1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý

110 762 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động này còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trợ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Huy Liệu

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

1.1.2.4 Các lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý 20 1.1.2.5 Tính chất miễn phí của hoạt động trợ giúp pháp lý 21 1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 22 1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 221.2.1.1 Tiêu chí về mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý 25 1.2.1.2 Tiêu chí về chủ thể thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý 25 1.2.1.3 Tiêu chí về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý 26 1.2.1.4 Tiêu chí về kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý 27 1.2.1.5 Tiêu chí về những kết quả thực tế thu được do hoạt động

trợ giúp pháp lý mang lại

28

1.2.1.6 Tiêu chí về chi phí cho công tác trợ giúp pháp lý 28

Trang 4

1.2.2 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 29

1.2.2.2 Tổ chức, bộ máy để thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý và

đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý

29

1.2.2.3 Cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý 31 1.2.2.4 Nhận thức của các cơ quan, ban ngành về trợ giúp pháp lý 32 1.2.2.5 Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý 32 1.2.2.6 Sự phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý 32

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP

PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1.1.2 Về Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm 36

2.1.1.4 Về mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở 39 2.1.2 Thực trạng về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý 41 2.1.2.1 Về đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp pháp lý của Trung tâm 41

2.1.2.2 Về đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý 42 2.1.2.3 Về công tác tăng cường năng lực cho đội ngũ người thực

Trang 5

2.2.2 Thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động 53 2.2.3 Sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý 54 2.2.4 Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý 55 2.2.5 Công tác phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý 56 2.3 Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 60 2.3.1 Hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đã đạt được 60 2.3.2 Những bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động

trợ giúp pháp lý

62

Chương 3: CÁC QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

70

3.1 Các quan điểm bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp

lý ở Việt Nam

70

3.2 Các giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

ở Việt Nam trong thời gian tới

74

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý để tạo cơ sở pháp

lý vững chắc cho việc củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng

cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

74

3.2.2 Tiếp tục củng cố, kiện toàn, phát triển mạng lưới các tổ

chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo Quyết định số

792/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

77

3.2.3 Xây dựng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; nâng

cao năng lực thực hiện và chế độ đãi ngộ cho người thực

hiện trợ giúp pháp lý

79

3.2.3.1 Xây dựng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý 79 3.2.3.2 Nâng cao năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý 81 3.2.3.3 Nâng cao chế độ đãi ngộ cho người thực hiện trợ giúp pháp

lý để khuyến khích, động viên và thu hút lực lượng xã hội

83

Trang 6

tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý

3.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý 84

3.2.5 Xây dựng cơ chế phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý có

hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành, các cấp với tổ chức

thực hiện trợ giúp pháp lý

86

3.2.6 Tăng cường hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức

của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về tổ chức và hoạt động

trợ giúp pháp lý

87

3.2.7 Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và kinh phí

hoạt động cho các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

88

3.2.8 Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt

động trợ giúp pháp lý

89

3.2.9 Từng bước thực hiện xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý,

thu hút các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội-

nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp tham gia trợ giúp

pháp lý

90

3.2.10 Tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm tổ chức

hoạt động trợ giúp pháp lý và tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ

thuật, tài chính của các nước và các tổ chức quốc tế

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, cùng với việc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nhằm "thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân", "vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [20, tr 129]

Để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo "cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật" [39, tr 1]; "tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí" [12, tr 1]

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động trợ giúp pháp lý đã được hình thành và phát triển Công tác trợ giúp pháp lý sau gần 15 năm hình thành và phát triển công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được những kết quả quan trọng: mạng lưới tổ chức trợ giúp pháp lý ngày càng được củng cố, kiện toàn đến tận cơ sở, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm trợ giúp pháp lý của các Trung tâm đã từng bước được tăng cường về số lượng và năng lực chuyên môn Trợ giúp pháp lý đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc giúp đỡ pháp lý cho đông đảo người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối tượng khác, làm tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đồng thời, đã góp phần hỗ trợ hoạt động tranh tụng để vụ việc được xét xử chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật; trong nhiều trường hợp đã

Trang 8

giúp các cơ quan Nhà nước xem xét lại những bất cập trong giải quyết vụ việc của dân, từ đó có những tác động tích cực đến đời sống pháp luật của xã hội, góp phần làm cho vai trò của pháp luật được phát huy, thực sự là công cụ bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, giữ ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động này còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện như: ở một số địa phương, mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý còn chậm được kiện toàn, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho hoạt động còn thiếu thốn và hạn chế chưa tương xứng với nhiệm vụ, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng còn ít, chất lượng một số vụ việc trợ giúp pháp lý chưa cao , từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, đáp nhu cầu trợ giúp pháp lý rất phong phú đa dạng và ngày một tăng của nhân dân Xuất phát từ những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, thực hiện cải cách tư pháp, cải cách hành chính, việc nghiên

cứu đề tài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý" là

yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến 2030 và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trợ giúp pháp lý là một hoạt động còn tương đối mới mẻ, tuy nhiên đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ và các

Trang 9

bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực này

Về đề tài nghiên cứu cấp Bộ:

Đề tài "Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng

thực hiện trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do

Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS Tạ Thị Minh Lý Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý; thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trong thời gian tới

"Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý"

(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS Tạ Thị Minh Lý Đề tài nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua Tuy nhiên, Quốc hội đã cho

ý kiến nâng Dự án Pháp lệnh trợ giúp pháp lý lên thành Luật trợ giúp pháp lý

và đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006

Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:

Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý Luận án tập trung nghiên cứu

cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới

Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của

người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của Đỗ Xuân Lân Luận

văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng các hình thức tiếp cận pháp

Trang 10

luật của người nghèo ở Việt Nam, các giải pháp nhằm bảo đảm người nghèo ở Việt Nam luôn được tiếp cận với pháp luật

Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp

pháp lý ở Việt Nam" của Vũ Hồng Tuyến Luận văn tập trung nghiên cứu cơ

sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về người thực hiện trợ giúp pháp lý, từ đó có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý

Luận văn thạc sĩ: "Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý " của Phan

Thị Thu Hà Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền được trợ giúp pháp lý và các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân

Luận văn thạc sĩ: "Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở" của Đặng Thị

