Uỷ ban nhân dân UBND xã, thị trấn là cơ quan nhà nước trong bộ máy của chính quyền cơ sở, thực thi quyền hành pháp, tổ chức thi hành pháp luật và quản lý điều hành mọi hoạt động trên các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG NGỌC THANH
C¶I C¸CH THñ TôC HµNH CHÝNH ë ñY BAN NH¢N D¢N X·,
THÞ TRÊN T¹I HUYÖN QU¶NG X¦¥NG, THANH HãA
Chuyên ngành: lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Ngọc Thanh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 6
1.1 Vị trí, vài trò của thủ tục hành chính ở xã, thị trấn 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Thủ tục và thủ tục hành chính 10
1.2.2 Thủ tục 10
1.2.3 Thủ tục hành chính 11
1.3 Cải cách và cải cách thủ tục hành chính 12
1.3.1 Cải cách 12
1.3.2 Cải cách thủ tục hành chính 13
1.4 Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính 14
1.5 Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính 14
1.6 Sự cần thiết cải cách thủ tục hành chính 15
1.7 Mục đích, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính 18
1.7.1 Mục đích 18
1.7.2 Yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính 18
1.8 Nội dung cải cách thủ tục hành chính 19
1.8.1 Đơn giản hóa các thủ tục hành chính 19
1.8.2 Thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính 19
1.8.3 Công tác công khai thủ tục hành chính 19
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Ở UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ, THỊ TRẤN HUYỆN QUẢNG
XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ 20
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình và một số yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương 20
2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh hóa 31
2.3 Tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương 33
2.3.1 Hệ thống các văn bản làm căn cứ và phục vụ cho cải cách thủ tục hành chính đã ban hành 33
2.3.2 Tổ chức hoạt động của bộ phận cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương, Thanh Hoá 34
2.4 Thực trạng công tác kiểm soát thủ tục hành chính 55
2.4.1 Kiểm soát việc ban hành mới các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của địa phương 55
2.4.2 Rà soát đánh giá và thực hiện các quy định về đơn giản hóa thủ tục hành chính 55
2.5 Thực trạng công tác công khai thủ tục hành chính tại bộ phận "một cửa" 57
2.6 Kết quả đạt được trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính 58
2.6.1 Công tác kiểm soát rà soát các thủ tục hành chính đang được áp dụng tại UBND cấp xã 58
2.6.2 Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" 58
2.7 Đánh giá kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh hóa 63
2.7.1 Những thành tựu 63
2.7.2 Những hạn chế 64
2.7.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66
Trang 5Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CÁC XÃ, THỊ TRẤN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA 68
3.1 Bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo thực hiện Chương trình cải cách nền HCNN giai đoạn 2015 – 2020 tại huyện Quảng Xương 68
3.1.1 Mục tiêu 68
3.1.2 Nội dung giải pháp 68
3.2 Cải cách thủ tục hành chính nhằm đơn giản hoá thủ tục hành chính trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước 69
3.2.1 Mục tiêu 69
3.2.2 Nội dung, giải pháp 70
3.3 Cải cách thủ tục hành chính nhằm đơn giản hoá mẫu đơn, tờ khai hành chính trong hồ sơ thủ tục hành chính 70
3.3.1 Mục tiêu 70
3.3.2 Nội dung, giải pháp 70
3.4 Cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về cơ chế chính sách thủ tục hành chính không phù hợp 72
3.4.1 Mục tiêu 72
3.4.2 Nội dung, giải pháp 72
3.5 Chỉ đạo xây dựng chuẩn bộ phận "một cửa" cấp xã 73
3.5.1 Mục đích 73
3.5.2 Nội dung, giải pháp 73
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC: Cán bộ công chức CCHC: Cải cách hành chính CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận tổ quốc TTHC: Thủ tục hành chính
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Số hiệu bảng,
Bảng 2.1: Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu về CCHC các
Bảng 2.2: Số lượng các lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính ở
Bảng 2.3: Kết quả rà soát, kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành
Bảng 2.4: Kết quả rà soát, kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành
Bảng 2.6: Kết quả giải quyết TTHC qua "một cửa" tại UBND xã,
Sơ đồ 2.1: Quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại bộ phận
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã, thị trấn đây là một nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi lẽ, trong các cấp chính quyền ở địa phương nước ta, cấp xã (bao gồm xã, thị trấn) là cấp thấp nhất và còn gọi là cấp chính quyền cơ sở Cấp chính quyền cơ sở là cấp nền tảng của hệ thống hành chính Các thủ tục hành chính được áp dụng giải quyết ở Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu gắn liền với mỗi tổ chức, người dân trên chính tại địa bàn Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: “cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành
chính Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi” [21, tr.371]
Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, thị trấn là cơ quan nhà nước trong bộ máy của chính quyền cơ sở, thực thi quyền hành pháp, tổ chức thi hành pháp luật và quản lý điều hành mọi hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm đưa chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước thành hiện thực Thực tế cho thấy ở đâu và bao giờ UBND xã, thị trấn thực hiện tốt việc công khai, minh bạch trong hoạt động của mình thì ở đó quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, chính trị được ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương được phát triển và ngược lại
Thực trạng ở một số xã trên phạm vi cả nước nói chung trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa nói riêng thì thủ tục hành chính luôn phức tạp, rườm rà, thiếu công khai, minh bạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của người dân, giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước và vai trò lãnh đạo của Đảng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) chúng ta thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi từ nên kinh tế kế hoạch, tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đạt được những thành tựu
Trang 9quan trọng có ý nghĩa trong quá trình xây dựng đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, do chuyển đổi từ nên kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nên kinh tế thị trường việc vận hành nền hành chính ở nước ta gặp nhiều khó khăn nhất là cấp xã, thị trấn Vì vậy cải cách hành chính vẫn là một bài toán lớn đối với chính phủ và các cơ quan nhà nước
Cải cách hành chính trong những năm qua được Đảng và nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai trên nhiều nội dung như: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cáo chất lượng đội ngũ cán
bộ công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hoá nền hành chính Mục tiêu
là cải cách hành chính xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản
lý toàn xã hội một cách hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước của dân, do dân và vì dân Thủ tục hành chính là một
bộ phận của thể chế hành chính vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là một nội dung quan trọng của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước
Với mục đích đơn giản, công khai, minh bạch thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 38/CP, ngày 04 tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết một bước công việc của công dân và tổ chức, mở đầu cho hoạt động thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính đã tạo bước đột phá trong hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội, là sự chuyển biến rõ nét trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế nhà nước
Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý của các cơ quan nhà nước Thủ tướng chính phủ đã ban hành các quy định về cải cách thủ tục hành chính tạo hành lang pháp lý cơ bản cho việc triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng đổi mới đáp ứng yêu cầu của xã hội Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nói chung, huyện Quảng Xương nói riêng, cải cách thủ
Trang 10tục hành chính luôn được cấp uỷ, chính quyền UBND xã, thị trấn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ, của Tỉnh, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công được đông đảo nhân dân đồng tình và ủng hộ Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện bên cạnh những kết quả đạt được như thủ tục hành chính được công khai, giảm tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu Năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức được nâng lên thì vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại nhiều vấn đề bức xúc như: Một số không ít thủ tục hành chính còn rườm rà, chồng chéo, trùng lặp chưa được ban hành kịp thời, chưa mẫu hóa được tối đa các hồ sơ TTHC, còn tình trạng bổ sung
hồ sơ TTHC nhiều lần, tình trạng quá hạn, thái độ và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ công chức (CBCC) gây khó khăn cho công dân trong quá trình giải quyết công việc ở địa phương đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai,
an sinh xã hội, tư pháp , thiếu cơ chế trong đánh giá kết quả, đánh giá của tổ chức, công dân về kết quả, chất lượng giải quyết TTHC đối với cơ quan công quyền, đối với CBCC phụ trách Mặt khác, có nhiều loại thủ tục hành chính mới bổ sung, sửa đổi chưa kịp thời được cập nhật, bãi bỏ để đáp ứng trước yêu cầu của nhân dân, nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng nền hành chính công để hội nhập được với khu vực và thế giới đòi hỏi phải tiếp tục đây mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới về quy trình giải quyết thủ tục hành chính Trải qua quá trình công tác tại Ủy ban Kiểm tra huyện uỷ Quảng Xương, hàng năm bản thân thường xuyên tham mưu cho cấp uỷ và trực tiếp tham gia kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ cơ sở và tổ chức quản lý, điều hành của UBND xã, thị trấn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, có việc cải cách thủ tục hành chính Chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề trọng yêu đối với hoạt động của UBND xã, thị trấn trên địa bàn huyện được nhiều người dân quan tâm Với mong muốn đem lại một cái nhìn tổng quan về quá trình tổ chức thực hiện cải
Trang 11cách thủ tục hành chính ở cấp xã, thị trấn tại địa bàn huyện Quảng Xương, Thanh Hoá để từ đó đề xuất những giải pháp thực hiện cải cách thủ tục hành chính đang áp dụng ở UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Do đó
chúng tôi chọn đề tài: “Cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại
huyện Quảng Xương, Thanh Hoá”
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ
Đề tài tập trung nghiên cứu những thủ tục hành chính được giải quyết
và áp dụng tại UBND xã, thị trấn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các giải pháp thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại cấp chính quyền cơ sở trong giai đoạn hiện nay có thể được xác định trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của công tác cải cách hành chính trên địa bàn
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5.2 Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
5.3 Đề xuất các giải pháp thực hiện công tác cải cách thủ tục hành
chính trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp thực
Trang 12hiện công tác cải cách thủ tục hành chính ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay trên các mặt sau: Đơn giản hoá thủ tục hành chính trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước Đơn giản hoá mẫu đơn, tờ khai hành chính trong hồ sơ thủ tục hành chính Xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về cơ chế chính sách thủ tục hành chính không phù hợp
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu
7.2.2.Phương pháp phỏng vấn:
7.2.3 Phương pháp quan sát:
7.3 Phương pháp thống kê
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
8.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác cải cách thủ tục hành chính
Góp phần làm phong phú cơ sở lý luận về công tác cải cách thủ tục hành chính
8.2 Khái quát được thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính
trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa và đánh giá nguyên nhân tồn tại
8.3 Đề xuất được một số giải pháp thực hiện công tác cải cách thủ tục
hành chính huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN: Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến
nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề cải cách thủ tục hành chính
Chương 2: Thực trạng công tác công tác cải cách thủ tục hành chính
trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục thực hiện công tác cải cách thủ tục
hành chính trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1.1 Vị trí, vài trò của thủ tục hành chính ở xã, thị trấn
Cùng với tiếp tục đổi mới , hoàn thiện hệ thống chính trị , thực hiê ̣n đường lối đổi mới , phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vâ ̣t ch ất và tinh thần của nhân dân Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng, và thực hiện
chế đô ̣ dân chủ xã hô ̣i chủ nghĩa Đảng ta khẳng đi ̣nh : “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta , vừa là mục tiêu , vừa là động lự c của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vê ̣ Tổ quốc, thể hiê ̣n mối quan hê ̣ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ” [18] Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta
xây dựng là xã hô ̣i “do nhân dân làm chủ” Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, trong đó cán bô ̣, đảng viên, công chức phải thực sự là công
bô ̣c của nhân dân , mọi đường lối của Đảng , chính sách pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân Đảng ta cũng đã xác định các hình thức tổ chức và cơ chế để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hô ̣i Các yêu cầu và nội dung của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từng bước đượ c thể chế hóa thành luâ ̣t , pháp lệnh , nghị định và được thực hiện nghiêm túc Đánh giá 20 năm thực hiê ̣n Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i (1991-2011), Đảng ta nhâ ̣n đi ̣nh : “Dân chủ xã hội có bước phát triển Quyền
của công dân tham gia vào các công việc Nhà nước và xã hội , xây dựng các quyết đi ̣nh quan trọng của Đảng và Nhà nước được mở rộng và có tiến bộ Trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từ ng bước được nâng lên” [18]
Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi , trên nhiều lĩnh vực còn
bị vi phạm Không ít trường hợp viê ̣c thực hành dân chủ còn mang tính hình
Trang 14thức, có nơi, có lúc còn biểu hiện lợi dụng d ân chủ, khiếu kiê ̣n đông người , vượt cấp hoă ̣c gây mất đoàn kết nô ̣i bô ̣, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự an toàn
