Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn * Mục đích: Nghiên cứu về địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nhằm xác định chính xác về vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG HUY VIỆT
§ÞA VÞ PH¸P Lý Vµ HO¹T §éNG CñA
§OµN §¹I BIÓU QUèC HéI - QUA THùC TIÔN TØNH B¾C GIANG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Huy Việt
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI LÀ MỘT HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI 6
1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội 6
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội 32
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ 32
1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội 36
1.2.3 Nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội 38
Kết luận Chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - QUA THỰC TIỄN CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH BẮC GIANG, KHÓA XII (2007 - 2011) 43
2.1 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội Khóa XII 43
2.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Bắc Giang (Nhiệm kỳ 2007 – 2011) 45
2.3 Những kết quả đạt được 46
2.3.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật 47
2.3.2 Hoạt động giám sát 50
Trang 42.3.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư của
công dân 62
2.4 Một số tồn tại, hạn chế 65
2.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 67
Kết luận Chương 2 71
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 72
3.1 Về cơ cấu Đại biểu Quốc hội 75
3.2 Hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội 78
3.3 Về bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐĐBQH: Đoàn đại biểu Quốc hội HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam
xác định “Nhà nước Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[2, tr.27] Từ quan điểm này,
Hiến pháp 1992 tại lần sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã khẳng định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [20, Điều 2]
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải cải cách toàn diện Bộ máy nhà nước Trong đó việc đổi mới Quốc hội rất quan trọng, vì Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội
Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức
và hoạt động của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đoàn đại biểu Quốc hội được hình thành bởi các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương Thực tế cho thấy, hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội tại các địa phương đã rất hiệu quả, tạo nên
Trang 7thành công và chất lượng cho các kỳ họp Quốc hội Song những quy định về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn chưa đầy đủ, chưa thực sự rõ ràng Vấn đề Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là một
cơ quan của Quốc hội hay không, trên thực tế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Nếu không phải là cơ quan của Quốc hội thì Đoàn đại biểu Quốc hội
là cơ quan gì? Đoàn đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cơ quan nào? Đó là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
và hoàn thiện
Từ những điểm đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu
đề tài “Địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội - Qua thực
tiễn tỉnh Bắc Giang” trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra
các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định Đoàn đại biểu Quốc hội góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có rất nhiều các nghiên cứu, các đề tài khoa học về Quốc hội và các
cơ quan của Quốc hội Thực tế cho thấy có rất ít các công trình nghiên cứu về Đoàn đại biểu Quốc hội, mặc dù hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ra đời rất sớm, từ kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa I và tồn tại cho đến ngày hôm nay Qua tìm hiểu, thấy rằng mới có một vài nghiên cứu về chức năng, vai trò
và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; Một số bài viết về Đoàn đại biểu Quốc hội của các cán bộ tại Văn phòng Quốc hội được đăng tải rải rác ở các tạp chí và sách báo khác nhau; Trong các giáo trình Hiến pháp hay các sách chuyên khảo về Quốc hội thì phần về Đoàn đại biểu Quốc hội cũng chỉ chiếm một dung lượng rất nhỏ (chỉ một vài trang thậm chí là nửa trang) Có 01 luận văn Thạc sỹ về “Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời
kỳ đổi mới” của Trần Văn Tám
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thất cần thiết có một công trình nghiên cứu một
Trang 8cách tổng thể và tương đối toàn diện về địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội một cách có hệ thống; từ đó xem xét và đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện hình thức tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội
Các tài liệu đã thu thập được:
- Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp 1992 sửa đổi,
bổ sung và Hiến pháp ban hành năm 2013
- Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam
- Luật tổ chức Quốc hội; Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội…
- Sách chuyên khảo Quốc hội trong Nhà nước Pháp quyền – GS.TS Nguyễn Đăng Dung
- Các bài viết về Quốc hội của các tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung;
TS Nguyễn Sỹ Dũng; TS Trần Ngọc Đường; TS Bùi Xuân Đức…
- Quốc hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn – Văn phòng Quốc hội
- Báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Bắc Giang Khoá XII
4 Điểm mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội (từ thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Bắc Giang) từ đó tổng kết đánh giá thực trạng của hình thức Đoàn đại
Trang 9biểu Quốc hội Qua việc nghiên cứu đó sẽ có các đề xuất về địa vị pháp lý của hình thức Đoàn đại biểu Quốc hội
- Qua việc nghiên cứu này tác giả mong muốn có một chế định hoàn thiện về địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội
ở các địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể là phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận một số quy định pháp luật
6 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
* Mục đích: Nghiên cứu về địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nhằm xác định chính xác về vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 10Chương 1 Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức hoạt động của
Quốc hội
1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ
1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.3 Chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
Kết luận của Chương 1
