So với các giai đoạn trước đây, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 vẫn xác định Hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN - KINH NGHIỆM TỪ THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
LUÂN VĂN THẠC SỸ LUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG THÁI
Hà nội – 2005
Trang 2nhân dân quận
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân
dân quận - kinh nghiệm từ thành phố Hà nội
33
2.1.1 Cơ cấu thành viên của Uỷ ban nhân dân quận 35 2.1.2 Các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân quận 36 2.2 Thực trạng hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận 54
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của uỷ ban nhân dân quận (Hà Nội)
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận đã có những mặt đổi mới để làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, thực trạng tổ chức và hoạt động đó còn chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, còn bộc lộ một số hạn chế Tuy cùng một cấp nhưng giữa Uỷ ban nhân dân huyện và Uỷ ban nhân dân quận có những nét đặc trưng riêng biệt Cho nên, tổ chức chính quyền đô thị có những đặc thù so với nông thông trong khi đó pháp luật đã điều chỉnh một cách tương đồng chưa có sự phân hoá cao
Việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận cả về
lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó, giúp cho chúng ta thấy được những mặt ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong quản
lý nhà nước Trên cơ sở đó xác định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chúng tôi xin dẫn ra một số công trình khoa học của các cá nhân, các
nhóm tác giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn: "Những vấn
đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay"
Đồng chủ biên PGS.TS Lê Minh Thông, PGS.TS Nguyễn Như Phát, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2002; "Chính quyền địa phương với
việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật", TS Trương Đắc Linh, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003; "Một số vấn đề về hoàn thiện
các cơ sở hiến định của tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay", TS Lê
Minh Thông, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2000; "Một số vấn đề cần
hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân các cấp", TS
Trang 4Bùi Xuân Đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2000… và một số công trình có liên quan khác
Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, trong đó có Uỷ ban nhân dân các cấp Cho đến hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn dưới góc độ luật học về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân Quận theo hướng đổi mới và hoàn thiện, đáp ứng các yêu cầu của cải cách bộ máy nhà nước trong tình hình mới
Với lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Đổi mới tổ chức và hoạt
động của Uỷ ban nhân dân quận - kinh nghiệm từ thành phố Hà Nội" làm
luận văn cao học
3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn lý luận và thực tiễn về
tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận, xác định những vấn đề cần hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận nhằm đảm bảo cho cơ quan này có đủ năng lực đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: phân tích những điểm khác biệt giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, khái quát quá trình hình thành và phát triển của Uỷ ban nhân dân quận Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu căn cứ pháp lý về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận theo pháp luật hiện hành Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận Trên cơ sở đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế để tìm ra nguyên nhân, giải pháp và những kiến nghị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước
Trang 54 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và một số phương pháp khác để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phân tích làm rõ vị trí, tính chất của Uỷ ban nhân dân quận
- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận (qua kinh nghiệm của thành phố Hà Nội)
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về vị trí, tính chất của Uỷ ban nhân dân quận
- Luận văn đưa ra một số kiến nghị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân quận
7 Kết cấu luận văn
Trang 6CHƯƠNG 1
VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN
1.1 Vị trí, vai trò của cấp quận trong đời sống đô thị
Trước khi tìm hiểu về vị trí, vai trò của cấp quận trong đời sống đô thị chúng ta phân biệt một số điểm khác nhau giữa đô thị và nông thôn
Huyện và quận là hai hình thức của cùng một cấp hành chính nhưng cấp quận là một cấp hành chính đặc thù của đô thị bởi nhiều yếu tố phối hợp
từ mật độ dân cư, sự tập trung và phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, thương mại, du lịch, công nghiệp Trong khi đó, huyện (nông thôn) chủ yếu phát triển nghề nông hoặc tiểu thủ công nghiệp truyền thống Sở dĩ có những điểm khác nhau đó do một số lý do sau:
để làm lợi cho mình Do vậy những đô thị là trung tâm kinh tế thường là những trung tâm đổi mới, sáng tạo và tiếp thu cái mới
Hai là, về kinh tế
Kinh tế nông thôn là đơn ngành và chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Còn kinh tế đô thị là đa ngành, phi nông nghiệp, chủ
Trang 7yếu là công nghiệp, thương mại và dịch vụ Kinh tế đô thị có tốc độ phát triển cao hơn và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước
Quản lý nhà nước về kinh tế ở đô thị là một trong những đối tượng quản lý quan trọng của chính quyền đô thị [20, tr 289] Quản lý nhà nước về kinh tế phải hướng tới chỗ tạo ra các điều kiện cần thiết và kiểm soát được quá trình phát triển kinh tế đô thị, mà hiệu quả cuối cùng phải đạt được là sự tăng trưởng kinh tế theo các mục đích đặt ra Tính đa dạng của các hoạt động kinh tế ở đô thị làm cho hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế ở đô thị có những nét riêng so với quản lý nhà nước về kinh tế ở nông thôn Nét khác nhau cơ bản ở đây là: nếu quản lý nhà nước đối với nông thôn chủ yếu là vấn
đề nông nghiệp, thì quản lý nhà nước đối với đô thị lại là vấn đề công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ
Ba là, về dân cư
Dân cư nông thôn đơn giản, thuần nhất, gắn kết với nhau từ lâu đời có tính truyền thống và huyết thống tạo nên những bản sắc, phong tục, tập quán riêng của từng tỉnh, huyện, xã, thôn, làng, ấp, bản Dân cư đô thị rất đa dạng
và phức tạp Dân cư đông đúc, tập trung với mật độ cao là đặc trưng của đô
thị Dân cư đô thị có nguồn gốc rất khác nhau “tứ xứ” tập trung lại (dân
phường Thị Cầu - Bắc Ninh có nguồn gốc từ 27 tỉnh; dân phường Thành Công thành phố Hà Nội có nguồn gốc từ 42 tỉnh), những người dân này sẽ mang theo những phong tục tập quán và lối sống khác nhau của địa phương nơi họ đã ra đi [2,tr.3]
Dân cư đô thị có trình độ học thức và dân trí cao hơn nông thôn, vì vậy
họ thường sống và làm việc theo các chuẩn mực pháp luật đã được các cơ quan trung ương định sẵn mà không phụ thuộc vào các quy định từ các khu dân cư đặt ra như ở các khu vực dân cư nông thôn Cuộc sống của họ - cư dân thành thị phụ thuộc vào mức độ công nghiệp hoá [19, tr 10]
Trang 8Thành phần dân cư không thuần nhất, nhu cầu cuộc sống đa dạng và phức tạp hơn, dân ngụ cư không chính thức và dân vãng lai cũng chiếm một tỉ
lệ đáng kể Một yếu tố khác, đô thị là nơi dân cư có thu nhập cao, nhiều người đến để tìm kiếm việc làm, người hành khất … Do đó quản lý dân cư, hộ tịch,