xã hội Tình trạng quan liêu , không thực sự tôn tro ̣ng dân chủ còn khá nă ̣ng trong mô ̣t bô ̣ phâ ̣n cán bô ̣ , đảng viên, công chức Có biểu hiện quan liêu , xa dân ngay từ cơ sở
Để khắc phu ̣c những ha ̣n chế, tồn ta ̣i trong viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ ở xã , phường, thị trấn cần tiếp tục quán triệt và nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, việc cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng là một nội dung có vị trí, vai trò rất quan trọng Bởi lẽ cấp cơ sở
xã, phường, thị trấn là cấp gần dân, sát dân nhất, trực tiếp quan hê ̣, làm việc với nhân dân, là cấp tổ chức, chỉ đạo trực tiếp, có vị trí, vai trò hết sức quan tro ̣ng trong viê ̣c phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vâ ̣n đô ̣ng nhân dân thực hiê ̣n các chủ trương, đường lối của Đảng Chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng cụ thể như: (Nghị quyết đại hội Đảng khoá VII, Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết đại hội Đảng khoá VIII, IX, X, XI); Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2010; Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 01/01/2007 của Thủ tướng Chính Phủ về việc Phê duyệt đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010; Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, ngày 04/9/2003 về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Nghị Quyết số 38/CP ngày 04/9/2004 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức; Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007 về việc
Trang 15ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của
cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Căn cứ Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1958/QĐ-UBND ngày 26/6/2009 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc công bố bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Gồm có 20 lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính và 199 thủ tục Cụ thể:
Các lĩnh vực sau: Lĩnh vực tài nguyên môi trường gồm (14 thủ tục hành chính) Lĩnh vực xây dựng cơ bản (06 TTHC), lĩnh vực bảo trợ xã hội (21 TTHC), lĩnh vực người có công (14 TTHC), lĩnh vực chính sách xã hội (01 TTCH), lĩnh vực tôn giáo (05 TTHC), lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc
hệ thống giáo dục Quốc dân và các cơ sở giáo dục khác (04TTHC), lĩnh vực
tư pháp (72TTHC), lĩnh vực chứng thực (22 TTHC), lĩnh vực đăng ký quản lý
cư trú (22 TTHC), lĩnh vực lâm nghiệp (01 TTHC), lĩnh vực thủy sản (02 TTHC), lĩnh vực phát triển nông thôn (02 TTHC), lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng (01 TTHC), lĩnh vực cấp giấy chứng minh nhân dân (01 TTHC), lĩnh vực nông nghiệp (01 TTHC), lĩnh vực văn hóa (02 TTHC), lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác (04 TTHC), lĩnh vực hoạt động tín dụng 03 TTHC), lĩnh vực công tác dân tộc 01 TTHC)
Trong các lĩnh vực nêu trên thì thủ tục dùng cho thị trấn là 17 lĩnh vực và
194 thủ tục gồm có: Lĩnh vực tài nguyên môi trường, Lĩnh vực xây dựng cơ bản, lĩnh vực bảo trợ xã hội, lĩnh vực người có công, lĩnh vực chính sách xã hội, lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục Quốc dân và
Trang 16các cơ sở giáo dục khác, lĩnh vực tư pháp, lĩnh vực chứng thực, lĩnh vực đăng ký quản lý cư trú, lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng (01 TTHC), lĩnh vực cấp giấy chứng minh nhân dân (01 TTHC), lĩnh vực nông nghiệp (01 TTHC), lĩnh vực văn hóa (02 TTHC), lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác (04 TTHC), lĩnh vực hoạt động tín dụng (03 TTHC), lĩnh vực công tác dân tộc (01 TTHC)
Trong các lĩnh vực có 199 thủ tục Song trong quá trình tổ chức thực hiện 178 thủ tục cấp xã, thị trấn có thẩm quyền quyết định như: Lĩnh vực đất đai, cho thuê và cho thuê lại quyền sử dụng đất công ích thời hạn thuê 5 năm, đăng ký cám kết bảo vệ môi trường Lĩnh vực xây dựng cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt, những điểm dân cư theo quy định phải cấp giấy phép xây dựng thuộc phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý… Lĩnh vực bảo trợ xã hội, trợ cấp hàng tháng đối với trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo, trợ cấp hàng tháng đối với trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tại trại giam không còn người nuôi dưỡng… Lĩnh vực người có công, cấp giấy chứng nhận thân nhân liệt sỹ Lĩnh vực giáo dục
và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và cơ sở giáo dục khác, thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập tư thục cho phép hoạt động giáo dục đối với nhóm trẻ, lớp mẫu giáo hoạt động tư thục Lĩnh vực tư pháp cấp bản sao giấy tờ
hộ tịch từ sổ hộ tịch như: Giấy chứng tử, giấy chứng nhận nuôi con nuôi, giấy chứng nhận kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, thay đổi họ tên chữ đệm cho người dưới 14 tuổi đã được đăng ký đúng trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, đăng ký khai sinh… Lĩnh vực chứng thực, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ văn bằng tiếng Việt, chứng thực chữ ký cá nhân trong các văn bản, giấy tờ bằng tiếng Việt, chứng thực di chúc, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp, chuyển đổi, ủy quyền, tặng cho,
Trang 17quyền sử dụng đất… Lĩnh vực đăng ký quản lý cư trú như cấp giấy chuyển hộ khẩu, đổi cấp lại sổ hộ khẩu, đăng ký tạm trú cấp sổ tạm trú, đăng ký tạm trú cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về nước sinh sống… Lĩnh vực thủy sản như kiểm tra, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong kinh doanh thủy sản, cấp lại giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong kinh doanh thủy sản do bị mất, hư hỏng, khi cơ sở thay đổi hay bổ sung thông tin có liên quan Lĩnh vực nông nghiệp như cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Lĩnh vực nông nghiệp như cấp sổ vịt chạy đồng Lĩnh vực văn hóa như đăng ký hoạt động thư viện tư nhân có phục vụ
Các thủ tục cấp xã, thị trấn chỉ được thu thập hồ hơ và xác nhận chuyển cấp trên cấp là 21 thủ tục gồm có Lĩnh vực tài nguyên môi trường như: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lĩnh vực người có công như xác nhận tờ khai cấp sổ ưu đãi trong giáo dục đào tạo cho người có công với cách mạng, xác nhận bản khai cá nhân người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc gia cam, xác nhận đơn của thân nhân, người thờ cúng trực tiếp của liệt sỹ đề nghị cấp lại bằng “Tổ quốc ghi công”, xác nhận bản khai đề nghị hưởng chế độ mai táng phí đối với cựu chiến binh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người có công, người hoạt động kháng chiến, giải phóng dân tộc để hưởng trợ cấp một lần, trợ cấp ưu đãi đối với lực lượng vũ trang, anh hùng lao động trong kháng chiến Lĩnh vực chính sách xã hội như xác nhận đơn hổ trợ dầu hỏa cho tàu thuyền vùng bãi ngang Lĩnh vực cấp giấy chứng minh nhân dân như xác nhận đơn cấp giấy chứng minh nhân dân
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Thủ tục và thủ tục hành chính
1.2.2 Thủ tục
Trong mọi hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động quản lý của
Trang 18cơ quan nhà nước nói riêng, để giải quyết được bất cứ công việc nào đều cẩn
phải có những thủ tục hợp pháp Theo từ điển tiếng Việt, thủ tục là “cách
thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định theo quy định của nhà nước” [36]
Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước phải tuân theo những quy tắc pháp