Chương 2 Thực trạng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội – Qua
hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang Khóa XII (Nhiệm kỳ 2007 – 2011)
2.1 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội Khóa XII
2.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang nhiệm
kỳ 2007 – 2011
2.3 Những kết quả đạt được
2.3.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật
2.3.2 Hoạt động giám sát
2.3.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri
2.3.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư của công dân 2.4 Một số tồn tại, hạn chế
2.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Kết luận của Chương 2
Chương 3 Đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định về
Đoàn đại biểu Quốc hội
3.1 Về cơ cấu đại biểu Quốc hội
3.2 Về hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội 3.3 Về bộ máy giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội
Trang 11Chương 1
ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI LÀ MỘT HÌNH THỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI
1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, bởi vì Quốc hội là
cơ quan duy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra Trong hệ thống cơ quan nhà nước, nhân dân còn trực tiếp bầu ra đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Nhưng Hội đồng nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
do nhân dân từng địa phương bầu ra Chính việc Quốc hội do cử tri trong toàn quốc bầu ra từ những đại diện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước đã tạo ra cho Quốc hội ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước
Vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao trong bộ máy nhà nước, do vậy nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được quy định trong văn bản
có hiệu lực pháp lý cao nhất của nhà nước, tức là trong Hiến pháp Điều 84 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung 2001 quy định “Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
Trang 122 Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
3 Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
4 Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;
5 Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của
Nhà nước;
6 Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;
7 Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
8 Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang
Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
Trang 139 Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
10 Quyết định đại xá;
11 Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;
12 Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
13 Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;
14 Quyết định việc trưng cầu ý dân [20, Điều 84]
Điều 70 Hiến pháp được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ
6, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 cũng quy định: Quốc hội có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau đây:
1 Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
2 Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
3 Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
Trang 144 Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định,
sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ
chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân
sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
5 Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6 Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác
do Quốc hội thành lập;
7 Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thê ̣ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;
8 Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
9 Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ;
Trang 15thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
10 Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
11 Quyết định đại xá;
12 Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
13 Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
14 Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định
gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến
chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của
Quốc hội;
15 Quyết định trưng cầu ý dân [27, Điều 70]
Như vậy, theo quy định trên có thể nói Quốc hội Việt Nam có ba nhiệm
vụ chính, đó là lập hiến và lập pháp (hay là làm hiến pháp và làm luật), giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
Làm luật và làm hiến pháp là nhiệm vụ quan trọng nhất của Quốc hội Những chức năng này được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp 1946,
1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định
Trang 16nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật” thì cả 4 bản Hiến pháp đều khẳng định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Qua mỗi bản Hiến pháp, chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ, quy định cụ thể hơn, đặc biệt là từ Hiến pháp 1992 Thực tế cho thấy, Quốc hội hoạt động có hiệu quả chỉ khi nào Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ lập hiến và lập pháp Chức năng làm luật của Quốc hội rất rộng, không bị hạn chế Quốc hội có thể thông qua bất cứ một đạo luật nào để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nào đó, nếu Quốc hội thấy rằng việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đó bằng các quy định của luật là cần thiết Vì vậy có thể kết luận rằng mọi lĩnh vực hoạt động, quản lý
xã hội của Nhà nước đều phải được Quốc hội quy định thành luật
Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành Luật, Nghị quyết
Trong những năm gần đây, trên cơ sở xác định tầm quan trọng của công tác xây dựng pháp luật, Quốc hội đã dành nhiều thời gian cần thiết cho việc thảo luận, thẩm tra, xem xét và quyết định thông qua các dự án luật Tại các kỳ họp Quốc hội, việc thảo luận, xem xét, quyết định, thông qua các dự án luật đã trở nên thiết thực Đại biểu Quốc hội đã thảo luật sôi nổi, phát biểu thẳng thắn để chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật Trình tự soạn thảo, thẩm tra, xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh từng bước được cải tiến, bổ sung Quốc hội đã ban hành và ra Nghị quyết về công tác xây dựng pháp luật, trong
đó xác định những lĩnh vực cần ưu tiên, thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, đồng thời, đề ra biện pháp để triển khai thực hiện công tác xây dựng pháp luật một cách có hiệu quả
