1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của quốc hội

110 823 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, theo quy định của Điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, chất vấn là: … Hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ NGỌC TÚ

ĐỒI MỚI HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN

VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA QUỐC HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ NGỌC TÚ

ĐỒI MỚI HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN

VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA QUỐC HỘI

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung

Hà nội - 2011

Trang 3

Quốc hội

28

1.4.1 Vai trò của chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động

giám sát tối cao

Trang 4

2.1.2 Giai đoạn 1959 - 1980 38

2.2 Thực trạng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc

hội từ Hiến pháp 1992 đến nay

50

2.2.1 Nhận thức về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn 50 2.2.2 Về quy trình, thủ tục tiến hành hoạt động chất vấn và trả lời

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU

LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN VÀ TRẢ

72

Trang 5

hiệu quả hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

3.2 Quan điểm chỉ đạo đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời

chất vấn

75

3.3.1 Tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 76 3.3.2 Nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động chất

vấn và trả lời chất vấn

80

3.4 Các giải pháp đổi mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả

của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Thống kê số lượng chất vấn trong nhiệm kỳ Quốc hội

khoá IX, X, XI và khóa XII

63

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chất vấn và trả lời chất vấn tại hầu hết Nghị viện (Quốc hội) các nước trên thế giới là việc làm đã được thực hiện từ lâu, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động của Nghị viện

và Quốc hội Ở Việt Nam, về mặt pháp lý thì lần đầu tiên hoạt động chất vấn được quy định tại Hiến pháp năm 1946 Tuy nhiên, khái niệm về chất vấn và quy trình, thủ tục, cách thức tiến hành hoạt động này như thế nào thì lại chưa được quy định Đến các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và các văn bản pháp luật

có liên quan được ban hành theo từng thời kỳ thì hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn mới dần được quy định rõ hơn Đến nay, các văn bản pháp luật quy định về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn cơ bản đã tương đối đầy đủ, thời gian qua Quốc hội đã triển khai hoạt động này tương đối hiệu quả Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn cho thấy các quy định hiện hành về hoạt động này đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập; một số quy định còn thiếu cụ thể, rõ ràng, khó áp dụng trong thực tiễn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

2 Tình hình nghiên cứu

Thời gian qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu tương đối tổng thể về chức năng giám sát của Quốc hội Tuy nhiên, việc đi vào nghiên cứu chuyên sâu

về từng hình thức giám sát cụ thể của Quốc hội, trong đó có hoạt động chất vấn

và trả lời chất vấn thì còn ít tác giả thực hiện Đối với hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, thời gian qua đã có một số chuyên gia, một số nhà khoa học và người làm công tác thực tiễn viết về vấn đề này Tuy nhiên, những bài viết đó nhìn chung mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu một số vấn đề ở một khía cạnh nhất định, chưa thực sự là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện về hoạt động này Với mong muốn đóng góp tiếng nói, nhằm kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, đề xuất tiếp tục hoàn thiện

Trang 8

cơ sở pháp lý, làm tiền đề cho việc đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất

vấn trong thời gian tới tác giả đã lựa chọn đề tài "Đổi mới hoạt động chất vấn

và trả lời chất vấn của Quốc hội" để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ.

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc nghiên cứu đường lối, quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội Các phương pháp nghiên cứu

cụ thể bao gồm: dẫn giải, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các quy định của pháp luật về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, thực tiễn quá trình triển khai hoạt động này của Quốc hội trong thời gian qua, tam khảo kinh nghiệm chất vấn của Nghị viện một số nước trên thế giới Với đối tượng nghiên cứu như vậy, đề tài tập trung làm rõ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội nước ta Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể có tính khoa học và sát với thực tiễn, hướng tới mục tiêu đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này trong thực tế

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Chương 2: Thực trạng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội Chương 3: Hướng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động chất

vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN

VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN

1.1 Khái quát về chức năng giám sát của Quốc hội

Trong lịch sử các học thuyết về nhà nước thì vấn đề giám sát quyền lực luôn được nghiên cứu gắn bó hữu cơ với việc xây dựng cơ chể tổ chức quyền lực nhà nước Đây cũng là một trong những vấn đề được khoa học pháp lý qua nhiều thời đại quan tâm để xây dựng lên những thiết chế để đảm bảo quyền lực được sử dụng có hiệu lực, hiệu quả đúng với mục đích, yêu cầu của người sở hữu quyền lực và phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của nước ta, đồng thời thể chế quan điểm của Đảng trong trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là

Cương lĩnh năm 1991), Hiến pháp năm 1992 đã quy định: "Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước" (Điều 83)

Đây là cơ sở pháp lý cao nhất về chức năng giám sát của Quốc hội cùng với các chức năng khác đã thể hiện được quan điểm tập trung quyền lực vào cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Quy định này của Hiến pháp không có nghĩa là do Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến nên Quốc hội tự trao cho mình thẩm quyền này Vấn đề giám sát quyền lực nhà nước có cội nguồn sâu xa là quyền lực nhà nước không phải là quyền lực có tính tự thân

mà là quyền lực do nhân dân ủy quyền nên nhân dân có quyền giám sát quyền lực nhà nước được thực thi như thế nào Nói cách cách khác là quyền lực nhà nước là quyền lực ủy quyền nên việc giám sát quyền lực nhà nước là cần thiết

và chính đáng Nhân dân có thể trực tiếp thực thi quyền giám sát của mình hoặc gián tiếp thực thi quyền giám sát thông qua cơ quan đại diện Liên quan

tới vấn đề này, Điều 6 Hiến pháp quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực nhà

Trang 10

nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân" Vì Quốc hội được Hiến

pháp quy định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên đồng thời Quốc hội cũng được Hiến pháp trao cho chức năng thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội thể hiện tính logic trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị ở nước ta, đồng thời cũng phản ánh được truyền thống văn hóa lập hiến của Việt Nam luôn coi trọng địa vị của Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện cho chủ quyền của nhân dân để giám sát việc thực thi quyền lực do nhân dân uỷ quyền Việc xác định địa vị pháp lý của Quốc hội nói chung và quy định cho Quốc hội có thẩm quyền giám sát tối cao nói riêng có liên quan đến các học thuyết tổ chức nhà nước Ở Việt Nam, cùng với việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin về vấn đề nhà nước vào điều kiện cụ thể để xây dựng cơ chế tổ chức quyền lực, Đảng và Nhà nước cũng đã

có nhiều đổi mới, nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vấn đề này qua việc

sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, theo đó "quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" Đã có

nhiều cách lý giải khác nhau vể cơ chế tổ chức quyền lực hiện nay của nhà nước ta nhưng quyền lực nhà nước của Quốc hội vẫn được coi là có tính nổi trội hơn và không thể đặt vị thế của Quốc hội ngang bằng hay kiềm chế, đối trọng với các quyền hành pháp, quyền tư pháp như các nước có tổ chức bộ máy theo học thuyết phân quyền

Chức năng giám sát của Quốc hội - quyền giám sát tối cao của Quốc hội là quyền năng của Quốc hội, thể hiện trong quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá đối với mọi hoạt động của nhà nước trong việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng thời đưa ra biện pháp xác định trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý của các đối tượng chịu sự giám sát nhằm mục đích cảnh báo,

Trang 11

phát hiện, phòng ngừa ngăn chặn và xử lý những vi phạm có thể xảy ra Việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp có mối quan hệ hữu

cơ với với hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội Không có cơ sở để phân biệt tách rời hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp mới là hoạt động giám sát tối cao, còn hoạt động giám sát của các chủ thể thuộc cơ cấu, tổ chức của Quốc hội không phải là hoạt động giám sát tối cao Như vậy, hoạt động giám sát của các chủ thể thuộc cơ cấu của Quốc hội một mặt phải đặt trong mối liên hệ thống nhất về quyền lực của Quốc hội, mặt khác phải luôn hướng về kỳ họp Quốc hội Có như vậy, quyền giám sát tối cao của Quốc hội mới phát huy được tính hiệu lực, hiệu quả

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội cùng với các quyền kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, quyền kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, quyền kiểm sát của Viện kiểm sát, quyền giám đốc của tòa án đã tạo một hệ thống kiểm tra, giám sát quyền lực trong bộ máy nhà nước ta Hoạt động thực hiện các quyền nói trên có tính độc lập tương đối về tác nghiệp nhưng không phải biệt lập đối với nhau và trên hết các cơ quan Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước phải định kỳ hoặc đột xuất phải báo cáo kết quả hoạt động của mình với Quốc hội Trên cơ sở kết quả giám sát, Quốc hội có thể ra những quyết định thích hợp và quyết định đó là quyết định cuối cùng mà không một cơ quan nào trong bộ máy nhà nước được xem xét lại Với lý luận và thực tiễn tổ chức mô hình thực hiện quyền giám sát tối cao như trên, chủ quyền của nhân dân thông qua hoạt động của cơ quan đại diện cao nhất đã được bảo đảm

Để cụ thể hóa quy định Điều 83 của Hiến pháp về chức năng giám sát của Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết

số 51/2001/QH10, cũng đã có nhiều quy định khác thể hiện rõ hơn nội hàm, bản chất của quyền này Quốc hội cũng đã ban hành nhiều luật, nghị quyết như Luật tổ chức của Quốc hội năm 2001 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2007),

Trang 12

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, các nghị quyết ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2002, Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội năm 2004, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội năm 2004, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2002 Trong số các văn bản đó quan trọng nhất

là Luật tổ chức Quốc hội tập trung quy định về tổ chức thẩm quyền giám sát

và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội tập trung quy định về trình tự, thủ tục giám sát Đặc biệt việc ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội

đã đánh dấu bước đổi mới quan trọng của Quốc hội về việc đề cao chức năng giám sát tối cao, đáp ứng yêu cầu chính đáng của cử tri về việc kiểm tra, giám sát đối với hoạt động cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, nhất là đối với những người nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Trên cơ sở các văn bản nói trên, liên quan đến việc thực hiện quyền giám sát tối cao có thể phân loại thành các nhóm quy định cơ bản sau:

Các quy định về thẩm quyền của chủ thể thực hiện quyền giám sát tối cao cho thấy quyền giám sát tối cao của Quốc hội không chỉ được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội mà còn được thực hiện giữa hai kỳ họp thông qua hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội

Các quy định về đối tượng chịu sự giám sát thể hiện đối tượng chịu sự giám sát được quy định tập trung vào các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Ngoài ra, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội

có thể tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi xét thấy cần thiết

Các quy định về phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao đã thể hiện được tính đa dạng trong giám sát như xem xét báo cáo, chất vấn, thành lập ủy ban điều tra lâm thời, yêu cầu đối tượng chịu sự giám trình bày hoặc cung cấp tài liệu Các quy định về trình tự thủ tục giám sát đã cụ thể hóa cách thức thực hiện các phương thức giám sát, tạo điều kiện cho hoạt động thực hiện quyền giám sát tối cao được thuận lợi và dễ dàng hơn

Trang 13

1.2 Khái niệm, đặc điểm, hệ quả của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

1.2.1 Khái niệm hoạt động chất vấn

Hiểu theo nghĩa kinh điển, chất vấn (interpellation) nghĩa là "hỏi và đề nghị giải thích rõ về điều gì , viê ̣c gì Theo định nghĩa của từ điển Webster’s

1913 Dictionary là yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những câu hỏi buộc phải trả lời Còn từ điển mạng (WordNet Dictionary) giải thích đó là quy trình trong nghị viện nhiều nước nhằm yêu cầu Chính phủ giải thích một động thái hoặc chính sách của mình

Ở nước ta, theo quy định của Điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, chất vấn là:

… Hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời [36] Chất vấn và trả lời chất vấn là một trong năm hình thức giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp Theo quy định tại Điều 7 Điều 40 Luật Hoạt động giám sát năm 2003 và quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 1992, Điều 49 Luật tổ chức Quốc hội thì những người phải trả lời chất vấn trước Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng

và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 14

trong đó có các quan chức chính phủ Trong mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Trách nhiệm thì có nhiều loại và được xác định thông qua những cách thức và thủ tục khác nhau Trách nhiệm kỷ luật được xác định thông qua hoạt động kiểm tra, trách nhiệm hành chính thông qua hoạt động thanh tra, trách nhiệm hình sự thông qua hoạt động điều tra Chất vấn, như một hình thức giám sát của Quốc hội, không nhằm xác định bất cứ trách nhiệm nào như đã nói ở trên,

mà để làm rõ trách nhiệm chính trị Trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý là hai loại trách nhiệm khác nhau: Ví dụ, ta không thể áp dụng điều luật về tội thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng cho quyết sách liên quan đến ngành mía đường Vì hậu quả nghiêm trọng thì có, nhưng

sự thiếu tinh thần trách nhiệm thì không Những quyết sách rất có tinh thần trách nhiệm thì vẫn có thể thiếu một tầm nhìn Mà thiếu tầm nhìn, người ta chỉ

có thể chịu trách nhiệm về chính trị Như vậy, trách nhiệm chính trị là trách nhiệm về chính sách, không phải trách nhiệm về hành vi Hoạt động chất vấn

vì vậy sẽ lạc đề nếu tập trung vào các vụ việc cụ thể mà không làm rõ được các vấn đề ở tầm chính sách Nếu chất vấn vào các vụ việc cụ thể, Quốc hội không bao giờ có đủ thời gian để xem xét những vấn đề to lớn của đất nước

Chất vấn là một phương pháp kiểm tra năng lực của quan chức trong nắm bắt và điều chỉnh lĩnh vực được phân công Để thực hiện mục đích này, Quốc hội nhiều nước, nhất là Quốc hội của các nước theo mô hình của Anh thường không cho biết trước các câu hỏi chất vấn Một vị Bộ trưởng nắm vững công việc

sẽ trả lời lưu loát các câu hỏi đặt ra, còn nếu ngược lại thì uy tín sẽ bị giảm sút

Chất vấn, xét về một khía cạnh nào đó là sự cảnh báo của Quốc hội về một vấn đề hay một tình trạng cần được lưu ý giải quyết (ví dụ, tình trạng các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ nhưng những người đứng đầu doanh

Trang 15

nghiệp này lại giàu lên nhanh chóng; việc tinh giảm biên chế và gánh nặng đối với xã hội ) Sự cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận trước vấn đề của người quản lý

Ngoài ra, chất vấn cũng có mục đích cung cấp thông tin và tạo cơ hội cho Quốc hội đánh giá, phê bình các thành viên Chính phủ, các vị trưởng ngành (như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao…) vì làm hay không làm điều gì đó Bằng cách này, các đại biểu có thể buộc các vị Bộ trưởng, Trưởng các ngành chia sẻ thông tin

Chất vấn là một hoạt động có sức thu hút sự chú ý rộng rãi của công luận, do đó tạo sức ép lên Chính phủ để vấn đề đó được giải quyết nhanh hơn Hoạt động chất vấn của Quốc hội, nhất là trong kỳ họp của Quốc hội ở nước

ta được coi là đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp thu hút được sự chú ý của đông đảo quần chúng nhân dân, của công luận về các vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội cần được giải quyết Trong điều kiện bùng nổ về thông tin như hiện nay, các vấn đề được đưa ra chất vấn tại diễn đàn của Quốc hội đều được đăng tải trên báo chí và được truyền hình trực tiếp nên chất vấn tạo điều kiện cho nhân dân giám sát cơ quan dân cử, giám sát đại biểu Quốc hội và giám sát các cán bộ cấp cao trong bộ máy nhà nước

Chất vấn, với tư cách là một hình thức giám sát của Quốc hội, được phân biệt với các hình thức khác chủ yếu ở bản chất, mục đích, thủ tục và hậu quả của nó

Về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng để giám sát hoạt động của các cơ quan và cá nhân được giao quyền, là sự thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội khi thực hiện quyền chất vấn của mình là nhân danh cá nhân với tư cách

là người đại diện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân yêu cầu cá nhân

bị chất vấn trả lời về trách nhiệm pháp lý của cá nhân đó về những việc làm

có đúng với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn theo luật định hay không

Trang 16

Theo quy định của pháp luật thì chất vấn là quyền của cá nhân đại biểu Quốc hội Khi thực hiện chất vấn đại biểu Quốc hội độc lập là người đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân, nhân danh quyền lực tối cao của nhân dân chứ không phải nhân dân một cơ quan, tổ chức hay Đoàn đại biểu Quốc hội mà mình là thành viên

Đại biểu Quốc hội khi thực hiện hoạt động chất vấn không phải nhằm mục đích thu thập thông tin hay số liệu mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách nhiệm đối với một số vấn đề nào đó Đây là chính là điểm cơ bản để phân biệt chất vấn với câu hỏi thường Trên thực tế chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới dạng câu hỏi nhưng mục đích của chất vấn và câu hỏi thường khác nhau Việc hỏi và yêu cầu trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm (hay còn gọi là câu hỏi thường) nhằm thu thập thông tin, số liệu

về các vấn đề nào cần biết trước khi đặt câu hỏi người hỏi hầu như chưa có thông tin về vấn đề mà mình hỏi Loại câu hỏi thường phụ thuộc vào nhu cầu nắm bắt thông tin của đại biểu Quốc hội chứ không được quy định trong bất

kỳ văn bản pháp luật nào và cũng không bị hạn chế đối với bất kỳ đối tượng nào Còn đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề đại biểu Quốc hội phải tìm hiểu rất kỹ và nắm thông tin về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với một vấn đề nào đó Chất vấn được quy định rất rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng được chỉ ra cụ thể trong một phạm vi nhất định Vấn đề chất ván khi

đã được nêu lên theo đúng thể thức của pháp luật, chuyển đến người bị chất vấn thì không còn là mối quan hệ cá nhân giữa người bị chất vấn và người chất vấn mà đã trở thành một hình thức giám sát của Quốc hội

1.2.3 Hệ quả chính trị - pháp lý của hoạt động chất vấn

Chất vấn là hoạt động dẫn đến hệ quả chính trị to lớn Chất vấn là công cụ giám sát mạnh nhất của nghị viện các nước, vì nó quy trách nhiệm,

có khi buộc tội các thành viên Chính phủ Chất vấn có thể dẫn đến việc đặt

Trang 17

vấn đề ủng hộ hay phản đối hoạt động của Chính phủ Thậm chí có thể có việc đưa ra nghị quyết bất tín nhiệm và dẫn đến sự từ chức của Chính phủ

Chẳng hạn, theo khoản 2 Điều 111 Hiến pháp Tây Ban Nha, "Bất kỳ cuộc chất vấn nào cũng có thể là lý do để đưa ra nghị quyết, qua đó các viện phản ánh quan điểm của mình" Do những hậu quả nghiêm trọng như vậy, qui tắc

và qui chế của các viện có những qui định phức tạp về việc đưa ra và thảo luận chất vấn Ở một số nước, việc chất vấn có thể dẫn đến việc Quốc hội biểu quyết thông qua kiến nghị (motion) đưa ra thảo luận tại Quốc hội về trách nhiệm của một quan chức nào đó Và cao hơn nữa, một số nước quy định khi kiến nghị thu được một số lượng chữ ký nhất định thì vị quan chức này phải điều trần trước Quốc hội và có thể bị cách chức, thậm chí Quốc hội

có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với một chính sách của Chính phủ