Loan Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển các mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở

Có thể nói, các công trình đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của hoạt động trợ giúp pháp lý Tuy nhiên, về vấn đề hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện Vì

vậy, việc nghiên cứu đề tài "Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý" là rất cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn góp

phần tìm ra giải pháp, định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp

lý trong thời gian tới

Trang 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung chính sau đây:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện

- Nghiên cứu các quan điểm đổi mới, hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, thực trạng về tổ chức và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 đến nay Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng về trợ giúp pháp lý Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý, các báo cáo kết quả hoạt động, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cũng được tham khảo và kế thừa có chọn lọc

- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời

sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê

Trang 12

Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống

về cơ sở lý luận, pháp lý về hoạt động trợ giúp pháp lý, hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý; từ việc phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả tổ chức

và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những khó khăn, hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý, luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới Đồng thời, luận văn có thể phục vụ

cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt

Nam trong thời gian qua

Chương 3: Các quan điểm, giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ

giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ

VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20 xuất phát từ tiếng Anh là "Legal aid" Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb Khoa học xã hội, 1997 thì "Legal aid" có nghĩa là "Trợ cấp pháp lý" Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nxb Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì "Legal aid" trong cụm từ "Legal aid schem" được dịch là "kế hoạch bảo trợ tư pháp"

Để có cơ sở lý luận xác định rõ nội hàm của khái niệm "trợ giúp pháp lý", cần phải hiểu khái niệm "Trợ giúp" Theo Đại Từ điển tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1999 thì "Trợ giúp" là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến" Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh thì trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công Với Từ điển tiếng Việt của Nxb Khoa học xã hội, 1994 thì thuật ngữ "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" Thuật ngữ "giúp đỡ" lại được giải thích theo nghĩa tích cực là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho ai một việc gì đó hoặc cho ai cái gì

đó mà người ấy đang cần Cái đang cần ở đây là "pháp lý" theo nghĩa rộng của từ này Thuật ngữ "pháp lý" được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật

Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là "hỗ trợ pháp luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp" Như vậy, có rất nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này

Trang 14

Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội đã có lịch sử trên 500 năm nay và được bắt nguồn tại Anh từ thế kỷ XV - XVI Cùng với

xu hướng phát triển của nhiều quốc gia châu Âu, tư duy về quyền được trợ giúp pháp lý trở thành trào lưu chung, trợ giúp pháp lý gắn với khái niệm

"luật cho người nghèo" Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, quan niệm về trợ giúp pháp lý cũng có sự khác nhau, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh

tế - xã hội của mỗi nước Theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì "trợ giúp pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý" Điều 2 Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý 1995 của Singapore cũng giải thích rằng "trợ giúp pháp lý là việc giúp

đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý" Người

Úc cho rằng "trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh

và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật" Dưới góc độ kinh tế theo quan niệm của Đức thì "trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Tòa án" [41, tr 14] Nhấn mạnh đến tính pháp lý, nêu rõ chủ thể thực hiện, nội dung thực hiện, pháp luật Hàn Quốc quy định "trợ giúp pháp lý là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật" Tại Điều 1001 Đạo luật về công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 của Mỹ quy định: "trợ giúp pháp lý là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp"

Như vậy, ở các nước trên thế giới, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được thể hiện qua ba tính chất: kinh tế, pháp lý và nhân đạo Tính kinh tế và tính nhân đạo thể hiện ở chỗ hoạt động này nhằm giúp đỡ cho những đối tượng không có khả năng tài chính hoặc khó khăn về tài chính để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý Tính pháp lý thể hiện thông qua sự

Trang 15

giúp đỡ, hỗ trợ về các vấn đề có liên quan đến pháp luật như tư vấn pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định

Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong sách báo từ năm 1995, khi bắt đầu có đầu tư nghiên cứu xây dựng Dự án về phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam và đã được sử dụng chính thức trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Đến nay, đã có cả một hệ thống văn bản pháp luật nhắc đến thuật ngữ

"trợ giúp pháp lý"

Nhìn chung, khái niệm trợ giúp pháp lý thể hiện được mục đích, ý nghĩa, nội dung cơ bản, đối tượng phục vụ và tính chất đặc thù của hoạt động này nhằm phân biệt với các hoạt động nghiệp vụ pháp lý khác Theo nghĩa

rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí các dịch vụ pháp luật

của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội Theo

nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là sự giúp đỡ các dịch vụ pháp luật

miễn phí cho các đối tượng nhất định do các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước thực hiện theo lĩnh vực, phạm vi trợ giúp mà pháp luật quy định

Luật trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 tại Điều 3 đã đưa ra khái niệm về trợ giúp pháp lý:

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp

Trang 16

luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [34]

Có thể nói, khái niệm trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý đã thể hiện đầy đủ, toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

Một là, Nhà nước và xã hội cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí cho

người được trợ giúp pháp lý nhằm giúp họ có kiến thức pháp luật để tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định hoặc sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Hai là, việc giúp đỡ đó là nhằm bù đắp cho những người được trợ giúp

pháp lý những thiếu hụt trong cuộc sống do địa vị xã hội hoặc tình trạng pháp lý của họ mang lại Mà chính địa vị xã hội hoặc tình trạng pháp lý mà họ không có khả năng tự mình thực hiện hoặc không có điều kiện tiếp cận với pháp luật

Ba là, sự giúp đỡ đó được thực hiện xuất phát từ trách nhiệm của Nhà

nước đối với công dân, trách nhiệm của xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng, đặc biệt là nhóm các đối tượng yếu thế

Từ việc nghiên cứu các khái niệm về trợ giúp pháp lý của các nước

trên thế giới và ở Việt Nam, hoạt động trợ giúp pháp lý được hiểu là hoạt

động của các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định nhằm cung cấp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

1.1.2 Đặc điểm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

Để hiểu về hoạt động trợ giúp pháp lý cần tìm hiểu về chủ thể thực hiện hoạt động đó, đối tượng mà hoạt động đó hướng đến, hoạt động được

Trang 17

thực hiện bằng các hình thức nào, các lĩnh vực nào và những tính chất, đặc trưng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ

Tư pháp), các Chi nhánh của Trung tâm

(ii) Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm:

+ Tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật theo quy định của pháp luật về luật sư);

+ Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật)

Trên thế giới, ở tất cả các nước đều tồn tại một hệ thống trợ giúp pháp

lý của nhà nước, do Nhà nước cấp kinh phí hoạt động và chịu trách nhiệm báo cáo trước Nhà nước về hoạt động của mình Ở Canada, Hàn Quốc, tổ chức trợ giúp pháp lý được gọi là Cục trợ giúp pháp lý, ở Philippine là Văn phòng Luật

sư công, ở Hà Lan là Hội đồng trợ giúp pháp lý và Ủy ban trợ giúp pháp lý, ở

Úc là Ủy ban trợ giúp pháp lý và ở Trung Quốc là Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp

Song song với hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý của nhà nước là các

tổ chức trợ giúp pháp lý phi Chính phủ và hoạt động của các luật sư tư Ví dụ,

Trang 18

ở Canada, đó là các tổ chức trợ giúp pháp lý cộng đồng, Hội trợ giúp pháp lý sinh viên, Tổ chức trợ giúp pháp lý thổ dân (theo Điều 14, Luật Dịch vụ trợ giúp pháp lý của bang Ontario năm 1998, Canada) Ở Philippine, là Ủy ban trợ giúp pháp lý về đất đai thuộc Bộ Cải cách ruộng đất, Hiệp hội luật sư… cũng thực hiện trợ giúp pháp lý Ở Úc có các Trung tâm pháp lý cộng đồng, Trung tâm trợ giúp pháp lý cho thổ dân…

- Người thực hiện trợ giúp pháp lý

Người thực hiện trợ giúp pháp lý là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật Theo Điều 20, Luật trợ giúp pháp lý thì người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm có Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật

(i) Trợ giúp viên pháp lý

Trợ giúp viên pháp lý là viên chức của Trung tâm được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ Để trở thành Trợ giúp viên pháp

lý, viên chức của Trung tâm phải có bằng Cử nhân luật, có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý sau khi đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề luật sư (hiện đang là 06 tháng); có thời gian làm công tác pháp luật từ 02 năm trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trợ giúp viên pháp lý thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng với

tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật, hòa giải và các hình thức trợ giúp pháp lý khác Đây là đội ngũ nòng cốt của Trung tâm tham gia hoạt động tố tụng (đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp) cho người được trợ giúp pháp lý

Trang 19

(ii) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý

Cộng tác viên là những người làm việc trên cơ sở hợp đồng cộng tác với Trung tâm để thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý Cộng tác viên có thể là luật sư, Tư vấn viên pháp luật, người có bằng cử nhân luật, người có bằng đại học khác làm việc trong ngành, nghề liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi người có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng cũng được xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trên

cơ sở đơn tham gia của họ

+ Người có thời gian làm công tác pháp luật là người đã hoặc đang đảm nhiệm các chức danh như thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Toà án, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thanh tra viên, Chấp hành viên, Công chứng viên, Thẩm tra viên ngành Toà án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát; chuyên viên pháp lý, cán sự pháp lý trong ngành Tư pháp hoặc tổ chức pháp chế các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang; công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn

+ Người có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng là người

đã hoặc đang là thành viên tổ hoà giải, thành viên Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, già làng, trưởng bản, trưởng thôn, trưởng các dòng họ, đại diện tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở cơ sở

+ Cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật Khi thực hiện trợ giúp pháp lý Cộng tác viên được Trung tâm, Chi nhánh thanh toán tiền bồi dưỡng theo vụ việc và các chi phí hành chính hợp lý khác theo quy định của pháp luật

(iii) Luật sư

Luật sư có thể thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách là cộng tác viên của Trung tâm hoặc tham gia trợ giúp pháp lý thông qua tổ chức hành nghề

Trang 20

của luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật) có đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý mà luật sư đó là thành viên, hoặc trợ giúp pháp lý theo nghĩa vụ của luật sư theo pháp luật về luật sư

(iv) Tư vấn viên pháp luật

Tư vấn viên pháp luật làm việc tại các Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện trợ giúp pháp lý với tư cách là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tham gia trợ giúp pháp lý khi Trung tâm tư vấn pháp luật có đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý hoặc thực hiện trợ giúp pháp lý theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008

về tư vấn pháp luật

Trên thế giới, nhìn chung ở các nước, hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ luật sư chuyên nghiệp Ngoài ra, một số nhóm người khác như sinh viên, cán bộ pháp luật nhà nước, những người có kiến thức pháp luật nhất định cũng được thu hút khuyến khích làm công tác trợ giúp pháp lý

Ở Hàn Quốc, có ba nhóm người được pháp luật cho phép thực hiện trợ giúp pháp lý, đó là: Uỷ viên trợ giúp pháp lý (phụ trách các vụ việc đại diện, bào chữa); Luật sư công do tổ chức trợ giúp pháp lý tuyển dụng để thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý (cụ thể là các vụ đại diện, bào chữa) và Luật sư chỉ định (được chỉ định thực hiện trợ giúp pháp lý nhưng không phải luật sư

mà chỉ là người có am hiểu về pháp luật Những người này khi thực hiện trợ giúp pháp lý không cần có đăng ký đủ tư cách luật sư nhưng vẫn phải tuân thủ mọi nghĩa vụ và trách nhiệm như một luật sư)

Ở Canada, Dự luật về trợ giúp pháp lý cho phép những nhóm người sau được thực hiện trợ giúp pháp lý: Các luật sư tư (những người đang hành nghề luật sư tư nhưng có thoả thuận, cam kết với Cục trợ giúp pháp lý về việc đồng ý giúp đỡ pháp lý cho đối tượng được trợ giúp của Cục); người cung cấp

Trang 21

dịch vụ (những người không phải là luật sư và chỉ được cung cấp các dịch vụ giúp

đỡ khác, không thuộc loại trợ giúp pháp lý); thành viên của tổ chức trợ giúp pháp

lý cộng đồng (những người xuất thân từ chính cộng đồng đó, không nhất thiết là luật sư nhưng phải qua một khoá đào tạo đặc biệt do Cục trợ giúp pháp lý); tổ chức sinh viên (những người đang theo khoá học để được gia nhập Đoàn Luật sư hoặc bất cứ khoá học pháp luật nào mà Hiệp hội luật sư tổ chức) và luật sư thường trực (những luật sư được Cục trợ giúp pháp lý ký hợp đồng để thường trực tại Toà và giúp đỡ pháp lý cho những người phải ra Toà mà chưa có luật sư)