Trang 17Về chương trình xây dựng pháp luật, đã coi trọng việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh dài hạn và hằng năm của Quốc hội Các chương trình này căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý nhà nước, định hướng xây dựng pháp luật được xác định trong các văn kiện của Đảng, bảo đảm tính liên tục, kế thừa trong công tác xây dựng pháp luật, dự báo và xác định một cách toàn diện, đầy đủ những nhu cầu xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, đồng thời thể hiện tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Trong chương trình xây dựng pháp luật, đã xác định các lĩnh vực ưu tiên và khả năng thực thi Việc xác định tính cần thiết ban hành một văn bản luật hoặc pháp lệnh được giải quyết ngay từ khi Ủy ban thường vụ Quốc hội lập và Quốc hội quyết định chương trình Có thể nói công tác xây dựng pháp luật cơ bản bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ và tính khả thi của chương trình đã được Quốc hội thông qua
Về việc soạn thảo và thẩm tra, đã có sự phân công tương đối hợp lý giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra đối với các dự án luật, pháp lệnh để tạo điều kiện cho các cơ quan hữu quan sớm có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Kinh nghiệm cho thấy, việc phân công hợp lý, đúng chức năng, chuyên môn của cơ quan soạn thảo (trong đó có cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp), cơ quan thẩm tra là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình chuẩn
bị và bảo đảm chất lượng các dự án Đặc biệt coi trọng việc nâng cao chất lượng soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh Thủ trưởng các cơ quan được phân công chuẩn bị dự án luật, pháp lệnh phải coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác của cơ quan mình, phải tập trung đầu tư nhiều thời gian, công sức, đồng thời phải tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong việc tổng kết thực tiễn, soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp, trình, thẩm tra, cho ý kiến chỉnh lý về các dự án Trong quá trình xây dựng
Trang 18các dự án luật, pháp lệnh, cần quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng được thể hiện trong các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng Phải căn cứ vào những quy định của Hiến pháp và kế thừa những nội dung đúng đắn, phù hợp của các văn bản pháp luật hiện hành trong từng lĩnh vực Trên cơ sở đó, xác định phạm vi, đối tượng của từng dự án luật, pháp lệnh để nghiên cứu, xem xét vấn
đề gì quy định mới, vấn đề gì phải sửa đổi, bổ sung Chú trọng công tác khảo sát, tổng kết thực tiễn, tổ chức hội thảo khoa học có chất lượng thiết thực, bảo đảm các dự án luật, pháp lệnh có luận cứ khoa học, căn cứ thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng biên soạn, bảo đảm thời gian của việc chuẩn bị và trình các dự án Cần tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học, trưng tập các chuyên gia
có kinh nghiệm về các lĩnh vực trong việc xây dựng dự án pháp luật Việc tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài phải có chọn lọc, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Công tác thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được tổ chức bảo đảm hiệu quả và có chiều sâu Một mặt xem xét
sự phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, mặt khác, xem xét tính hợp hiến, tính đồng bộ, thống nhất của các dự án, tính khoa học, sự phù hợp với thực tiễn, với ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việc cân nhắc, xem xét một cách thận trọng tất cả các ý kiến khác nhau trong quá trình xây dựng dự án sẽ làm cho hoạt động thẩm tra ngày càng khoa học, chặt chẽ và toàn diện hơn
Về việc tổ chức lấy ý kiến các ngành, các cấp và ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật, pháp lệnh Đây là một công việc cần hết sức được coi trọng Mỗi đợt lấy ý kiến cơ bản đã bảo đảm được hai mục đích, đó là huy động được sức mạnh trí tuệ của các ngành, các cấp và của nhân dân, đồng thời, cũng là đợt sinh hoạt, tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với từng lĩnh vực Do đó, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành một cách có kế hoạch, yêu cầu cụ thể, căn cứ vào từng nội dung của dự án luật,
Trang 19pháp lệnh mà xác định đối tượng cần tập trung thảo luận kỹ, tránh hình thức,
tổ chức cập rập, thiếu chỉ đạo cụ thể, làm mất nhiều thời gian, tiền của, công sức mà kết quả thu được không nhiều Trong việc tổ chức xác định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan hữu quan trong việc chuẩn bị và nêu lên các vấn đề cần tập trung thảo luận, đóng góp; việc tập hợp, tổng hợp, nghiên tiếp thu ý kiến chỉnh lý vào dự án luật, pháp lệnh đã được tiến hành chu đáo, kịp thời và có hiệu quả
Về việc chuẩn bị, thảo luận, quyết định thông qua các dự án luật tại kỳ họp Quốc hội Trong điều kiện Quốc hội chỉ họp thường lệ mỗi năm hai kỳ và mỗi kỳ chỉ khoảng một tháng, để đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng pháp luật, các cơ quan tham mưu đã nghiên cứu, tổ chức các kỳ họp của Quốc hội tương đối phù hợp với thực tế Việc chuẩn bị tốt nội dung các dự án luật trước
kỳ họp là vô cùng quan trọng Do đó, không nên đưa vào chương trình kỳ họp Quốc hội những dự án luật chưa được chuẩn bị kỹ Mỗi dự án luật trước khi trình Quốc hội phải được Chính phủ, các cơ quan, tổ chức trình dự án thảo luận kỹ về các nội dung của dự án; tài liệu phải được gửi cho các đại biểu Quốc hội nghiên cứu trước kỳ họp theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội Chất lượng của việc xem xét, cho ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với các dự án Luật trước khi trình Quốc hội cũng cần phải được tăng cường
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan chỉ đạo việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua; xem xét và quyết định việc trình các dự án luật tại kỳ họp Quốc hội Do vậy, việc Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, xem xét, cho ý kiến đối với các dự án luật có ý nghĩa rất quan trọng Trong thời gian qua, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tăng cường phối hợp với Chính phủ trong công tác chỉ đạo, kiểm tra các cơ quan hữu quan được phân công triển khai thực hiện chương trình xây dựng pháp luật; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội theo dõi, đôn đốc sát
Trang 20sao và tham gia trực tiếp vào quá trình chuẩn bị dự án nên đã chủ động nắm chắc nội dung của dự án, phục vụ cho việc thẩm tra của mình cũng như phục