Hệ quả chính trị của chất vấn cũng thể hiện ở chỗ, chất vấn xét về một khía cạnh nào đó là sự cảnh báo của Quốc hội về một vấn đề hay một tình trạng cần được lưu ý giải quyết Sự cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận trước vấn đề của các cơ quan quản lý Trên phương diện hệ quả chính trị, chất vấn cũng có mục đích cung cấp thông tin và tạo cơ hội cho Quốc hội đánh giá, phê bình Chính phủ vì làm hay không làm điều gì đó Bằng cách này các đại biểu có thể buộc các bộ trưởng chia sẻ thông tin Ngay cả khi đơn thuần hỏi - đáp mà không biểu quyết về thái độ của nghị viện đối với trả lời của chính phủ, họat động này của nghị viện cũng đã buộc chính phủ phải giải trình đã được gì, chưa làm được gì, tại sao, và định làm gì trong tương lai Chất vấn cũng mang lại hệ quả xã hội to lớn, thường là có tác động rộng rãi hơn hệ quả chính trị Chất vấn thu hút sự chú ý rộng rãi của công luận về vấn đề nào đó, do đó tạo sức

ép lên Chính phủ để nó được giải quyết nhanh hơn Chẳng hạn, mỗi năm Nghị viện Canada họp khoảng 150 ngày Trong thời gian đó, hàng ngày Nghị viện đều có lịch chất vấn Phần lớn ý kiến của cử tri về Chính phủ được hình thành trên cơ sở những gì họ thấy từ những buổi chất vấn này (và

Trang 18

từ các hoạt động khác của Nghị viện) được phản ánh qua truyền hình và báo chí Việc truyền hình hay truyền thanh trực tiếp và các bình luận của báo chí

về những buổi trả lời chất vấn của các quan chức Chính phủ đã tạo nên một luồng công luận mạnh mẽ và gây áp lực xã hội to lớn Vì vậy, ở một số nước

đa số bộ trưởng phải từ chức do áp lực của công luận chứ không nhất thiết là

áp lực từ phía nghị viện

Ở nước ta, Điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định:

… Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết [36]

Điều 13, Luật này cũng quy định về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm như sau:

…Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số đại biểu Quốc hội hoặc kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn… Trong trường hợp người được đưa

ra bỏ phiếu tín nhiệm không được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đã giới thiệu để bầu hoặc đề nghị phê chuẩn người đó có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người đó [36]

Điều 25, Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định:

"… Khi xét thấy cần thiết, ra nghị quyết hoặc đề nghị Quốc hội ra nghị quyết

về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn" [37]

Trang 19

Như vậy, tại các phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc ít nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số đại biểu Quốc hội, hoặc Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn Tại phiên chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền tự mình ra Nghị quyết về chất vấn hoặc đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn nếu người có trách nhiệm trả lời chất vấn trả lời không bảo đảm chất lượng

Hiện nay, việc truyền hình hay truyền thanh trực tiếp và bình luận của báo chí về những buổi chất vấn, trả lời chất vấn đã tạo ra một luồng công luận mạnh mẽ gây áp lực to lớn Điều này tác động trực tiếp đến cả đại biểu chất vấn và người trả lời chất vấn Khi thực hiện chất vấn có nghĩa là đại biểu Quốc hội đang thể hiện trách nhiệm, kiến thức của mình trước dân, để chất vấn có hiệu quả đòi hỏi người chất vấn phải tìm hiểu kỹ và có đầy đủ thông tin về vấn đề cần chất vấn Thêm vào đó cần phải tìm hiểu kỹ và đầy đủ thông tin về vấn đề nổi cộm, bức xúc Chất vấn phải có nội dung cụ thể, rõ ràng để

có thể xác định được trách nhiệm của người trả lời chất vấn Nếu đại biểu Quốc hội không chuẩn bị tốt nội dung của người trả lời chất vấn có thể ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của nhân dân đối với đại biểu

Đối với người trả lời chất vấn, Hiến pháp và pháp luật không quy định cho đại biểu Quốc hội có quyền áp đặt trực tiếp và biện pháp xử lý như một chế tài đối với các đối tượng chịu sự giám sát Tuy vậy, kết quả trả lời chất vấn sẽ dẫn đến việc có áp dụng hay không có biện pháp kỷ luật của Nhà nước đối với người chất vấn Thông qua việc xem xét trả lời chất vấn, Quốc hội có thể đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của người trả lời chất vấn Đó cũng là một căn cứ quan trọng để các đại biểu Quốc hội thể hiện một số quyền khác như bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Ngoài ra, những buổi trả lời chất vấn được tường thuật trực tiếp đến toàn dân, vì vậy, những người trả lời chất vấn không

Trang 20

những chịu phải sức ép từ Quốc hội mà còn phải chịu sự sức ép từ công luận Những ý kiến trái ngược hoặc những phản ứng của đại biểu Quốc hội, cư tri đối với việc trả lời chất vấn ít nhiều cũng khiến người trả lời phải xem xét và

và cân nhắc cách thức trả lời của mình

1.3 Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ở một số nước

Ở hầu hết các nước, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được coi là hoạt động giám sát đặc thù của Nghị viện Theo cách thức chung thì chất vấn tại Nghị viện là những câu hỏi được thể hiện trực tiếp bằng cách hỏi hoặc hỏi thông qua văn bản từ các nghị sĩ đối với Chính phủ và các thành viên của Chính phủ với mục đích yêu cầu người bị chất vấn trả lời về trách nhiệm đối với một số vấn đề thuộc lĩnh vực họ phụ trách Nghị viện các nước phương Tây thực hiện quyền chất vấn ít nhiều hướng đến hạn chế sự lợi dụng quyền hạn của Chính phủ và nâng cao vị thế, vai trò giám sát của Nghị viện Ở nhiều nước trên thế giới chất vấn là một công cụ không thể thiếu để kiểm tra mức độ tin cậy của Nghị viện đối với trách nhiệm chính trị của các Bộ trưởng Mặt khác, chất vấn còn có tác dụng khẳng định vai trò của các bộ trưởng, tạo sự gắn kết giữa Chính phủ với Nghị viện, giữa Chính phủ với nhân dân, giúp duy trì sự ổn định chính trị

Về thủ tục chất vấn, nhìn chung ở Quốc hội các nước thủ tục chất vấn được bắt đầu bằng yêu cầu chất vấn của các nghị sĩ, thường được gửi đến Chủ tịch Nghị viện để chuyển tới Thủ tướng, hoặc thành viên của Chính phủ Theo Nội quy của nhiều nước, yêu cầu chất vấn phải ghi rõ các vấn đề chất vấn và tên cụ thể của người bị chất vấn Ngoài ra, nhằm tránh những yêu cầu chất vấn không thỏa đáng, Nghị viện nhiều nước còn quy định yêu cầu chất vấn phải thu nhận được một lượng nhất định các chữ ký đồng tình của các nghị

sĩ Tiếp đó là xác định thời gian tiến hành phiên họp toàn thể để thực hiện thủ tục chất vấn Rất nhiều nước quy định Văn phòng Nghị viện và Chính phủ sẽ thảo luận, thỏa thuận để Chính phủ có đủ thời gian chuẩn bị câu trả lời Một

Trang 21

số nước quy định, nếu Chính phủ không trả lời chất vấn trong khoảng thời gian đã định thì với yêu cầu của một lượng nghị sĩ nhất định, Nghị viện có quyền đơn phương xác định thời gian chất vấn và thông báo lại cho Chính phủ Tại phiên chất vấn, các nghị sĩ đưa ra nội dung chất vấn của mình và Thủ tướng hoặc thành viên Chính phủ bị chất vấn trả lời câu hỏi chất vấn trong một khoảng thời gian hạn định (nhiều nhất là 15 phút) Sau đó, các nghị sĩ có quyền đặt câu hỏi phụ đối với vấn đề chất vấn Các câu hỏi phụ này được các nghị sĩ gửi lên Chủ toạ của phiên chất vấn và người bị chất vấn phải trả lời ngay câu hỏi Thông thường, Nội quy Nghị viện các nước giới hạn cho thời gian trả lời của mỗi câu hỏi phụ là 10 phút

Cuối cùng, Nghị viện cũng phải đưa ra ý kiến của mình Nếu Nghị viện không đưa ra ý kiến thì thủ tục chất vấn không đạt được mục đích vốn có của nó Nghị viện các nước thường có ba hình thức biểu quyết về trả lời chất

vấn Thứ nhất, Nghị viện biểu quyết thỏa mãn, khi đó, vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm không phải đặt ra Thứ hai, Nghị viện biểu quyết không thỏa mãn Với

kết quả này, Nghị viện sẽ có thể đặt vấn đề bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ theo chế độ trách nhiệm tập thể, hoặc có thể đưa ra các khuyến nghị từ chức đối với các thành viên của Chính phủ (thông thường các thành

viên này sẽ buộc phải từ chức để tránh sự sụp đổ tập thể của Chính phủ) Thứ

ba, Nghị viện biểu quyết một cách trung dung, không bao hàm ý nghĩa tán

thành hay không tán thành với câu trả lời Trong trường hợp này, Nghị viện không thảo luận gì thêm và tiếp tục nghị trình

Về hình thức chất vấn, nhìn chung ở nhiều nước, nhất là các nước thuộc mô hình Anh đều có quy định về câu hỏi miệng và câu hỏi viết Những nước thuộc mô hình này không cho phép thảo luận những vấn đề chất vấn Trong khi đó nhiều nước khác lại quy định nhiều loại: câu hỏi chất vấn miệng không thảo luận, câu hỏi chất vấn miệng thảo luận và câu hỏi viết Một số nước có sự phân biệt giữa câu hỏi chất vấn "lớn" và "nhỏ" (như ở Đức)