Ở Úc, hoạt động trợ giúp pháp lý có thể được thực hiện bởi thành viên của Uỷ ban trợ giúp pháp lý và luật sư tư (những người hành nghề tư bên ngoài được Uỷ ban trợ giúp pháp lý mời giúp đỡ pháp lý cho đối tượng được trợ giúp

và được Uỷ ban trả thù lao) và thành viên của các tổ chức trợ giúp pháp lý tình nguyện (ví dụ: Trung tâm trợ giúp pháp lý cộng đồng) thực hiện trợ giúp pháp lý

Ở Philippin, người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm các luật sư công (thuộc Văn phòng luật sư), luật sư tư (thuộc Hiệp hội luật sư) và các luật

sư thuộc các tổ chức trợ giúp pháp lý phi Chính phủ Nhìn chung những người này muốn thực hiện trợ giúp pháp lý đều phải có chứng chỉ luật sư

1.1.2.2 Người được trợ giúp pháp lý

Người được trợ giúp pháp lý là người được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí Xuất phát từ mục đích, ý nghĩa và tính chất của hoạt động trợ giúp pháp lý, không phải tất cả mọi người dân đều được hưởng dịch

vụ trợ giúp pháp lý mà chỉ có những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội được hưởng dịch vụ này Theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 và Nghị định

số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ và pháp luật hiện hành, những đối tượng sau đây được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước:

- Người thuộc hộ nghèo: Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000đ/tháng ở nông thôn và 500.000đ/tháng ở thành thị

Trang 22

- Người có công với cách mạng:

+ Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8 năm 1945;

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;

+ Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh; + Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; + Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

+ Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"…;

+ Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ dưới 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ

- Người già cô đơn không nơi nương tựa: là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân và không có nơi nương tựa

- Người khuyết tật: là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

Theo Luật người khuyết tật năm 2010 thì người khuyết tật có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí

- Trẻ em không nơi nương tựa: được trợ giúp pháp lý là người dưới 16 tuổi không nơi nương tựa

- Người dân tộc thiểu số: thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật

- Nạn nhân bị mua bán: là người bị xâm hại bởi hành vi mua, bán người Theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 thì nạn nhân bị mua bán được trợ giúp pháp lý miễn phí

Trang 23

- Các đối tượng khác: được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Trung Quốc, Ucraina, Pháp, Mông Cổ…)

Một số nước trên thế giới cũng quy định một số nhóm người nhất định trong xã hội được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý, như pháp luật trợ giúp pháp

lý ở Trung Quốc quy định: Một người có đủ điều kiện để được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý phải đáp ứng một trong hai loại điều kiện: Điều kiện chung

và điều kiện đặc biệt

Điều kiện chung: Có nhiều lý do chứng tỏ việc trợ giúp pháp lý là cần

thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và người nộp đơn không có khả năng trả chi phí dịch vụ pháp lý do tình hình tài chính khó khăn Thuật ngữ

"tài chính khó khăn" đã cụ thể hơn bằng việc đưa ra hai tình huống: (i) Người xin trợ giúp đúng là không có nguồn thu nhập và không có khả năng để xác định một cách chắc chắn nguồn tài chính của gia đình họ và (ii) người đó chắc chắn không có thu nhập và những người thân thích của họ cũng không có khả năng giúp đỡ họ

Điều kiện đặc biệt: Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự quy định Tòa án

nhân dân sẽ yêu cầu trợ giúp pháp lý cho người mù, người điếc, câm, người dân tộc thiểu số và những người phạm tội bị kết án tử hình nếu họ không mời

được luật sư đại diện, bào chữa tại tòa hình sự

1.1.2.3 Các hình thức trợ giúp pháp lý

Điều 27, Luật trợ giúp pháp lý quy định người thực hiện trợ giúp pháp

lý được cung cấp các dịch vụ trợ giúp pháp lý bằng các hình thức như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác như: hoà giải, hướng dẫn thủ tục khiếu nại, kiến nghị thi hành pháp luật…

Trang 24

- Tư vấn pháp luật

Người thực hiện trợ giúp pháp lý hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý

Tư vấn pháp luật có thể được thực hiện trực tiếp cho người được trợ giúp pháp lý tại trụ sở; tư vấn theo yêu cầu qua điện thoại hoặc trả lời bằng văn bản;

tư vấn thông qua trợ giúp pháp lý lưu động; tư vấn thông qua sinh hoạt của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý hoặc tại các đợt sinh hoạt chuyên đề pháp luật

- Tham gia tố tụng

Người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính Để bào chữa trong vụ án hình sự, Trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp

để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

- Đại diện ngoài tố tụng

Người thực hiện trợ giúp pháp lý làm đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý khi họ không thể

tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan tiến hành tố tụng

Việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý

- Các hình thức trợ giúp pháp lý khác

+ Tham gia hòa giải giúp người được trợ giúp pháp lý tự giải quyết

tranh chấp

Trang 25

Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cử người thực hiện trợ giúp pháp lý làm trung gian

để phân tích các tình tiết của vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc

Việc hoà giải cũng được tiến hành trong trường hợp cần thiết để giữ gìn đoàn kết cộng đồng, duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hoà giải

+ Người thực hiện trợ giúp pháp lý giúp người được trợ giúp pháp lý

thực hiện các công việc có liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại hoặc tham gia trong quá trình giải quyết trong trường hợp họ không thể tự mình thực hiện được để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thực hiện nghĩa

vụ cơ bản của công dân

Cung cấp thông tin pháp luật, tờ gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm tài liệu pháp luật khác qua các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật

Cung cấp bản sao các điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, cung cấp địa chỉ làm việc của cơ quan,

tổ chức, cá nhân mà pháp luật quy định có thẩm quyền giải quyết vụ việc, liên

hệ với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý không tự thực hiện được

- Kiến nghị thi hành pháp luật

Khi có đủ căn cứ cho rằng cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không giải quyết vụ việc cho người được trợ giúp pháp lý hoặc kết quả giải quyết vụ việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa phù hợp với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ

Trang 26

giúp pháp lý có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước đó xem xét giải quyết lại vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi nhận được văn bản kiến nghị của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm (45) ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về thời hạn trả lời

Khi giải quyết vụ việc, nếu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phát hiện cán bộ, công chức, viên chức nhà nước cố tình làm sai, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý thì kiến nghị cơ quan quản

lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức đó xem xét, giải quyết về việc thi hành pháp luật của cán bộ, công chức đó

Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn thì có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật đó, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

Theo pháp luật trợ giúp pháp lý Trung Quốc có 06 loại hình dịch vụ trợ giúp pháp lý, bao gồm:

"i).Tư vấn và dự thảo đơn từ, văn bản nhân danh người được giúp đỡ; ii) Bào chữa và đại diện trong các vụ việc hình sự; iii) Đại diện trong các khiếu kiện dân sự và hành chính; iv) Đại diện trong các vấn đề pháp luật không tranh tụng; v) Công chứng các loại giấy tờ; vi) Các hình thức khác của dịch vụ trợ giúp pháp lý 31, tr 60

1.1.2.4 Các lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý

Theo quy định hiện hành thì các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến hầu hết các lĩnh vực pháp luật

Trang 27

trừ loại vụ việc thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại Theo Điều 34 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007, thì hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện có liên quan đến các lĩnh vực pháp luật sau đây:

(i) Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

(ii) Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự

(iii) Pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em

(iv) Pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính (v) Pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng (vi) Pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm

(vii) Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác

(viii) Các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân

Ở Trung Quốc: Tổ chức trợ giúp pháp lý của nhà nước giúp đỡ pháp luật cho dân trong lĩnh vực: Thủ tục hình sự; các vụ việc khiếu nại về trả cấp dưỡng, cấp dưỡng nuôi con; các vấn đề pháp luật về bồi thường thiêt hại do vi phạm quyền của những người mù, câm, điếc và những người tàn tật khác, người dân tộc và người già cô đơn; các vấn đề pháp luật trong đó các khiếu nại liên quan đến việc trả trợ cấp cho người tàn tật hoặc gia đình họ hoặc khoản chi phí tổn; trợ giúp pháp lý cho dịch vụ công chứng; các vấn đề pháp

lý khác cần thiết để trợ giúp pháp lý

1.1.2.5 Tính chất miễn phí của hoạt động trợ giúp pháp lý

Ở Việt Nam, nguyên tắc của hoạt động trợ giúp pháp lý đó là: "Không thu phí, lệ phí thù lao từ người được trợ giúp pháp lý" (Khoản 1, Điều 4 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006) Theo nguyên tắc này, khi đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí,

Trang 28

thù lao nào dưới bất kỳ hình thức nào Pháp luật trợ giúp pháp lý cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được trợ giúp pháp lý, sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý Kinh phí hoạt động trợ giúp pháp lý do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Nhìn chung, hoạt động trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới chỉ miễn phí cho một số trường hợp đặc biệt còn phần lớn có thu phí (nhưng ở mức thấp hơn so với các đối tượng bình thường khác) Ví dụ: Ở Singapore người được trợ giúp pháp lý miễn phí là người có thu nhập bình quân dưới 7.000 USD/năm (trong đó không tính giá trị tài sản là phương tiện kinh doanh, trang thiết bị đang sử dụng trong gia đình; người đã trên 60 tuổi có tiền gửi tiết kiệm dưới 30.000 USD ); Ở một số nước như Đức, Úc, Anh

đối với án hình sự, đối tượng được trợ giúp miễn phí nếu Toà án tuyên án đối

tượng vô tội hoặc trắng án, trong trường hợp ngược lại, người bị Toà án tuyên

án là phạm tội phải thanh toán toàn bộ chi phí trợ giúp pháp lý, kể cả tiền thuê luật sư bào chữa cho đối tượng; Ở Anh, Thụy Điển quy định đối tượng là nạn nhân của tội phạm nghiêm trọng thì được miễn phí Nhà nước sẽ trả toàn

bộ các khoản chi phí trợ giúp pháp lý nếu người bị hại thắng kiện, nếu trong

trường hợp ngược lại (người bị hại thua kiện) thì "phải thanh toán toàn bộ chi

phí, kể cả chi phí cho luật sư bào chữa cho nạn nhân" [41, tr 35]

Còn các đối tượng khác khi được trợ giúp pháp lý đều phải thanh toán toàn bộ hay một phần chi phí tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của người đến xin trợ giúp

1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Bất kỳ một hoạt động nào đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là tính hiệu quả và hiệu quả phải đạt ở mức độ cao nhất Hiệu quả có thể được coi là vấn đề quan trọng bậc nhất

Trang 29

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm 2004 thì khái niệm "hiệu quả" được hiểu là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định

Khi đánh giá về hiệu quả pháp luật có quan niệm cho rằng, hiệu quả pháp luật được hiểu là khả năng tác động vào các quan hệ xã hội theo hướng

đã được xác định "Khả năng của pháp luật có thể tác động được vào các quan

hệ đó với xã hội và ý thức xã hội để điều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật" [43, tr 3]

Theo TS Nguyễn Minh Đoan thì hiệu quả pháp luật không chỉ là những khả năng tác động của pháp luật, để quan niệm đầy đủ về hiệu quả pháp luật cần phải có cách tiếp cận hệ thống trên quan điểm toàn diện, nghĩa

là cần xem xét không chỉ bản thân pháp luật, mà phải xem xét cả đối tượng tác động của nó trong những phạm vi không gian, thời gian với những số lượng và chất lượng nhất định "Hiệu quả pháp luật là kết quả cụ thể đạt được trong quá trình pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích và yêu cầu đặt ra" [27, tr 23]

Trong hoạt động lập pháp, hiệu quả pháp luật được hiểu là "kết quả cụ thể của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật" Theo các nhà luật học thì hiệu quả pháp luật chính là kết quả của sự tác động pháp luật được đặc trưng bằng các chỉ số chung: trạng thái pháp chế, trình độ và tính ổn định của trật tự pháp luật Các chỉ số chung

ấy thể hiện ở mối quan hệ giữa kết quả thực tế của sự tác động của các quy phạm pháp luật và mục đích xã hội mà các quy phạm pháp luật nhằm đạt đến

Dưới góc độ kinh tế, hiệu quả là sự so sánh giữa các chi phí đầu vào với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra - đầu vào Theo cách tiếp cận này thì hiệu quả chính là chỉ số so sánh giữa kết quả thu về với chi phí

Trang 30

công sức bỏ ra, hiệu quả của hoạt động là sự đạt được mục tiêu của hoạt động đặt ra với những chi phí ít nhất (nguồn lực con người, vật chất, ngân sách, tinh thần ) Khi nói đến hiệu quả kinh tế của bất kỳ một hoạt động nào thì đều phải xác định chi phí bỏ ra ít nhất nhưng mang lại kết quả (giá trị lợi ích) cao nhất Hiệu số giữa giá trị lợi ích mang lại với chi phí bỏ ra càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

Theo quan niệm này thì hiệu quả kinh tế của hoạt động trợ giúp pháp

lý có thể tính toán được, nếu chi phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý ít hơn giá trị lợi ích mang lại thì hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả Ngoài ra, hiệu quả kinh tế của hoạt động trợ giúp pháp lý căn cứ vào những tổn thất và chi phí của xã hội bỏ ra do có sự tác động của hoạt động trợ giúp pháp lý mang lại Nếu hoạt động trợ giúp pháp lý chi phí ít nhưng mang lại những tổn thất lớn cho xã hội hoặc xã hội phải bỏ ra chi phí lớn hơn những lợi ích mà người được trợ giúp pháp lý được hưởng thì cũng không có hiệu quả kinh tế

Để đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cần xem xét các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Để đánh giá chất lượng, hiệu quả của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá trình nào đều cần có những tiêu chí nhất định Nhờ những tiêu chí đó, người

ta có thể xác định được chính xác ″phẩm chất″, ″giá trị″ của đối tượng Nói đến tiêu chí là nói đến ″ tính chất, dấu hiệu để dựa vào đó mà phân biệt, đánh giá, xếp loại một vật, một khái niệm″ [43, tr 3] Các tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của các sự vật, hiện tượng nói chung và của trợ giúp pháp lý nói riêng là cơ sở để xác định được các mức độ chất lượng của đối tượng được đánh giá mà cụ thể ở đây là chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý

Để đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện nay cần chú trọng các tiêu chí cơ bản sau: Mục đích, mục tiêu, yêu cầu của hoạt động trợ giúp pháp lý, chủ thể thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý, chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, những kết quả thực tế do hoạt động trợ giúp

Trang 31

pháp lý mang lại, tác động xã hội của hoạt động trợ giúp pháp lý, những chi phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý Mỗi tiêu chí là một căn cứ để xác định hiệu quả của hoạt động ở một phương diện nhất định và tổng hợp lại là hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý

1.2.1.1 Tiêu chí về mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý

Mục đích, mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý

là kết quả cần đạt được đối với hoạt động trợ giúp pháp lý Muốn đánh giá được hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cần đánh giá trên cơ sở mục đích, mục tiêu, yêu cầu đặt ra của hoạt động này

Mục tiêu của hoạt động trợ giúp pháp lý là cung ứng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, đầy đủ, có chất lượng cho người dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý, bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khi có vướng mắc pháp luật, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công

lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống

1.2.1.2 Tiêu chí về chủ thể thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý

Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý có vai trò quan trọng bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả hay không, bởi chính chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý nhằm đạt được mục tiêu mà hoạt động trợ giúp pháp lý đề ra

Để thực hiện được các mục tiêu của hoạt động trợ giúp pháp lý, các chủ thể thực hiện phải có đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của công việc, cụ thể phải có trình độ, có kiến thức pháp luật vững vàng, phải có đầy đủ

kỹ năng trợ giúp pháp lý như kỹ năng tư vấn, kỹ năng tham gia tố tụng, kỹ năng đại diện ngoài tố tụng, kỹ năng trợ giúp pháp lý cho từng nhóm đối tượng đặc biệt là các nhóm đối tượng đặc thù như người già cô đơn, trẻ em, người khuyết tật, nạn nhân của tội buôn bán người hay người dân tộc thiểu số

Trang 32

1.2.1.3 Tiêu chí về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý

Theo một số Từ điển Tiếng Việt thì chất lượng là giá trị về mặt lợi ích;

là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật; cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia, phân biệt với số lượng "Chất lượng sản phẩm là toàn bộ những đặc tính của sản phẩm thoả mãn những đòi hỏi nhất định tương ứng với công dụng của nó" 39, tr 331 Như vậy, sẽ không thể có chất lượng nếu như sự vật, hiện tượng, dịch vụ nhất định không chứa bên trong nó những đặc tính, phẩm chất vốn có của riêng nó và không có giá trị về mặt lợi ích

Chất lượng dịch vụ pháp lý (theo nghĩa rộng) và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (theo nghĩa hẹp một vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể) là cái thuộc bản chất bên trong, tạo nên phẩm chất, giá trị của dịch vụ pháp lý nói chung và của vụ việc trợ giúp pháp lý nói riêng đối với người được trợ giúp pháp lý Cụ thể thông qua dịch vụ trợ giúp pháp lý, giúp cho người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật

Do đối tượng phục vụ của trợ giúp pháp lý rất đặc thù, là người nghèo

và các đối tượng chính sách nên đòi hỏi hoạt động trợ giúp pháp lý phải theo quy chuẩn nhất định, để tránh tình trạng "làm miễn phí thì thế nào cũng được", hoặc kiểu ban ơn, không đem lại hiệu quả Làm trợ giúp pháp lý khó hơn cung cấp dịch vụ pháp lý cho những người dân khác có trình độ và sống

ở môi trường thuận lợi Vì người dân khá giả thông thường có trình độ cao hơn thì biết cách lưu giữ chứng cứ, tài liệu, biết khai thác thông tin, biết trình bày đơn, từ còn người nghèo thì vừa không biết lưu giữ tài liệu, lại vừa không biết trình bày, lo lắng, thiếu niềm tin và người dân tộc thiểu số còn bị bất đồng ngôn ngữ Do đó, bên cạnh việc trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải

Trang 33

quyết vụ việc liên quan đến quyền lợi của người dân đã được quy định theo hướng công khai, minh bạch, dễ hiểu, đơn giản hóa tới mức tối đa, linh hoạt, tránh phiền hà tại địa điểm tiếp dân thuận lợi, dễ tiếp cận, thì pháp luật còn đặt ra một yêu cầu rất cao là trợ giúp pháp lý phải có chất lượng, có hiệu quả

Để bảo đảm vụ việc trợ giúp pháp lý có chất lượng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29/12/2008), trong đó xác định rõ tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý Tiêu chí đánh giá chất lượng

vụ việc trợ giúp pháp lý là căn cứ để kiểm tra, đánh giá lại quá trình thực hiện, việc tuân thủ quy tắc nghề nghiệp và việc áp dụng pháp luật của người thực hiện trợ giúp pháp lý; tạo cơ sở để xác định trách nhiệm của người thực hiện đối với vụ việc; riêng đối với cộng tác viên còn để xem xét mức trả bồi dưỡng (căn cứ vào công sức và kết quả) Một vụ việc trợ giúp pháp lý có chất lượng

là vụ việc phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: i) Tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp xúc, trình bày và cung cấp thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý; ii) Tính khách quan, toàn diện và kịp thời; iii) Đáp ứng được yêu cầu hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; iv) Tuân thủ và phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội; v) Đáp ứng các yêu cầu về trình

tự, thủ tục; vi) Kiểm soát được hậu quả pháp lý phát sinh từ nội dung trợ giúp pháp lý; vii) Việc lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đúng quy định của pháp luật

1.2.1.4 Tiêu chí về kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý

Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý được thể hiện ở số lượng vụ việc

mà các tổ chức trợ giúp pháp lý đã thực hiện được cho người được trợ giúp pháp lý, trong đó chia theo hình thức trợ giúp pháp lý, lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý, địa điểm thực hiện trợ giúp pháp lý; nếu như các vụ việc trợ giúp pháp lý chỉ thực hiện bằng hình thức tư vấn pháp luật, hoặc chỉ thực hiện tại trụ sở thì hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ không cao; số lượt người được trợ giúp pháp lý, trong đó

có chia theo giới tính và diện đối tượng được trợ giúp pháp lý

Trang 34

1.2.1.5 Tiêu chí về những kết quả thực tế thu được do hoạt động trợ giúp pháp lý mang lại

Tiêu chí quan trọng và cơ bản nhất cần xác định khi đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý là kết quả thực tế đạt được do hoạt động này mang lại Đây là tiêu chí phức tạp nhất, khó xác định nhất, bởi kết quả thực tế thu được do sự tác động của hoạt động trợ giúp pháp lý rất đa dạng và khó đánh giá Việc xác định kết quả đạt được của trợ giúp pháp lý căn cứ vào trạng thái ban đầu khi chưa có hoạt động trợ giúp pháp lý Không có hoạt động trợ giúp pháp lý quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, người có công với cách mạng trong nhiều trường hợp không được bảo vệ, các tranh chấp không được giải quyết, mẫu thuẫn, kiện cáo trong cộng đồng dân cư xảy ra nhiều do người dân thiếu hiểu biết pháp luật Hoạt động trợ giúp pháp lý đã giảm bớt khiếu kiện không cần thiết, ổn định chính trị, trật tự xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện cải cách tư pháp, cải cách hành chính

1.2.1.6 Tiêu chí về chi phí cho công tác trợ giúp pháp lý

Để đánh giá chính xác, đầy đủ hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, ngoài việc xác định mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý, kết quả tác động thực tế của công tác này còn phải tính đến những chi phí để đạt được những mục đích, mục tiêu, yêu cầu đó Có thể nói hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp

lý không chỉ phụ thuộc vào việc giải quyết các mục đích, nhiệm vụ đặt ra trong thực tế mà còn phải giải quyết những chi phí tối thiểu về vật chất, về con người, về thời gian và các chi phí khác có liên quan tới quá trình tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý Tất cả những chi phí cho việc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải ở mức độ thấp nhất nhưng phải bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý đạt được mục tiêu ở mức cao nhất

Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trên đây có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động

Trang 35

trợ giúp pháp lý như sau: hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý là kết quả

thực tế đạt được do hoạt động trợ giúp pháp lý mang lại trong những phạm vi

và điều kiện nhất định phù hợp với mục tiêu chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được những mục đích và yêu cầu đề ra với mức chi phí thấp nhất

1.2.2 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

hệ thống thể chế, hệ thống tổ chức, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý,

cơ sở vật chất, nguồn kinh phí dành cho hoạt động trợ giúp pháp lý, nhận thức của các cơ quan, ban ngành, sự phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý, hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý

1.2.2.1 Về thể chế

Thể chế là yếu tố đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối với hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý Nếu thống pháp luật về trợ giúp pháp lý hoàn thiện, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, điều chỉnh toàn diện các vấn

đề phát sinh về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý; Các quy định pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn, dễ hiểu, dễ vận dụng, công khai, minh bạch sẽ tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động trợ giúp pháp lý và ngược lại Cụ thể, các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố, kiện toàn mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp

lý, thúc đẩy việc triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý, từng bước nâng cao chất lượng vụ việc, tăng cường công tác quản lý nhà nước và đẩy mạnh các hoạt động hợp tác với nước ngoài về trợ giúp pháp lý; có định hướng phát triển bền vững cho công tác trợ giúp pháp lý về lâu dài

1.2.2.2 Tổ chức, bộ máy để thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý và đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý

Theo quan điểm hệ thống, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và hoạt động của từng tổ chức trợ giúp pháp lý

Trang 36

hợp thành hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý Một tổ chức trợ giúp pháp lý hoạt động không có chất lượng, hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ hệ thống trợ giúp pháp lý và sẽ không mang lại lợi ích mong muốn

Tổ chức, bộ máy của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là yếu tố quan trọng để bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý Bởi hoạt động trợ giúp pháp lý do chính tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện Vì vậy, để hoạt động trợ giúp pháp lý đạt hiệu quả thì cần có mạng lưới các tổ chức trợ giúp pháp lý ở tất cả các cấp từ Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ tiếp cận Đồng thời, tổ chức phải thực sự

vững mạnh có đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý đủ năng lực, trình độ

thực hiện trợ giúp pháp lý

Yếu tố con người luôn giữ vai trò then chốt trong mỗi hoạt động Để hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng, hiệu quả thì trước hết cần có đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý đủ về số lượng đồng thời có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phải nắm vững các quy định của pháp luật đồng thời được trang bị các kỹ năng trợ giúp pháp lý Ngoài ra, lòng nhiệt tình, tận tâm với nghề nghiệp của những người thực hiện trợ giúp pháp lý cũng đóng vai trò quan trọng Khi nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân ngày càng tăng trong khi đó đội ngũ người thực hiện quá ít cũng dẫn đến không đáp ứng hết nhu cầu của người dân Hoặc người thực hiện không có đủ năng lực, trình độ, không hiểu biết đầy đủ về các quy định của pháp luật sẽ dẫn đến nội dung trợ giúp pháp lý không chính xác sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý Ngoài ra, khi thực hiện trợ giúp pháp

lý cho các đối tượng đặc thù như người khuyết tật, người già cô đơn, người dân tộc thiểu số, trẻ em… và đặc biệt là tham gia tố tụng (đại diện, bào chữa) trước phiên toà mà người thực hiện trợ giúp pháp lý không có những kỹ năng cần thiết cũng sẽ dẫn đến hiệu quả của việc thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ không cao Có thể nói, năng lực, trách nhiệm, kỹ năng và kinh nghiệm nghề

Trang 37

nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý có vị trí tiên quyết để vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện có chất lượng Không thể có chất lượng nếu người thực hiện là người yếu kém về năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm, không có trình độ pháp luật, hoặc thiếu đạo đức nghề nghiệp và nhận thức xã hội

Hơn nữa, nếu đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý của mỗi Trung tâm thường xuyên biến động, thường xuyên bị luân chuyển sẽ dẫn tới tâm lý không yên tâm công tác, cũng như không được chuyên sâu lĩnh vực pháp luật nhất định cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý

Vì vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý chỉ có hiệu quả khi có mạng lưới tổ chức trợ giúp pháp lý rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, huy động được các tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia trợ giúp pháp lý, có đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý có chất lượng

1.2.2.3 Cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý

Khi đã có tổ chức, bộ máy, có con người nhưng cơ sở vật chất thiếu thốn, trang thiết bị làm việc nghèo nàn, kinh phí hạn chế không bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý thì cũng sẽ dẫn đến hoạt động trợ giúp pháp lý không đạt hiệu quả Với tính chất là hoạt động không có thu, miễn phí hoàn toàn nếu không được Nhà nước và xã hội đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động tương xứng với nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân thì khó mà đáp ứng được yêu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân và không thể đạt được mục tiêu mà trợ giúp pháp lý đặt ra Nếu không có đủ cơ sở vật chất và kinh phí thì

sẽ rất khó khăn trong việc triển khai các hoạt động như: cung cấp dịch vụ pháp lý, việc tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động về các thôn, bản, các

xã vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tổ chức truyền thông về trợ giúp pháp lý; chi trả thù lao cho các cộng tác viên trợ giúp pháp lý; tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao trình độ cho độ ngũ Trợ giúp viên

Trang 38

pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý; thuê luật sư giỏi để giải quyết các vụ việc phức tạp… Suy cho cùng là hoạt động trợ giúp pháp lý không có hiệu quả Để hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả cần được Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở vật chất (trụ sở, trang thiết bị làm việc thiết yếu), kinh phí hoạt động tương xứng với hoạt động trợ giúp pháp lý

1.2.2.4 Nhận thức của các cơ quan, ban ngành về trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện tuy nhiên cần có sự phối hợp, tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ của tất cả các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, cá nhân thì hoạt động trợ giúp pháp lý mới đạt được hiệu quả Nếu như nhận thức về vị trí, vai trò hoạt động trợ giúp pháp lý của một số cơ quan, ngành chưa đầy đủ, chưa thống nhất sẽ dẫn đến hoạt động này chưa nhận được sự quan tâm, đầu

tư đúng mức hoặc chưa nhận được sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời để triển khai có hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý

1.2.2.5 Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý

Công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng Thông qua hoạt động truyền thông người dân biết đến hoạt động trợ giúp pháp lý, quyền được trợ giúp pháp lý, địa chỉ của các tổ chức trợ giúp pháp lý và tìm đến các tổ chức này khi cần hỗ trợ về mặt pháp luật Công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý cũng giúp cho cán bộ, Đảng viên, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động này từ đó có sự quan tâm, phối hợp cũng như tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý

1.2.2.6 Sự phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ là nhiệm vụ riêng của các tổ chức trợ giúp pháp lý hay của ngành Tư pháp mà cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức thì mới đạt được hiệu quả ví dụ như sự phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án mà người

Trang 39

được trợ giúp pháp lý là bị can, bị cáo, người bị tạm giam, tạm giữ, người bị hại, người có quyền, lợi ích liên quan; sự phối kết hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình trong việc thực hiện truyền thông về hoạt động trợ giúp pháp lý; sự phối hợp trong việc thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các Chương trình mục tiêu quốc gia Nếu sự phối hợp hạn chế

sẽ không phát huy được vị trí, vai trò của các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể để đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, trong Chương 1, tác giả đã tập trung làm rõ khái niệm về trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, các quan niệm trên thế giới và Việt Nam về hoạt động trợ giúp pháp lý; đặc điểm của hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam; khái niệm về hiệu quả hoạt động, xem xét các tiêu chí đánh giá hiệu quả trợ giúp pháp lý để đưa ra khái niệm về hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý và phân tích các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Những vấn đề lý luận được trình bày ở Chương 1 là cơ

sở để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua

Trang 40

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Việc đổi mới tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý phải được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện về thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian qua Trên cơ sở đó kế thừa

và phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng các dịch vụ trợ giúp pháp lý nhằm bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý đạt hiệu quả đáp ứng yêu cầu của cải cách

tư pháp, cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian qua dựa trên cơ

sở Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006; Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành

2.1 Thực trạng về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SỐ LIỆU VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TỪ 2007 ĐẾN THÁNG 6/2011 - Các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý
2007 ĐẾN THÁNG 6/2011 (Trang 103)
BẢNG SỐ LIỆU VỀ NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TỪ 2007 ĐẾN THÁNG - Các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý
2007 ĐẾN THÁNG (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w