vụ cho việc xem xét, cho ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Có thể nói việc thông qua dự án luật cơ bản được đổi mới quy trình cũng như cách thức, vừa bảo đảo để đại biểu có thể phát biểu sâu về những vấn đề thuộc nội dung dự án mà không phải dành thời gian vào các vấn đề kỹ thuật cụ thể, đẩy nhanh tiến độ xem xét, thông qua luật và bảo đảm chất lượng của dự án luật được thông qua Sau khi dự án luật được trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chịu trách nhiệm chính trong việc chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan chỉnh lý dự án luật theo
ý kiến đại biểu Quốc hội Như vậy đã thể hiện rõ hơn và nâng cao hơn trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật - một trong những chức năng trọng tâm của Quốc hội Chú trọng công tác điều hành kỳ họp, thảo luận, biểu quyết thông qua theo nguyên tắc tập trung, dân chủ Việc thảo luận tại Tổ đại biểu Quốc hội, tại phiên toàn thể ít sự trùng lặp của các ý kiến phát biểu Quốc hội dành thời gian hơn cho việc tập trung thảo luận và biểu quyết thông qua các nội dung chính và các vấn đề có ý kiến khác nhau của dự án luật, còn các vấn đề
về kỹ thuật, cách thể hiện thì giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan chức năng, các chuyên gia nghiên cứu để hoàn chỉnh Nâng cao chất lượng công tác thư ký, tập hợp, tổng hợp ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội về dự án luật và làm tốt công tác thông tin, tư liệu phục vụ các đại biểu Quốc hội Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo dự án và Đoàn thư ký trong việc nghiên cứu tiếp thu ý kiến đại biểu
để chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật trình Quốc hội biểu quyết, thông qua
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đứng đầu toàn
bộ các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước, Quốc hội phải thay mặt nhân
Trang 21dân quyết định những vấn đề quan trọng thuộc về sinh mệnh của đất nước
Về nội dung, theo quy định của pháp luật hiện hành, những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội bao gồm ba nhóm nội dung chủ yếu:
Các vấn đề về tổ chức và nhân sự cấp cao của Nhà nước: Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên HĐDT, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, Ủy viên các Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về thành lập Hội đồng Quốc phòng và An ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bầu và miễn nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước Quốc hội quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Các nhiệm vụ kinh tế – xã hội: Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; quyết định chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia; quyết định chính sách tài chính quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách tiền tệ quốc gia
Các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chính sách tôn giáo, dân tộc, vấn đề đại xá: Quốc hội quyết định các chính sách, nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh, đối ngoại, dân tộc, tôn giáo thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, nghị quyết về ngân sách nhà nước hàng năm
Thể hiện quyền lực tối cao của mình, không những chỉ tập trung quyết
Trang 22định những vấn đề cơ bản thuộc về chức năng đối nội của nhà nước, Quốc hội còn phải quyết định những chính sách cơ bản về đối ngoại, bằng cách quy định những nguyên tắc cơ bản của chính sách đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước Và cuối cùng là Quốc hội quyết định đưa ra nhân dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định việc trưng cầu ý dân
Về quy trình, thủ tục, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước dưới hình thức Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nghị quyết chuyên đề đều tuân theo quy trình đầy đủ, bảo đảm yêu cầu về các bước, thủ tục về cơ bản tương tự như quy trình lập pháp
Nhìn chung, quy định pháp luật về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định khá chặt chẽ, đầy đủ các bước, các khâu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, về cơ bản bảo đảm phản ánh đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm chất lượng các quyết định; quy trình thường xuyên được cải tiến hoàn thiện hơn Các nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước về cơ bản đã cụ thể hoá kịp thời và đúng đắn đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Chất lượng các báo cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội ngày càng được nâng cao, có chính kiến rõ ràng hơn, mang tính phản biện hơn làm cơ sở các đại biểu Quốc hội thảo luận, biểu quyết; nhiều nội dung được đưa vào trong các Nghị quyết của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội đã
có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình,thể hiện trách nhiệm cao trước cử tri cả nước Quốc hội thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng đầy đủ hơn những nội dung thuộc thẩm quyền, có tính chất thường xuyên hơn và dần đi vào nền nếp Quy trình thảo luận, xem xét, quyết định bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số Chất lượng các quyết định
Trang 23của Quốc hội được nâng lên Các quyết định của Quốc hội được các ngành, các cấp nghiêm chỉnh triển khai và có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, thực sự là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, góp sức cùng các cơ quan trọng bộ máy nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình
Tuy nhiên, trong việc xem xét một số vấn đề cụ thể, thì quy trình xem xét, quyết định của Quốc hội gặp một số khó khăn, vướng mắc và hạn chế như: Chưa có quy định cụ thể về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định vấn
đề quan trọng của đất nước trong một số lĩnh vực cụ thể Chưa có quy định cụ thể về thời gian Chính phủ phải trình các dự thảo sang các cơ quan thẩm tra của Quốc hội, thời gian trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến Thời gian để Quốc hội thảo luận các vấn đề còn ít, nhất là các vấn đề nhân sự, kinh tế-xã hội, ngân sách Quy trình thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và ngân sách nhà nước còn chưa hợp lý, thể hiện ở việc tiếp thu, giải trình và thông qua nghị quyết
Tính quyền lực tối cao của Quốc hội không những được thể hiện qua việc ban hành những văn bản luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, mà còn thể hiện ở việc Quốc hội có quyền giám sát tất cả các hoạt động của xã hội Hiến phán pháp trước đây và hiện nay đều quy định quyền giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao (Điều 83 Hiến pháp 1992) Giống như chức năng làm luật, muốn làm cho chức năng giám sát của Quốc hội có hiệu quả hoạt động thì hoạt động giám sát phải tuân thủ theo một trình