lý, quy định về trình tự, cách thức khi thực hiện thẩm quyền của từng cơ quan, đơn vị để giải quyết công việc, thủ tục hành chính là một loại thủ tục gắn với hoạt động của cơ quan nhà nước, bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ thể hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà nước, các hoạt động khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành Tương tự với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước đó là lập pháp, hành pháp, tư pháp là
ba nhóm thủ tục, thủ tục lập pháp, thủ tục tư pháp, thủ tục hành pháp
1.2.3 Thủ tục hành chính
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thủ tục hành chính Song nhìn từ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta, sự quan lý, điều hành của nhà nước, theo tinh thần nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết đại hội Đảng khoá VII, Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết đại hội Đảng khoá VIII,
IX, X, XI) và các văn bản pháp luật (Nghị quyết của chính phủ số 38/CP, ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg với chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 ) thì thủ tục hành chính có nội dung rất rộng bao gồm:
- Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động quản lý nhất định
- Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó
- Nội dung mục đích của các hoạt động cụ thể
- Cách thức tiến hành, thời gian tiến hành các hoạt động cụ thể
Thủ tục hành chính là bộ phận cơ bản của thể chế hành chính nhà nước
Trang 19Là công cụ của cơ quan nhà nước được sử dụng để giải quyết công việc cho công dân, tổ chức Là cơ sở để xác định tính hợp pháp của nền công vụ Do vậy, thủ tục hành chính đơn giản thuận tiện, công khai, dân chủ sẽ góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Rút ngắn khoảng cách giữa nhà nước và nhân dân, củng cố sức mạnh Nhà nước, tạo lòng tin của nhân dân đối với nhà nước, góp phần phát triển kinh tế
- xã hội Có rất nhiều thủ tục hành chính khác nhau Song do tính thống nhất của quản lý hành chính nhà nước nên có có một số đặc điểm chung như sau:
- Thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
- Thủ tục hành chính giải quyết công việc nội bộ của nhà nước và công việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân
- Thủ tục hành chính có tính linh hoạt, mền dẻo, đa dạng về nội dung phong phú uyển chuyển về hình thức, biện pháp
- Do quy phạm pháp luật về hành chính quy định, có tính ổn định tương đối và chặt chẽ thích ứng cho từng loại công việc và đối tượng để bảo đảm giải quyết công việc kịp thời cho từng đối tượng cụ thể
Như vậy, có thể nói: “thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp
luật quy định trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức
và cá nhân công dân” [20, tr.6]
1.3 Cải cách và cải cách thủ tục hành chính
1.3.1 Cải cách
Cải cách là “sửa đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới,
đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan” [19]; là “sự sửa đổi căn bản từng phần, từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành” [19, tr.58]
Trang 201.3.2 Cải cách thủ tục hành chính
Thuật ngữ cải cách thủ tục hành chính chỉ mới được nhắc đến trong các quy định của Đảng và nhà nước như: Nghị Quyết Đại hội VIII, IX, X, XI; Nghị quyết Trung ương V (khoá X) về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, Nghị quyết 38/CP ngày 04 tháng 5 năm 1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính của Chính phủ, chương trình tổng thể cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2001-
2010 ban hành kèm theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức
và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí
Từ các khái niệm trích dẫn trên, có thể thấy, cải cách thủ tục hành chính có một số điểm thống nhất như sau:
- Cải cách thủ tục hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Cải cách thủ tục hành chính để phục vụ nhân dân tốt hơn không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính mà chỉ làm cho hệ thống này hoạt động có hiệu quả hơn, chất lượng của thể chế nhà nước đồng bộ, khả thi hơn
và đi vào cuộc sống hơn
- Cải cách thủ tục hành chính tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử nhất định yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia đặt ra những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm khác nhau để hoàn thiện một hoặc một số nội dung thủ tục hành chính nhất định
Từ những phân tích trên, trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với khái
Trang 21niệm: Cải cách thủ tục hành chính là việc sửa đổi, thay thế có kế hoạch cụ thể
những thủ tục hành chính cũ chưa hợp lý hoặc không còn phù hợp để đạt mục tiêu hoàn thiện các thủ tục hành chính
- Xây dựng thủ tục hành chính phải phù hợp với thực tế, phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Xây dựng thủ tục hành chính phải thực sự đơn giản, dễ hiểu, công khai, minh bạch, thuận lợi cho người thực hiện
- Trong quá trình xây dựng thủ tục hành chính phải đảm bảo tính hệ thống, thống nhất
1.5 Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính
Việc triển khai, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính trên cơ sở nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy gồm có các nguyên tắc như sau:
- Chỉ có các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định mới được thực hiện các thủ tục hành chính nhất định, thực hiện đúng trình tự với những phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép
- Thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo tính khách quan, chính xác và công minh, đúng các quy định của pháp luật
- Thủ tục hành chính được thực hiện công khai
- Các bên tham gia thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật và chấp hành đúng quy định của pháp luật
Trang 22- Thủ tục hành chính được thực hiện đơn gian, tiết kiệm
1.6 Sự cần thiết cải cách thủ tục hành chính
Nhà nước của chúng ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhà nước phải phục vụ nhân dân Nhà nước phải xem nhân dân là khách hàng, là thượng đế Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính để phục vụ nhân dân là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính nhà nước, tạo sự chuyển động của toàn bộ
hệ thống nền hành chính của quốc gia Thời gian qua cho thấy ở nơi các cơ quan nhà nước việc thực hiện thủ tục hành chính không hợp lý do căn bệnh cựa quyền, quan liệu chưa được khắc phục, thiếu công khai, minh bạch Người dân phải đi lại quá nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều nơi giải quyết công việc không có hiệu quả hoặc bị ách tắc, trì trệ, tốn kém dẫn đến mất long tin của người dân vào cơ quan nhà nước và ngược lại ở nơi nào thực hiện tốt thì ở
đó nhân dân luôn tin tưởng vào cơ quan nhà nước, yêu quý cán bộ không có đơn thư vượt cấp kéo dài
Để tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trước hết phải khẳng định vị trí, vai trò của thủ tục hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước như thế nào
- Thủ tục hành chính đảm bảo cho các quy phạm vật chất quy định trong các quyết định hành chính được thực thi thuận lợi Thủ tục càng có tính
cơ bản thì ý nghĩa càng lớn vì các thủ tục có tính cơ bản thường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quyết định hành chính, đến hiệu quả của việc thực hiện chúng Khi thủ tục bị vi phạm thì có nghĩa hiện tượng vi phạm pháp luật xuất hiện và sẽ gây hậu quả nhất định
- Thủ tục hành chính là cơ sở cho việc thi hành các quyết định được
Trang 23thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý củng như hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra
- Thủ tục hành chính khi xây dựng và vận dụng một cách sáng tạo sẽ tạo ra kha năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho nhà nước
- Thủ tục hành chính là một bộ phận của pháp luật hành chính nên việc xây dựng và thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc triển khai và thực thi pháp luật
- Thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là biểu hiện văn hoá của tổ chức; đó là văn hoá giao tiếp trong bộ máy nhà nước, văn hoá điều hành; nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển Cải cách thủ tục hành chính không đơn thuần chỉ liên quan đến pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn liên quan đến sự phát triển chung của đất nước
về các mặt chính trị, văn hoá, giáo dục Cải cách thủ tục hành chính thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân và là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền thì thủ tục hành chính lại càng có vai trò quan trọng Đảng và nhà nước ta đang đề ra nhiều chủ trương, biện pháp
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI chủ trương “Đặt yêu cầu cải cách
thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân giảm mạnh các thủ tục hiện hành” [18, tr.143]
Từ đó Đảng và nhà nước ta xác định những căn cứ tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đó là:
- Trong thời gian qua việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải
Trang 24cách thủ tục hành chính vì vậy cho nên đã giảm bớt các thủ tục phiền hà nên nhiều việc của người dân, doanh nghiệp được giải quyết nhanh hơn, người dân có việc cần giải quyết đến cơ quan nhà nước đã thấy được những dấu hiệu thuận lợi khi yêu cầu giải quyết một công việc cụ thể Các tổ chức, doanh nghiệp thấy được thuận lợi khi triển khai các dự án đầu tư, kinh doanh
- Qua thời gian tập trung chỉ đạo quyết liệt cải cách thủ tục hành chính
đã phát hiện nhiều bất hợp lý không những ở khâu ban hành văn bản và thực hiện các thủ tục hành chính mà còn ở chính cơ cấu điều hành Các công việc được giao cho nhiều ngành, nhiều cấp nên các ngành điều đặt ra thủ tục hành chính như một công việc tự nhiên, tính tất yếu phải làm trong quản lý Như vậy thể hiện bộ máy quản lý nhà nước được xây dựng chưa khoa học, nhiều chức năng chồng chéo, nhiều lĩnh vực bị bỏ trống không được kiểm soát hoặc chờ đợi nhau dẫn đến chậm chạp trong giải quyết công việc
- Một số nội dung cải cách thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến nhu cầu của người dân chưa được đáp ứng kịp thời, chưa mạnh mẽ, còn nhiều thủ tục hành chính chưa phù hợp với tình hình thực tế, thậm chí còn lạc hậu như các lĩnh vực: Y tế, giáo dục, trật tự trị an, đền bù tài sản cho dân trong quá trình giải phóng mặt bằng, hộ khẩu, hộ tịch, bảo hiểm xã hội, tư pháp
- Những quy định trong văn bản được Đảng và nhà nước ban hành đã thể hiện khá rõ nhưng khi tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế Thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định nhưng vẫn còn có cơ quan nhà nước ban hành văn bản vẫn tuỳ tiện, không đúng thẩm quyền không tuân thủ một quy trình thống nhất dẫn đến tình trạng văn bản kém hiệu lực thi hành, tình trạng này vẫn không khắc phục được nhất là ở cấp xã, thị trấn
- Việc công khai hoá thủ tục hành chính chưa được chú trọng quan tâm đúng mức, đúng với tinh thần chỉ đạo Ở nhiều nơi thiếu quan tâm chỉ đạo thực hiện, có nơi chỉ thực hiện nữa vời, tuỳ tiện, làm việc theo tập quán, thói
Trang 25quen Nhiều trường hợp sửa chỗ này lại phát sinh chỗ khác chỉ gây phiền hà Việc chỉ đạo công bố hướng dẫn các thủ tục mới nhạy cảm cho nhân dân biết
và giám sát việc chấp hành của các cơ quan nhà nước thực hiện chưa tốt Tệ cựa quyền gây phiền hà, sách nhiễu vẫn phổ biến Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo còn chậm dẫn đến đơn thư vượt cấp kéo dài Chính vì vậy khiến cho việc thực hiện đường lối của Đảng và chủ trương của nhà nước về cải cách thủ tục hành chính bị hạn chế trong thực tế làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành củ nhà nước
1.7 Mục đích, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
- Nâng cao chất lượng công việc, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần, thái
độ phục vụ tổ chức, công dân của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước
- Góp phần làm rõ đúng trách nhiệm của bộ máy cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân
- Góp phần sắp xếp lại bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng gọn nhẹ, làm việc khoa học, đồng bộ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
- Tạo cơ chế kiểm tra, giám sát cán bộ công chức thực thi công vụ
- Thực hiện công khai thủ tục, hồ sơ, thời gian, phí, lệ phí giải quyết công việc của tổ chức, công dân và tạo nhu cầu hiện đại hoá trang thiết bị làm việc
1.7.2 Yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính
- Đảm bảo thủ tục hành chính đơn gian, rõ ràng, đúng pháp luật
- Công khai các thủ tục, phí, lệ phí và thời gian giải quyết từng loại công việc của tổ chức và công dân
Trang 26- Đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng thuận tiện cho tổ chức và công dân
- Bố trí cán bộ công chức làm việc Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
có năng lực trình độ đáp ứng yêu cầu, có phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc tốt
- Đối tượng có nhu cầu chỉ cần liên hệ với cán bộ công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả không phải đến các bộ phận khác
- Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức và công dân là trách nhiệm của các bộ phận chuyên môn thuộc UBND xã và các ban, ngành có liên quan
Thường xuyên theo dõi, cập nhật những thay đổi quy định về thủ tục, trình tự, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân do cấp có thẩm quyền ban hành để đưa vào áp dụng
1.8 Nội dung cải cách thủ tục hành chính
1.8.1 Đơn giản hóa các thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính phải đơn giãn, dễ hiểu, tránh rườm rà khó thực hiện
1.8.2 Thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các thủ tục hành chính
Việc sửa đổi, bổ sung thực hiện theo thẩm quyền quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị Theo đó phải thực hiện đánh giá tác động và lấy ý kiến đơn vị kiểm soát TTHC đối với dự thảo quy định về TTHC Ban hành quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính Xây dựng
kế hoạch kiểm soát TTHC năm 2011 và kế hoạch truyền thông phục vụ kiểm soát TTHC tại mỗi cơ quan, đơn vị
1.8.3 Công tác công khai thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính phải được công khai, minh bạch Niêm ít tại trụ sở UBND xã, thị trấn để cho tổ chức, công dân biết Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các loại thủ tục hành chính
Trang 27lộ 4A Vùng ven biển đã được quy hoạch tạo thành mạng lưới giao thông dọc ngang trong huyện Đồng thời được bao bọc bởi hai con sông lớn là Sông Mã
và Sông Yên Phía Bắc giáp Thành phố Thanh Hoá và Thị xã Sầm Sơn, Phía Tây giáp huyện Đông Sơn và huyện Nông Công, phía Nam giáp huyện Tỉnh Gia và phía Đông là Biển Đông Diện tích tự nhiên là 200,63km2, có 18,2km
bờ biển thuộc vùng Bãi Ngang Dân số là 231,434 người, lao động trong độ tuổi là 142,361 người, chiếm 62,2% (tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm
2012 nguồn chi cục thống kê) Tổng số hộ là 110.000 hộ Có 36 đơn vị hành chính (35 xã và 01 thị trấn) Nền kinh tế truyền thống ở huyện Quảng Xương
là thuần nông nghiệp kết hợp với đánh bắt dở khơi, dở lộng, chế biến hải sản, tiểu thủ công nghiệp như nghề dệt chiếu cói, nghề mây - tre đan, nghề mộc, xây dựng dân dụng
Trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và nông dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh nguồn lực phát triển kinh tế và
Trang 28phát huy lợi thế Nền kinh tế Quảng Xương đã chuyển dần từ nền kinh tế truyền thống tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Hiện nay cơ cấu nền kinh tế huyện Quảng Xương và các xã trong huyện được xác định là: nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mai, dịch vụ, du lịch Với ba tiểu vùng kinh tế là: Tiểu vùng ven biển
có 09 xã phân bố ở phía Đông tỉnh lộ 4A, hướng chuyên môn hoá chủ yếu là trồng cây công nghiệp hàng năm, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch sinh thái Tiểu vùng đồng bằng có 20 xã, thị trấn phân bổ ở trung tâm, phí Bắc và phí Tây tỉnh lộ 4A, hướng chuyên môn hoá là: trồng lúa, nuôi cá, tôm nước ngọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Tiểu vùng ven sông có 07 xã hướng chuyên môn hoá là: nuôi trồng thuỷ sản, trồng cói, dịch vụ thương mai, tiểu thủ công nghiệp
Nhìn chung về thuận lợi phát triển kinh tế của huyện và các xã, thị trấn trong huyện đó là: Nằm giữa ba vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh là Thành phố Thanh Hoá, Thị xã Sầm Sơn và khu kinh tế Nghi Sơn, hình thành thế chân vạc tạo ra lợi thế lớn cho việc tiêu thụ sản phẩm và giải quyết nguồn lao động nông thôn Hệ thống giao thông đã tạo ra cho Quảng Xương lợi thế trong lưu thông hàng hoá cũng là thuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển các cụm công nghiệp, các doanh nghiệp, thu hút lao động, giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động Đặc điểm về thiên nhiên, điều kiện tự nhiên, đất đai thổ nhưỡng cho phép Quảng Xương có nhiều lợi thế và đang hình thành các tiểu vùng kinh tế rõ rệt để phát triển sản phẩm hàng hoá trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, chế biến có giá trị kinh tế cao, phát triển dịch vụ, thương mai, du lịch
Những thuận lợi về phát triển kinh tế ở huyện Quảng Xương đã tạo tiền
đề cho việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị
Trang 29trấn trên địa bàn huyện nhằm thúc đẩy nên kinh tế, văn hoá - xã hội, An ninh- Quốc phòng của huyện phát triển bền vững
Tuy nhiên, trong quá trình đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật cụ thể là:
- Văn hoá làng xã, dòng họ ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã
Khi nói tới xã là nói đến nông thôn, nông nghiệp và nông dân gắn bó với làng được hình thành và tôn tại bền vững trong cộng đồng dân cư cả nước nói chung ở huyện Quảng Xương nói riêng Đồng thời với việc tồn tại bền vững của làng, văn hoá làng xã, dòng họ xuất hiện là dạng văn hoá biểu hiện đặc thù và nổi bật trong xã hội Việt Nam truyền thống
Ở huyện Quảng Xương cùng với sự ra đời tồn tại và phát triển của làng,
các thiết chế làng xã cũng ra đời và tồn tại bền vững dưới dạng: “Những bản
thúc ước, hương ước, ngoài ra còn có hương ước của phường, hội điều góp phần thuần phong mỹ tục” [33, tr.404]
Do nguồn gốc hình thành của làng nên hình như các làng truyền thống
ở Quảng Xương đều có mối quan hệ anh em ruột thịt, máu mủ và thân thích với nhau, như làng Đồn Điền (xã Quảng Thái): Họ Tô, gốc tô chính đạo, dòng
họ lớn nhất làng, nhất xã làm động lực xây dựng nông thôn, xã vượt qua muôn nổi gian lao để tồn tại Làng cũng có Nghè Thành Hoàng thờ Bản thổ tôn thầu, đến Từ vị Thành Vương, miếu Ông (thờ cá Ông voi) Hai Ông tổ làng là Tô Chính Đạo, Uông Ngọc Châu được thờ làm phúc thần Đầu xuân hàng năm làng mở hội tế thần Lễ hội cầu nông cướp bông Lúa, Lễ hội cầu Ngư rước kiệu ra ngoài bãi biển hội tế [13, tr.63]
Ở làng Phượng Vĩ (xã Quảng Lĩnh), trước năm 1945 lý trưởng của làng
đã để cho một số trai phu đánh trả lại quan trên và bỏ trốn khỏi làng, Quan
Trang 30trên về bắt lý trưởng chịu tội, các cụ già trong làng đã hội tụ chống gậy ra Đình xin được chết thay cho Lý trưởng để có người trong làng làm việc Quan
Một số tập quán được nâng lên “Quy chuẩn đạo đức, văn hoá, làng xã”
như trước năm 1945 và hiện nay vẫn thường hay nói: “Mẹo mực Quảng
Xương văn chương Hoàng Hoá” Mẹo mực không phải là thủ đoạn mà là văn hoá ứng xử, ứng xử một cách “Mẹo mực” ở đây là sự khôn khéo đối phó bằng ngôn từ, lý cũng phải chịu cứng” [33, tr.401] Hoặc “Nhất Xương, nhì
Gia” Đây không phải là loại tục ngữ hài hước chơi chữ “xương” với “da”, tên hai huyện anh em láng giềng Sách Đồng Khánh địa chí dư triều Nguyễn chép câu tục ngữ dân gian này và giải thích là dân nghèo mà hay kiện tụng, cố nhiên đây là cách nhìn thiên lệch của phong kiến thống trị Đặt nó trong bối cảnh lịch sử chế độ phong kiến mới thấy câu tục ngữ đã tổng kết một cách khá hình tượng rất hay tình hình, đặc điểm Quảng Xương trước kia có nhiều cái nhất, trong đó nổi bật hơn cả là đất xấu dân nghèo nhất, dân cứng đầu cứng cổ nhất Ngoài ra còn nhiều cái “nhất” khác như: Đất trồng khoai lang nhiều nhất, người đi làm thuê nhiều nhất, dân số phát triển nhanh nhất
Đất xấu tất nhiên là dân nghèo, nhưng tích cách đặc biệt của Quảng Xương là không chịu khuất phục cường quyền nên bị chính quyền phong kiến xếp vào loại cứng đầu, cứng cổ Đúng “cổ cứng mới đứng đầu gió” trụ được ở đất quanh năm sóng gió, bùn lầy nước mặn này Họ không “cứng” không thể tồn tại được [13, tr.799]
Những phong tục tập quán, những nét văn hoá làng xã, dòng họ truyền thống ở Quảng Xương có cả tính tích cực và những hạn chế, tiêu cực đan xen nhau và vẫn tồn tại đến ngày nay Giáo sư, tiến sĩ (GS.TS) Hoàng Chí Bảo nhận
định: “Thiết chế làng xã cổ truyền chi phối nhà nước, chi phối toàn bộ đời sống
xã hội và dân cư nông nghiệp với cả hai mặt tích cực và tiêu cực của nó Ảnh hưởng này còn di tồn giai giẳng tới ngày nay vẫn chưa khắc phục hết” [2, tr.19]
Trang 31Những mặt tích cực của phong tục, tập quán, nét văn hoá làng xã, dòng
họ ở các xã trong huyện đã tác động nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã Đồng thời với những mặt tích cực đó thì những hạn chế tiêu cực cũng đã ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã trên địa bàn huyện
- Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn
Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá hiện nay có 36 đơn vị hành chính cấp xã (36 xã, 01 thị trấn) theo đó tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã: có 35 UBND xã và 01 UBND thị trấn
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003, Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 của chính phủ, quy định số lượng Phó chủ tịch(PCT) và cơ cấu thành viên UBND cấp xã; Nghị định số 92/2009/NĐ/CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính
sách đối với cán bộ công chức (CBCC) ở xã, phường, thị trấn và những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Quyết định số 619/2010/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 của UBND tỉnh Thanh Hoá về chức danh, số lượng, chế độ
chính sách đối với cán bộ công chức ở xã, phường, thị trấn và những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã trên địa bản tỉnh Thanh Hoá;
Theo các văn bản Quy định trên, cơ cấu bộ máy UBND xã ở các xã trong huyện Quảng Xương như sau:
Về số lượng Uỷ viên UBND và cơ cấu số lượng Phó Chủ tịch xã, thị trấn: có 15 xã cơ cấu 05 Uỷ viên UBND và cơ cấu 02 PCT, số còn lại là 03
Uỷ viên UBND và 01 PCT Những xã có 05 Uỷ viên UBND được cơ cấu như sau: CT, 02 PCT UBND, 02 Uỷ viên UBND còn lại thường cơ cấu vào chức danh, trưởng công an và xã đội trưởng Các xã có số lượng Uỷ viên UBND là
03 cơ cấu như sau: CT, 01 PCT, 01 Uỷ viên UBND còn lại cơ cấu vào chức danh trưởng công an xã hoặc xã đội trưởng hoặc văn phòng thống kê
Trang 32Về phân loại đơn vị hành chính cấp xã ở huyện Quảng Xương:
Thực hiện Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về phân loại hành chính xã, phường, thị trấn; Thông tư số 05/2006/TT-BNV ngày 30/5/2006 của Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều thực hiện quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Ngày 22/6/2007 UBND tỉnh Thanh Hoá ban hành Quyết định số 1846/QĐ-UBND về việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Theo Quyết định của UBND tỉnh Thanh Hoá, các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Quảng Xương được phân loại như sau:
+ Hạn chế:
Ở một số xã trong huyện, tổ chức bộ máy ở một số bộ phận giúp việc thuộc UBND xã còn cồng kềnh Ở hầu hết các xã trong huyện, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hội quần chúng, đoàn thể , xã có tổ chức nào thì ở thôn có
tổ chức đó Trong khi đó quy chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, chồng chéo nhau khi thực hiện nhiệm vụ, CSVC, điều kiện hoạt động, nhất là kinh phí cho hoạt động điều đề nghị ngân sách xã mà trực tiếp là UBND xã hỗ trợ, đây cũng là những tác động ảnh hưởng không nhỏ đến việc cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã trong thời gian qua
Trang 33Đội ngũ CBCC
- Định biên theo Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 27/10/2003 về chức danh, số lượng, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và Quyết định số 2519/QĐ-CT ngày 9/8/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá giao số lượng cán bộ chuyên trách công chức xã, phường, thị trấn Tổng
số cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn ở các xã, thị trấn trong huyện là 780 người Trong đó, CBCC thuộc UBND xã là 452 người, cán bộ chuyên trách là 328 người
- Định biên theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với CBCC ở
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Quyết định số 619/2010/QĐ-UBND ngày 16/4/2010 của UBND tỉnh Thanh Hoá quy định chức danh, số lượng, chế độ chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá:
Số cán bộ chuyên trách cấp xã theo trình độ đào tạo là 375 Trong đó về văn hóa có 09 trung học cơ sở, 366 trung học phổ thông Về chuyên môn có
86 chưa đào tạo, sơ cấp 35, trung cấp 190, cao đẳng 17, đại học 46, sau đại học 01 Về lý luận chính trị chưa đào tạo 29, sơ cấp 18, trung cấp 325, cao cấp 1 Về quản lý hành chính bồi dưỡng 77, trung cấp 124 Về ngoại ngữ 20
Đội ngũ người hoạt động không chuyên trách cấp xã là 610 Về văn
Trang 34hóa gồm: Tiểu học 02, trung học cơ sở 118, trung học phổ thông 490; về chuyên môn, chưa đào tạo 313, sơ cấp 39, trung cấp 172, cao đăng 41, đại học 46; về lý luận chính trị, chưa đào tạo 459, sơ cấp 39, trung cấp 112; ngoại ngữ 07, tin học 15
Số lượng cán bộ chuyên trách
Bảng 2.1: Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu về CCHC các xã, thị trấn
thời điểm 31/12/2013
TT Đơn vị
CB đầu mối tham mưu CCHC Cán bộ thường trực Tổ KS TTHC Ghi chú
Quảng Châu Trần Văn Niên VP-TK Nguyễn Thị Thịnh Tư pháp - HT
Quảng Thọ Đỗ Thị Phương VP-TK Lê Duy Kiêu Tư pháp - HT
Quảng Vinh Dư Thi ̣ Lan VP-TK Trương Văn Vân Tư pháp - HT
Quảng Minh Lê Ngọc Thiện VP-TK Lê Đình Hưng Tư pháp - HT
Quảng Hùng Hoàng Văn Hải VP-TK Lê Trọng Tính Tư pháp - HT
Quảng Giao Nguyễn Văn Khoa VP-TK Nguyễn Duy Trọng Tư pháp - HT
Quảng Đại Phạm Thị Dung VP-TK Nguyễn Thị Trang Tư pháp - HT
Quảng Hải Nguyễn Thị Huệ VP-TK Nguyễn Ngọc Mai Tư pháp - HT
Quảng Nhân Trần Văn Trình VP-TK Trần Thị Hồng Hạnh Tư pháp - HT
Quảng Lưu Trịnh Thị Tuyền VP-TK Lê Ích Chiến Tư pháp - HT
Quảng Lộc Nguyễn Thị Minh VP-TK Nguyễn Thị Hằng Tư pháp - HT
Quảng Thái Hà Thị Hương VP-TK Trần Kim Nghiên Tư pháp - HT
Quảng Lợi Trịnh Văn Hoan VP-TK Lê Thị Kim Tư pháp - HT
Quảng Nham Ngô Xuân Huệ VP-TK Lê Thanh Từ Tư pháp - HT
Quảng Thạch Lê Văn Sâm VP-TK Lê Văn Mạnh Tư pháp - HT
Quảng Khê Nguyễn Văn Tuấn VP-TK Nguyễn Tiến Kỳ Tư pháp - HT
Quảng Chính Nguyễn Văn Hảo VP-TK Lê Trung Thành Tư pháp - HT
Quảng Trung Lê Đình Hòa VP-TK Nguyễn Văn Nghị Tư pháp - HT
Quảng Lĩnh Nguyễn Văn Tùng VP-TK Lê Thị Hiền Tư pháp - HT
Quảng Bình Lê Công Trưởng VP-TK Nguyễn Thị Mến Tư pháp - HT
Quảng Ninh Đỗ Thị Diện VP-TK Nguyễn Thị Hải Tư pháp - HT
Quảng Phong Nguyễn Thị Hoa VP-TK Lê Văn Quý Tư pháp - HT
Trang 35Quảng Đức Nguyễn Thị Tâm VP-TK Phạm Văn Chinh Tư pháp - HT
Quảng Định Đoàn Thị Liên VP-TK Phạm Thị Hiếu Tư pháp - HT
Quảng Tân Nguyễn Văn Tuấn VP-TK Lê Bá Tùng Tư pháp - HT
Quảng Trạch Hoàng Bùi Huân VP-TK Lê Sỹ Luân Tư pháp - HT
Quảng Yên Nguyễn Thị Hoàn VP-TK Nguyễn Thị Lý Tư pháp - HT
Quảng Long Bùi Công Bản VP-TK Tư pháp - HT CB Hợp đồng Quảng Hoà Phạm Thị Phương VP-TK Lê Thanh Hải Tư pháp - HT
Quảng Hợp Nguyễn Thị Hiền VP-TK Lê Trung Thành Tư pháp - HT
Quảng Văn Hàn Văn Ngọc VP-TK Lê Thanh Hiếu Tư pháp - HT
Quảng Ngọc Nguyễn Thị Dung VP-TK Phạm Thị Hà Tư pháp - HT
Quảng Phúc Nguyễn Văn Cường VP-TK Nguyễn Thiên Tứ Tư pháp - HT
Quảng Vọng Vũ Thị Nhàn VP-TK Lê Huy Minh Tư pháp - HT
Quảng Trường Nguyễn Thị Trang VP-TK Phạm Văn Thuyết Tư pháp - HT
T.trấn
Q.Xương Mai Thị Oanh VP-TK
Nguyễn Huy Chung Tư pháp - HT
Nguồn: Phòng Nội vụ Huyện Quảng Xương
- Trình độ đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ chuyên trách, công chức chuyên môn trong bộ máy chính quyền các xã, thị trấn trong huyện như sau:
Bộ máy cơ quan hành chính cấp huyện năm 2005 chỉ có: 2,5% có trình
độ chuyên môn trên đại học, 55% trình độ đại học, 19% cán bộ có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị, 8% có trình độ trung cấp chính trị
Thời điểm trước khi công bố Bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá (tháng 1/2009)
Sau khi UBND tỉnh ban hành Quyết định 798/2010/QĐ-UBND ngày 11/3/2010 của UBND tỉnh Thanh Hóa về chính sách thu hút người có trình độ đại học trở lên về công tác tại xã, phường, thị trấn và chính sách hỗ trợ đối với công chức chưa đạt chuẩn Huyện Quảng Xương đã có những biến chuyển về
số lượng, chất lượng đội ngũ
Uỷ ban nhân dân huyện đã triển khai tốt các chính sách và chế độ đãi
Trang 36ngộ, đồng thời khuyến khích cán bộ công chức tham gia vào các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ Triển khai công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ công chức Từng bước gắn quy hoạch đào tạo với bố trí sử dụng cán bộ công chức Tiến hành khảo sát trình độ, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ ở cơ sở
và xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ công chức theo từng giai đoạn và từng năm theo đúng hướng dẫn và kế hoạch của cơ quan nhà nước cấp trên
Thống nhất việc quản lý đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tập trung vào một đầu mối đó là UBND huyện, để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và khắc phục hiện tượng cử cán bộ công chức đi đào tạo không theo quy hoạch, không gắn với yêu cầu công tác
Cùng với việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, UBND huyện cũng đã bố trí,
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức lãnh đạo, quản lý các phòng chuyên môn theo đúng quy định
Các chính sách đối với cán bộ công chức được vận dụng hợp lý và thực hiện đầy đủ phát huy được hiệu quả tác dụng của các chính sách đó Thực hiện có nề nếp cơ chế bổ nhiệm và bổ nhiệm lại cán bộ công chức lãnh đạo có thời hạn Từng bước thực hiện kế hoạch luân chuyển cán bộ trong cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của cơ quan nhà nước cấp trên
Thực hiện tuyển dụng công chức có trình độ đại học chuyên ngành phù hợp với vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế còn thiếu
* Nhận xét chung về đội ngũ CBCC
- Ưu điểm:
+ Số lượng cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn trong bộ máy chính quyền nói chung, UBND xã, thị trấn nói riêng ở các xã, thị trấn trong huyện từng bước được tăng cường, bảo đảm ở tất cả các lĩnh vực trong
bộ máy UBND xã, thị trấn đều có cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn phụ trách, đảm nhiệm các lĩnh vực
Trang 37+ Đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn được trưởng thành trong thực tiễn ở nhiều lĩnh vực khác nhau, được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho nên trong quản lý, điều hành, giải quyết công việc theo chức năng nhiệm vụ nhanh gọn, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu cho tổ chức và công dân Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sạch, gần gũi với nhân dân Một số công chức chuyên môn là đại học chính quy mới được tuyển dụng bước đầu đã phát huy được kiến thức trong thực tiễn
+ Đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn chuyển từ chế độ làm việc không chuyên trách (theo NĐ 09/NĐ-CP) sang chế độ làm việc chuyên trách (theo NĐ 114/NĐ-CP) đã yên tâm công tác hơn, ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ được giao
- Hạn chế:
+ Số lượng cán bộ bán chuyên trách ("người hoạt động không chuyên trách" - theo Quyết định 619/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa) ở cấp xã và thôn tăng so với quy định “đông nhưng không mạnh”, trong hoạt động đều đòi hỏi cần phải hổ trợ “chế độ” từ ngân sách xã Đây cũng là gánh nặng cho ngân sách xã “cho dù nguồn thu ở hình thức nào”
+ Cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn ở xã nói chung, UBND xã nói riêng đều chuyển từ hoạt động bán chuyên trách sang hoạt động chuyên trách, cho nên có một thực tế chung là: Tác phong công tác, lề lối làm việc, một bộ phận không nhỏ tư duy “theo nhiệm kỳ”, tư tưởng “bảo thủ, dĩ hoà vi quý” là hạn chế lớn nhất, cá biệt có chủ tịch UBND xã chưa nắm được pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH (khóaXI) Một bộ phận cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn về trình độ quy định, tuổi cao, một số cán bộ chủ chốt chính quyền chưa có bằng cấp chuyên môn, công chức chuyên môn ở một số chức danh sắp xếp chưa phù hợp với chuyên môn đào tạo
Trang 38+ Chế độ chính sách đối với cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn chưa được đảm bảo cuộc sống
Những hạn chế yếu kém trên đã trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả việc cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn
2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh hóa
* Những thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi
+ Cải cách thủ tục hành chính là một nội dung trong cải cách thể chế hành chính, là nơi cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Do đó, được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Đồng thời, nó cũng là nhu cầu nguyện vọng cấp bách của nhân nhân trong thời kỳ đổi mới
+ Đảng và nhà nước đã ban hành những văn bản pháp lý làm căn cứ để thực hiện cải cách thủ tục hành chính cụ thể như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VII và VIII đã đề về chương trình cải cách nền hành chính Quốc gia; Nghị quyết số 38/CP của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức; Quyết định 181/QĐ-TTg, ngày 04/9/2003 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính ở địa phương; Quyết định 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông tại cơ quan nhà nước ở địa phương; các văn bản luật như luật khiếu nại tố cáo, luật đất đai, luật công chứng và cấp tỉnh đã ban hành Quyết định về việc công Bố bộ thủ tục hành chính chung áp dụng cho cấp xã trên địa bàn tỉnh
+ Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các xã, thị trấn trên địa bàn huyện quán triệt tư tưởng, triển khai một
Trang 39cách nghiêm túc, quyết tâm thực hiện kế hoạch cải cách thủ tục hành chính của huyện đã đề ra theo đúng tình thần của tỉnh, của Trung ương
+ Thực hiện 798/2010/QĐ-UBND ngày 11/3/2010 của UBND tỉnh Thanh Hóa về chính sách thu hút người có trình độ đại học trở lên về công tác tại xã, phường, thị trấn và chính sách hỗ trợ đối với công chức chưa đạt chuẩn Từ năm 2010 đến 2012, đã bổ sung được 121 công chức trẻ có trình độ chuyên môn cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới
- Khó khăn
+ Khó khăn về đội ngũ: Không có biên chế cho cán bộ làm công tác ở
"một cửa" Do đó các xã sử dụng đội ngũ công chức chuyên môn kiêm nhiệm
và một số cán bộ bán chuyên trách làm việc Nghiệp vụ hạn chế, không chuyên môn hóa Không có nguồn kinh phí hỗ trợ dẫn đến thiếu động lực làm việc, mặt khác do kiêm nhiệm dẫn đến bị chi phối bởi các nhiệm vụ chính Một vấn đề quan trong đó là không thực hiện được đầy đủ bản chất của việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo cơ chế "một cửa"
Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp và đánh bắt hải sản Trình độ dân trí thấp nên việc tiếp nhận thông tin và thực hiện về cải cách thủ tục hành chính còn nhiều hạn chế Tính địa phương còn nặng nề, công tác tuyên truyền thay đổi nhận thức của cán bộ, của nhân dân chưa hiệu quả Tính chuyên nghiệp hạn chế, tình trạng xuề xòa,
cả nể, ngại va chạm với dân trong giải quyết hồ sơ của công dân xảy ra từ Chủ tịch xã xuống đến nhân viên
Một số văn bản nhà nước còn chồng chéo, bất hợp lý khó thực hiện; vì vậy văn bản hướng dẫn cần phải được chi tiết cụ thể hơn; một số văn bản của
cơ quan địa phương không thống nhất với văn bản của cơ quan cấp trên
Khó khăn về cơ sở vật chất: Tuyệt đại đa số các xã, thị trấn đều không
có phòng đủ diện tích theo quy định cho bộ phận "một cửa" Nhiều đơn vị
Trang 40phải sử dụng phòng làm việc của văn phòng để bố trí bộ phận "một của" Trang thiết bị thiếu thốn, nguồn kinh phí hạn chế
2.3 Tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở UBND xã, thị trấn tại huyện Quảng Xương
2.3.1 Hệ thống các văn bản làm căn cứ và phục vụ cho cải cách thủ tục hành chính đã ban hành
- Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2010; Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 01/01/2007 của Thủ tướng Chính Phủ về việc Phê duyệt đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010; Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, ngày 04/9/2003 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Nghị Quyết số 38/CP ngày 04/9/2004 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức; Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế
“một cửa” liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
- Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính Chỉ thị số 07/CT-TTg, ngày 22/05/2013 của Thủ tướng Chính Phủ về việc đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
- Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh đã ban hành các văn bản:
Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 33/2012/NQ-HĐND ngày 04/7/2012 về giám sát việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính
UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 27/2003/CT-UB ngày 12/12/2003 của