hộ khẩu ở đô thị khó khăn và phức tạp gấp nhiều lần so với nông thôn, chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong hoạt động quản lý của chính quyền đô thị
Bốn là, về lối sống
Cuộc sống của người dân nông thôn chủ yếu là tự túc, tự cấp, còn cuộc sống của người dân đô thị hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường theo phương thức mua - bán Những nhu yếu phẩm cần cho cuộc sống hàng ngày, từ cái nhỏ nhất như cái tăm đều do thị trường cung cấp Bảo đảm cung cấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày của người dân là trách nhiệm nặng nề của chính quyền các đô thị Chính quyền đô thị không chỉ có trách nhiệm bảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm mà còn có trách nhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho người dân đô thị Chính quyền nông thôn cũng phải lo cho cuộc sống của dân song mức độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị
Năm là, về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ở đô thị phức tạp gấp nhiều lần so với ở nông thôn nhất
là về giao thông, cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường Cơ sở hạ tầng đô thị (nhà ở, các công trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên, cây xanh, giao thông, điện, nước, thông tin…) là những mạng lưới, hệ thống đồng bộ, xuyên suốt địa bàn, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung, thống nhất cao, không thể phân tán, cắt khúc
Khi quá trình đô thị hoá diễn ra thì kéo theo nó là vấn đề nhà ở là một trong những vấn đề xã hội bức xúc đặt ra không những ở đô thị của Việt Nam
Trang 9mà còn ở đô thị của các nước khác trên thế giới Một bộ phận không nhỏ người dân đô thị không có nhà ở hoặc nhà ở chật chội, chưa có tiện nghi sinh hoạt cần thiết ở mức tối thiểu hoặc thấp kém Theo đà tăng dân số đô thị, nhà
ở đang và sẽ là vấn đề nóng ở đô thị Thêm vào đó, các nơi vui chơi, giải trí còn nghèo nàn, giá cả cao khiến một bộ phận dân cư không có khả năng tiếp cận được các dịch vụ đó
Sáu là, về quản lý
Ở đô thị, nội dung quản lý phức tạp, khối lượng công việc quản lý lớn gấp nhiều lần so với nông thôn và có nhiều nội dung quản lý Nhà nước khác với nông thôn, ở nông thôn hầu như không có nội dung quản lý Nhà nước về nhà, xây dựng, cấp thoát nước; giao thông và vệ sinh đường phố Trong khi
đó những nội dung trên là những vấn đề bức xúc, thường xuyên trong quản lý Nhà nước ở đô thị
Một ví dụ minh hoạ cho điều nhận định ở trên: kết quả thực hiện mô
hình “một cửa, một dấu” ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, hàng tháng
Quận I, Quận V thụ lý từ 800 - 1.200 hồ sơ, trong khi đó huyện Củ Chi chỉ thụ lý 120 - 150 hồ sơ [2, tr 3]
Bảy là, về địa giới hành chính
Ở đô thị, địa giới hành chính chỉ có ý nghĩa trong quản lý hành chính Nhà nước Còn trong các lĩnh vực khác (hoạt động, kinh tế, văn hóa, xã hội, giao thông, cư trú….) hầu như không có khái niệm địa giới hành chính Ở nông thôn, địa giới hành chính trùng với các địa giới khác, nhất là địa giới kinh tế
Tám là, sự khác biệt giữa Quận và Huyện do quá trình đô thị hóa Ví dụ
như: mở rộng phạm vi diện tích và dân cư của đô thị do đòi hỏi của thị trường, của công nghiệp; sự thay đổi của nông thôn thành đô thị ở một số vùng do sự hình thành các trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch và công
Trang 10nghiệp Tốc độ đô thị hoá mạnh mẽ đã kéo theo những hệ quả tất yếu là sự đa dạng thành phần dân cư, sự phức tạp về an ninh chính trị, an toàn xã hội cũng như các tệ nạn xã hội phát triển cao
Từ những đặc điểm khác nhau giữa đô thị và nông thôn, đòi hỏi cấp quận phải có hình thức quản lý địa bàn phù hợp đồng thời đòi hỏi cán bộ công chức phải thích ứng Cùng là cơ quan hành chính nhà nước ngang cấp nhưng nhiệm vụ quản lý địa phương của Uỷ ban nhân dân cấp quận phức tạp và nặng
nề hơn nhiều so với cấp huyện do các yếu tố vừa phân tích ở trên đem lại
Phân tích về tầm quan trọng của quản lý hành chính cấp Quận (Huyện)
có một số quan điểm cho rằng không nhất thiết phải tồn tại cấp quận (huyện) với tư cách là một cấp chính quyền đầy đủ Ở quận (huyện) không cần thiết phải có Hội đồng nhân dân mà chỉ nên có cơ quan hành chính thuần tuý với tính chất là “cánh tay hành chính nối dài” của chính quyền cấp thành phố (tỉnh) trên địa bàn quận (huyện) Đồng thời, cũng có quan điểm cho rằng tổ chức bộ máy hành chính cấp quận (huyện) không nhất thiết phải có ở tất cả mọi địa phương mà tuỳ thuộc vào yêu cầu thực tế, thậm chí trong một địa phương có thể có nơi cần tổ chức bộ máy hành chính quận (huyện), có nơi lại không cần như kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Quan điểm này xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước ta những năm
1946 Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1946 quy định tất cả các cấp hành chính
- lãnh thổ đều có cơ quan hành chính (xã, huyện, tỉnh, kỳ) nhưng không phải cấp hành chính - lãnh thổ nào cũng có Hội đồng nhân dân mà chỉ có cấp xã và cấp tỉnh có Hội đồng nhân dân, đối với cấp huyện chỉ có cơ quan hành chính trung gian thay mặt chính quyền tỉnh quản lý các xã trong huyện
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, trong điều kiện cụ thể của nước ta, xây dựng, kiện toàn hai cấp chính quyền địa phương đầy đủ gồm cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương và cấp xã, phường, thị trấn là một mô hình
Trang 11khá lý tưởng Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò trung gian đắc lực của cấp quận (huyện) trong quản lý hành chính nhà nước ở địa phương hiện nay Bởi thực tế, chính quyền cấp Thành phố (Tỉnh) và cấp phường (xã) chưa đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn một cách có hiệu lực, hiệu quả Vì vậy, vai trò của cấp quản lý hành chính trung gian lại trở nên quan trọng trong điều chỉnh mọi quan hệ xã hội xuyên suốt từ trung ương đến
cơ sở Do đó, để xây dựng mô hình chính quyền hai cấp đòi hỏi chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải kiện toàn đủ mạnh để chỉ đạo trực tiếp đến cấp xã mà không cần phải thông qua một cấp trung gian nào nữa, đồng thời cấp xã cũng phải được xây dựng, kiện toàn đúng với tầm của chính quyền cơ sở và được phân cấp nhiều hơn nữa về chức năng, thẩm quyền quản
lý nhà nước Đây là một vấn đề còn khá xa Do vậy, chúng ta phải từng bước nâng cao dần hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền một cách đồng bộ, xuyên suốt từ cấp thành phố (tỉnh), quận (huyện), phường(xã)
1.2 Khái quát sự hình thành và phát triển của chế định Uỷ ban nhân dân Quận
Chính quyền cấp quận là một cấp chính quyền nhân tạo chứ không phải
là chính quyền tự nhiên Chúng ta tìm hiểu cấp quận xuất hiện từ khi nào trong lịch sử chính quyền địa phương ở Việt Nam
Giai đoạn từ 2/9/1945 đến năm 1959
Giai đoạn này được đánh dấu bằng Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 về
tổ chức HĐND và UBHC xã, huyện, tỉnh, kì và Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố
Trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh để sửa đổi bổ sung sắc lệnh số 63 và 77 cho phù hợp với tình hình đất nước còn chiến tranh Theo sắc lệnh ngày 20/12/1946 và Thông lệnh liên
Bộ quốc phòng - nội vụ ngày 18/12/1946 cấp kì tạm bỏ, cả nước được chia
Trang 12thành 16 chiến khu Sau đó, theo Sắc lệnh ngày 25/11/1948 các chiến khu được xác nhập thành 10 liên khu kháng chiến Dưới chiến khu hoặc liên khu vẫn là những đơn vị hành chính tỉnh, thành phố, thị xã, huyện, xã Thời kỳ này bên cạnh Uỷ ban hành chính, Uỷ ban bảo vệ được thành lập để giải quyết những vấn đề kháng chiến Theo thông lệnh liên Bộ nội vụ - quốc phòng ngày 31/12/1946 Uỷ ban bảo vệ được gọi là Uỷ ban kháng chiến và sắc lệnh ngày 01/10/1947 Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính hợp nhất thành Uỷ ban kháng chiến - hành chính Ngày 31/5/1958 Chủ tịch nước đã ban bố Luật số