tự hoạt động nhất định Thủ tục đó gọi là trình tự hoạt động giám sát của Quốc hội Thủ tục này được Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội quy định và đươc chi tiết hóa trong Nội quy kỳ họp và Quy chế của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Hình thức thực hiện chức năng giám sát quan trọng nhất của Quốc hội
Trang 24là trên các kỳ họp, Quốc hội định kỳ nghe các cơ quan nhà nước trung ương báo cáo Điều 67 Luật tổ chức Quốc hội quy định;
Quốc hội xem xét thảo luận báo cáo công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại
kỳ họp cuối năm Tại kỳ họp giữa năm các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến các đại biểu Quốc hội Khi cần thiết Quốc hội có thể xem xét thảo luận Tại kỳ họp cuối cùng của mỗi khóa Quốc hội, Quốc hội xem xét thảo luận báo cáo công tác của Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [21, Điều 67]
Để Quốc hội có cơ sở vững chắc khi xem xét các báo cáo nói trên, theo quyết định của Chủ tịch Quốc hội hoặc của người điều khiển phiên họp, báo cáo của các cơ quan nhà nước nêu trên có thể được chuyển cho các Ủy ban hữu quan của Quốc hội để thẩm tra, nghiên cứu trước Trên cơ sở ý kiến tham gia, thảo luận báo cáo của các thành viên, Ủy ban chuẩn bị báo cáo thuyết trình thẩm tra trước Quốc hội Khi thấy những vấn đề cần phải có sự điều tra
để kết luận, Quốc hội có thể thành lập ủy ban kiểm tra đặc biệt bao gồm các đại biểu và những người có chuyên môn thuộc lĩnh vực cần kiểm tra Sau khi làm việc, Ủy ban kiểm tra đặc biệt phải báo cáo kết quả trước Quốc hội
Trên kỳ họp của Quốc hội, chức năng giám sát của Quốc hội được các đại biểu thường xuyên thực hiện thông qua các chất vấn của đại biểu Đối tượng chịu chất vấn của đại biểu Quốc hội là những người đứng đầu các cơ quan chịu sự giám sát của Quốc hội Đó là Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác trong Chính phủ, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định
Trang 25cho trả lời trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản (Điều 98 Hiến pháp) Theo tinh thần của Hiến pháp, đại biểu Quốc hội có thể chất vấn bất cứ vấn đề gì thuộc thẩm quyền của Quốc hội, không phụ thuộc vào việc vấn đề đó có hay không nêu ra trong nội dung chương trình của kỳ họp Ngoài việc quy định đại biểu có quyền chất vấn trong thời gian tiến hành kỳ họp, Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội còn cho phép đại biểu chất vấn ngoài kỳ họp Nếu như chất vấn trong thời gian tiến hành kỳ họp được chuyển đến Chủ tịch Quốc hội để ấn định thời gian trả lời trong kỳ họp, thì ngoài thời gian kỳ họp chất vấn được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển cho cơ quan hoặc người bị chất vấn Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm định thời gian để cơ quan nhà nước hoặc người bị chất vấn trả lời chất vấn của đại biểu Theo thông lệ, thời gian trả lời chất vấn trong kỳ họp thường được Quốc hội
ấn định vào một phiên họp nhất định trong thời gian tiến hành kỳ họp Nếu đại biểu không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa vấn đề ra thảo luận trước Quốc hội hoặc trước Ủy ban thường
vụ Quốc hội Trong những trường hợp này, Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể ra Nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
Ngoài việc trực tiếp thực hiện chức năng giám sát trong các kỳ họp bằng việc nghe báo cáo, chất vấn các cơ quan và người đứng đầu các cơ quan nhà nước trung ương, hoạt động giám sát của Quốc hội còn do các cơ quan của Quốc hội đảm nhiệm Đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Với tư cách là cơ quan thường trực của Quốc hội,Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội tự mình thực hiện chức năng giám sát và điều hòa các hoạt động giám sát của các cơ quan cấu thành Quốc hội Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát hoạt
Trang 26động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội và của Ủy ban thường vụ Quốc hội Ủy ban thường vụ Quốc hội
tự quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm, tự mình giao cho Hội đồng dân tộc và Ủy ban hữu quan của Quốc hội thực hiện chương trình giám sát, xem xét, thảo luận các báo cáo và kiến nghị trong hoạt động giám sát; yêu cầu cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện những kiến nghị mà Ủy ban thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết Ủy ban thường
vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân Tự mình hoặc theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban hoặc của đại biểu Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền bãi bỏ những nghị quyết trái Hiến pháp
và pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, của Ủy ban Quốc hội hoặc của đại biểu, Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi các văn bản đó trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội, trình Quốc hội hủy bỏ tại kỳ họp gần nhất Trong thời gian Quốc hội không họp, khi thực hiện quyền phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, cũng là lúc Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của bộ máy hành pháp Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, phần lớn các công việc giám sát của Quốc hội do các Ủy ban của Quốc hội đảm nhiệm Ở đây có một điểm cần nhấn mạnh: Các Uỷ ban theo quy định mới được giao thực hiện chức năng giám sát hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước một cách độc lập, tự chủ không phải giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám
Trang 27sát như trước đây theo Hiến pháp 1980 Các ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình bằng nhiều hình thức Trước hết các Uỷ ban có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước hữu quan báo cáo về hoạt động của cơ quan nhà nước đó hoặc về bất cứ một vấn đề nào có liên quan đến hoạt động kiểm tra giám sát của Ủy ban Ngoài phiên họp nói trên, các Ủy ban có thể thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát cơ sở, ở các địa phương Khi kết thúc hoạt động giám sát, các Ủy ban thường có các kết luận hoặc những kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước hữu quan chấn chỉnh những hoạt động không phù hợp với pháp luật, đồng thời yêu cầu các cơ quan tư pháp xem xét tiếp vụ việc khi có dấu hiệu phạm tội Kết luận, cũng như các kiến nghị của Ủy ban phải được các cơ quan nhà nước nghiên cứu, xem xét và trả lời theo yêu cầu của Ủy ban Một khi xét thấy việc xử lý các kiến nghị, kết luận của mình không thỏa đáng, các Ủy ban của Quốc hội có quyền báo cáo trước Quốc hội