Trang 22

Chất vấn ở Nghị viện Anh

Nghị viện Vương quốc Anh có truyền thống lâu đời với bề dầy trên

500 năm lịch sử Hình thành từ khoảng thế kỷ XV-XVI, nhưng việc chất vấn thành viên Chính phủ tại Nghị viện Anh mới bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII và phát triển khá chậm chạp, mãi tới thế kỷ XIX mới trở thành một hoạt động quan trọng trong sinh hoạt nghị viện Theo thống kê lịch sử, trong những năm đầu thực hiện hình thức chất vấn, trung bình mỗi ngày Chính phủ nhận được chưa tới một câu hỏi chất vấn từ Nghị viện Hiện nay, mỗi năm, tổng số các câu hỏi chất vấn đã lên tới khoảng 40.000 câu

Có ba loại câu hỏi chất vấn đó là: Câu hỏi yêu cầu trả lời ngay tại phiên chất vấn (còn gọi là chất vấn miệng); các câu hỏi kín, và các câu hỏi được trả lời bằng văn bản Câu hỏi kín chỉ được hỏi và trả lời nếu Chủ tịch Hạ viện cho là quan trọng và cấp thiết, và loại câu hỏi này được dành vào cuối buổi chất vấn Nội dung trả lời bằng văn bản đối với câu hỏi chất vấn phải in trong Kỷ yếu Hạ viện (Hansard) Chất vấn miệng là hình thức hỏi - trả lời theo cách tương tác trực tiếp, vì vậy phiên chất vấn miệng còn gọi là phiên Hỏi - Trả lời

Thủ tục đối với câu hỏi chất vấn miệng tại chỗ theo trình tự như sau: Nghị viện Anh hoạt động chuyên trách, vì vậy lịch bố trí dành cho phiên chất vấn miệng thường từ ba đến bốn buổi một tuần, mỗi buổi khoảng một giờ Tại phiên chất vấn, Chủ tịch Hạ viện nêu danh sách người chất vấn (hợp thức), nhưng không đọc các câu hỏi, vì câu hỏi đã được in sẵn và gửi tới từng nghị sĩ kèm chương trình nghị sự Việc in câu hỏi chất vấn nhằm công khai và rõ ràng những câu hỏi yêu cầu trả lời miệng và để thành viên Chính phủ không thể né tránh trả lời nếu không có lý do xác đáng và hợp thức

Danh sách người trả lời chất vấn sẽ căn cứ vào bảng phân công do Chính phủ và đảng đối lập cùng thống nhất Căn cứ vào danh sách các câu hỏi và theo sự phân công nói trên, thành viên Chính phủ bị chất vấn sẽ đứng

Trang 23

lên trả lời tại bục dành cho thành viên nội các Nội dung trả lời có thể liên quan tới một hoặc một nhóm câu hỏi theo lĩnh vực trách nhiệm Để nhận sự

hỗ trợ của nội các đối với những nội dung cộng đồng trách nhiệm và thể hiện trách nhiệm tập thể của nội các, những thành viên nội các phụ trách những lĩnh vực quan trọng và liên quan như môi trường, giao thông, thương mại, công nghiệp, Ngoại trưởng và một số bộ trưởng không là thành viên nội các, theo sự phân công của Chính phủ, cũng có mặt để giúp trả lời chất vấn

Do thời gian phiên Hỏi - Đáp chỉ trong một giờ, nên thành viên chính phủ phải trả lời thẳng vào câu hỏi và dành thời gian nghe nghị sĩ đối chất theo thủ tục đối với câu hỏi phụ theo nguyên tắc cuốn chiếu từng vấn đề để bảo đảm sự tập trung

Khi Chủ tịch điều hành phiên chất vấn cho rằng các chất vấn và câu hỏi phụ đủ để giải đáp vấn đề, ông ta sẽ chuyển sang câu hỏi tiếp theo trong danh mục các câu chất vấn cho đến hết thời gian chất vấn Nếu hết thời gian chất vấn miệng mà vẫn còn câu hỏi chưa được trả lời, thì người bị chất vấn phải trả lời bằng văn bản Những chất vấn trả lời bằng văn bản được in trong

Kỷ yếu các phiên họp của nghị viện

Câu hỏi phụ:

Thủ tục chất vấn miệng tại Nghị viện Anh cho phép nghị sĩ có quyền đưa ra các câu thêm về vấn đề nêu ra tại câu hỏi chính, sau khi người bị chất vấn đã trả lời Đây là thủ tục đối với câu hỏi phụ Chủ tịch Hạ viện thường hỏi: "có ai hỏi thêm không" để mời các nghị sĩ đặt câu hỏi phụ ngay sau khi người bị chất vấn đã trả lời Chủ tịch có quyền quyết định về thủ tục nếu câu hỏi phụ không liên quan hoặc là nội dung của một câu hỏi chất vấn khác

Xung quanh quyền đặt câu hỏi phụ có nhiều điều, kỹ xảo đáng nghiên cứu đối với cả hai phía: người chất vấn và người bị chất vấn Thành viên Chính phủ đã có nhiều kinh nghiệm trong trả lời chất vấn miệng, do đó họ thường trông đợi vào các câu hỏi phụ để giết thời giờ hoặc làm loãng trọng

Trang 24

tâm Vì thế, vai trò điều hành của Chủ tịch Hạ viện rất quan trọng Trong số các nghị sĩ giơ tay đăng ký câu hỏi phụ, Chủ tịch Hạ viện thường ưu tiên nghị

sĩ đã đưa ra câu hỏi chất vấn chính để tránh việc hỏi lan man, trùng lặp dẫn đến hết thời gian chất vấn Nhìn chung, Chủ tịch Hạ viện không cho phép quá nhiều câu hỏi phụ; riêng lãnh tụ đảng đối lập trong Hạ viện có thể được hỏi tới 4-5 câu chất vấn phụ Cá nhân nghị sĩ thường chủ trương cốt yếu đưa ra câu hỏi chất vấn hợp thức để được ghi vào danh sách câu hỏi trong phiên Hỏi - Đáp, nhưng điều họ mong đợi hoặc điểm then chốt mà họ muốn gài vào lại chính là cơ hội thể hiện qua câu hỏi phụ Quy định nghị sự của nghị viện cũng cho phép các nghị sĩ có thời gian ít nhất hai tuần sau khi đã gửi câu hỏi chất vấn chính để cân nhắc về những câu hỏi phụ hóc hiểm và giữ kín những câu hỏi này tới phút chót Nghị sĩ thuộc phe chính phủ lại sử dụng quy định về thủ tục để ngăn cản những câu hỏi phụ không hợp thức hoặc chủ động đặt câu hỏi phụ mở lối cho người bị chất vấn

Hình thức chất vấn do đó dần dần trở thành một công cụ chính trị của chính khách Anh quốc Thông qua đó, họ bày tỏ quan điểm chính trị của mình đối với một vấn đề, lấy lòng cử tri, chỉ trích phe đối lập Câu hỏi chất vấn đối

với cá nhân Thủ tướng lại có những thủ tục riêng Thứ nhất, nghị sĩ được hỏi

Thủ tướng bất cứ vấn đề gì mà không bị hạn chế bởi lĩnh vực trách nhiệm cụ

thể; nhất là các câu chất vấn phụ thường mở rộng ra rất nhiều vấn đề Thứ hai,

Thủ tướng Anh có quyền chuyển các câu hỏi đó cho các bộ trả lời hoặc Thủ tướng trả lời bằng một tuyên bố chung về chính sách của Chính phủ Có một vài lĩnh vực Thủ tướng Anh phải trực tiếp trả lời (ví dụ, vấn đề an ninh quốc gia) Trong thời gian vướng vào cuộc chiến tranh I-rắc, Thủ tướng Anh Tony Blair thường phải trả lời các chất vấn tại Nghị viện về tình hình Irắc và các vấn đề liên quan Đây là một điểm rất khác biệt so với Mỹ, khi Tổng thống Bush không phải trả lời các chất vấn thường kỳ, mà chỉ xuất hiện tại Quốc hội

Mỹ vào các dịp đặc biệt nào đó để trình bày chính sách của mình

Trang 25

Vai trò của Chủ tịch Nghị viện

Vai trò điều hành của Chủ tịch trong phiên chất vấn rất quan trọng Thường có khoảng 15 đến 20 câu hỏi chất vấn cho mỗi phiên chất vấn trong một giờ Nếu Chủ tịch cho phép có quá nhiều câu hỏi phụ thì chỉ có ít câu hỏi chính được trả lời, và ngược lại, nếu quá ít câu hỏi phụ thì Bộ trưởng có thể vượt qua sự chất vấn rất dễ dàng Vì thế, đối với câu hỏi phụ không có thủ tục thành văn mà thuộc quyền cân nhắc và quyết định của cá nhân Chủ tịch Hạ viện

Công cụ hỗ trợ Chủ tịch trong điều hành chính là quy định về thời gian phát biểu và các quy định thủ tục khác Căn cứ vào các quy định này và quyền hạn điều hành tại chỗ, Chủ tịch không phát biểu về nội dung nhưng có quyền yêu cầu nghị sĩ và thành viên Chính phủ tuân thủ thời gian hoặc nếu thành viên Chính phủ muốn trả lời dài hơn và chi tiết hơn, thì Chủ tịch có thể hỏi nghị viện cho phép ông ta trình bày ngoài giờ hoặc trả lời bằng văn bản

Lịch trả lời chất vấn của Chính phủ Anh

Để chủ động thời gian cho Nghị viện và Chính phủ, lịch chất vấn được thiết kế và phân bổ cụ thể theo cách thức:

Bộ trưởng 60 phút một tháng: Lịch thu xếp để mỗi bộ trưởng khoảng 3-4 tuần lại đến đến lượt trả lời chất vấn, tức là mỗi tháng một bộ trưởng phải

thu xếp thời gian một giờ trả lời chất vấn

Thủ tướng tối đa 120 phút/tháng: Thủ tướng Anh trả lời chất vấn vào

các ngày thứ 4, tối đa khoảng hai giờ chất vấn một tháng Thống kê trong giai đoạn 1961-1997 cho thấy Thủ tướng Anh đã trả lời hai buổi một tuần, mỗi buổi 15 phút

Các Bộ trưởng không nắm giữ những lĩnh vực trọng yếu hoặc Chức

vụ Tổng chưởng lý tư pháp (Attorney General), Chưởng ấn (Lord Privy Seal) thường chỉ trả lời khoảng 15-20 phút/1 buổi chất vấn trong một tháng

Trang 26

Thông báo câu hỏi chất vấn miệng

Quá trình chuẩn bị chất vấn thường bắt đầu trước phiên chất vấn miệng ít nhất hai tuần Luật nghị viện quy định một nghị sĩ gửi câu hỏi chất vấn không sớm hơn 10 ngày làm việc và không muộn quá ba ngày làm việc trước ngày trả lời chất vấn Mục đích là để đến khi chất vấn, các câu hỏi này không quá lạc hậu, đồng thời cho phép Bộ trưởng và các cố vấn đủ thời gian chuẩn bị câu trả lời Câu hỏi chất vấn gửi tới các thư ký của Hạ viện, sau đó, Thư ký sẽ trình lên Chủ tịch Hạ viện để Chủ tịch Hạ viện chủ trì thảo luận, thống nhất danh mục các câu chất vấn với các uỷ ban và lãnh tụ các đảng tại

Hạ viện để thông báo tới Chính phủ thông qua Thông báo của Hạ viện phát

hành vào buổi sáng ngày tiếp theo của ngày thống nhất danh mục chất vấn

Đối với các câu hỏi chất vấn thuộc loại khác, nghị sĩ có thể gửi thẳng tới thành viên chính phủ hoặc thông qua thư ký Nghị viện Khi nhận được, thành viên Chính phủ có nghĩa vụ thông báo đã nhận và hình thức trả lời

Câu hỏi hợp thức về nội dung

Một câu chất vấn muốn được đưa vào chương trình nghị sự phải đáp

ứng các quy định khá phức tạp về nội dung Thứ nhất, đúng trách nhiệm: câu

hỏi chất vấn phải đề cập đúng trách nhiệm với tư cách thành viên Chính phủ hoặc bộ trưởng chứ không phải những vấn đề mà người bị chất vấn chịu trách nhiệm với tư cách lãnh tụ hoặc cương vị trong đảng, hay với tư cách khác; câu hỏi nhằm khẳng định hoặc đòi hỏi sự bình luận về một báo cáo hay một tin đồn không thuộc trách nhiệm quản lý của người bị chất vấn; các câu hỏi về chính quyền địa phương (Bộ trưởng, thành viên Chính phủ ở Vương quốc Anh

không chịu trách nhiệm về họat động của chính quyền địa phương) Thứ hai,

loại trừ các câu hỏi thông tin: câu hỏi chất vấn không được đưa ra chỉ để hỏi thông tin hoặc gây sức ép buộc bộ trưởng phải hành động; không được bao hàm nội dung đề xuất hay thể hiện ý kiến và quan điểm cá nhân nghị sĩ (vì vấn đề này thuộc nội dung tham luận/tranh luận tại Nghị viện); không nhằm

Trang 27

xác định ý kiến của thành viên chính phủ về một vấn đề nào đó, hoặc về một

bộ luật nào đó (các câu hỏi này thuộc nội dung đưa ra trong các phiên điều trần hoặc tranh luận về dự luật); các câu hỏi về những thông tin có nguồn gốc không chính xác

Trong quá trình đặt ra các câu chất vấn phụ, Chủ tịch sẽ phán quyết câu hỏi nào là hợp lệ

Soạn thảo câu chất vấn ở Hạ viện

Khi đề xuất câu chất vấn, nghị sĩ phải nêu đích danh người được chất vấn Trong truờng hợp nội dung chất vấn liên quan đến trách nhiệm của nhiều bộ, hoặc không rõ bộ nào thì chính phủ quyết định chọn người trả lời thích hợp theo nguyên tắc bộ trưởng nào có trách nhiệm gần nhất đối với vấn đề này sẽ phải trả lời Nếu một nghị sĩ đưa câu chất vấn sai địa chỉ, thì

Bộ nhận được câu hỏi đó sẽ chuyển cho Bộ thực sự chịu trách nhiệm về vấn

đề này

Đối với các câu chất vấn miệng sẽ được thông báo trong danh mục gửi tới chính phủ, thủ tục yêu cầu phải được soạn thảo chính xác tới mức tối đa và ngôn ngữ phải lịch sự, phù hợp với khung cảnh hội họp, tôn trọng hoàng gia

và tôn trọng chính các nghị sĩ Một câu chất vấn khi đã được hỏi và trả lời hoàn chỉnh thường không được hỏi lại nữa Khi một Bộ trưởng từ chối trả lời hoặc từ chối cung cấp thông tin, thì câu hỏi đó có thể được nêu lại sau ba tháng Thông thường đối với các vấn đề về an ninh quốc gia, bí mật thương mại, các Bộ trưởng sẽ từ chối trả lời

Trách nhiệm của thư ký là phải bảo đảm các câu chất vấn tuân thủ đúng quy định và thủ tục của Hạ viện Nếu không hài lòng với sự tư vấn này, thì bản thân nghị sĩ có thể đệ trình thẳng câu chất vấn do họ tự soạn thảo tới Chủ tịch Hạ viện Quyết định của Chủ tịch là quyết định cuối cùng Nhưng rất

ít trường hợp phải làm theo cách này

Trang 28

Chuẩn bị trả lời chất vấn

Sau khi nhận được thông báo của Hạ viện về danh mục các câu chất vấn, những viên chức chịu trách nhiệm về hoạt động nghị viện tại các bộ sẽ chọn ra câu hỏi liên quan đến bộ mình và gửi cho các nhân viên của bộ chịu trách nhiệm về các vấn đề đó để chuẩn bị soạn thảo phương án trả lời trình bộ trưởng xét duyệt

Đối với các câu chất vấn miệng, viên chức các bộ không chỉ chuẩn bị phần giải trình, mà còn phải cung cấp tóm tắt thông tin nền tảng về vấn đề để

Bộ trưởng sử dụng trả lời các câu chất vấn phụ Các viên chức chuẩn bị cũng phải dự đoán khả năng các câu hỏi phụ và chuẩn bị những thông tin để bộ trưởng tranh thủ quảng bá cho thành công của Chính phủ

Các chất vấn trả lời bằng văn bản: Kể từ năm 1972, Hạ viện Anh đã giới hạn số câu chất vấn mà một nghị sĩ có thể đưa ra trong một kỳ họp (tối đa không vượt quá 8 câu hỏi), nhưng không giới hạn số lượng các chất vấn trả lời bằng văn bản Hiện nay, mỗi ngày tất cả các bộ, ngành ở Anh phải trả lời khoảng 250 chất vấn bằng văn bản Các chất vấn trả lời bằng văn bản cũng tuân theo các qui định và trật tự như với chất vấn trả lời trực tiếp tại Hạ viện Thông thường là hai ngày sau khi nghị sĩ đệ trình câu chất vấn, thì vấn đề này

sẽ được đưa vào chương trình nghị sự, và văn bản trả lời sẽ có trong khoảng bảy ngày Các câu hỏi và văn bản trả lời được lưu trữ tại thư viện của Hạ viện

để các nghị sĩ khác có thể tham khảo Văn phòng Thông tin Hạ viện cũng sẽ cung cấp các văn bản trả lời này nếu có nghị sĩ yêu cầu

Thủ tục chất vấn tại Vương quốc Anh hiện nay đang chịu sự chỉ trích

và đòi hỏi đổi mới cả từ phía các nghị sĩ và các bộ trưởng Kể từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai, trung bình năm năm, Hạ viện Anh lại tiến hành sửa đổi

và điều chỉnh thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn cho phù hợp với nhu cầu thực tế, nhưng đến nay, thủ tục chất vấn của Nghị viện Anh vẫn đang trong quá trình tiếp tục sửa đổi Theo kết quả nghiên cứu được công bố trong sáu

Trang 29

báo cáo về thủ tục hỏi đáp của Nghị viện và về tính chịu trách nhiệm của các

bộ trưởng, vẫn hay xảy ra tình trạng thoái thác trả lời các câu hỏi của chính phủ Việc công bố quy tắc ứng xử, quy tắc tiếp cận thông tin và hướng dẫn trả lời các câu hỏi của Nghị viện đã làm tăng nghĩa vụ của chính phủ trong việc chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình Nhìn chung, các bộ trưởng và Chính phủ chỉ đứng vững nếu được sự tin cậy của Hạ viện, nên thủ tục chất vấn là một công cụ không thể thiếu được để kiểm tra mức độ tin cậy của Hạ viện đối với trách nhiệm chính trị của các bộ trưởng Mặt khác, chất vấn còn

có tác dụng khẳng định vai trò của các bộ trưởng, tạo nên sự gắn kết giữa chính phủ với nghị viện, giữa chính phủ với nhân dân hơn, giúp duy trì ổn định chính trị, tránh những đổ vỡ do thiếu hiểu biết lẫn nhau hoặc thiếu giám sát, phê bình thường xuyên

Chất vấn ở Nghị viện Đức

Tại Cộng hoà Liên bang Đức các chất vấn của Nghị vị được chia làm

ba loại: những chất vấn "lớn" là những chất vấn được đưa ra khi thảo luận các chương trình của Chính phủ và khi thảo luận các dự án quan trọng như Ngân sách Nhà nước, chính sách đối ngoại việc trả lời những chất vấn này được thảo luận ở Nghị trường Những chất vấn "nhỏ" là những chất vấn liên quan đến các dự án luật và các loại văn bản khác, đối với loại chất vấn này khi thảo luận mỗi Đảng phái được phát biểu không quá hai người Quy chế của Quốc hội Cộng hoà Liên bang Đức quy định: "nếu Chính phủ từ chối trả lời câu hỏi chất vấn "lớn" thì nếu muốn đưa vấn đề đó ra thảo luận cần có sự đồng ý của một nhóm Nghị sĩ hoặc 5% tổng số nghị sĩ

Ở Đức, quyền chất vấn - quyền đặt câu hỏi đối với Chính phủ liên bang và yêu cầu trả lời là một "vũ khí" của Quốc hội liên bang nhằm giám sát Chính phủ và buộc các Bộ trưởng chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Nội quy Quốc hội liên bang quy định cụ thể về quyền được hỏi và được cung cấp thông tin của Quốc hội liên bang, trong đó, chia ra thành các buổi

Trang 30

chất vấn lớn, nhỏ, đưa ra quy định về thời gian chất vấn và thời điểm chất vấn Trong các buổi chất vấn lớn, ít nhất là 26 nghị sĩ gửi câu hỏi cho Chủ tịch Quốc hội liên bang để chuyển cho Chính phủ liên bang Các câu hỏi chất vấn lớn được Chính phủ liên bang trả lời cụ thể bằng văn bản Sau đó, câu trả lời chất vấn sẽ được tranh luận ở phiên họp toàn thể Đối với phe đối lập, buổi chất vấn lớn là vũ khí để buộc Chính phủ liên bang trình bày công khai về quan điểm của mình, tạo thuận lợi cho việc giám sát Chính phủ Trong buổi thảo luận, chất vấn lớn chỉ ra các điểm yếu trong chính sách của Chính phủ liên bang, lỗ hổng trong chương trình, sự tin cậy và mục đích được Chính phủ liên bang theo đuổi Buổi chất vấn nhỏ được tổ chức để Quốc hội liên bang tìm kiếm thông tin về "những chứng cứ đã được xác định" Đối tượng của các buổi chất vấn nhỏ không phải là vấn đề chính trị lớn, mà thường là vấn đề hành chính cụ thể Chất vấn nhỏ được Bộ trưởng có thẩm quyền trả lời bằng văn bản Văn bản trả lời được in thành ấn phẩm của Quốc hội Liên bang Ngoài ra, Bộ trưởng có thể trả lời trực tiếp người chất vấn hoặc cũng có thể trước Chủ tịch đảng Khác với buổi chất vấn lớn, kết thúc buổi chất vấn nhỏ không có hoạt động thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội Chất vấn nhỏ không hoàn toàn nhằm truy xét trách nhiệm chính trị của Chính phủ liên bang Vì vậy, chất vấn nhỏ thường được Liên đảng đoàn trình Ngoài ra, ở đầu mỗi phiên họp toàn thể, Quốc hội dành ra một khoảng thời gian gọi là

"tiếng đồng hồ chất vấn" Các nghị sĩ có thể chất vấn trực trực tiếp trong thời gian này Các câu hỏi chất vấn của nghị sĩ được chuyển qua thư ký của đảng, sau đó được chuyển cho Chủ tịch Quốc hội liên bang để chuyển tiếp cho Văn phòng Thủ tướng liên bang Mỗi nghị sĩ mỗi tuần có thể đưa ra tới 2 chất vấn gửi Chính phủ liên bang Các câu hỏi chất vấn phải được trình bày ngắn gọn

và phải liên quan đến một vấn đề cụ thể Trong câu hỏi chất vấn, nghị sĩ không được phép đưa ra những lời khẳng định hoặc đánh giá chủ quan Câu hỏi chất vấn phải được đưa ra chậm nhất là trưa thứ 6 trước tuần làm việc của

Trang 31

Quốc hội liên bang Đối với những vấn đề cấp bách, thì câu hỏi chất vấn được phép đưa ra chậm nhất là đến trưa ngày trước phiên họp Mỗi tháng, các nghị

sĩ còn có thể đưa ra 4 chất vấn bằng văn bản cho Chính phủ Các câu hỏi chất vấn được phân loại theo lĩnh vực và được nêu ra để trả lời trong "tiếng đồng

hồ chất vấn" Sau khi đã nghe câu trả lời, người chất vấn có thể đặt thêm 2 câu hỏi phụ Nếu Bộ trưởng tự thấy không thể trả lời trực tiếp về vấn đề này, thì có thể trả lời bằng văn bản Bên cạnh "tiếng đồng hồ chất vấn", Nội quy của Đức còn quy định về "tiếng đồng hồ thời sự" Với đơn đề nghị của ít nhất

26 nghị sĩ, "tiếng đồng hồ thời sự" có thể được tiến hành ngay sau "tiếng đồng

hồ chất vấn", nếu đảng đoàn không tán thành với câu trả lời của Chính phủ liên bang Đây là thực tế phổ biến của Quốc hội liên bang Rất ít trường hợp

"tiếng đồng hồ thời sự" không phụ thuộc vào "tiếng đồng hồ chất vấn" trước

đó "Tiếng đồng hồ thời sự" kéo dài một tiếng, mỗi nghị sĩ và Bộ trưởng được phát biểu không quá 5 phút Nếu thời gian phát biểu của Chính phủ liên bang vượt quá 30 phút, thì thời gian thảo luận kéo dài thêm 30 phút "Tiếng đồng

hồ chất vấn" trước hết là phục vụ phe đối lập để thu thập thông tin và giám sát Người phát biểu chủ yếu là thành viên ban lãnh đạo đảng đoàn và các chuyên gia của các đảng đoàn Hoạt động này cho thấy sự sống động của hoạt động tranh luận ở Quốc hội Liên bang

Chất vấn tại Quốc hội Trung Quốc

Chất vấn là hình thức Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc buộc đối tượng bị giám sát phải trả lời những câu hỏi của đại biểu hoặc uỷ viên Ủy ban Thường vụ nêu ra; căn cứ nội dung trả lời chất vấn, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc có thể áp dụng biện pháp cần thiết để thực hiện mục đích giám sát nhất định

Về quy trình thực hiện chất vấn, pháp luật Trung Quốc quy định như sau: Mỗi Đoàn đại biểu, Liên danh 30 đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân

Trang 32

toàn quốc trở lên, Liên danh 10 Uỷ viên Ủy ban Thường vụ có quyền đưa văn bản chất vấn đối với Chính phủ và các Bộ, ngành Ủy ban Thường vụ có thể gửi văn bản chất vấn đến Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Văn bản chất vấn phải ghi rõ đối tượng, vấn đề và nội dung chất vấn

Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Hội nghị Ủy viên trưởng quyết định các cơ quan bị chất vấn trả lời các văn bản chất vấn bằng văn bản hoặc lãnh đạo cơ quan đó trả lời trực tiếp tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch, Hội nghị Ủy ban chuyên môn, Hội nghị Đoàn đại biểu hoặc Hội nghị Ủy ban thường vụ Trong trường hợp việc trả lời chất vấn tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch, Hội nghị Ủy ban chuyên môn, thì Trưởng Đoàn đại biểu, các đại biểu, Ủy viên Ủy ban Thường vụ nêu chất vấn đều có thể tham gia Hội nghị này và phát biểu ý kiến Nếu trả lời tại Hội nghị Ủy ban chuyên môn hoặc Hội nghị Đoàn đại biểu thì Ủy ban chuyên môn hữu quan hoặc Đoàn đại biểu phải báo cáo tình hình trả lời chất vấn lên Đoàn Chủ tịch, Ủy ban Thường vụ hoặc Hội nghị Ủy viên trưởng Nội dung trả lời chất vấn, không kể bằng hình thức văn bản hay trả lời miệng đều được Chủ tịch hoặc Hội nghị Ủy viên trưởng quyết định in, phát cho toàn thể các đại biểu, thành viên Uỷ ban thường vụ, Uỷ ban chuyên môn hữu quan

Trong thời gian Hội nghị Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, nếu các đại biểu, Đoàn đại biểu nêu chất vấn chưa hài lòng về việc trả lời chất vấn thì

có thể yêu cầu cơ quan bị chất vấn trả lời lại Ngoài ra, pháp luật Trung Quốc còn quy định khi Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thẩm định báo cáo công tác của Chính phủ, thẩm định kế hoạch kinh tế quốc dân và kế hoạch phát triển xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, thì Chính phủ hoặc người phụ trách

Bộ, ngành hữu quan đến dự, lắng nghe ý kiến và trả lời câu hỏi Khi thẩm định dự án pháp luật, Bộ, ngành có liên quan đến việc soạn thảo dự án đó cũng phải cử người đến Hội nghị để trả lời chất vấn

Trang 33

Chất vấn ở Quốc hội Serbia

Như nhiều nước khác, Quốc hội Serbia có hai hình thức "đối thoại" với các thành viên Chính phủ là hỏi - đáp và chất vấn Hình thức hỏi-đáp diễn

ra thường xuyên, liên tục, là quyền của cá nhân nghị sĩ về bất kỳ vấn đề nào thuộc phạm vi hoạt động của Chính phủ Câu hỏi được đưa ra xem xét khi Quốc hội đã giải quyết xong các vấn đề khác trong chương trình Ngoài ra, Quốc hội cũng có thể quyết định thời điểm khác để xem xét câu hỏi Bất kỳ đại biểu nào cũng có quyền nêu câu hỏi trực tiếp hoặc bằng văn bản đối với thành viên Chính phủ hoặc tập thể Chính phủ Giữa hai phiên họp toàn thể, câu hỏi bằng văn bản được gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển cho thành viên Chính phủ hoặc Chính phủ trả lời đại biểu bằng văn bản Thời gian nêu câu hỏi trực tiếp không được quá 3 phút; Thành viên Chính phủ hoặc Chính phủ phải trả lời ngay Đại biểu có quyền nhận xét về câu trả lời hoặc nêu câu hỏi phụ trong vòng 5 phút và có quyền nhận xét về câu trả lời đối với câu hỏi phụ trong vòng 5 phút Nếu cần có thời gian chuẩn bị trả lời, thành viên Chính phủ phải giải trình ngay tại chỗ tại sao phải cần có thời gian chuẩn bị, và phải trả lời đại biểu bằng văn bản chậm nhất là 8 ngày sau đó Nếu vấn đề quá phức tạp, thời hạn trả lời có thể muộn hơn, nhưng không được quá 30 ngày Nếu cho rằng, câu trả lời liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật quân sự, Chính phủ hoặc thành viên Chính phủ có thể đề xuất trình bày riêng với Quốc hội về vấn đề được hỏi Đối với chất vấn, ít nhất phải có 20 đại biểu đệ trình chất vấn bằng văn bản thì Quốc hội mới phải tổ chức tranh luận toàn thể về một vấn đề cụ thể liên quan đến hoạt động của Chính phủ hoặc Bộ trưởng Quốc hội chỉ tổ chức tranh luận toàn thể nhiều nhất là 5 yêu cầu chất vấn trong một

kỳ họp Văn bản chất vấn phải gửi đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch giao cho Ủy ban Hành chính kiểm tra văn bản đó có tuân thủ các quy định của Quy chế Quốc hội hay không Nếu thấy văn bản có những từ ngữ không đúng mực,

ví dụ làm tổn hại uy tín của Quốc hội, Ủy ban Hành chính sẽ yêu cầu nhóm đại biểu chỉnh sửa trong vòng 15 ngày, nếu không, chất vấn sẽ bị hủy bỏ

Trang 34

Sau khi nhận được báo cáo của Ủy ban này, Chủ tịch Quốc hội gửi chất vấn đến Thủ tướng và tất cả các đại biểu Chính phủ phải gửi văn bản trả lời chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội chậm nhất là 30 ngày kể từ khi nhận được chất vấn Chủ tịch Quốc hội sẽ gửi văn bản trả lời của Chính phủ đến tất cả các đại biểu Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được văn bản trả lời, việc chất vấn phải được đưa vào chương trình của phiên họp toàn thể tiếp theo Nếu Chính phủ không gửi văn bản trả lời đúng thời hạn, chất vấn vẫn được đưa vào chương trình phiên họp toàn thể tiếp theo Theo đề nghị của Chủ tịch Quốc hội, Quốc hội phải biểu quyết ngay không qua tranh luận về việc đưa chất vấn vào chương trình phiên họp đang diễn ra Quốc hội cũng có thể quyết định tổ chức tranh luận về vấn đề chất vấn tại một phiên họp bất thường

Tại phiên tranh luận về vấn đề chất vấn, đại diện nhóm đại biểu đề xuất chất vấn sẽ trình bày câu hỏi chất vấn, sau đó Thủ tướng hoặc Bộ trưởng trình bày ý kiến trả lời Thủ tục tranh luận của phiên này tuân theo thủ tục tranh luận dự luật Cuộc tranh luận về vấn đề chất vấn phải kết thúc trong phiên họp đó Quốc hội có thể biểu quyết theo một trong ba phương án: hoặc chê, hoặc khen Chính phủ về vấn đề đưa ra chất vấn, hoặc không tỏ thái độ gì cả,

mà biểu quyết chuyển sang vấn đề tiếp theo trong chương trình Trong trường

hợp thứ ba, Thủ tướng có thể tự đánh giá về vấn đề được đưa ra chất vấn

1.4 Chất vấn - Hình thức giám sát trực tiếp, có hiệu quả của Quốc hội

1.4.1 Vai trò của chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động giám sát tối cao

Theo quy định tại Điều 7 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội thì Quốc hội giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

1 Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; 2 Xem xét báo cáo của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của

Trang 35

Quốc hội; 3 Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; 4 Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; 5 Thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xét báo cáo kết quả điều tra của Ủy ban [36] Như vậy, chất vấn là một trong 5 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình Quốc hội thực hiện chức năng giám sát của mình So với các hình thức giám sát khác, chất vấn có ưu thế là hình thức giám sát của tập thể với số lượng đại biểu Quốc hội đông nhất, phát huy trí tuệ tập thể tốt nhất, các vấn đề chuyển tải đến người có trách nhiệm xem xét trả lời nhanh nhất, dư luận xã hội quan tâm nhất, người trả lời (đối tượng chịu sự giám sát) dễ bị xem xét trách nhiệm chính trị nhất

và có hiệu lực nhất Chính vì vậy, chất vấn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quyết định hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát nói chung

của Quốc hội

- Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp, có hiệu quả của tập thể Quốc hội

Chất vấn là một hình thức giám sát trực tiếp, có hiệu quả của Quốc hội Mục đích sâu xa của hoạt động này là nhằm phát huy tính dân chủ, công khai trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của Quốc hội nói riêng trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy việc nâng cao trách nhiệm chính trị của người đứng đầu các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội Tại các kỳ họp Quốc hội hay các phiên họp toàn thể của Quốc hội, một đại biểu nêu chất vấn thì vấn đề đó được cả Quốc hội

Trang 36

quan tâm, theo dõi Nếu người trả lời chất vấn không rõ, trả lời chưa thỏa đáng thì các đại biểu khác sẽ tiếp tục hỏi Câu trả lời của người trả lời chất vấn đối với một đại biểu tại diễn đàn Quốc hội cũng chính là câu trả lời dành cho cả Quốc hội Việc chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội thực chất là một cuộc giám sát tập thể của cả Quốc hội, một năm chỉ diễn ra hai lần Chính

vì vậy, trí tuệ của tập thể Quốc hội tại phiên chất vấn được thể hiện và phát huy hiệu quả nhất

- Chất vấn trực tiếp giải quyết nhanh hơn những vấn đề đang đặt ra

Chất vấn của đại biểu Quốc hội là một hình thức thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan, người có trách nhiệm thực thi các quyết định luật và nghị quyết của Quốc hội Chất vấn để đi đến quy kết trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền Hình thức giám sát này của đại biểu có hiệu năng tác dụng hơn các hình thức khác ở chỗ nó sẽ phát huy được công luận, một khi phiên họp của Quốc hội được truyền hình trực tiếp cho công chúng Chất vấn khi đã được đại biểu nêu ra giữa kỳ họp thuộc về nội dung của kỳ họp, cần phải giải quyết song song với nội dung chương trình của kỳ họp đã được Quốc hội thông qua Trong trường hợp chất vấn không được trả lời một cách thỏa đáng tại kỳ họp tức là Quốc hội chưa hoàn thành chương trình đề ra Những cá nhân làm ảnh hưởng đến chương trình nghị sự của Quốc hội chính là những người dễ mất tín nhiệm nhất Mặt khác, chất vấn tại Quốc hội chính là một dịp để Quốc hội, đại biểu Quốc hội nêu vấn đề, mà thường là những vấn đề bức xúc nhất trong xã hội Tại phiên chất vấn, nếu vấn đề chưa được giải quyết ngay thì vấn đề đó sẽ được các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội đôn đốc và giám sát thực hiện sau khi chất vấn, và sau đó chính người bị chất vấn còn có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội về việc thực hiện Chính vì vậy, các vấn đề được đưa ra chất vấn thường được các vị có trách nhiệm quan tâm, đôn đốc giải quyết quyết liệt, các vấn đề đưa ra sẽ được giải quyết nhanh hơn

Trang 37

- Thông qua việc chất vấn, trách nhiệm quản lý được làm rõ

Pháp luật nước ta đã quy định quyền năng chất vấn của đại biểu Quốc hội, cho dù đại biểu chất vấn bằng văn bản hay chất vấn trực tiếp tại các kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì giá trị các chất vấn ấy đều như nhau Đại biểu Quốc hội chất vấn tức là đại biểu đang thực hiện quyền giám sát của mình, mối quan hệ trong hoạt động này là quan hệ giữa đại biểu dân cử - người thay mặt cho nhân dân với các đối tượng nắm quyền quản lý điều hành đất nước Kết quả sau hoạt động này liên quan đến những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, điều hành Nếu trách nhiệm không được làm rõ thì thì hệ quả pháp lý rất nặng nề, đó là việc xem xét trách nhiệm chính trị của những cá nhân có thẩm quyền do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Một khi chất vấn được nêu ra giữa kỳ họp của Quốc hội, thì vấn đề của chất vấn không phải là của riêng người nêu câu chất vấn - cá nhân người đại biểu, mà trở thành nội dung cần phải được xem xét, thảo luận của Quốc hội tại kỳ họp Khi cần thiết, Quốc hội sẽ có nghị quyết về vấn đề chất vấn đã được trả lời (các loại trách nhiệm khác như trách nhiệm hình sự, dân

sự, trách nhiệm hành chính không đặt ra trong mối quan hệ này Đối với trách nhiệm chính trị không cần phải chỉ ra lỗi như đối với trách nhiệm hành chính

và hình sự) Chế tài của trách nhiệm chính trị là bỏ phiếu tín nhiệm, là từ chức

mà không đặt ra hình phạt kèm theo như các trách nhiệm khác Chỉ cần mất

uy tín trước đại biểu, trước cử tri như việc trả lời chất vấn không thỏa đáng cũng đủ cho Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm, mà không cần phải chỉ ra chứng cứ

cụ thể như các trách nhiệm dân sự hoặc hình sự Trách nhiệm chính trị nhằm bảo vệ quyền lợi của cộng đồng quốc gia cao hơn sứ mạng chính trị của một

cá nhân Muốn giữ được uy tín, bắt buộc các vị có trách nhiệm quản lý đó phải đề cao tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành lĩnh vực mình phụ trách, phải biết lắng nghe và có hành động thiết thực trong phạm vi thẩm quyền để thể hiện trách nhiệm trước Quốc hội, trước cử tri và nhân dân cả nước Ở nhiều nước quy định, nghị sĩ được hưởng quyền miễn trừ khi chất

Trang 38

vấn, nghĩa là đại biểu - nghị sĩ không bị buộc trách nhiệm về những chất vấn của mình Việc quy định miễn trừ trách nhiệm nói trên nhằm đảm bảo chất vấn được theo đuổi đến cùng để làm rõ trách nhiệm của người thừa hành đối với một việc hoặc một chính sách cụ thể

1.4.2 Những yếu tố tác động đến hiệu lực và hiệu quả của hoạt động chất vấn

Các yếu tố chính trị: Trên thực tế, tất cả nội dung, phương thức hoạt

động của bất kỳ nhà nước nào đều phụ thuộc vào thể chế chính trị của nhà nước đó Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là tập trung và thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy tập trung và thống nhất, song giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước lại được phân công, phân nhiệm khá rõ ràng Quyền lực nhà nước được tổ chức triển khai trên cơ sở sự phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây là đặc thù và

là điểm khác biệt của nhà nước ta so với các nhà nước được tổ chức trên cơ sở phân chia quyền lực, ranh giới quyền lực nhà nước được thể hiện rất rõ

Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với ba chức năng cơ bản là lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã được Hiến pháp ghi nhận Hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta, cụ thể là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được triển khai trên cơ sở định hướng mục đích là nhằm giúp cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các cá nhân nắm giữ cương vị quản lý, điều hành (đối tượng chịu sự giám sát) cùng phát triển và ngày một phát huy năng lực Hoàn toàn không phải việc làm nhằm nhằm "bới lông, tìm vết", chỉ trích, quy kết trách nhiệm lẫn nhau Tuy vậy, đã nói đến giám sát thì phải sâu sát, có tranh luận, rõ ràng trách nhiệm Để các đại biểu phát huy tốt yêu cầu này thì cần giải quyết tốt các yếu tố sau đây:

Quốc hội nước ta với một tỷ lệ đa số đại biểu là đảng viên, và thường

là người nắm giữ những trọng trách của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và ở

Trang 39

địa phương Thực tế thời gian qua các vị đại biểu là lãnh đạo chủ chốt này rất

ít chất vấn do ngại ảnh hưởng đến vị trí công tác và quyền lợi của cơ quan, địa phương mình đã ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Nếu số đại biểu Quốc hội này thực hiện tốt quyền chất vấn của mình thì thông qua hoạt động này, tiếng nói và quan điểm của Đảng sẽ càng được thể hiện rõ trong sinh hoạt của Quốc hội Vì vậy, Đảng cần tạo động lực để các đại biểu Quốc hội là đảng viên thực hiện tốt quyền chất vấn theo quy định Mặt khác, vì đảng viên của Đảng là đại biểu Quốc hội nên Đảng cần tạo điều kiện để các đại biểu này nói lên tiếng nói của dân, chuyển tải những tâm tư nguyện vọng của dân đến với Quốc hội và các cơ quan nhà nước, thay mặt nhân dân đấu tranh vì quyền lợi chính đáng mà không quá bị ràng buộc bởi các yếu tố chính trị

Quốc hội nước ta với đa phần đại biểu hoạt động kiêm nhiệm nên tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi" vừa thực thi trách nhiệm lập pháp (giám sát việc thực thi pháp luật) vừa thực thi trách nhiệm hành pháp (tổ chức triển khai thực hiện chính sách pháp luật) Những yếu tố trên đây có sức ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội Thời gian qua, tuy hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội đã có những thay đổi tích cực song chưa thực sự đi vào thực chất, tính phản biện trong hoạt động này chưa cao, không ít người còn cho rằng, Quốc hội và Chính phủ đều

là "người nhà" cả, không nên "cởi áo cho người xem lưng"

Qua thực tế cho thấy, những đại biểu hăng hái thực hiện quyền chất vấn đa phần là những người không giữ những chức vụ chủ chốt, thường là các nhà khoa học, các đại biểu Quốc hội chuyên trách tâm huyết… và dường như chỉ số đại biểu này mới chất vấn và tranh luận với người có trách nhiệm trả lời chất vấn mà không bị chi phối bởi các yếu tố khác Còn lại đa phần chất vấn vẫn chỉ mới dừng lại ở mức độ hỏi - đáp thông thường, mang tính tham luận là chủ yếu

Trang 40

Để hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội trong thời gian tới thực sự đi vào thực chất và phát huy hiệu lực, thiết nghĩ Đảng ta cần nghiên cứu đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Quốc hội cả trong tổ chức

và hoạt động, làm cho mỗi đảng viên là đại biểu Quốc hội có nhận thức đầy

đủ và sâu sắc hơn về hoạt động của Quốc hội, về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Để làm được việc này, thiết nghĩ Đảng cần có Nghị quyết về đổi mới hoạt động giám sát, trong đó có hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, tăng cường những định hướng, chỉ đạo "cởi mở" hơn để Quốc hội phát huy tối

đa tính dân chủ trong sinh hoạt nghị trường

Các yếu tố pháp lý: Đảng và nhà nước ta đang đang đẩy mạnh công

cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhà nước

và nhân dân đều sống và làm việc trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Chính bởi vậy, các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được trang bị đầy đủ cơ sở pháp

lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo các quy định ấy Để hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được triển khai thực hiện bài bản, phát huy tốt hiệu lực, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần quan tâm chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động này

Các yếu tố tổ chức: Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào muốn hoạt động có

hiệu quả thì yếu tố tổ chức đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Đối với Quốc hội, để hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn nói riêng và hiệu quả hoạt động nói chung thực sự phát huy hiệu quả thì điều quan trọng nhất là thiết kế cho mình một bộ máy hợp lý và đủ mạnh Có ba yếu tố về tổ chức cần được quan tâm:

Một là, cần tăng cường chất lượng đại biểu Quốc hội: Ngoài bảo đảm

cơ cấu đại biểu đại diện cho các thành phần xã hội thì chất lượng đại biểu Quốc hội là điều không thể không chú trọng Chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là bản lĩnh và trí tuệ Trí tuệ, bản lĩnh của Quốc hội phụ thuộc rất nhiều vào trí tuệ, bản lĩnh của từng cá nhân đại biểu Quốc hội

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung (2010), "Sự vô danh tính của chất vấn", Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vô danh tính của chất vấn
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2010
2. Nguyễn Sĩ Dũng (2003), "Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp", Nghiên cứu lập pháp, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
Năm: 2003
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Trần Ngọc Đường (2003), "Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội", Nghiên cứu lập pháp, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan của Quốc hội
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2003
13. Nguyễn Thị Hồng: "Về việc sử dụng công cụ giám sát tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội", daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=127&ItemId=204666&GroupId=1140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc sử dụng công cụ giám sát tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
14. Nguyễn Đức Lam, "Điều trần và thẩm tra: một vài nét tương đồng và khác biệt", ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=2236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trần và thẩm tra: một vài nét tương đồng và khác biệt
15. Nguyễn Lâm, "Chất vấn tại nghị trường: Thủ tục chất vấn", daibieunhandan.vn /default.aspx?tabid=132&ItemId=29641&GroupId=1013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất vấn tại nghị trường: Thủ tục chất vấn
16. Nguyễn Lâm (2009), "Chất vấn và sự đeo bám trách nhiệm", thongtinphapluatdansu.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất vấn và sự đeo bám trách nhiệm
Tác giả: Nguyễn Lâm
Năm: 2009
17. Trần Tuyết Mai (1999), "Một vài suy nghĩ về hoạt động chất vấn của Quốc hội", Nghiên cứu lập pháp, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về hoạt động chất vấn của Quốc hội
Tác giả: Trần Tuyết Mai
Năm: 1999
18. Nguyễn Quang Minh (2001), "Bàn về tính đại diện nhân dân của Quốc hội", Nghiên cứu lập pháp, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính đại diện nhân dân của Quốc hội
Tác giả: Nguyễn Quang Minh
Năm: 2001
19. Vũ Văn Nhiêm (2004),"Bỏ phiếu tín nhiệm, bàn về thủ tục khả thi", Nghiên cứu lập pháp, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỏ phiếu tín nhiệm, bàn về thủ tục khả thi
Tác giả: Vũ Văn Nhiêm
Năm: 2004
20. Nguyễn Thái Phúc (2000), "Về giám sát của Quốc hội", Nghiên cứu lập pháp, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giám sát của Quốc hội
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2000
21. Dương Trung Quốc "Nhớ lại phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội Việt Nam", laodong.com.vn/Tin-Tuc/22449 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhớ lại phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê số lượng chất vấn - Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của quốc hội
Bảng 2.1 Thống kê số lượng chất vấn (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w