110 (do Quốc hội khoá I kì họp thứ 8 thông qua) về tổ chức chính quyền địa phương Sau khi Hiến pháp năm 1959 ban hành, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính năm 1962 đánh dấu một giai đoạn mới trong tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta
Phân tích các quy định của pháp luật và hoạt động thực tiễn của chính quyền địa phương trong giai đoạn này chúng ta có thể đưa ra các nhận xét sau đây về mặt ưu điểm của chính quyền địa phương:
- Đã có sự phân biệt giữa quản lí đô thị và quản lí nông thôn, vì Chính phủ đã ban hành sắc lệnh riêng để quy định về tổ chức chính quyền nông thôn (Sắc lệnh số 63) và về tổ chức chính quyền đô thị (Sắc lệnh số 77) Theo sắc lệnh số 63, ở nông thôn chính quyền được tổ chức thành 3 cấp trong đó có 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh là cấp tỉnh và cấp xã vừa có Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban hành chính, còn cấp huyện chỉ có Uỷ ban nhân dân vì được coi là cấp trung gian Ở Thành phố, theo Sắc lệnh số 77 chỉ có một số cấp chính quyền hoàn chỉnh đó là cấp thành phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân còn khu phố chỉ có Uỷ ban hành chính mà không có Hội đồng nhân dân Quy định này hoàn toàn hợp lí bởi ở các thành phố, đô thị là một quần cư không thể chia cắt như các tỉnh chia thành huyện được
Trang 13- Pháp luật quy định rất rõ ràng, cụ thể về quyền, trách nhiệm pháp lí của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân với các chế tài cụ thể có thể áp dụng một cách dễ dàng
Ví dụ, Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77 quy định cơ quan hành chính cấp trên có quyền chuẩn y kết quả bầu cử Uỷ ban hành chính và Hội đồng nhân dân cấp dưới nhưng trong thời hạn 5 ngày (Uỷ ban hành chính huyện) hoặc 15 ngày (Uỷ ban hành chính kì) phải có văn bản trả lời cấp dưới Nếu từ chối chuẩn y thì Uỷ ban hành chính cấp trên phải nói rõ lí do Uỷ viên Uỷ ban hành chính nào không được chuẩn y phải bầu lại nhưng nếu bầu lại vẫn trúng
cử Uỷ ban hành chính thì cấp trên phải chuẩn y kết quả bầu đó (Điều 68, 73,
82, 87 Sắc lệnh 63, Điều 33, 47 Sắc lệnh 77) Sắc lệnh số 63 quy định :”Khi
Hội đồng nhân dân xã hoặc tỉnh ra nghị quyết trái với mệnh lệnh cấp trên thì ngoài việc thủ tiêu nghị quyết đó, Uỷ ban hành chính cấp trên còn cảnh cáo Hội đồng nhân dân và nếu Hội đồng nhân dân vẫn không tuân lệnh thì Uỷ ban hành chính tỉnh có quyền giải tán Hội đồng nhân dân xã và Chính phủ có quyền giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh” (Điều 8, Điều 38) Điều 2 Sắc lệnh số
117 ngày 2/7/1946 “Về bổ sung Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77” quy định:
“Nếu đại biểu Hội đồng nhân dân nào vắng mặt 3 kì họp Hội đồng nhân dân
liên tiếp mà không có lí do hoặc lí do không chính đáng sẽ bị mất quyền đại biểu”
Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Ở giai đoạn này, chính quyền địa phương được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính năm 1962 Ở nông thôn có ba cấp chính quyền là tỉnh, huyện , xã, còn thành phố trực thuộc trung ương (ở nội thành) có hai cấp
là thành phố và khu phố Các huyện ngoại thành thì tổ chức như ở nông thôn
Trang 14Như vậy, cho đến thời kỳ này vẫn có 2 mô hình tổ chức chính quyền địa phương khác nhau Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính năm 1962 có những điều khoản riêng quy định nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính thành phố (Điều 17, 46 và khu phố (Điều 18, 47)
Đáng lưu ý là từ năm 1947 với Quyết định số 78/CP ngày 10/04/1974 của Hội đồng Chính phủ các khu phố của Thành phố Hà Nội và Hải Phòng chia ra nhiều khu nhỏ gọi là tiểu khu với quy mô từ 2000 đến 5000 nhân khẩu Mỗi tiểu khu có một cơ quan đại diện của Uỷ ban hành chính khu phố gọi là ban đại diện hành chính tiểu khu Ban đại diện hành chính tiểu khu là tổ chức mang tính tự quản của nhân dân tiểu khu, không phải là cấp chính quyền hay là đơn vị hành chính lãnh thổ
Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương trong thời gian này, chúng ta có thể rút ra các nhận xét sau đây:
Uỷ ban hành chính là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương
Uỷ ban hành chính cấp trên chỉ có quyền đình chỉ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, còn quyền bãi bỏ những nghị quyết này là của Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp
- So với Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh 77 năm 1945, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp năm 1962 thu hẹp phạm vi những vấn đề chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết định của chính quyền cấp dưới Chỉ những vấn đề đặc biệt quan trọng, thông thường là liên quan đến vấn đề tổ chức như Uỷ ban hành chính cấp trên phê chuẩn kết quả bầu cử Uỷ ban hành chính cấp dưới Nghị quyết của Hội đồng nhân dân giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp phải được Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn Những quy định này nhằm tăng cường tính chủ động, sáng tạo cho chính quyền các cấp
Trang 15Giai đoạn từ năm 1980 đến 1992
- Để hạn chế tình trạng tuỳ tiện, làm thiệt hại quyền lợi của công dân trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan chính quyền địa phương, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 quy định từ nay ở địa phương chỉ có Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về vi phạm hành chính, nếu những hành vi này chưa được Chính phủ quy định (trước đây Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về các hành vi vi phạm hành chính và mức độ, hình thức xử phạt hành chính )
Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn này cũng có những hạn chế sau đây:
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1983 đã bỏ
bộ phận thường trực Uỷ ban nhân dân để mọi vấn đề thuộc thẩm quyền Uỷ ban nhân dân đều phải bàn bạc giải quyết tập thể và biểu quyết theo đa số tại phiên họp của Uỷ ban nhân dân Quy định này về mặt lí thuyết có vẻ hợp lí nhưng thực tiễn chỉ ra rằng các công việc chấp hành, điều hành của Uỷ ban nhân dân đòi hỏi sự phản ứng nhanh nhạy, không phải khi nào cũng có điều kiện để bàn bạc tập thể được
- Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1983 đồng nhất hoá các cấp tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn cũng như thành thị Có thể thấy rằng đây là bước thụt lùi trong việc
tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1983 (sửa đổi năm 1989) đã hạn chế sự kiểm soát của Uỷ ban nhân dân cấp trên đối với
Uỷ ban nhân dân cấp dưới bằng quy định chỉ có Hội đồng nhân dân cùng cấp
có quyền bãi nhiệm Uỷ ban nhân dân Quy định này đã tăng quyền lực theo
Trang 16chiều ngang (cho Hội đồng nhân dân cùng cấp) nhưng đã hạn chế quyền lực theo chiều dọc (Uỷ ban hành chính cấp trên đối với cấp dưới)
Giai đoạn từ năm 1992 đến nay
Các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hoặc liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong thời gian này là Hiến pháp 1992; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân do Quốc hội thông qua ngày 5/7/1994; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân (28/10/1995); Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2004