để Quốc hội xem xét
Chất vấn của đại biểu Quốc hội: Chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời
Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp và quan trọng của Quốc hội, đồng thời là quyền quan trọng của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp quy định Chất vấn tuy là quyền cá nhân của đại biểu Quốc hội nhưng khi thực hiện quyền này thì nó được coi là một trong những hoạt động giám sát của Quốc hội
Chất vấn của đại biểu Quốc hội là yêu cầu của đại biểu đó với tư cách là người đại diện có thẩm quyền của nhân dân đối với người bị chất vấn theo quy định của pháp luật, buộc người bị chất vấn phải giải thích trước cơ quan quyền lực nhà nước về những
Trang 28khuyết điểm, những tồn tại trong hoạt động, công tác của cơ quan
mà cá nhân đó phụ trách, trả lời về trách nhiệm, về nguyên nhân và biện pháp khắc phục Điều 98 Hiến pháp năm 1992 quy định: Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản [18, Điều 98]
Điều 49 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định:
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn [22, Điều 49]
Trong thời gian Quốc hội họp, đại biểu Quốc hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội, hoặc cho trả lời bằng văn bản Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người
bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa
ra thảo luận trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
Trang 29Chất vấn, với tư cách là một hình thức giám sát của Quốc hội, được phân biệt với các hình thức khác chủ yếu ở bản chất, mục đích, thủ tục và hậu quả của nó
Về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng để giám sát hoạt động của các cơ quan và cá nhân được giao quyền, là sự thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội khi thực hiện quyền chất vấn của mình là nhân danh cá nhân với tư cách là người đại diện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân yêu cầu cá nhân bị chất vấn trả lời về trách nhiệm pháp lý của cá nhân đó về những việc làm có đúng với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn theo luật định hay không
Theo quy định của pháp luật thì chất vấn là quyền của cá nhân đại biểu Quốc hội Khi thực hiện chất vấn, đại biểu Quốc hội độc lập là người đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân, nhân danh quyền lực tối cao của nhân dân chứ không phải nhân danh một cơ quan, tổ chức hay Đoàn đại biểu Quốc hội mà mình là thành viên
Đại biểu Quốc hội khi thực hiện hoạt động chất vấn không phải nhằm mục đích thu thập thông tin hay số liệu, mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách nhiệm đối với một số vấn đề nào đó Đây chính là điểm cơ bản
để phân biệt chất vấn với câu hỏi thường Trên thực tế, chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới dạng câu hỏi nhưng mục đích của chất vấn và câu hỏi thường khác nhau Việc hỏi và yêu cầu trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm nhằm thu thập thông tin, số liệu về các vấn đề nào cần biết, trước khi đặt câu hỏi người hỏi hầu như chưa có thông tin về vấn đề mà mình hỏi Loại câu hỏi thường phụ thuộc vào nhu cầu nắm bắt thông tin của đại biểu Quốc hội chứ không được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào
và cũng không bị hạn chế đối với bất kỳ đối tượng nào Còn đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề, đại biểu Quốc hội phải tìm hiểu rất kỹ và nắm thông tin
Trang 30về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với một vấn đề nào đó Chất vấn được quy định rất rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng được chỉ ra cụ thể trong một phạm vi nhất định Vấn đề chất vấn khi đã được nêu lên theo đúng thể thức của pháp luật, chuyển đến người bị chất vấn thì không còn là mối quan hệ cá nhân giữa người bị chất vấn và người chất vấn mà đã trở thành một hình thức giám sát của Quốc hội
Bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Với mục đích nhằm tăng cường quyền lực giám sát của Quốc hội, Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001, quy định việc Quốc hội có quyền
bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (Điều 84) Trước hết phải khẳng định rằng, bỏ phiếu tín nhiệm là phương thức để Quốc hội thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi người đó không xứng đáng với trọng trách được giao Ở nước ta, quy định về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm không phải là điều mới vì trước đây trong Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta – đã có Điều 39 và Điều 54 quy định khá chi tiết và cụ thể về đối tượng, trình tự, thủ tục để Quốc hội thực hiện quyền này Song, những quy định trên đây trong Hiến pháp năm 1946 không được kế thừa và phát huy trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 trước khi được sửa đổi, bổ sung một số điều vào cuối năm 2001 Song phải đến hơn 10 năm, từ khi quy định có hiệu lực, ngày 21/11/2012 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XIII mới thông qua được Nghị quyết số 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn Đây là cơ sở pháp lý để cụ thể hóa việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm quy định tại Hiến pháp Điều 1 Nghị quyết quy định: Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những
Trang 31người giữ các chức vụ sau đây: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ
Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiên đối với 47 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Việc lấy phiếu tín nhiệm đã được tiến hành dân chủ, khách quan, công tâm, nghiêm túc Kết quả phiếu tín nhiệm phản ánh khá sát thực mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người được lấy phiếu tín nhiệm, tình hình kinh tế - xã hội chung của đất nước và của từng lĩnh vực phụ trách Công tác lấy phiếu tín nhiệm nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo nhân dân, góp phần củng
cố niềm tin của nhân dân và cử tri cả nước đối với sự lãnh đạo của Đảng, vai trò giám sát của Quốc hội đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Quốc hội là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất, bao gồm nhiều đại biểu được bầu ra từ các đơn vị bầu cử Quốc hội hoạt động theo chế
độ hội nghị - thông qua các kỳ họp của mình Tại kỳ họp các đại biểu đều có quyền hạn và trách nhiệm như nhau trong việc tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội
Để điều hành các kỳ họp và giữ mối liên hệ với các đại biểu, Quốc hội bầu Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội
Trang 32Chủ tịch Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1 Chủ tọa các phiên họp của Quốc hội, bảo đảm thi hành Quy chế đại biểu Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;
2 Lãnh đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến chương trình làm việc, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
3 Triệu tập và chủ tọa hội nghị Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội bàn chương trình hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; tham
dự phiên họp của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội khi xét thấy cần thiết;
4 Giữ mối quan hệ với các đại biểu Quốc hội;
5 Chỉ đạo việc thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội;
6 Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội; thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Đoàn Quốc hội Việt Nam trong các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực [21, Điều 20]
Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội Để giúp Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Quốc hội điều khiển kỳ họp, Quốc hội bầu ra Đoàn thư ký các kỳ họp Đoàn thư ký có trách nhiệm làm biên bản kỳ họp, tổng hợp các ý kiến phát biểu của các đại biểu Quốc hội, điều khiển công tác văn thư, tài liệu của kỳ họp
Theo quy định, Quốc hội họp ít nhất 02 kỳ/năm (thường là mỗi năm 02 lần họp, gọi là xuân thu nhị kỳ), do đó mà hình thành nên cơ quan Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết một số công việc của Quốc hội phát sinh
Trang 33giữa hai kỳ họp Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Uỷ viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm các Phó Chủ tịch
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội;
2 Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
3 Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
4 Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
5 Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội;
6 Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước;
Trang 347 Giám sát và hướng dẫ n hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân;
8 Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa
giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
9 Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp Quốc hội không thể họp được và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
10 Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
11 Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;
12 Phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm , miễn nhiê ̣m đa ̣i sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
13 Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội [27, Điều 74]
Theo quy định hiện hành, Quốc hội thành lập Hội đồng dân tộc và 09
Ủy ban gồm: Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban tư pháp; Uỷ ban kinh tế; Uỷ ban tài chính, ngân sách; Uỷ ban quốc phòng và an ninh; Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội; Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường và Uỷ ban đối ngoại Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Chủ tịch Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu; các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu; các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn
Trang 35Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số Nhiệm kỳ của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự
án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát; kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức
và hoạt động của Quốc hội nước ta Hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ra đời ngay từ kỳ họp thứ ba của Quốc hội Khóa I và tồn tại từ đó cho đến nay Theo quy định của pháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội hợp thành bởi các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương, do đó không nên coi Đoàn đại biểu Quốc hội là một cơ quan của Quốc hội hay một cấp tổ chức trong Quốc hội, nhưng thực tế chưa phải mọi ý kiến đã thống nhất trong việc phân biệt Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là cơ quan hay tổ chức độc lập trong Quốc hội, cũng như trong việc nhìn nhận khách quan vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
Mặc dù sự nhìn nhận và đánh giá về Đoàn đại biểu ở các thời kỳ có khác nhau, nhưng thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nửa thế kỷ
Trang 36qua cho thấy, hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương có vị trí, vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 đã nhấn mạnh hiệu quả hoạt động của Quốc hội ngoài việc được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội còn được bảo đảm bằng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Báo cáo công tác của Quốc hội nhiệm kỳ khóa IX (1992-1997) cũng khẳng định:
Trong nhiệm kỳ qua, các đoàn đã phát huy tốt tác dụng trong việc tổ chức để đại biểu Quốc hội tham gia các hoạt động, nhất là tham gia việc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, của các ngành, các cấp
ở địa phương về các dự án luật, pháp lệnh; tham gia các hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội ở địa phương; giữ mối quan
hệ với các cơ quan của Quốc hội; thu thập ý kiến cử tri và cung cấp thông tin cần thiết để Quốc hội có thêm cơ sở để xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng tại các kỳ họp Quốc hội Thực tế đó chứng tỏ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là cần thiết, cần làm rõ thêm vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của Đoàn và việc bảo đảm các điều kiện để hoạt động của Đoàn ngày càng tốt hơn [19, tr.9]
Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XII (2007 – 2011) tiếp tục khẳng định:
Quốc hội khóa XII có 63 Đoàn đại biểu Quốc hội Từ thực tiễn hoạt động cho thấy, mô hình tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là tương đối phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay, bảo đảm tiến hành các hoạt động của đại biểu Quốc hội tại địa phương và các kỳ họp Quốc hội… Thông qua Đoàn, hoạt động của đại biểu Quốc hội được phát huy, mở rộng quan hệ với cử tri, đồng
Trang 37thời tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Trên thực tế, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng thực hiện có hiệu quả hơn nhiệm vụ xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, theo dõi đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân…; giữ mối quan hệ công tác và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn
vị hữu quan ở địa phương, ở trung ương và các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội [25, tr.15]
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ
Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, Đoàn đại biểu Quốc hội đã được hình thành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội được bầu trong một đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn chủ tịch kỳ họp hoặc trao đổi ý kiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp, làm cho kỳ họp Quốc hội được tiến hành thuận lợi Mục đích ban đầu khi thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội là để phục vụ hoạt động Quốc hội được tốt hơn trong kỳ họp, nhưng quá trình phát triển cho thấy, Đoàn đại biểu Quốc hội không chỉ tồn tại và phát huy tác dụng trong kỳ họp mà còn tồn tại và phát huy tác dụng
ở ngoài kỳ họp Do Quốc hội nước ta hoạt động không thường xuyên, đại biểu Quốc hội đa số là kiêm nhiệm, công tác và sinh sống chủ yếu tại địa phương nên hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỏ ra thích hợp để giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội ở địa phương có thể thông qua Đoàn liên hệ với lãnh đạo Quốc hội ở Trung ương, liên hệ với các đại biểu Quốc hội trong cùng một địa phương và liên hệ với cử tri tại địa phương mình Đây chính là những lý
do khách quan dẫn đến Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn tồn tại và phát triển song
Trang 38Theo quy định của Hiến pháp, cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, các luật về tổ chức Quốc hội theo các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều có những quy định về vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội Cụ thể là:
- Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 quy định:
Đại biểu Quốc hội có thể họp thành các đoàn đại biểu địa phương theo đơn vị tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương Trong mỗi kỳ họp của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội trao đổi ý kiến về những vấn đề cần thiết của kỳ họp Giữa hai kỳ họp Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội giữ mối quan hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội [14, Điều 3]
Với nội dung này, Đoàn đại biểu Quốc hội tuy được xác định trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội nhưng không phải là một cơ cấu, tổ chức mang tính chất bắt buộc; nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là trao đổi những vấn đề cần thiết trong kỳ họp Theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, các Đoàn đại biểu Quốc hội còn có quyền giới thiệu người ra ứng cử chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Tổng thư ký và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội để Quốc hội bầu
- Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định:
Đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
và đơn vị hành chính tương đương họp thành Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương và cử ra Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động của Đại biểu Quốc hội tại các đơn vị bầu cử Các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội giữ quan
hệ với Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Mỗi năm hai lần, các Đoàn đại biểu Quốc hội thông báo cho Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Ủy ban Mặt trận tổ quốc ở địa phương về hoạt
Trang 39Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 đã mở rộng hơn quyền của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu các chức danh để Quốc hội bầu: Chủ tịch, Phó chủ tịch Quốc hội; Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Tổng thư
ký và các Ủy viên Hội đồng Nhà nước; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên của Hội đồng dân tộc; Chủ nhiệm và các thành viên khác của Ủy ban thường trực của Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội còn được quy định trong Quy chế về Đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành Khác với Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, thì ở thời kỳ này Đoàn Đại biểu Quốc hội được xác định là hình thức tổ chức bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là tổ chức hoạt động cho đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp, khác với giai đoạn trước chủ yếu tổ chức hoạt động trong kỳ họp, còn ngoài kỳ họp bảo đảm mối liên hệ giữa Đại biểu Quốc hội với lãnh đạo Quốc hội ở trung ương
Qua kinh nghiệm của các nhiệm kỳ Quốc hội mà đặc biệt là nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987-1992) cho thấy, việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương là cần thiết, đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế Ghi nhận thực tế này, Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 một lần nữa khẳng định lại
vị trí của Đoàn đại biểu Quốc hội, theo đó:
Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, có thể có Phó trưởng Đoàn để
tổ chức hoạt động của Đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các cơ quan, tổ chức khác ở địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội Mỗi
Trang 40đoàn có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách [18, Điều 48]
Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 tiếp tục khẳng định:
Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội có trụ sở, Văn phòng giúp việc và có kinh phí hoạt động theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn [21, Điều 60]
Với quy định này, có thể nói Đoàn đại biểu Quốc hội như một cơ quan độc lập tại địa phương, có bộ máy, trụ sở làm việc riêng, có con dấu và kinh phí hoạt động hàng năm
Vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội còn được quy định cụ thể trong Nội quy kỳ họp Quốc hội và trong Quy chế về hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội So sánh với các quy định của pháp luật qua các thời kỳ về Đoàn đại biểu Quốc, tôi nhận thấy:
+ Vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu bầu các chức danh trong bộ máy nhà nước ở trung ương không được tiếp tục duy trì;
+ Từ một chủ thể không bắt buộc, Đoàn đại biểu Quốc hội là một chủ thể pháp lý bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, tuy không phải là cơ quan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội;
+ Điểm mới so với các quy định trước đây là mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội có thể có từ một đến nhiều Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Quy định này thể hiện hướng chuyển Quốc hội dần sang chế độ hoạt động thường xuyên, trong đó có bộ phận Đại biểu Quốc hội chuyên trách
+ Quy định của pháp luật qua các thời kỳ có xu hướng dần dần làm cho Đoàn đại biểu Quốc hội thành một tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập