ trách các cơ quan, các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thuỷ sản, Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp, Giao thông vận tải, Khoa học
và Công nghệ , Chi cục kiểm lâm, Bưu điện, Liên minh HTX, Ban phòng chống lụt bão, Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn, Hiệp hội các Hội khoa học
- Trực tiếp theo dõi các chương tình mục tiêu được phân công phụ trách
và theo dõi công tác đối ngoại nhân dân, quan hệ phối hợp giữa UBND với UBMTTQ tỉnh và các đoàn thể nhân dân
- Phụ trách các cơ quan, các Sở: Lao động - Thương binh và xã hội, Văn hóa thông tin, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Thể dục thể thao, Ban Tôn giáo chính quyền tỉnh, Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Ngân hàng phục vụ người nghèo, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Đài truyền hình Huế, Đài Phát thanh và truyền hình Thừa Thiên Huế, Trường
Trang 31cán bộ Nguyễn Chí Thanh, Báo Thừa Thiên Huế và các cơ quan thông tấn báo
chí trên địa bàn tỉnh, Liên hiệp các hội hữu nghị
* Năm Uy viên UBND tỉnh gồm:
- Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh phụ trách công tác tham mưu, tổng hợp trực tiếp của HĐND và UBND
- Chỉ huy trưởng BCH Quân sự tỉnh phụ trách công tác quân sự, quốc phòng
- Giám đốc Công an tỉnh phụ trách công tác an ninh và trật tư xã hội
- Trưởng ban Tổ chức chính quyền tỉnh phụ trách công tác cán bộ, công chức và tổ chức các cơ quan chính quyền
- Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá phụ trách công tác tài chính
Tất cả các thành viên UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về chuyên môn đều
có trình độ đại học; về chính trị đều đã qua đào tạo cử nhân chính trị Mặc dù khối lượng công việc lớn, số lượng thành viên UBND giảm so với nhiệm kỳ trước, nhưng UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã hoàn thành nhiệm vụ được giao Nói đến tổ chức của UBND tỉnh thì không thể không đề cập đến các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh Các cơ quan chuyên môn này giúp cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực công tác theo sự uỷ quyền hoặc phân cấp của UBND tỉnh và đảm bảo sự quản lý, lãnh đạo thống nhất của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở
Các cơ quan này chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND tỉnh, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn ở Trung ương Thực chất đa phần các cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc:”song trùng trực thuộc” Theo chiều ngang là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương UBND tỉnh muốn thực hiện được nhiệm vụ quản lý toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ của mình thì phải có các cơ quan chuyên môn phù hợp với đặc điểm của địa phương mình Thủ trưởng cơ quan
Trang 32chuyên môn chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước UBND tỉnh và khi cần thiết phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND tỉnh Theo chiều dọc
cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo, đồng thời chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp trên
Tính đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 25 cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND, cụ thể:
1 Văn phòng HĐND và UBND tỉnh
2 Ban Tổ chức chính quyền tỉnh
3 Sở Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp
4 Chi cục kiểm lâm tỉnh
5 Sở Du lịch
6 Sở Địa chính
7 Sở Giáo dục và Đào tạo
8 Sở Giao thông vận tải
9 Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường
10 Sở Kế hoạch và Đầu tư
11 Sở Lao động Thương binh và Xã hội
12 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
20 Ban Tôn giáo chính quyền tỉnh
21 Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em tỉnh
22 Sở Văn hóa thông tin
23 Sở Xây dựng
Trang 3324 Sở Y tế
25 Ban quản lý Dự án các khu công nghiệp tỉnh
Ngoài ra, còn có một số đơn vị và đơn vị hành chính trực thuộc:
* Ba đơn vị sự nghiệp:
1 Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh
2 Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế
3 Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh
* Hai Ban quản lý dự án:
1 BQLDA Sông Hương
2 BQL Đô thị mới Chân Mây
* Chín đơn vị hành chính:
1 Huyện Phong Điền
2 Huyện Quảng Điền
3 Huyện Hương Trà
4 Huyện A Lưới (huyện miền núi)
5 Huyện Nam Đông (huyện miền núi)
6 Huyện Phú Lộc
7 Huyện Hương Thủy
8 Huyện Phú Vang
9 Thành phố Huế (đô thị loại 2)
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Trung ương, trên cơ sở tình hình thực tế của địa phương, hầu hết các cơ quan chuyên môn của tỉnh đều được UBND tỉnh ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy
Trong những năm qua tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước của tỉnh đã được điều chỉnh, đổi mới một bước trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật nhà nước cũng như các Thông tư hướng dẫn của các Bộ, Liên
bộ Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan chuyên môn trong việc quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực đã dần sửa đổi, bổ sung và quy
Trang 34định rõ hơn, đã có sự phân định giữa chức năng quản lý nhà nước với quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Từng bước khắc phục dần sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào điều hành sản xuất kinh doanh của đơn vị,
vì vậy hoạt động của các cơ quan quản lý ngày càng có hiệu quả hơn trước
Song nhìn một cách tổng thể tổ chức của các cơ quan chuyên môn của tỉnh tuy đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối nhưng vẫn còn cồng kềnh, chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc được giao Một số cơ quan chưa làm hết chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc có cơ quan đã thấy nhiệm vụ mà vẫn bỏ sót hoặc không triển khai, điều đó
đã ảnh hưởng phần nào đến công tác tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo điều hành công việc nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế, các hoạt động xã hội, xây dựng cơ bản
Một số nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn còn chồng chéo, trùng lặp, một công việc có hai ba cơ quan cùng chịu trách nhiệm Sự phân định kết hợp giữa quản lý ngành và lãnh thổ nhất là giữa các Bộ, ngành Trung ương với UBND tỉnh, giữa các cơ sở với UBND các huyện, thành phố có lúc chưa rõ nên phần nào đã ảnh hưởng đến sự phối kết hợp cũng như đến công tác quản lý, chỉ đạo
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên một mặt do hướng dẫn của một số
bộ, ngành Trung ương đã có sự trùng lặp, mà tỉnh chỉ là cơ quan tổ chức thực hiện theo văn bản hướng dẫn đó Mặt khác, việc thẩm định đề án xin thành lập,
bổ sung chức năng, nhiệm vụ đôi lúc thiếu chặt chẽ, còn nể nang Ngoài ra, chưa thống nhất được nguyên tắc:”Không nhất thiết ở Trung ương có bộ nào, ngành nào thì ở địa phương nhất thiết phải có sở, ban, ngành chuyên môn đó”
Vì vậy, ngay sau khi có văn bản hướng dẫn của Trung ương là các ngành, các cấp đều đề nghị xin thành lập cho được tổ chức mới
Tóm lại: Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
Trang 35Thừa Thiên Huế còn cồng kềnh, chưa gọn nhẹ Chưa có mô hình cụ thể để đổi mới về tổ chức bộ máy Còn nhập, tách, thành lập mới, xoá bỏ các cơ quan chưa
có căn cứ khoa học, chưa tính đến đặc điểm cụ thể của địa phương
2.4 Thực trạng hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
Hoạt động của UBND tỉnh được thể hiện trong việc sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động các cơ quan, đơn vị thuộc quyền và UBND các huyện, thành phố thuộc tỉnh; có biện pháp thích hợp để triển khai các nhiệm vụ được giao UBND tỉnh nhân danh nhà nước để ban hành các Quyết định, Chỉ thị, những mệnh lệnh cụ thể có tính chất bắt buộc thi hành đối với các cơ quan, đơn vị
Điều 124 Hiến pháp 1992 quy định UBND hoạt động dưới hai hình thức: Hội nghị tập thể của UBND và hoạt động của Chủ tịch UBND Như vậy, UBND tỉnh là cơ quan có thẩm quyền chung và riêng Trong hoạt động của mình UBND tỉnh phải tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện kết hợp giữa chế độ làm việc tập thể và chế độ thủ trưởng Tập thể UBND tỉnh giải quyết một số công việc theo luật định và theo quy chế làm việc của UBND tỉnh (thẩm quyền chung) Chủ tịch UBND tỉnh là người đứng đầu UBND tỉnh có chức năng thủ trưởng cơ quan trong một số công việc (thẩm quyền riêng) Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tập thể UBND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, quan hệ của Chủ tịch UBND được quy định tại các điều 48 đến điều 52 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994
Điều 48 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 quy định về hình thức làm việc của UBND là thông qua họp UBND tỉnh mỗi tháng một lần hoặc cũng
có thể nhiều hơn tuỳ theo yêu cầu công tác tại địa phương Sau khi tập thể UBND tỉnh quyết định các công việc cần giải quyết, Chủ tịch UBND tỉnh căn
cứ vào đó để phân công cho các thành viên Ủy ban tổ chức thực hiện Các thành viên được phân công chịu trách nhiệm về kết quả công tác trước tập thể UBND
và trước Chủ tịch UBND tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm điều hoà, phối hợp giữa các thành viên để hoàn thành công việc, đồng thời chịu trách