So với các giai đoạn trước đây, Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 vẫn xác định Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân vẫn là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân năm 1994 đã mở rộng quyền hạn và tăng cường trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, tăng cường tính tập trung thống nhất của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có những quyền hạn trước đây thuộc về Uỷ ban nhân dân như đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới, đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền phê chuẩn kết quả bầu, bãi miễn các thành viên Uỷ ban
Trang 17nhân dân cấp dưới trực tiếp (Điều 52 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994)
- Một bước tiến mới trong việc hoàn thiện tổ chức của chính quyền địa phương ở nước ta là việc ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2004 Văn bản của chính quyền cấp huyện, quận có hiệu lực sau 7 ngày kể từ ngày ký hoặc thông qua, của cấp xã phường có hiệu lực sau 5 ngày kể từ ngày ký hoặc thông qua nếu trong các văn bản quy phạm pháp luật đó không xác định cụ thể ngày phát sinh hiệu lực Mặt khác, để đảm bảo tính công khai minh bạch của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương luật này quy định các văn bản chính quyền cấp huyện, quận phải được niêm yết công khai trong vòng 3 ngày kể từ ngày ký hoặc thông qua Đây là một bước tiến bộ đáng kể, đáp ứng những nguyên tắc mới của pháp luật theo xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá [23, tr 2-6]
Thứ hai, về số lượng thành viên Uỷ ban nhân dân cấp quận thì không
có gì thay đổi, tổng số vẫn là 09 thành viên nhưng có sự thay đổi về số phó chủ tịch uỷ ban nhân dân quận
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 thì số phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận là hai Phó chủ tịch, số uỷ viên ủy ban nhân dân là 6 Uỷ viên
Còn theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm
2003 thì số phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận là 3 phó chủ tịch, số uỷ viên
uỷ ban nhân dân là 5 uỷ viên
Hiện nay chúng ta đã tăng số phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ( một phó chủ tịch) và giảm số uỷ viên Uỷ ban nhân dân (một uỷ viên)
Ở một số nước trên thế giới, họ có tồn tại chính quyền cấp quận Ở đây, cấp quận đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống đô thị
Trang 18Ví dụ ở Canada họ quan niệm quận là một cấp quyết định và tham mưu mới, thành lập trên lãnh thổ các thành phố lớn chính quyền cấp quận có một
số nhiệm vụ, quyền hạn Việc thành lập các quận nhằm bảo vệ tính đặc thù của các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề và cung cấp các dịch vụ trực tiếp phục vụ công dân Nó là cấp gần dân nhất và có tác động của địa phương, cơ sở Những dịch vụ cấp này cung cấp có thể điều chỉnh theo nhu cầu của công dân Quận là điểm kết nối giữa công dân và hoạt động quản lý của thành phố
Trách nhiệm của quận
- Quận quản lý công viên, trang thiết bị thể thao, văn hoá giải trí tại địa phương;
- Phát triển kinh tế địa phương cộng đồng và xã hội;
- Tổ chức lấy ý kiến của công chúng đối với quy hoạch vùng;
- Tiến hành điều chỉnh nhỏ liên quan đến quy hoạch đô thị;
- Cấp phép xây dựng;
- Thu gom rác thải;
- Quản lý các hệ thống đường địa phương
Họ quan niệm quận như là thành phố nhỏ trong thành phố lớn Sơ đồ tổ chức của Quận:
- Phòng văn hoá, giải trí và đời sống cộng đồng: thể thao, giải trí, nghệ thuật văn hoá;
- Phòng quan hệ với công dân: giải quyết các vấn đề công dân;
- Phòng quản lý lãnh thổ;
Trong việc cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải có tính linh hoạt, hiệu quả cao Trước hết cần hiểu nhiệm vụ nào do thành phố đảm nhiệm, dịch vụ nào
do thành phố cung cấp
Trang 19- Thành phố có trách nhiệm cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho hoạt động cấp quận
- Thành phố chăm lo sự gắn kết giữa những sáng kiến đưa ra trên toàn thành phố Quận là cầu nối chủ yếu giữa công dân và thành phố
- Thành phố đảm nhiệm công việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Khả năng quản lý trong tương lai, theo đặc thù các quận:
- Các quận có thể được cấp hạn mức ngân sách riêng;
- Các quận có thể đánh thuế và điều chỉnh thuế theo dịch vụ họ cung cấp [6, tr 29]
1.3 Tính chất của Uỷ ban nhân dân quận
1.3.1 Uỷ ban nhân dân quận là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Chỉ duy nhất ở Hiến pháp năm 1946, Uỷ ban hành chính được xác định
chức năng, nhiệm vụ: chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với hội
đồng nhân dân địa phương mình
Từ luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 đến nay, Uỷ ban nhân dân được xác định là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu sự lãnh đạo thống nhất
của chính phủ Theo Điều 123 Hiến pháp năm 1992 “ Uỷ ban nhân dân do hội
đồng nhân dâu bầu là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của hội đồng nhân dân” [4]
Với tính chất là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quận là một bộ phận của chính quyền quận, do Hội đồng nhân dân
Trang 20quận bầu ra, chịu trách nhiệm về việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, biến các nội dung của nghị quyết hội đồng nhân dân thành hiện thực Trên cơ sở các quy định trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân họp để thông qua và chỉ đạo triển khai thực hiện
Là cơ quan song trùng trực thuộc, Uỷ ban nhân dân quận chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Uỷ ban nhân dân quận chịu trách nhiệm thi hành những Nghị quyết của hội đồng nhân dân, chịu sự giám sát của hội đồng nhân dân quận
Hội đồng nhân dân có quyền bãi miễn những thành viên của Uỷ ban nhân dân, giám sát, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Uỷ ban nhân dân
Các cơ quan hành chính nhà nước theo luật định là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp Những cơ quan này giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong
hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Phạm vi thẩm quyền của những
cơ quan này không bị giới hạn trong ngành hay lĩnh vực Chúng là những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước toàn diện trên địa bàn hành chính lãnh thổ tương ứng Quốc hội và Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về tổ chức, nhiệm vụ, cách thức thành lập các cơ quan này nên chức năng, nhiệm vụ và cách thức tổ chức
bộ máy các cơ quan này tương đối ổn định
1.3.2.Nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban nhân dân quận
Một là, trong lĩnh vực quản lý nhà nước
Đây là lĩnh vực chủ yếu, bao trùm lên toàn bộ hoạt động của Uỷ ban nhân dân Uỷ ban nhân dân thống nhất quản lý hành chính ở địa phương về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng… đảm bảo cho hiến
Trang 21pháp và pháp luật được thực hiện ở địa phương Để thực hiện quản lý hành chính ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xây dựng các kế hoạch, qui hoạch, đề
án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp… Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước ở địa phương trình Hội đồng nhân dân thông qua Sau khi được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp hoặc Chính phủ phê chuẩn, Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện các kế hoạch, qui hoạch, đề án đó ở địa phương
Uỷ ban nhân dân phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước theo lĩnh vực trên địa bàn; chỉ đạo, kiểm tra cơ quan thuế và cơ quan được nhà nước khác giao nhiệm vụ thu ngân sách tại địa phương; thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, quản lý việc sử dụng đất đai, quản lý việc khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên nước, khai thác và bảo vệ các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ; quản lý bảo vệ hệ thống đê điều, các công trình chống bão lụt; tổ chức quản lý các công trình giao thông đô thị, vệ sinh môi trường đường bộ và đường sông ở địa phương theo qui định của pháp luật; quản lý việc thực hiện các chính sách về nhà ở, chỉ đạo công tác quản lý thị trường; quản lý hộ tịch, hộ khẩu, việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương; quản
lý các hoạt động văn hoá, giáo dục - đào tạo, thông tin, thể dục, thể thao ở địa phương
Hai là, trong lĩnh vực pháp luật
Là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân quản lý cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực cũng như những tiềm năng khác của địa phương Do đó, Uỷ ban nhân dân có điều kiện tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước ở cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Từ thực tiễn của việc áp dụng các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước ở cấp trên vào hoạt động quản lý nhà nước ở
Trang 22địa phương, Uỷ banh nhân dân đề xuất những kế hoạch (dài hạn, hàng năm), những qui hoạch (đất đai, giao thông vận tải, đô thị…) những đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế … trên cơ sở đó Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét quyết định Tuyệt đại đa số các dự án về kế hoạch, dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước ở địa phương về qui hoạch và các dự án đưa ra thảo luận và biểu quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân là do sự chủ động, năng động, đề xuất của Uỷ ban nhân dân Vì vậy hiệu quả của kỳ họp Hội đồng nhân dân và tính khả thi của Nghị quyết mà Hội đồng nhân dân thông qua phụ thuộc rất nhiều vào sáng kiến và năng lực của Uỷ ban nhân dân
Từ thực tiễn của việc áp dụng văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương, Uỷ ban nhân dân kiến nghị với các cơ quan nhà nước đó ban hành mới, bổ sung, sửa đổi hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật cho phù hợp với thực tiễn đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Trên cơ cở những quy định của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp cũng như tình hình thực tế ở địa phương, Uỷ ban nhân dân ban hành các quyết định, chỉ thị để cụ thể hoá những văn bản đó vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương
Uỷ ban nhân dân phải tổ chức, chỉ đạo công tác thanh tra nhà nước, tiếp nhận giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân; tổ chức, chỉ đạo công tác thi hành án ở địa phương; tổ chức, chỉ đạo công tác hộ tịch, thực hiện công chứng, giám định tư pháp, quản lý tổ chức luật sư và tư vấn luật pháp; quyết định xử lý vi phạm hành chính
Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ tuyên truyền pháp luật để nhân dân địa phương hiểu và tuân theo pháp luật
Ba là, trong lĩnh vực xây dựng chính quyền nhà nước
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
Trang 23nhân dân phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, với Uỷ ban mặt trận
tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên của mặt trận trong việc tuyên truyền và chuẩn bị các điều kiện cho bầu cử Kết quả các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào công tác tổ chức, chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân
- Uỷ ban nhân dân căn cứ vào các qui định của Chính phủ cũng như trong thực tiễn hoạt động quản lý quyết định thành lập mới, sáp nhập hoặc giải thể, quyết định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan chuyên môn,
tổ chức sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân để giúp Uỷ ban nhân dân quản lý những ngành và lĩnh vực nhất định ở địa phương
- Uỷ ban nhân dân xây dựng đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình cấp trên xem xét quyết định, đối với đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính cấp tỉnh thì Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua để đề nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét quyết định
- Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của Chính phủ, tổ chức việc khen thưởng, thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức nhà nước trên địa bàn theo qui định của pháp luật Riêng đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh phải tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ viên chức nhà nước và cán bộ cấp xã, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã theo hướng dẫn của Chính phủ
Bốn là, trong lĩnh vực kiểm tra giám sát
Uỷ ban nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế địa phương
Trang 24Uỷ ban nhân dân kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới,
dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách ở địa phương, kiểm tra việc thực hiện qui hoạch, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân cấp dưới
Uỷ ban nhân dân tổ chức chỉ đạo công tác thanh tra nhà nước, tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân; tổ chức chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế và các cơ quan khác được nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách tại địa phương; chỉ đạo thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường đối với tổ chức, cá nhân ở địa phương; kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm để ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả tại địa phương, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
- Uỷ ban nhân dân chỉ đạo việc thực hiện các quy định về quản lý hộ khẩu, quản lý việc cư trú, đi lại của người nước ngoài ở địa phương, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các thể lệ, quy tắc, biện pháp phòng cháy, chữa cháy, trật tự an toàn giao thông và an toàn xã hội [14]
So sánh nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền địa phương của một
số nước khác trên thế giới
Về kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương
Khác với ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, chính quyền địa phương ở các nước được tổ chức theo nguyên tắc tự quản, với các mô hình khác nhau Các cơ quan tự quản địa phương không nằm trong cơ cấu tổ chức
bộ máy Nhà nước, có tính độc lập với chính quyền cấp trên (và cả chính quyền trung ương) khi giải quyết các vấn đề của địa phương theo thẩm quyền riêng của mình đã được Hiến pháp và luật quy định Các cơ quan tự quản địa phưong có tài sản riêng, ngân sách riêng, viên chức tự quản riêng, có quyền
Trang 25ban hành điều lệ, quy chế riêng… nhưng không được trái với Hiến pháp và luật của chính quyền Trung ương Vì vậy, sự kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương ở các nước trước hết và chủ yếu do các
cơ quan chính quyền Trung ương và đặc biệt là toà án thực hiện Để bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của nhà nước ở địa phương, các nước áp dụng các hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát khác nhau, phụ thuộc vào
mô hình tổ chức chính quyền địa phương của các nước
Ở những nước theo mô hình của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như: Pháp, Italia, Cộng hoà liên bang Đức…, chính quyền Trung ương thường áp dụng chế độ "giám hộ hành chính" tương đối chặt chẽ đối với hoạt động của chính quyền địa phương Giám hộ hành chính thể hiện bằng các hình thức sau:
- Đặt những đại diện của chính phủ ở địa phương để kiểm soát hoạt động của các cơ quan tự quản địa phương;
- Quyền của cơ quan chính quyền Trung ương phê chuẩn hay bãi bỏ những văn bản của cơ quan tự quản địa phương;
- Quyền của chính quyền Trung ương được bãi chức người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương, giải tán cơ quan dân cử địa phương và tổ chức bầu lại cơ quan dân cử này [22, tr 358-366]
Ở những nước theo mô hình của hệ thống pháp luật ăng lô sác xông như: Anh, Mỹ, Canada…, chính quyền Trung ương không áp dụng sự kiểm soát chặt chẽ và trực tiếp đối với các cơ quan tự quản địa phương theo kiểu
"giám hộ hành chính ", không có đại diện của chính quyền Trung ương đặt ở địa phương Chính quyền Trung ương cung cấp cho chính quyền địa phương
"những bản chỉ dẫn", ban hành các chỉ thị, quyết định có tính bắt buộc thực hiện đối với chính quyền địa phương Pháp luật còn quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng tự quản địa phương, nhưng những
Trang 26vấn đề này (thường là vấn đề về tài chính, thuế, chuyển dịch sở hữu đối với đất và tài sản công, xây dựng các khu dân cư….) chính quyền địa phương trước khi quyết định phải có sự thoả thuận đồng ý trước, hoặc phê chuẩn của
Bộ, ngành tương ứng trước khi thi hành
Kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương ở các nước có xu hướng chung là giao cho toà án xét xử để xác định các vi phạm Hiến pháp, luật của chính quyền Trung ương Theo yêu cầu của quan chức chính quyền Trung ương, toà án có thẩm quyền phán xét về tính hợp pháp đối với văn bản (quy phạm và cá biệt), cũng như hoạt động của chính quyền địa phương Ngược lại, chính quyền địa phương cũng có quyền kiện ra toà án, yêu cầu toà án xác định văn bản hay hoạt động của cơ quan hoặc quan chức chính quyền Trung ương là vi phạm Hiến pháp, vi phạm luật về quyền
tự quản của địa phương [7, tr 86-88]
Về giải quyết khiếu kiện hành chính ở địa phương
Hầu hết các nước đều quy định các cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan chính quyền địa phương, các quan chức địa phương phải giải quyết lần đầu các khiếu nại của tổ chức và cá nhân đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính của mình bị cho là trái pháp luật Nếu qua thủ tục giải quyết khiếu nại, người khiếu nại không đồng ý cách giải quyết của cơ quan hành chính, cơ quan chính quyền địa phương thì có quyền kiện ra toà án (ở Cộng hoà liên bang Đức, Thuỵ Điển… là Toà án hành chính ) Ở một số nước, giai đoạn "tiền tố tụng "(khiếu nại trước, kiện ra toà sau) là không bắt buộc Ví dụ, ở Singapo, công dân có quyền khiếu kiện trực tiếp đến Toà thượng thẩm của Toà án tối cao (toà sơ cấp không có thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính ), không cần phải qua cơ quan hành chính Ở Nhật Bản, Luật tố tụng hành chính năm 1948 quy định bắt buộc phải có giai đoạn "tiền
tố tụng", nhưng luật năm 1962 bỏ quy định này Tuy nhiên, vì toà án giải
Trang 27quyết lâu, tốn kém và tâm lý người dân ngại "kiện quan", nên hàng năm các toà án địa phương ở Nhật Bản giải quyết các vụ án hành chính cũng không nhiều Ví dụ, năm 1978 Toà án các cấp của Nhật Bản chỉ giải quyết 976 vụ án hành chính [21, tr 243-247]
Ở Pháp, trước đây có tình trạng các cấp chính quyền quan liêu, giải quyết không kịp thời các khiếu nại của dân Kiện ra toà án thì tốn kém và kéo dài, nên dân phải khiếu nại lên cấp cao hơn Nhưng nếu cả cấp cao nhất cũng
"xử ép" người khiếu nại thì biết kêu ai?
Để khắc phục tình trạng này, theo đạo luật từ năm 1973, Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) chỉ định một chức vụ gọi là "nhà trung gian của nền cộng hoà" để giải quyết một cách công bằng những khiếu nại giữa người dân với các cơ quan hành chính Các nghị sỹ Quốc hội, các dân biểu ở các tỉnh là những người tình nguyện do "nhà trung gian của nền cộng hoà" chỉ định và
họ chính là người trực tiếp giúp "nhà trung gian" giải quyết các khiếu nại của người dân đối với chính quyền địa phương Năm 1998, "nhà trung gian" nhận 45.628 đơn, tỷ lệ số đơn được giải quyết là 85% [3, tr 15]
Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm của chính quyền địa phương
Ở các nước áp dụng nguyên tắc tự quản địa phương, các cơ quan dân
cử địa phương (Hội đồng tự quản) và các cơ quan chấp hành của tự quản địa phương không được coi là cơ quan nhà nước, không nằm trong hệ thống các
cơ quan quyền lực nhà nước Vì vậy, khác với ở Việt Nam, các văn bản quy phạm do các cơ quan tự quản địa phương ban hành không được gọi là văn bản quy phạm pháp luật, không nằm trong hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước Những văn bản này thường được gọi là "quy chế", "điều lệ" của tự quản địa phương
Theo Điều 4 Công ước của Cộng đồng châu Âu về tự quản địa phương năm 1985, các cơ quan tự quản địa phương trong phạm vi thẩm quyền theo
Trang 28luật định, có quyền tự do đầy đủ trong việc quyết định những vấn đề ở địa phương
Luật về tự quản địa phương của Cộng hoà liên bang Đức năm 1983, của liên bang Nga năm 1995 đều quy định thẩm quyền các cơ quan tự quản địa phương ban hành văn bản quy phạm (các quy chế, điều lệ…) đặt ra các quy tắc để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc thẩm quyền của địa phương
Để những văn bản của tự quản địa phương không vi phạm Hiến pháp
và pháp luật của nhà nước, một số nước quy định chế độ giám hộ hành chính (phê chuẩn), chế độ kiểm sát văn bản, hoặc chế độ nộp lưu chiểu cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trên Đó là các cơ quan của Chính phủ (Bộ Nội
vụ, các Bộ, ngành có liên quan), cơ quan kiểm sát, hoặc cơ quan chính quyền cấp trên Ở Liên bang Nga, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với các văn bản của cơ quan tự quản địa phương vi phạm Hiến pháp, luật của Liên bang Nhưng khác với Viện kiểm sát ở nước ta trước đây khi còn được giao thực hiện chức năng kiểm sát chung, văn bản của cơ quan tự quản địa phương
ở liên bang Nga khi bị Viện kiểm sát kháng nghị sẽ đương nhiên bị đình chỉ hiệu lực thi hành Nếu cơ quan tự quản không sửa đổi, hay bãi bỏ văn bản có
vi phạm trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát sẽ đưa vấn đề này ra Toà án
Cũng khác với ở Việt Nam, Toà án hành chính ở một số nước (như cộng hoà liên bang Đức, Thuỵ Điển…) không chỉ có thẩm quyền xét xử các quyết định hành chính cá biệt và hành vi hành chính, mà còn có quyền xét xử
cả các văn bản quy phạm của các cơ quan chính quyền địa phương bị cho là trái Hiến pháp, trái luật làm thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân ở địa phương
Các văn bản quy phạm do chính quyền địa phương ban hành không được trái Hiến pháp, luật và văn bản của chính quyền địa phương cấp trên
Trang 29Về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương
Để các tầng lớp nhân dân nắm được pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật, một số nước đăng đầy đủ các văn bản pháp luật vào Công bào, phát hành kịp thời và phổ biến rộng rãi đến người dân Ví dụ: ở Pháp, Công báo đăng các văn bản pháp luật của Tổng thống, Thủ tướng; nghị định của các Bộ trưởng, được phát hành 25 lần trong một tháng (trừ ngày thứ hai hàng tuần)
Ở tỉnh và công xã có Bản tin chính thức của cấp này để đăng các văn bản hành chính của tỉnh và các quyết định của tỉnh trưởng, của công xã [5, tr 88-89]
Tuy nhiên, để người dân nắm được pháp luật, có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương, của Toà án phải đúng pháp luật khi giải quyết các quyền và nghĩa vụ của tổ chức và công dân
Ở các nước phát triển, vai trò của đội ngũ luật sự được tôn trọng và là chỗ dựa về mặt pháp lý đáng tin cậy của người dân, giúp người dân hiểu và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình Ở Mỹ, trong khoảng
200 triệu dân thì phần lớn thuê dịch vụ của 300.000 luật sư; ở Nhật Bản có hơn 10.000 luật sư trên 108 triệu dân [21, tr 182]
Một số nước kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật với tổ chức thực hiện pháp luật, kết hợp các chế tài với các biện pháp cưỡng chế khác
1.3.3 Các mối quan hệ của Uỷ ban nhân dân quận
* Quan hệ giữa uỷ ban nhân dân quận với hội đồng nhân dân cùng cấp
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Trang 30Hội đồng nhân dân hoạt động trên cơ sở mang tính chất tự quản, tự quyết định những vấn đề của địa phương trên cơ sở Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
Hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp Hội đồng nhân dân, hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và của các đại biểu Hội đồng nhân dân
Hiệu quả hoạt động của Uỷ ban nhân dân vì vậy là một trong những bảo đảm cho hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và nó đóng góp một vai trò khá quan trọng
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
Tuy nhiên, Hội đồng nhân dân là một cơ quan hoạt động không thường xuyên Vì vậy, kế hoạch ngân sách ở địa phương cũng như các chủ trương, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân… chỉ có thể thực hiện được thông qua uỷ ban nhân dân Uỷ ban nhân dân là cơ quan chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân, biến những quy định trong nghị quyết đó thành hiện thực
Uỷ ban nhân dân quận do hội đồng nhân dân quận bầu ra, chịu trách nhiệm về tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân trên phạm vi quận Uỷ ban nhân dân quận là cơ quan thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân về những vấn đề liên quan đến địa phương, trong phạm vi của nhân dân địa phương về kinh tế, xã hội và đời sống
Trang 31Để làm được điều đó, Uỷ ban nhân dân phải có thực lực, tức là phải nắm, phải quản lý đối với con người, đối với cơ sở vật chất cũng như những tiềm năng khác của địa phương Vì vậy tính chất chấp hành gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân, đó là hoạt động chủ yếu, là chức năng của ủy ban nhân dân
Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm phối hợp với thường trực hội đồng nhân dân, với các ban của hội đồng nhân dân để chuẩn bị nội dung các kỳ họp hội đồng nhân dân, xây dựng đề án trình hội đồng nhân dân xem xét và quyết định
Uỷ ban nhân dân chịu sự giám sát của hội đồng nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân quận và
cơ quan chuyên môn trực thuộc phải chịu sự đôn đốc, kiểm tra của thường trực hội đồng nhân dân cùng cấp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên của uỷ ban nhân dân, thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc uỷ ban nhân dân phải trả lời chất vấn của đại biểu hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân quận phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân quận và uỷ ban nhân dân tỉnh
Uỷ ban nhân dân quận có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện vật chất, kinh phí, phương tiện, cung cấp thông tin, tư liệu, tạo thuận lợi để Hội đồng nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động tốt
* Quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân quận với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp dưới
Hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của chính phủ và sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp trên đối với cấp dưới
Trang 32Theo Điều 119 Hiến pháp năm 1992 thì hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân, chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ
- Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của uỷ ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc của lĩnh vực công tác từ trung ương đến
cơ sở
- Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý
về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban nhân dân, cơ quan chuyên môn cấp trên và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp khi được yêu cầu
Mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân quận với các cơ quan chuyên môn trực thuộc là mối quan hệ hành chính giữa cấp trên và cấp dưới theo nguyên tắc trực tuyến chỉ đạo và chấp hành Do đó Uỷ ban nhân dân quận là cơ quan quản lý, điều hành, chỉ đạo trực tiếp các cơ quan chuyên môn về việc thực hiện các quyết định hành chính của các cơ quan nhà nước cấp trên cũng như các quyết định hành chính của Uỷ ban nhân dân quận
Trang 33Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân là những cơ quan thực thi quyền lực hành chính của Uỷ ban nhân dân quận, giúp Uỷ ban nhân dân quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công
* Quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân quận với quận uỷ
Đây là mối quan hệ giữa cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương với
cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Uỷ ban nhân dân quận chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo, của quận uỷ, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các ban của quận uỷ trong việc chuẩn bị các đề án cụ thể để quận uỷ bàn và quyết định theo sự phân công của quận uỷ Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ở địa phương, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và thống nhất của Đảng Quận uỷ bồi dưỡng
và giới thiệu cán bộ có năng lực để bầu vào các chức vụ chủ chốt của uỷ ban nhân dân quận, quan tâm đến các ý kiến của uỷ ban nhân dân, tạo điều kiện để
uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
* Quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân quận với mặt trận tổ quốc Việt Nam quận và các đoàn thể nhân dân
Trong hệ thống chính trị, mặt trận tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Đồng thời mặt trận tổ quốc là bộ phận trong hệ thống chính trị, tham gia phối hợp với cơ quan nhà nước trong việc thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Một là, tham gia với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp tổ
chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dân xây dựng hương ước, quy ước về nếp sống tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân
Trang 34phố, cộng đồng dân cư khác ở cơ sở phù hợp với pháp luật, góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân;
Hai là, tham gia công tác bầu cử Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, theo quy định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức Hội nghị cử tri ở nơi
cư trú, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử; tham gia tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Ba là, tham dự các phiên họp của Uỷ ban nhân dân Chủ tịch Uỷ ban
mặt trận tổ quốc ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp hội đồng nhân dân; được mời tham dự các phiên họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan
Bốn là, hoạt động giám sát Hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc
Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
Mặt trận tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật
Uỷ ban nhân dân phối hợp chặt chẽ thường xuyên với mặt trận tổ quốc quận và các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội ở địa phương để liên hệ với nhân dân, xây dựng chính quyền, triển khai tuyên truyền phổ biến pháp luật ở địa phương nhằm động viên sức mạnh của quần chúng và tập hợp được đông đảo nhân dân tham gia xây dựng địa phương; mặt khác Uỷ ban nhân dân quận
Trang 35cũng nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện và đóng góp ý kiến thiết thực cho hoạt động của mình từ Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Đồng thời, Uỷ ban nhân dân quận cũng có những quyền hạn về quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở phân biệt giữa đô thị và nông thôn chúng ta thấy được vị trí, vai trò của cấp quận trong đời sống đô thị Quận là trung tâm văn minh, hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, của tỉnh
Sự hình thành và phát triển của chế định Uỷ ban nhân dân Quận được xuyên suốt từ năm 1945 (theo Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945) cho đến hiện nay là Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003
Uỷ ban nhân dân quận là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Uỷ ban nhân dân quận
có nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực: quản lý nhà nước, pháp luật, xây dựng chính quyền và trong lĩnh vực kiểm tra giám sát So sánh nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương của một số nước trên thế giới để thấy được một số điểm khác biệt
Trong chương 1 cũng đề cập đến mối quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân quận với: Hội đồng nhân dân cùng cấp, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp dưới, với quận uỷ và với Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN - KINH NGHIỆM TỪ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng tổ chức
Theo Nghị định số 74/CP của Chính phủ ngày 22 tháng 11 năm 1996
về việc thành lập Quận Thanh Xuân Quận Thanh Xuân được thành lập trên
cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các phường Thượng Đình, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Kim Giang, Phương Liệt; Nguyễn Trãi, Khương Thượng(thuộc quận Đống Đa), xã Nhân Chính (huyện Từ Liêm) và
xã Khương Đình (huyện Thanh Trì)
Quận Thanh Xuân có diện tích tự nhiên 913,2 ha và 117.863 nhân khẩu (hiện nay 298.866 nhân khẩu), gồm11 đơn vị hành chính trực thuộc là:
1 Phường Thanh Xuân Trung có 106,2 ha diện tích tự nhiên và 11.036 nhân khẩu
2 Phường Thượng Đình có 65,8 ha diện tích tự nhiên và 13.516 nhân khẩu
3 Phường Kim Giang có 22,3 ha diện tích tự nhiên và 8.387 nhân khẩu
4 Phường Phương Liệt có 102,8 ha diện tích tự nhiên và 13.030 nhân khẩu
5 Phường Thanh Xuân Nam được thành lập trên cơ sở 32,8 ha diện tích tự nhiên và 8.266 nhân khẩu của phường Thanh Xuân Bắc
Trang 376 Phường Thanh Xuân Bắc còn lại 48,4 ha diện tích tự nhiên và 17.857 nhân khẩu
7 Phường Khương Mai được thành lập trên cơ sở 98,4 ha diện tích tự nhiên và 5.506 nhân khẩu của phường Khương Thượng
8 Phường Khương Trung được thành lập trên cơ sở 78,1 ha diện tích tự nhiên và 20.862 nhân khẩu của phường Nguyễn Trãi (quận Đống Đa)
9 Phường Khương Đình được thành lập trên cơ sở 138,9 ha diện tích tự nhiên và 5 929 nhân khẩu của xã Khương Đình
10 Phường Hạ Đình được thành lập trên cơ sở phần còn lại của xã Khương Đình gồm 58,6 ha diện tích tự nhiên và 4.245 nhân khẩu
11 Phường Nhân Chính được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Nhân Chính, gồm 160,9 ha và 9.229 nhân khẩu [14]
Quận Thanh Xuân được chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng
01 năm 1997
Đơn vị sự nghiệp của quận Thanh Xuân bao gồm:
+ Ban quản lý dự án;
+ Ban quản lý chợ;
+ Trung tâm văn hoá thể dục thể thao;
+ Thanh tra xây dựng;
+ Các trường công lập cơ sở: 7 trường;
+ Các trường tiểu học: 9 trường;
+ Các trường mầm non: 12 trường;
+ Trung tâm giáo dục thường xuyên: 1 trung tâm;
Hội gồm có:
+ Hội chữ thập đỏ;
+ Hội luật gia;
Trang 38Trên cơ sở địa bàn Quận Thanh Xuân có một số đặc điểm kinh tế xã hội như sau:
Dân cư trong quận chủ yếu là công nhân, hưu trí, mất sức, cán bộ chiến
sĩ trong lực lượng vũ trang và học sinh, sinh viên, người lao động sống trong các khu tập thể cao tầng, làng xã và các phố mới thành lập, lối sống xen kẽ thành thị với phong tục tập quán làng xã Trên địa bàn có một số di tích lịch
sử văn hoá, nhiều trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, Viện nghiên cứu và hai khu công nghiệp tập trung là Giáp Bát và Thượng Đình
Cơ cấu kinh tế của quận là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng chủ yếu, hai khu công nghiệp được hình thành từ những năm 60 Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, với sản lượng quy thóc khoảng 300 tấn lương thực/ năm
Là quận mới thành lập đang trong quá trình đô thị hóa, bên cạnh những thuận lợi trên quận Thanh Xuân cũng gặp không ít khó khăn do hệ thống hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn phần lớn chưa được đầu tư đồng bộ Tình hình quản
lý đất đai, trật tự an toàn xã hội quản lý dân cư có nhiều diễn biến phức tạp nhất là ở khu vực giáp ranh Đời sống đô thị trong nhân dân còn gặp nhiều khó khăn về cung cấp điện sinh hoạt, về cấp thoát nước, về vệ sinh môi trường
Thực tế trong một số năm qua quận Thanh Xuân đã có nhiều tiến bộ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - quản lý đô thị - an ninh quốc phòng đấu tranh chống các tệ nạn xã hội nhưng thực sự chưa vững chắc, đời sống nhân dân so với mặt bằng chung của Thành phố còn thấp, các tiềm năng, thế mạnh của địa phương chưa được khai thác
2.1.1 Cơ cấu thành viên của Uỷ ban nhân dân quận
Trang 39Theo Nghị định số 107/ NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 4 năm
2004 về việc quy định số lượng Phó Chủ tịch và cơ cấu thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp thì Uỷ ban nhân dân quận bao gồm:
- Một Chủ tịch
- Ba Phó Chủ tịch
- Năm Uỷ viên Uỷ ban nhân dân
Thành viên Uỷ ban nhân dân được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau:
- Chủ tịch phụ trách chung, nội chính, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch quận, đất đai và tài nguyên - môi trường
- Các Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân:
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế, tài chính, doanh nghiệp, thương mại, du lịch
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách các lĩnh vực: Quản lý đô thị - nhà đất, phát triển nhà ở, giao thông công chính, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, trật tự xây dựng, giải phóng mặt bằng, địa giới hành chính 364
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, lao động, dân số gia đình và trẻ em, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công tác tôn giáo, thông tin đại chúng, các hội
- Các Uỷ viên Uỷ ban nhân dân:
+ Một Uỷ viên phụ trách công an
+ Một Uỷ viên phụ trách quân sự
+ Một Uỷ viên phụ trách văn phòng
+ Một Uỷ viên phụ trách thanh tra
+ Một Uỷ viên phụ trách đất đai, xây dựng [12]
2.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân quận
Trang 40Theo Nghị định số 172/ NĐ- CP của Chính phủ ngày 29 tháng 9 năm
2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Uỷ ban nhân dân quận có những
cơ quan chuyên môn sau đây:
1 Phòng nội vụ - lao động thương binh và xã hội;
11 Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em;
12 Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân [11]
Nhưng tại các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội thì phòng nội
vụ và phòng lao động thương binh và xã hội vẫn tách riêng Do vậy các phòng chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân quận Thanh Xuân hiện nay là 12 phòng Phòng kế hoạch - kinh tế, phòng tài chính - vật giá vẫn hoạt động theo quy định của Quyết định số: 92/2001/ QĐ-UB ngày 23 tháng 10 năm 2001 về việc ban hành Quy định vị trí chức năng, nhiệm vụ của các Phòng chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân Quận, Huyện Đồng thời Phòng y tế vẫn chưa được thành lập trên địa bàn Quận Thanh Xuân
1 Phòng tổ chức chính quyền
Chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn của phòng tổ chức chính quyền: