Mục đích của đề tài và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận văn là phân tích các đặc điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; những yêu cầu của Nhà nướ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN LÊ QUANG
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước pháp quyền
Mã số: 6.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
HÀ NỘI – 2005
Trang 2MỤC LỤC
Trang
HOẠCH HOÁ, TẬP TRUNG
6
1.1 Sự ra đời của đại biểu Quốc hội 6 1.2 Khái niệm, bản chất của đại biểu Quốc hội 9 1.3 Đặc điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế
kế hoạch hoá, tập trung
13
RA ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
21
2.2 Những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đối với
Quốc hội và đại biểu Quốc hội
27
2.3 Địa vị pháp lý và tình hình hoạt động của đại biểu
Quốc hội trong giai đoạn chuyển đổi
43
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
99
3.1 Luật hoạt động đại biểu Quốc hội 99
3.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến
việc cá thể hoá quyền năng của Quốc hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Quốc gia độc lập và thịnh vượng là khát vọng ngàn đời của dân tộc Nếu như cha ông ta thuở trước đã thực hiện tốt nhiệm vụ thứ nhất, thì xây dựng đất nước giàu mạnh đang là vấn đề đặt ra đối với thế hệ hôm nay Để thúc đẩy sự phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân phải là một chủ thể năng động, đầy quyết tâm và phải có những “sợi dây” liên kết họ lại, tạo thành một hợp lực mạnh mẽ hướng về phía trước Sự giàu có và thịnh vượng được tạo ra từ sức lao động và trí tuệ của nhân dân, nó không thể là vật phẩm do ai đó ban tặng
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung được xây dựng trong giai đoạn đầu của nền cộng hoà và tồn tại trong suốt thời kỳ chiến tranh đã có những đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu của cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, về cơ bản phù hợp với quy luật của kinh
tế thời chiến Tuy nhiên khi đất nước ra khỏi chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trungđã không còn phù hợp và trở thành vật cản bước tiến của
xã hội
Để mở đường cho sự phát triển xã hội, Đảng ta đã phát động công cuộc đổi mới từ năm 1986 với dung quan là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã và đang có sự thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Người dân ngày càng tin tưởng vào nền kinh tế thị trường và triển vọng phát triển kinh tế đất nước Nhưng tốc độ, chất lượng tăng trưởng những năm gần đây đang có dấu hiệu chững lại, con đường tiến bộ xây dựng nền kinh tế thị trường, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập vào thế giới văn minh đang bị cản trở bởi sự đổi mới chậm chạp trong bộ máy nhà nước Mô hình Nhà nước pháp quyền không những chưa được định hình mà những đổi mới trong bộ máy nhà nước hiện nay chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng,
Trang 4những vá víu từ các giá trị và tư duy cũ Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao, cơ chế xin – cho vẫn còn tồn tại, thói quen quản lý và hành động theo pháp luật chưa hình thành, nguyên tắc dân chủ còn bị vi phạm, tính công khai, minh bạch thấp, tham nhũng, nhận hối lộ tràn lan Nếu tiếp tục duy trì một bộ máy nhà nước như vậy thì nền kinh tế thị trường năng động, hiện đại không thể xây dựng được
Mục tiêu phát triển đất nước đặt ra yêu cầu phải xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để hỗ trợ mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển và hội nhập của xã hội Yêu cầu đó đặt ra cho khoa học về nhà nước và pháp luật hàng loạt các vấn đề phải đi sâu nghiên cứu, hình thành tư duy pháp lý, quan điểm lý luận về Nhà nước pháp quyền Trong hàng loạt các vấn đề pháp lý đó, vấn đề nghiên cứu đại biểu Quốc hội đang nổi lên như một vấn đề không những mang tính lý luận cấp thiết mà còn mang tính thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu nghiêm túc, tạo cơ sở
để hình thành một tư duy mới, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
Hơn nữa, hoạt động đại biểu Quốc hội và mối liên hệ giữa đại biểu với cử tri đang là một vấn đề bức xúc hiện nay Hầu hết mọi người dân đều không nhớ và không biết mình có người đại diện Những cơ chế, quan niệm, giá trị cũ kỹ và cả những mâu thuẫn nội tại của pháp luật đang cản trở sự vận hành và phát triển của nền dân chủ đại diện
Do vậy, đề tài “Đại biểu Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” ở nước ta là một vấn đề có tính cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, cần được xác định nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Các vấn đề lý luận về vai trò của các cơ quan đại diện và đại biểu dân
cử trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong quá trình phát triển đất nước đã được nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên cứu dưới các góc độ,
Trang 5khía cạnh và mức độ khác nhau Trong những công trình nghiên cứu đã được công bố, vấn đề địa vị pháp lý và vai trò của đại biểu Quốc hội, tuy không phải đối tượng nghiên cứu chính nhưng cũng đã được đề cập đến ở những mức độ khác nhau Trong số những công trình này có thể kể đến kết quả nghiên cứu của các Hội thảo, Toạ đàm, bài viết sau đây:
+ Toạ đàm về nâng cao năng lực cho đại biểu dân cử do Văn phòng
Quốc hội và Khoa Luật Đại học Quốc gia phối hợp tổ chức, tháng 9/2004
+ Hội thảo Nâng cao năng lực giám sát cho đại biểu là người dân tộc
thiểu số, Hội đồng dân tộc tổ chức, 5-7/1/2005
+ Các bài viết liên quan đăng trên Tạp chí Lập pháp, Tạp chí Nhà nước
& Pháp luật, Tạp chí Luật học và các báo chí khác về Quốc hội và đại biểu Quốc hội của các tác giả Nguyễn Sỹ Dũng, Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Thị Kim Quế, Lê Minh Tâm, Ngô Đức Mạnh, Đặng Văn Thanh v.v
+ Các tài liệu tham khảo nước ngoài được dịch ra tiếng Việt như: Quốc
hội và các thành viên, Roger H Davidson và Walter J.Oleszek, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2002; Quốc hội hoạt động như thế nào, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2003 v.v
Vấn đề địa vị pháp lý và hoạt động của đại biểu Quốc hội đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt được các nhà nghiên cứu nhà nước và pháp luật thể hiện trong nhiều công trình, bài viết đã được công
bố Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu, khảo sát một cách toàn diện về tình hình đại biểu Quốc hội hiện nay và phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta Vì vậy, luận văn sẽ góp phần đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện, khái quát về “Đại biểu Quốc hội trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền”
Trang 63 Mục đích của đề tài và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là phân tích các đặc điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với đại biểu Quốc hội, thực trạng các quy định của pháp luật và hoạt động của đại biểu Quốc hội qua đó làm sáng tỏ các cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc nâng cao địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội, vai trò quan trọng của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích đặc điểm đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung
+ Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đặt ra đối với đại biểu Quốc
hội; địa vị pháp lý và tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội thời
kỳ chuyển đổi
+ Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền
Đề tài luận văn là vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan đến dân chủ, tình hình thực hiện quyền lực chính trị, động chạm đến một số vấn đề nhạy cảm mà khoa học pháp lý lâu nay ít đề cập đến Do vậy trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ tập trung phân tích một số nội dung cơ bản có tính chất khái quát lý luận về đại biểu Quốc Hội, bầu cử đại biểu Quốc Hội, tình hình hoạt động của đại biểu Quốc Hội hiện nay và trình bày những khuyến nghị về hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao vai trò của đại biểu Quốc Hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là luận điểm lý luận trong học thuyết Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng kinh
tế, các quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được thể hiện qua các Nghị quyết Đại hội VII,
Trang 7VIII, IX và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương, các văn bản pháp luật của nhà nước
Để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn, tác giả
đã sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: logic hình thức, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp xã hội học và các phương pháp khác, kết hợp lý luận với thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo khoa học đầu tiên đề cập đến một cách hệ thống và tổng quát về đại biểu Quốc hội dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Qua nghiên cứu, tác giả đã chứng minh tầm quan trọng của đại biểu Quốc hội trong nền dân chủ; làm rõ mối liên hệ đại biểu – cử tri; bản chất hoạt động đại biểu Quốc hội; vai trò gốc rễ của bầu cử Tác giả hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn không chỉ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu mà sẽ đóng góp vào lý luận pháp luật về đại biểu Quốc hội, Nhà nước phát quyền và là một công trình tham khảo có ý nghĩa đối với các chuyên gia pháp luật, các nhà nghiên cứu, các đại biểu Quốc hội và sinh viên luật
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có:
Lời nói đầu
Chương 1: Đại biểu Quốc hội Việt Nam trong nền kinh tế kế hoạch hoá,
tập trung
Chương 2: Nhà nước pháp quyền và những đòi hỏi đối với Quốc hội, đại
biểu Quốc hội
Chương 3: Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp
quyền
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 9CHƯƠNG 1:
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ,
TẬP TRUNG
1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1.1 Sự ra đời của đại biểu Quốc hội trên thế giới
Mặc dù hình thức người đại diện ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người nhưng hình thức người đại biểu đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước lại chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định sau bao thăng trầm của lịch sử và gắn liền với lịch sử hình thành Quốc Hội (Nghị viện)
Khởi nguồn từ nước Anh, thời Trung cổ, lãnh thổ quốc gia bị phân vùng cát cứ thành nhiều vùng lãnh thổ nhỏ, những vùng lãnh thổ mà người dân sinh sống tại đó phân chia thành các nhóm xã hội – như giới quý tộc, tăng lữ, tầng lớp địa chủ nhỏ, quan chức thành phố, thị dân Để có kinh phí các các cuộc đấu tranh quyền lực hay nhu cầu ăn tiêu xa xỉ của cung đình, ngay cả các vị quốc vương chuyên quyền nhất cũng không thể đánh thuế và bóc lột vô hạn định người dân của mình mà không tạo ra rạn nứt xã hội, tính toán thực tế đã khiến vị quân vương triệu tập cuộc họp với những người đại diện các nhóm xã hội để kêu gọi sự đóng góp tự nguyện vào ngân khố hoàng gia
Nhóm những người đại diện này đã phát triển qua nhiều thế kỷ để trở thành hội đồng đại nghị (Nghị viện, Quốc Hội) như chúng ta thấy ngày nay Các nghiên cứu đã chỉ ra có 04 giai đoạn phát triển củng cố tư cách và quyền lực của người đại diện Mới đầu, những người đại diện này nhóm họp chỉ để biểu quyết về thuế khoá nộp cho ngân khố hoàng gia mà hầu như không can thiệp gì vào hoạt động của triều đình Tiếp theo, các cuộc họp biểu quyết về thuế khoá này đã tiến hoá thành các cuộc họp lập pháp và diễn đàn để gửi tới nhà vua những khiếu nại về tình trạng quan liêu, của quyền của tầng lớp
Trang 10quan lại Thứ ba, trải các các cuộc cách mạng vào thế kỷ XVII, XVIII, tập thể những người đại diện này đã hình thành một tổ chức – Nghị viện – có chủ quyền, giành lấy quyền lập pháp và quyền biểu quyết thuế khoá từ tay nhà vua Cuối cùng, vào thế kỷ XIX, tính chất đại diện đã có sự thay đổi về chất, phạm vi đại diện không còn bó hẹp trong những nhóm cục bộ mà được
mở rộng để bao gồm toàn thể quần chúng nhân dân[20]
Mô hình Nghị viện ở nước Anh đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới, không phân biệt hình thức Nhà nước quân chủ hay cộng hoà, đều có cơ quan đại diện của nhân dân với tên gọi Quốc Hội hay Nghị viện Quốc hội và các thành viên của nó đến nay đã trải qua một lịch sử phát triển hơn 500 năm, trở thành một thiết chế quyền lực nhà nước hùng mạnh Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều tồn tại thể chế với tên gọi Quốc Hội, Nghị viện, hay cơ quan lập pháp, với các thành viên là những người đại diện cho nhân dân, được nhân dân lựa chọn qua bầu cử phổ thông, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lập pháp, là nhành quyền lực quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất trong cấu trúc quyền lực nhà nước
1.1.2 Lịch sử ra đời của đại biểu Quốc hội nước ta
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ thực dân phong kiến Đất nước bị chia làm ba miền: Miền bắc hưởng chế độ bảo hộ, Miền trung chế độ phong kiến, Miền nam chế độ thuộc địa Ở Miền bắc và Miền trung nhân dân ta không có địa vị của người công dân mà chỉ là thần dân của vua An Nam, là nô lệ dưới chế độ thực dân nên nhân dân không có quyền trong việc thiết lập, tổ chức bộ máy nhà nước, do vậy, không có cơ quan đại biểu của nhân dân Ở miền nam, thực dân Pháp thành lập ra một số cơ quan đại diện như hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu v.v nhưng những hội đồng này chỉ đại diện cho giai cấp phong kiến và tiểu tư sản, không có thực quyền và nó cũng không phải là cơ quan đại biểu cho toàn dân mà chỉ đại diện cho một cộng đồng nhỏ như thôn, xã
Trang 11Ngay trước ngày phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, với mong muốn xây dựng một chế độ dân chủ, với quan niệm rằng một chính quyền chính đáng phải có một cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, với nhận thức về tầm quan trọng của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân đối với khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh kháng chiến, ngày 16/8/1945, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Quốc dân đại hội, gồm 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các giai cấp, thành phần xã hội, các tôn giáo, các dân tộc, các miền bắc trung nam của đất nước Mặc dù đại biểu tham gia Quốc dân đại hội không phải do bầu cử nhưng xét về tính đại diện, thẩm quyền thì Quốc dân đại hội xứng đáng là một cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân
Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh, đã ra sắc lệnh số 14-SL về cuộc tổng tuyển cử đề bầu Quốc hội Bản sắc lệnh ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16,17/8/1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên”
Theo sắc lệnh bầu cử nói trên thì: tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử ngoại trừ những người bị tước quyền công dân hoặc những người mất trí
Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc đã được tiến hành
Có 89% cử tri trên cả nước tham gia đi bầu cử và bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% là các đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% là các đại biểu không đảng phái, 10 đại biểu là phụ nữ, 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nền cộng hoà - Hiến pháp 1946
Nghiên cứu sự ra đời của đại biểu Quốc hội nước ta cho thấy chúng ta
đã biết phát huy lợi thế của nước đi sau, kế thừa những kinh nghiệm và
Trang 12thành tựu trong lịch sử phát triển Quốc hội Đại biểu Quốc hội nước ta ngay
từ khi ra đời đã là người đại diện của toàn thể nhân dân, do nhân dân trực tiếp lựa chọn qua bầu cử phổ thông, không phân biệt thành phần, giới tính, tôn giáo, giá trị tài sản Quốc hội sau khi ra đời là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực, cơ quan lập pháp
1.2 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.2.1 Khái niệm đại biểu Quốc hội
Để định nghĩa chính xác đại biểu Quốc hội, cần xem xét đại biểu Quốc hội dưới những giác độ khác nhau Dưới giác độ nguồn gốc quyền lực, đại biểu là cầu nối chuyển giao quyền lực từ nhân dân vào Nhà nước, là cơ
sở “năng lượng”, tính chính đáng để bộ máy nhà nước vận hành và tồn tại Hầu hết các nhà nước trên thế giới ngày nay đều tuyên bố hoặc cam kết về duy trì, thúc đẩy dân chủ, thừa nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Dưới giác độ hình thành bộ máy nhà nước, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân lập ra bộ máy nhà nước, quyết định cơ cấu tổ chức, bầu hoặc thông qua các vị trí nhân sự chủ chốt của cơ quan hành pháp, tư pháp Theo quy định của Hiến pháp nước ta, Quốc Hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Các đại biểu Quốc hội bầu ra các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, phê chuẩn danh sách thành viên Chính phủ Ở một số nước, người đứng đầu cơ quan hành pháp do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhưng Quốc Hội vẫn giữ vai trò rất lớn về nhân sự chủ chốt của cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp
Dưới giác độ người đại diện, đại biểu là người mang tâm tư nguyện vọng của nhân dân vào các chính sách và pháp luật do nhà nước ban hành, tạo sự cân bằng giữa quyền lợi của nhân dân với nhu cầu quản lý xã hội, thay mặt nhân dân giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan công quyền Đại biểu với tư cách là người đại diện cho nhân dân có trách nhiệm thường xuyên tiếp xúc với cử tri, nắm bắt, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của người dân, thông qua hoạt động tại Quốc Hội, chuyển
Trang 13tải các tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu đó thành pháp luật thông qua quá trình lập pháp Mặt khác, Đại biểu Quốc hội cũng có trách nhiệm giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan hành pháp, đảm bảo hoạt động của nhà nước luôn hướng tới mục tiêu phục vụ xã hội, đặt lợi ích của người dân lên trên hết Để thực thi những nhiệm vụ nặng nề này, pháp luật trao cho Quốc hội những quyền năng quan trọng như quyền lập pháp, giám sát, quyết định nhân sự chủ chốt của các Bộ, Ngành, quyền chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm v.v
Với tư cách là một con người, cá nhân người đại biểu cũng mang đầy
đủ tố chất của một con người bình thường: có tình cảm, lý trí; cứng rắn và cả
sự yếu đuối; có trách nhiệm với gia đình, dòng tộc; yêu lao động nhưng cũng
có nhu cầu vui chơi, giải trí v.v Vì vậy, cần tiếp cận người đại biểu dưới giác độ nhân bản (bản chất người) và thực tiễn, không nên lý tưởng hoá mà thay vào đó cần tạo ra cơ chế để giúp họ phát huy tối đa mặt tích cực, đóng góp nhiều cho cộng đồng
Theo quy định của pháp luật, Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho
ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội [2] Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình
Từ những vấn đề phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm đại biểu Quốc hội như sau:
Đại biểu Quốc hội là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu
cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội
1.2.2 Bản chất đại biểu Quốc hội
Trang 14Nghiên cứu khái niệm đại biểu Quốc hội cho thấy đại biểu Quốc hội mang một bản chất kép: vừa là người đại diện của nhân dân, vừa là thành viên cơ quan quyền lực nhà nước – Quốc hội
Là người đại diện của nhân dân, đại biểu Quốc hội là người của nhân dân Họ có trách nhiệm phải thường xuyên gần gũi với cử tri để nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng và những yêu cầu của cử tri đối với Nhà nước “Gần gũi cử tri” là một yêu cầu định tính và có phạm vi rất rộng Nó đòi hỏi người đại biểu phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cử tri qua nhiều kênh khác nhau Các cuộc tiếp xúc cử tri định kỳ, các Hội nghị, Hội thảo, lịch tiếp dân là một kênh quan trọng để đại biểu Quốc Hội gặp gỡ và thảo luận với nhân dân về mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày, thông tin về pháp luật, chính sách, nguyện vọng của dân chúng Nhưng đại bộ phận cử tri và người lao động không phải bao giờ cũng có điều kiện tham dự các buổi gặp gỡ chính thống đó Để thực sự gần gũi và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri đòi hỏi người đại biểu phải chủ động đi vào cuộc sống hàng ngày của người lao động Đó là những môi trường, hoàn cảnh xã hội vô cùng đa dạng, phong phú, vừa có thể là một thế giới lam lũ của những người nông dân trên cánh đồng, những người công nhân trong công xưởng, những xóm nghèo lao động hoặc những buổi gặp gỡi sôi nổi với những doanh nghiệp, nhà đầu tư, giới trí thức, sinh viên Người đại biểu cũng cần phải tích cực tham gia các hoạt động và phong trào xã hội trên các lĩnh vực liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân và việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước như các vấn đề về nhà ở, việc làm, giáo dục, y tế, an ninh trật tự; đi dầu trong các hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo và những tầng lớp dân cư
dễ bị tổn thương nhất do sự thay đổi chính sách của nhà nước
Để làm được những điều đó đòi hỏi người đại biểu nhân dân phải có được những đức tính và kỹ năng nhất định Trước hết, người đại biểu phải
có đức tính kiên nhẫn và sự nhạy cảm của chính khách Đa số cử tri là những người lao động bình thường và không phải ai trong số họ cũng có khả năng
Trang 15diễn đạt một cách tường minh những ý kiến, tâm tư, trăn trở đối với người đại diện của mình Trò chuyện với cử tri để hiểu họ không phải là việc dễ, trước hết phải có lòng kiên nhẫn để có thể nghe hết những gì họ nói, khích lệ
họ đủ tự tin trình bày suy nghĩ của mình, và trong vô vàn những thông tin từ người dân, bằng sự nhạy cảm của một chính khách để chắt lọc và xác định ra nhu cầu, nguyện vọng, bức xúc của đại bộ phận cử tri, là cơ sở quan trọng cho hoạt động tại nghị trường sau này Mặt khác, ngoài sự kiên nhẫn và nhạy cảm, người đại biểu cần phải có đức tính nhũn nhặn, hoà nhập, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ bình dân, không khoa trương, quan cách, dùng những ngôn từ khoa học người dân không hiểu Nói tóm lại, là người đại diện của nhân dân, người đại biểu phải rèn luyện được cho mình phong cách của người đại diện, một phong cách vừa dân dã, giản dị lại vừa sâu sắc, thâm thuý, có như vậy họ mới có thể lắng nghe và thấu hiểu cử tri, nhạy cảm trước những thay đổi và rạn nứt trong xã hội, hoàn thành được nhiệm vụ nặng nề nhân dân giao phó
Là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc Hội, đại biểu Quốc Hội là một thành viên trong bộ máy nhà nước, hơn thế
họ là những thành viên quan trọng và đặc biệt Trái ngược hẳn với môi trường xã hội đa dạng, cuộc sống lam lũ, bộn bề, đầy lo toan của người lao động là một Quốc Hội trang trọng và đầy quyền uy, nơi khởi nguồn và giao thoa của các dòng chảy quyền lực nhà nước, nơi hội tụ đông đảo các chính khách, các thành viên chính phủ, các viên chức quèn tham vọng, đại diện các
tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, nhóm lợi ích, các cơ quan thông tin đại chúng, báo chí, phát thanh, truyền hình v.v Quốc Hội hoạt động theo chế độ tập thể với một mạng lưới phức tạp các cơ chế, quy tắc, truyền thống, tập quán và cả những thói quen Không phải tất cả các đại biểu lần đầu tiên tham gia Quốc hội đều có thể dễ dàng thích nghi ngay với môi trường làm việc vô cùng đa dạng và phong phú đó Nói chung họ phải học tập, phải rèn luyện kỹ năng hùng biện, thuyết phục, phải thông thạo các hành lang, thậm chí ngõ
Trang 16ngách quyền lực trong bộ máy nhà nước, phải biết dựa vào các điều kiện, truyền thống, xu hướng hoạt động của Quốc hội như nó vốn có để hành động, biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành pháp luật và giám sát để đảm bảo pháp luật đó được thực thi đúng hướng
Bản chất kép của người đại biểu đó dường như đã tạo ra hai con người với phong cách khác hẳn nhau: một bên là sự giản dị, gần gũi, chia sẻ, tư duy tổng hợp với một bên là sự trang trọng, lịch thiệp, tài hùng biện, tư duy phân tích, đánh giá Một bên là người đại diện của nhân dân, họ có trách nhiệm lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân chuyển thành đề xuất với nhà nước; một bên là thành viên của Quốc Hội, họ phải biến những đề xuất đó thành chính sách và pháp luật, phải có tính cẩn trọng
và mạnh mẽ để thực hiện quyền lực mà nhân dân giao phó
Tuy nhiên, hai mặt trong con người đại biểu đó cũng gắn bó chặt chẽ với nhau Sự thành công trong vai trò người đại diện có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng những quyết định lập pháp, giám sát, phân bổ ngân sách và ngược lại, chỉ khi đại biểu phát huy tích cực vai trò của mình ở Quốc Hội, đóng góp tích cực vào lợi ích của xã hội, cộng đồng, họ mới đạt được sự tín nhiệm, tin tưởng thực sự của nhân dân, mới xứng đáng là người đại biểu của nhân dân
Bản chất kép đó cũng góp phần hình thành các chức năng cơ bản nhất của Quốc hội: chức năng đại diện và chức năng lập pháp, giám sát
1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ, TẬP TRUNG
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã tồn tại trong khoảng 30 năm,
từ năm 1954 – 1986 Đây cũng là thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh lớn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế này
là dựa trên nền tảng sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể; quản lý tập trung các hoạt động kinh tế – xã hội thông qua kế hoạch, bằng phương pháp mệnh lệnh hành chính Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp
Trang 17quan trọng trong việc huy động các nguồn lực đáp ứng nhu cầu chiến tranh
và cơ bản phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội thời chiến Tính chất, đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quyết định các yếu tố của thượng tầng kiến trúc chính trị, trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội Địa vị pháp lý và hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời kỳ này mang dấu ấn sâu sắc của chế độ kinh tế kế hoạch hoá, tập trung
Phân tích địa vị pháp lý và thực tiễn hoạt động của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung ở nước ta cho thấy: đại biểu Quốc hội chưa khẳng định được vai trò trung tâm của nền dân chủ, là người đại diện nhân dân thực hiện quyền lực tối cao của Nhà nước, đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội, mà ngược lại giữ một vai trò hình thức, chủ yếu là các công chức hành chính kiêm nhiệm Đại biểu Quốc hội chỉ đóng vai trò thứ yếu nhằm hình thành nên một cơ quan quyền lực nhà nước hình thức, hoạt động thời vụ – Quốc hội Vai trò, vị trí của đại biểu Quốc hội trong đời sống xã hội mờ nhạt, không gây được sự chú ý bởi hàng loạt các nguyên nhân có tính khách quan nảy sinh từ nhu cầu và tính chất kế hoạch hoá tập trung, bao cấp của mô hình kinh tế và hoàn cảnh đất nước Điều này được thừa nhận trên các phương diện sau đây:
+ Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng kế hoạch và những mệnh lệnh hành chính, pháp luật chỉ giữ vai trò thứ yếu, nhu cầu ban hành pháp luật để quản lý xã hội không cao Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ kinh tế trong nhiều trường hợp được thay thế bởi sự điều chỉnh trực tiếp của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng Các đơn vị kinh tế lấy các chỉ thị, nghị quyết này làm căn cứ để hoạt động và tổ chức các quá trình kinh tế Trong nhiều trường hợp, hiệu quả điều chỉnh của các chỉ thị, nghị quyết này hơn hẳn pháp luật Các đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh tế xã hội ít được quan tâm xây dựng, mà chủ yếu thay thế bởi các văn bản pháp quy của Chính phủ Cơ quan lập pháp và các thành viên của mình (đại biểu Quốc hội) do vậy có ít việc để làm, công việc chủ
Trang 18yếu là hơp pháp hoá các quyết định có sẵn, tạo ra sự ủng hộ của công chúng đối với đường lối, chính sách của Đảng, cung cách điều hành của Nhà nước Đại biểu Quốc hội dường như đứng ngoài quá trình phát triển kinh tế, không phát huy được vị trí, vai trò của mình
+ Chế độ sở hữu công cộng với hai hình thức cơ bản là sở hữu nhà nước
và sở hữu tập thể, suy cho cùng đều là sở hữu xã hội chủ nghĩa, đã đơn giản hoá đời sống kinh tế xã hội, triệt tiêu các mâu thuẫn về lợi ích Mối quan hệ Nhà nước – xã hội, cá nhân – tập thể dường như hoà vào nhau Các nhóm lợi ích, sự đa dạng của các tầng lớp, cộng đồng xã hội mờ nhạt, lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng với lợi ích nhà nước không được phân định rạch ròi Những yếu tố trên cũng góp phần làm giảm vai trò của người đại diện
+ Ngoài ra, bối cảnh chiến tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đặt
ra yêu cầu phải có một Quốc hội với đầy đủ đại diện cho các thành phần dân tộc, tôn giáo, vùng miền Tính đại diện do vậy được nhấn mạnh, năng lực đại biểu, chất lượng hoạt động chưa được đề cao
Vai trò mờ nhạt của đại biểu Quốc hội đối với quá trình phát triển kinh tế và hoạt động của bộ máy nhà nước đã ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội Mặc dù, Hiến pháp và pháp luật đã quy định về các quyền và nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội, nhưng do thiếu vắng những quy định của pháp luật về cơ chế, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền năng nên
sự tồn tại của chúng mang tính hình thức Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung được khái quát ở những đặc điểm sau đây:
1.3.1 Pháp luật đã bước đầu quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của đại biểu Quốc hội và Quốc hội Các quyền này gồm: quyền lập pháp,
quyền giám sát, quyền chất vấn, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của Nhà nước (bầu, miễn nhiệm các chức danh chủ chốt của Nhà nước, quyết định ngân sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tài chính,
Trang 19chính sách dân tộc, tôn giáo, đối nội, đối ngoại), quyền miễn trừ, nghĩa vụ tiếp xúc cử tri
1.3.2 Pháp luật thời kỳ này chƣa có các quy định về cơ chế, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền năng cơ bản trên Mặc dù quy định về quyền
lập pháp nhưng pháp luật thiếu những quy định cụ thể về quy trình lập pháp, quyền của đại biểu Quốc hội trong việc nêu sáng kiến pháp luật, trình dự án luật ra trước Quốc hội, trình tự, thủ tục xem xét, phản biện dự luật v.v Tương tự như vậy, về nhóm quyền giám sát, thiếu những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục chất vấn, trách nhiệm người trả lời chất vấn, quyền bỏ phiếu tín nhiệm Do vậy, hiệu quả công tác lập pháp, giám sát của Quốc hội chưa cao Thậm chí có khoá Quốc hội chỉ ban hành được 1 văn bản luật (Quốc hội khoá IV, 1971-1975)
1.3.3 Các quy định của pháp luật thời kỳ này chƣa chú trọng đến việc
đề cao trách nhiệm cá nhân của từng đại biểu Quốc hội Các quyền năng
của Quốc hội chưa được cụ thể hoá đến từng đại biểu Quốc hội để phát huy
sự chủ động, sáng tạo của từng cá nhân, mà chủ yếu được thực hiện theo cơ chế tập thể: lập pháp tập thể, giám sát tập thể, hoạt động tập thể Vì vậy, trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của Quốc hội và hoạt động đại diện của đại biểu Quốc hội cũng thiên về trách nhiệm tập thể Pháp luật chưa có các quy định phát huy quyền năng của từng đại biểu Quốc hội như các quyền về phát động lập pháp, phát động giám sát, phản biện v.v Pháp luật cũng thiếu những quy định về công khai hoá kết quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trước cử tri, về cơ chế giám sát của cử tri đối với đại biểu Quốc hội, quyền bãi miễn và cơ chế khởi động quyền bãi miễn của cử tri Chế định về Đoàn đại biểu Quốc hội là một đặc thù trong giai đoạn này Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập theo từng địa phương, mang tên gọi của địa phương, với các thành viên là đại biểu Quốc hội được bầu tại địa phương đó Thay vì đại biểu Quốc hội chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình tại địa phương và tự chịu trách nhiệm trước cử tri và Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc
Trang 20hội đứng ra tổ chức hoạt động cho các đại biểu trong Đoàn và hàng năm định kỳ báo các về tình hình hoạt động của các đại biểu với Uỷ ban thường
vụ Quốc hội và Mặt trận tổ quốc
1.3.4 Pháp luật thời kỳ này thiếu các quy định về đảm bảo điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội Do đa số đại biểu Quốc hội hoạt động
kiêm nhiệm, lương bổng, chế độ đãi ngộ đều hưởng theo chức vụ và công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, nhiệm vụ đại biểu chỉ là kiêm nhiệm và thực hiện mang tính chất thời vụ, nên các quy định về đảm bảo điều kiện vật chất cho hoạt động của đại biểu Quốc hội hầu như không có Các đại biểu chỉ được nhận một khoản trợ cấp mang tính hình thức cho hoạt động đại biểu Ngoài ra, các quy định đảm bảo điều kiện thông tin cho các đại biểu Quốc hội hoạt động cũng rất nghèo nàn Các đại biểu chủ yếu chỉ dựa vào thông tin, báo cáo giải trình của cơ quan hành pháp khi trình một dự thảo luật, nghị quyết ra trước Quốc hội Trong bối cảnh như vậy, pháp luật
đã đưa ra giải pháp tình thế là thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
để làm công tác giúp việc tập trung, giúp các đại biểu trong hoạt động tại địa phương Văn phòng này có chức năng tham mưu và tổ chức phục vụ mọi hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Văn phòng có trụ sở riêng, con dấu riêng, kinh phí hoạt động được trích từ nguồn kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.3.5 Trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên và hầu hết đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Ban thường trực, Hội đồng nhà nước) được thành lập để thay mặt Quốc hội giải quyết công việc trong thời gian Quốc hội không họp Uỷ ban
thường vụ Quốc hội được pháp luật trao cho những quyền hạn rất lớn, gần như một Quốc hội thu nhỏ, trong đó có các quyền như ban hành pháp lệnh, giải thích pháp luật, quyết định trưng cầu dân ý; sửa đổi, bãi bỏ các quyết định của Chính phủ trái Hiến pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định bổ nhiệm,
Trang 21miễn nhiệm Phó Thủ tướng, các thành viên của Chính phủ trong thời gian Quốc hội không họp; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; quyết định tổng động viên, giới nghiêm v.v
1.3.6 Chế định bầu cử đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trungđược thiết kế theo hướng để đảm bảo cơ cấu, thành phần Quốc hội Quốc hội phải bao gồm một tỷ lệ hợp lý các thành viên đại diện cho các
thành phần trong xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo Hoạt động bầu cử do vậy về cơ bản không mang tính cạnh tranh, vấn đề chất lượng đại biểu, chương trình hành động, giải pháp chính sách, cam kết không được quan tâm đúng mức Nói cách khác, bầu cử đại biểu Quốc hội thời kỳ này nhằm chọn ra người đại diện theo cơ cấu, tỷ lệ được duyệt trước, chứ không nhằm mục tiêu chọn ra những chính khách có năng lực Quốc hội ngoài chức năng
là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, còn có một chức năng ngầm định quan trọng không kém là biểu trưng cho sự đoàn kết dân tộc, sự gắn kết xã hội Thực tiễn cho thấy Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung
đã làm tốt chức năng thứ hai
Tóm lại, nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung với những đặc trưng của
nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến Quốc hội và đại biểu Quốc hội Đặc điểm cơ bản trong địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung là tính chưa hoàn thiện Pháp luật mới chỉ dừng lại ở những tuyên bố về quyền và nghĩa vụ cơ bản của Quốc hội và cá nhân từng đại biểu Quốc hội, chưa có những Luật cụ thể hoá trình tự, thủ tục và cơ chế thực hiện những quyền và nghĩa vụ này, chưa cá thể hoá các quyền của Quốc hội thành các quyền năng của từng đại biểu Quốc hội Hoạt động của đại biểu Quốc hội thời kỳ này mang nặng tính “thời vụ”, chỉ sôi động một năm hai lần ở những kỳ họp Quốc hội, còn ngoài ra, phần lớn thời gian, tâm sức và trí tuệ được họ dành cho công việc chính là công chức trong bộ máy hành pháp Do vậy, đại biểu Quốc hội thời kỳ này mang tính đại diện cho cơ cấu
xã hội theo thành phần dân tộc, tôn giáo, giới tính, tầng lớp, vai trò của đại
Trang 22biểu trong hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như mối quan hệ với cử tri rất mờ nhạt Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung là một bông hoa nhân tạo đẹp nhưng ở đó thiếu sự sống
Kết luận chương 1:
Từ những nghiên cứu về sự ra đời của đại biểu Quốc hội nước ta, đặc điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung được thể hiện ở các mục 1,2,3 của Chương 1, chúng ta có thể đi đến những kết luận sau đây:
1 Đại biểu Quốc hội là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội Đại biểu Quốc hội mang một bản chất kép, vừa là người của nhân dân, hoà đồng với thực tế xã hội, cảm thông, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, vừa là một thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội Hoạt động của đại biểu Quốc hội giúp chuyển giao ý chí, quyền lực từ hàng triệu con tim, khối
óc cử tri trở thành quyền lực của nhà nước, tạo ra bản chất của dân, do dân,
vì dân của nhà nước
2 Đại biểu Quốc hội nước ta ra đời trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc Ngay từ khi ra đời, đại biểu Quốc hội nước ta đã là người đại diện cho nhân dân cả nước, do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra qua bầu cử phổ thông Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9/11/2005 đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của đại biểu Quốc hội
3 Ngay sau khi giành được độc lập, đất nước lại trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt Trong 20 năm chiến tranh và 10 năm sau đó, chúng ta áp dụng mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung để phát triển kinh tế xã hội Nền kinh tế này đã phát huy mặt tích cực, đặc biệt là trong thời chiến, tạo điều kiện tập trung và huy động mọi nguồn lực phục vụ nhiệm vụ ưu tiên
Trang 23số 1 là giải phóng đất nước Tuy nhiên, nền kinh tế này với những đặc thù của nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung có ít việc để làm, hoạt động hình thức, vai trò
mờ nhạt Đặc điểm cơ bản của đại biểu Quốc hội thời kỳ này là:
+ Mặc dù Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội đã quy định về các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của Quốc hội và cá nhân đại biểu Quốc hội nhưng mới chỉ dừng lại ở những tuyên bố pháp lý do thiếu những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, cơ chế và những quyền năng cụ thể để thực hiện
+ Pháp luật thiếu các quy định về trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội, do vậy sự năng động, sáng tạo của từng đại biểu Quốc hội không được phát huy Thay vào đó là cơ chế trách nhiệm tập thể, hoạt động theo tập thể trong các hoạt động lập pháp, giám sát Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập ở các địa phương để tổ chức các hoạt động tập thể cho đại biểu Quốc hội ở địa phương Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập
để giúp việc tập trung cho đại biểu Quốc hội trong Đoàn
+ Hầu hết các đại biểu Quốc hội là các công chức hành chính kiêm nhiệm, hoạt động đại biểu mang tính hình thức, thời vụ, chủ yếu tập trung trong thời gian hai kỳ họp hàng năm Tính thời vụ trong hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội làm nảy sinh chế định về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, một cơ quan trực thuộc Quốc hội, thay mặt Quốc hội giải quyết mọi vấn
đề trong thời gian Quốc hội không nhóm họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội được pháp luật trao cho những quyền lực rất lớn, tương tự quyền lực của một Quốc hội thu nhỏ
+ Bầu cử đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung không hướng tới lực chọn những cá nhân xuất sắc, có năng lực mà cốt lựa chọn đủ thành phần, cơ cấu theo kế hoạch đã định sẵn để đảm bảo tính đại diện hình thức của Quốc hội Mặc dù quyền tự do bầu cử của nhân dân được pháp luật quy định rất rõ ràng và tiến bộ, nhưng các quy định về quyền ứng
Trang 24cử lại được giới hạn Ứng cử viên được phân bổ theo một cơ chế tương tự
“cơ chế cấp hạn ngạch” về từng cơ quan, tổ chức để giới thiệu Các hội nghị hiệp thương sơ tuyển ứng cử viên theo những tiêu chí pháp luật định sẵn, không dựa trên chương trình hành động và những cam kết của đại biểu
Trang 25CHƯƠNG 2 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐÒI HỎI ĐỐI VỚI
QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Nếu cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp tích cực trong thời chiến, thì cơ chế thị trường là lựa chọn đúng đắn để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời bình Kinh tế thị trường với những quy luật (giá trị, cung cầu, cạnh tranh) và giá trị (tự do kinh doanh, khích lệ tính năng động, sáng tạo, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế) đã
mở ra một không gian lớn cho các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hiệp hội phát huy hết khả năng của mình trong lao động, tạo ra nhiều của cải ngày càng đa dạng cho xã hội, thúc đẩy sự thịnh vượng
Trong bối cảnh đó, mô hình nhà nước tập trung quyền lực và can thiệp sâu vào đời sống kinh tế xã hội bằng mệnh lệnh hành chính không còn phù hợp nữa Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tìm ra một mô hình Nhà nước phù hợp để không chỉ thực hiện chức năng duy trì trật tự và công bằng xã hội, mà còn phát huy các giá trị tích cực của kinh tế thị trường, thúc đẩy thịnh vượng xã hội
2.1 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
2.1.1 Các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
Trong lịch sử đã tồn tại nhiều mô hình nhà nước: Từ những bộ lạc mông muội đến những nhà nước dã man như nhà nước chiếm hữu nô lệ, những đế chế tập quyền liên tục mở rộng biên giới lãnh thổ bằng bạo lực và
nô dịch các dân tộc khác, mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước cộng hoà v.v Nhà nước pháp quyền và học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời trong cách mạng tư sản ở Châu Âu, tuy nhiên, do đã tiếp thu và hấp thụ vào mình nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại về xây dựng nhà nước như tư tưởng pháp quyền, phân chia quyền lực, dân chủ, nhân đạo, công bằng, bảo vệ quyền con người v.v nên học thuyết về xây dựng Nhà nước pháp quyền trở thành một học thuyết có giá trị cao, là tài sản chung của nền văn minh nhân
Trang 26loại, mà mọi nhà nước trên con đường phát triển đều hướng tới, không phân biệt chế độ chính trị
So với các mô hình nhà nước khác trong lịch sử, Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền pháp luật là tối thượng Tính tối thượng của pháp luật được thể hiện trước hết ở quyền tối thượng của Hiến pháp Hiến pháp khi đã được cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thông qua, tất cả các định chế, cá nhân trong bộ máy nhà nước đều phải ủng
hộ và tuân thủ hiến pháp Tất cả các văn bản pháp luật, các quyết định hành chính, các bản án của cơ quan tư pháp đều phải phù hợp với quy định của Hiến pháp Nhà nước pháp quyền có cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi hiến Tính tối thượng của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật
là cơ sở, là hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Pháp luật giới hạn quyền lực, mọi cơ quan, cán bộ công chức nhà nước chỉ được hành động trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật quy định Tính tối thượng của pháp luật phải được hiểu là pháp luật đứng trên nhà nước, nhà nước không thể tuỳ tiện sửa đổi pháp luật để phục vụ nhu cầu của mình hay của đội ngũ công chức Quyền lập pháp phải được trao cho một cơ quan đại diện mạnh mẽ của nhân dân
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền có cơ chế hữu hiệu giới hạn và kiểm soát quyền lực Quyền lực nhà nước nếu chỉ giới hạn bằng pháp luật thôi thì chưa đủ Pháp luật không tự nhiên sinh ra, không tự động thi hành Chính con người làm ra pháp luật, chính con người thi hành pháp luật và cũng chính con người giải thích pháp luật Vì vậy, khi có quyền lực trong tay, con người cũng có thể vượt ra ngoài pháp luật hoặc bóp méo nó Như vậy, bên cạnh một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phân định rõ ràng thẩm quyền của các chủ thể quyền lực, Nhà nước pháp quyền còn cần một cơ chế dùng con người để giới hạn và kiểm soát quyền lực của cong người, dùng đam mê quyền lực của người này để đối trọng và kiểm soát đam mê quyền lực của
Trang 27người khác Đó là cơ chế phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước pháp quyền
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền thúc đẩy dân chủ, bảo vệ lợi ích cộng đồng Dân chủ là bản chất của Nhà nước pháp quyền vừa là giá trị được Nhà nước pháp quyền đảm bảo, thúc đẩy Nhà nước pháp quyền chỉ có điều kiện xuất hiện khi xã hội đã đạt đến trình độ dân chủ nhất định, nhân dân ý thức được các quyền chính trị của mình, cùng nhau thông qua bầu cử lập ra cơ quan đại diện và hình thành nên nhà nước, trao cho nhà nước nguồn quyền lực to lớn từ thiện ý và nguyện vọng của cộng đồng Nhà nước pháp quyền khi đã được thành lập sẽ hướng tới bảo vệ và thúc đẩy các giá trị dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua hệ thống pháp luật hoàn thiện, có hiệu lực, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đồng thời thúc đẩy tính dân chủ trong chính tổ chức và hoạt động của nhà nước Mặc khác, Nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền lợi của cộng đồng Nhà nước pháp quyền sinh ra từ quyền lực và ý nguyện của nhân dân, vì nhân dân phục vụ Tính phục vụ được thể hiện trong các quy định của pháp luật, trong mọi hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước, theo đó quyền lợi và sự thuận tiện trong lao động và sinh hoạt của mọi người dân phải được đặt lên trên nhu cầu và khả năng quản lý của nhà nước, không vì lý do thiếu năng lực quản lý
mà giới hạn sự phát triển của xã hội
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền lợi của thiểu số, những người dễ bị tổn thương Con người sinh ra và lớn lên vốn đã không bình đẳng về thể chất, về trí tuệ, về điều kiện, hoàn cảnh sống
Do vậy, nhà nước không nên làm cho vấn đề trở nên xấu hơn Nhà nước pháp quyền là nhà nước nhân đạo và công bằng Nhà nước pháp quyền đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo cho mọi người cơ hội để thực hiện các quyền và nghĩa vụ, phát huy tối đa năng lực của mình Nhà nước pháp quyền bảo vệ chặt chẽ quyền con người, cả các quyền chính trị dân sự lẫn các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội Không
Trang 28những thế, Nhà nước pháp quyền tuy là nhà nước được lập ra bởi đa số, nhưng là nhà nước đại diện chung cho toàn xã hội, vì vậy có trách nhiệm bảo
vệ mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là những thiểu số yếu đuối, dễ bị tổn thương Quyền lực cưỡng chế của nhà nước là quyền lực xã hội mạnh mẽ nhất và cũng đáng sợ nhất, nhưng trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực đó được sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích của mọi người
Trên cơ sở phân tích các đặc trưng cơ bản, có thể rút ra định nghĩa về
Nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được tổ
chức và xây dựng trên những nguyên tắc và thủ tục mà ở đó tính tối thượng của pháp luật được đảm bảo, quyền lực nhà nước được kiểm soát, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích của công dân, của các nhóm thiểu số được bảo đảm
2.1.2 Lý do chọn mô hình nhà nước pháp quyền
Quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nền kinh
tế thị trường đã mở ra thời kỳ phát triển kinh tế năng động, khuyến khích được đông đảo nhân dân phát huy giá trị lao động, tham gia hoạt động kinh doanh, làm ra ngày càng nhiều nhiều của cải vật chất có giá trị, nâng cao mức sống, thúc đẩy sự thịnh vượng của xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình nhà nước cũ kỹ xây dựng trong thời
kỳ kinh tế kế hoạch hoá, tập trung không còn phù hợp nữa Nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu đổi mới thượng tầng kiến trúc xã hội, tìm ra một mô hình nhà nước phù hợp để không những quản lý xã hội có hiệu quả, mà còn khuyến khích mọi cá nhân phát huy hết khả năng của mình trong lao động, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, bảo đảm công lý, công bằng, phát huy dân chủ và sự đa dạng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước không can thiệp thô bạo bằng mệnh lệnh hành chính vào các quan hệ kinh tế Kinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước quản lý bằng pháp luật và đảm bảo tính tối thượng của pháp luật
Trang 29Nhà nước là một bộ máy do con người lập ra, do con người vận hành,
vì vậy nó phản ánh sâu sắc bản chất con người Khác với thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, kinh tế thị trường mở ra một không gian tự do, dân chủ; con người trong nền kinh tế thị trường năng động hơn, sắc sảo hơn, nhiều nhu cầu hơn, nhiều niềm đam mê hơn, trong đó có cả niềm đam mê giàu có, đam mê lợi nhuận và cả đam mê quyền lực Một người bình thường khi đã có quyền lực trong tay sẽ đi đến tận cùng giới hạn của quyền lực và luôn tìm mọi cách để phá vỡ giới hạn đó, thiết lập một giới hạn mới rộng hơn, đồng nghĩa với nhiều quyền lực hơn Mặt khác, Nhà nước là tổ chức độc quyền về quyền lực cưỡng chế, một quyền lực đáng sợ khi bị sử dụng tuỳ tiện Quyền lực nhà nước theo tuyên bố của Hiến pháp là thuộc về nhân dân, nhưng để thực hiện nó trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày của xã hội, quyền lực đó được cụ thể hoá, được chia nhỏ ra thành hàng ngàn, hàng vạn quyền năng và trao vào tay những cá nhân xác định trong bộ máy nhà nước
Để những cá nhân này luôn sử dụng quyền lực đúng mục đích, không lạm dụng để mưu cầu tiền bạc, danh vọng, quyền uy, Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi cơ chế giới hạn quyền lực Quyền lực nhà nước phải được giới hạn bằng pháp luật và bằng phương thức tổ chức bộ máy nhà nước Pháp luật phải là tối thượng Pháp luật định ra các hành lang pháp lý, quy định thẩm quyền của các cơ quan và công chức nhà nước Các cơ quan, công chức này chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Ngoài ra, các cơ quan trong bộ máy nhà nước được tổ chức đối trọng và kiểm soát lẫn nhau trong hoạt động Lợi ích, danh vọng, thẩm quyền quyền của cán bộ, công chức, hệ thống cơ quan nhà nước này được kết dính ngược chiều với thẩm quyền, lợi ích, niềm đam mê của cán bộ, công chức hay hệ thống cơ quan nhà nước kia tạo ra động cơ kiểm soát lẫn nhau và cơ chế đối trọng quyền lực
Kiểm soát quyền lực, tính tối thượng của pháp luật là chưa đủ, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn đòi hỏi nhà nước phải
Trang 30phục vụ lợi ích cộng đồng, thúc đẩy đa dạng xã hội Nền kinh tế thị trường khuyến khích cá nhân phát huy hết khả năng của mình trong lao động, sáng tạo ra của cải vật chất có ích cho xã hội, có khả năng trở thành hàng hoá lưu thông trên thị trường Bản chất của nền kinh tế thị trường khuyến khích thúc đẩy đa dạng xã hội Mặt khác, các cá nhân tham gia thị trường, cạnh tranh với nhau, thi đua lao động tạo ra giá trị, làm nảy sinh nhu cầu hợp tác, liên kết, hình thành một mạng lưới các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp, đoàn thể
đa dạng, phong phú và phức tạp, tạo ra dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, làm nảy sinh nhu cầu dân chủ trong quản lý nhà nước, dân chủ chính trị
Kinh tế thị trường bên cạnh mặt tích cực còn có những khuyết tật Sự đam mê lợi nhuận của các cá nhân, doanh nghiệp thường đi đến chỗ vi phạm, bất chấp lợi ích của cộng đồng Khuyết tật này nằm trong bản chất do vậy cơ chế thị trường tự thân không giải quyết nổi, cần phải có nhà nước tham gia điều tiết, bảo vệ lợi ích công cộng, đảm bảo công bằng xã hội Cơ chế kinh tế thị trường khuyến khích được mọi cá nhân phát huy tối đa khả năng của mình, nhưng con người sinh ra đã bất bình đẳng về thể chất, khả năng trí tuệ và điều kiện, hoàn cảnh sống Trong khi đại bộ phận đời sống nhân dân khá lên, thì trong các lĩnh vực khác nhau, có một bộ phận thiểu số trở nên dễ bị tổn thương, dễ bị xâm phạm về các quyền cơ bản và lợi ích hợp pháp Vì vậy, cần phải có nhà nước để bảo vệ quyền con người, quyền của
cá nhân, thiểu số trước đa số
Nhà nước pháp quyền với những ưu điểm của mình về quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời đảm bảo tính tối thượng của pháp luật, kiểm soát được quyền lực, thúc đẩy dân chủ, bảo vệ quyền con người do vậy là mô hình phù hợp để đáp ứng các đòi hỏi kể trên và là sự lựa chọn đúng đắn trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tư tưởng và những căn dặn của Hồ Chủ tịch “việc gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”
Trang 31Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đã quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
2.2 NHỮNG ĐÒI HỎI CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ĐỐI VỚI QUỐC HỘI
VÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
2.2.1 Những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đối với Quốc hội
Nhà nước pháp quyền là nhà nước dân chủ, nhân đạo, bảo vệ quyền con người, nhà nước có pháp luật giữ vai trò tối thượng và quyền lực nhà nước được kiểm soát Một Nhà nước như vậy đặt ra những yêu cầu gì đối với Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước? Theo chúng tôi, Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần đáp ứng những đòi hỏi sau đây:
2.2.1.1 Quốc hội phải trở thành một trung tâm quyền lực mạnh đối trọng với các trung tâm quyền lực khác Pháp luật và cơ chế đối trọng
giữa các trung tâm quyền lực sẽ tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nền tảng để đảm bảo tính pháp quyền
Không riêng gì Hiến pháp Việt Nam, Hiến pháp các nước trên thế giới đều có những tuyên bố khoa trương về quyền lực của Quốc hội hoặc quyền lực của người đứng đầu chính thể, nhưng trên thực tế, hoạt động của các đảng phái chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và thủ tục vận hành quyền lực nhà nước đã tạo ra một bức tranh khác Đặc điểm về tổ chức của Nhà nước pháp quyền tạo ra ba trung tâm quyền lực: Lập pháp, hành pháp
và tư pháp Trong nền chính trị đặc thù của nước ta còn hình thành một trung tâm quyền lực thứ tư là Đảng cộng sản Việt Nam Cụ thể:
Trang 32Cơ quan lập pháp: nắm các quyền liên quan đến xây dựng và ban hành pháp luật, giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan hành pháp Những quyền năng này có đặc điểm là không thể thực hiện được bởi một cá nhân mà chỉ có thể hiện thực hoá được thông qua hoạt động của tập thể các thành viên cơ quan lập pháp với địa vị pháp lý bình đẳng Vì vậy hiệu quả thực hiện các quyền năng này phụ thuộc vào địa vị pháp lý, sự năng động của các thành viên, đồng thời phải có cơ chế hữu hiệu để họ có thể liên kết lại với nhau
Cơ quan hành pháp: nắm các quyền liên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật, quản lý hành chính Các quyền này thường mang tính chất
“ra lệnh”, gắn liền với các cá nhân cụ thể, là người đứng đầu các cơ quan trong bộ máy hành pháp (Thủ tướng, các Bộ trưởng v.v.) Vì gắn liền với các
cá nhân nên những quyền này luôn có nguy cơ bị sử dụng theo ý chí chủ quan, tuỳ tiện, đi chệch hướng Hơn nữa, các quyền năng này còn được bảo đảm bởi điều kiện vật chất dồi dào và bộ máy hành chính gồm đông đảo các công chức có trình độ và kinh nghiệm Do vậy, trong nhà nước pháp quyền, hành pháp cần phải được giám sát chặt chẽ bởi cơ quan lập pháp và chịu sự phán xử của toà án về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính
Cơ quan tư pháp: nắm các quyền về xét xử, phân định một hành vi là phù hợp hay vi phạm pháp luật Địa chỉ cụ thể của quyền tài phán này không nằm ở hệ thống cơ quan tư pháp hay tập thể các thành viên của nó, mà nằm trong tay một hay một số thẩm phán trong những tình huống cụ thể, nhân danh Nhà nước thực hiện quyền xét xử Các quyết định của thẩm phán chỉ đảm bảo tính vô tư, khách quan khi họ không chịu bất kỳ sức ép nào từ phía các cơ quan nhà nước khác Như vậy, tính độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử là điều kiện tiên quyết cho hoạt động của cơ quan tư pháp có hiệu quả, đảm bảo tính tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền
Đảng cộng sản Việt Nam: là nơi sản sinh ra các ý tưởng Đảng nắm quyền lãnh đạo, đề ra chủ trương, chính sách lớn thúc đẩy sự phát triển xã
Trang 33hội và quyền giới thiệu đảng viên ứng cử vào các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước Ở các nước có nhiều đảng chính trị hoạt động, đảng không hình thành nên một trung tâm quyền lực mà chỉ là một tổ chức lỏng lẻo của những người có cùng chính kiến Đảng cầm quyền luôn chịu sự chỉ trích gay gắt của các đảng đối lập vì vậy cho dù có các thành viên trong các vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước, cũng không hình thành quyền lực riêng của Đảng Nước ta có đặc thù Đảng cộng sản Việt Nam là duy nhất lãnh đạo nhà nước, được tổ chức chặt chẽ, có bộ máy từ trung ương đến địa phương, có đảng viên tham gia vào hầu hết các vị trí chủ chốt của nhà nước, vì vậy, quyền lực của Đảng là khách quan Trong hai quyền năng của Đảng (quyền lãnh đạo và quyền giới thiệu đảng viên ứng cử vào các chức vụ chủ chốt của Nhà nước) thì quyền thứ hai, về lý thuyết ít quan trọng hơn, nhưng trên thực
tế là quyền có trọng lượng, tạo ra sức mạnh và quyền uy của Đảng Trong điều kiện một Đảng, sự giới thiệu này gần như là chắc chắn Giới công chức thường có câu “Cả đời phấn đấu không bằng một lần cơ cấu”, phần nào chứng minh cho sức mạnh thực tiễn của quyền năng này Nhà nước pháp quyền đòi hỏi có những quy định cụ thể của pháp luật để đảm bảo tính độc lập và sự đối trọng của các hệ thống cơ quan nhà nước với hệ thống cơ quan của Đảng Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp, bao biện, làm thay công việc thuộc thẩm quyền của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nếu vi phạm thì cũng bị xét xử tại toà án như các tổ chức khác
Để đảm bảo cho cơ chế đối trọng giữa các trung tâm quyền lực này vận hành, pháp luật trong nhà nước pháp quyền trước hết phải quy định địa
vị pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục cụ thể hoá các quyền năng cho từng
hệ thống cơ quan; mặt khác phải đảm bảo tính độc lập của chúng
Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước cần đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng và duy trì cơ chế đối trọng, góp phần kiểm soát quyền lực, đảm bảo Nhà nước pháp quyền
Trang 34hoạt động có hiệu quả Vai trò của Quốc hội được thể hiện qua những mối quan hệ cơ bản sau đây:
Trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp, Quốc hội là cơ quan ban hành pháp luật, là nguồn để cơ quan nhà nước tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của cơ quan hành pháp Quốc hội còn là cơ quan giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan hành pháp, giám sát tính hiệu quả trong hoạt động của Chính phủ Quốc hội bầu, thông qua các chức danh chủ chốt trong Chính phủ và đòi hỏi những người giữ cương vị đó phải chịu trách nhiệm các nhân trước Quốc hội về hiệu quả và chất lượng quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện pháp luật Quốc hội quyết định ngân sách nhà nước, định hướng hoạt động của các cơ quan hành pháp
Để đảm bảo sự độc lập của Quốc hội đối với cơ quan hành pháp, các đại biểu Quốc hội trong nhà nước pháp quyền phần lớn không phải là công chức kiêm nhiệm đại biểu
Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, Quốc hội, thông qua hoạt động lập pháp, cần đảm bảo cho các thẩm phán địa vị pháp lý và điều kiện hoạt động độc lập, tránh được ảnh hưởng, sức ép từ bất kỳ trung tâm quyền lực nào trong bộ máy nhà nước Thẩm phán khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật là lương tâm Thẩm phán một khi được bổ nhiệm sẽ làm việc suốt đời hoặc đến một độ tuổi nhất định, không bị bãi chức vì bất kỳ lý do gì, trừ những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng do pháp luật quy định Điều kiện vật chất cho hoạt động xét xử, lương bổng của thẩm phán phải được đảm bảo để họ có thể sống đúng với phẩm giá của mình, không đánh mất đạo đức, lương tâm vì lý do tồn tại
Trong mối quan hệ với Đảng, Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện của nhân dân cả nước cần đóng vai trò giúp Đảng làm rõ và phản biện tích cực các ý tưởng, chủ trương, chính sách của Đảng trên cơ sở tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, giúp đường lối lãnh đạo, chính sách của Đảng ngày càng gần với nhân dân và thực tiễn xã hội Khác với các nước
Trang 35khác, nước ta chỉ có một Đảng nên nhu cầu về một tổ chức độc lập phản biện các ý tưởng, chủ trương lãnh đạo là khách quan Quốc hội với các thành viên là người đại diện của nhân dân, gần gũi, sâu sát, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là cơ quan duy nhất có khả năng thực hiện tốt điều này Phản biện không phải là chống hay cản trở các chủ trương, chính sách của Đảng mà là làm cho chủ trương đó chính xác hơn, gần gũi hơn với nhân dân, với xã hội, góp phần làm cho Đảng mạnh lên, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Muốn vậy, điều kiện cần là pháp luật và Điều lệ Đảng trong Nhà nước pháp quyền phải cho phép những đảng viên tham gia Quốc hội được quyền phát biểu và hành động độc lập, trong khuôn khổ quy định của pháp luật và nguyên tắc chung của Đảng Khi thấy những chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng chưa thực sự phù hợp với tình hình, điều kiện phát triển của đất nước, Quốc hội có quyền ra Nghị quyết kiến nghị Đảng xem xét, sửa đổi cho phù hợp
Việc dân chủ hoá xã hội, bộ máy nhà nước và hoạt động của Quốc hội
do vậy gắn liền với việc đổi mới và nâng cao dân chủ trong hoạt động của Đảng
2.2.1.2 Nhà nước pháp quyền đòi hỏi Quốc hội thực hiện tốt chức năng đại diện
Đại diện là chức năng của Quốc hội lâu nay vẫn bị lãng quên Nhà nước pháp quyền đỏi hỏi Quốc hội phải thực hiện tốt chức năng đại diện, phải liên hệ chặt chẽ với xã hội, với nhân dân Điều này được thể hiện trước hết ở mối liên hệ giữa cử tri và đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội phải chứng tỏ được mình thực sự xứng đáng là người đại diện của cử tri, thực sự cần thiết cho cử tri, là nơi cử tri tìm đến không chỉ khi có bức xúc về chính sách, pháp luật của nhà nước mà còn có thể qua đó chuyển tải ý kiến đóng góp của mình nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật, cơ chế hoạt động của Nhà nước
Trang 36Mối liên hệ chặt chẽ với xã hội, với cử tri còn thể hiện qua sự gần gũi
và hợp tác chặt chẽ giữa Quốc hội đối với các cơ quan thông tấn, báo chí Các cơ quan thông tin đại chúng cần được mời tham dự và đưa tin về hoạt động của của Quốc hội, hoạt động của các Uỷ ban, trừ khi Quốc hội thảo luận về những vấn đề thuộc bí mật nhà nước, giúp hoạt động của Quốc hội ngày càng minh bạch, công khai, gần gũi với cử tri Hơn nữa, đây cũng là kênh thông tin quan trọng nhất để đông đảo cử tri theo dõi, giám sát hoạt động thực chất của những người đại diện của mình, đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm cá nhân của đại biểu trong công việc Báo chí đưa Quốc hội gần với nhân dân cũng chính là góp phần tăng cường quyền lực của Quốc hội Quốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân, quyền lực của Quốc hội là quyền lực nhân dân uỷ nhiệm, do vậy, chỉ khi gần gũi nhân dân, công khai, minh bạch trước nhân dân thì quyền lực đó càng được phát huy mạnh mẽ
Ngoài ra, mối liên hệ với xã hội còn thể hiện ở hoạt động vận động hành lang (lobby) nhộn nhịp tại Quốc hội Lâu nay, thuật ngữ “vận động” thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, tuy nhiên, bản chất quyền lực của Quốc hội là quyền lực tập thể, quyền lực này đòi hỏi sự hưởng ứng, nhất trí của đa số Sự nhất trí này không phải tự nhiên mà có được mà thường được tạo ra qua quá trình thảo luận, chứng minh, thuyết phục, vận động Quyền lực của Quốc hội do vậy phải gắn liền với hoạt động vận động, thuyết phục thì mới hiệu quả và thực chất Do vậy, bên cạnh việc xây dựng cơ chế vận động, thuyết phục giữa các đại biểu để thực hiện quyền của mình, Quốc hội cần cho phép cử tri và đại diện của họ được vận động đại biểu Quốc hội, Quốc hội trong quá trình xây dựng pháp luật, giám sát, quyết định các vấn
đề quan trọng Tuy nội dung vận động của từng cá nhân, nhóm cá nhân, nhóm lợi ích thường thiên về đóng góp những ý tưởng có lợi cho mình vào pháp luật, chính sách, nhưng bản thân điều đó cũng phản ánh một phần nhu cầu của xã hội, góp phần cân bằng với những đòi hỏi từ phía các nhóm cử tri
Trang 37tham gia tiếp xúc, gặp gỡ đại biểu Quốc hội Vả lại, với một số lượng đông đảo các nhóm lợi ích đại diện cho nhiều tầng lớp trong xã hội tham gia vào quá trình làm luật, quyết định chính sách tại Quốc hội sẽ giúp cho hoạt động lập pháp, giám sát sôi động hơn, ý kiến phản biện, đóng góp đa dạng hơn, góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động này
2.2.1.3 Nhà nước pháp quyền đòi hỏi Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp và giám sát
* Lập pháp
Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí tối thượng Tất cả mọi công dân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước đều hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, tôn trọng pháp luật và chịu sự phán xử của cơ quan tư pháp
mà không có ngoại lệ Để thực hiện được điều đó cần có một hệ thống pháp luật hoàn thiện được xây dựng bởi một cơ quan lập pháp hoạt động hiệu quả Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền phải là một cơ quan lập pháp mạnh với các thành viên năng động, có năng lực lập pháp, không lệ thuộc hoàn toàn vào cơ quan hành pháp trong việc đưa ra sáng kiến xây dựng pháp luật Quốc hội có một hệ thống uỷ ban hoạt động thường xuyên và hiệu quả Phần lớn hoạt động và thời gian lập pháp của Quốc hội, từ việc đề xuất sáng kiến lập pháp, hoàn chỉnh dự thảo, phản biện, thẩm tra sẽ diễn ra tại các uỷ ban này, để đảm bảo dự thảo luật khi trình ra Quốc hội để thông qua là một dự thảo sạch, có chất lượng cao, loại bỏ hoàn toàn các tranh luận về tiểu tiết, câu chữ, văn phong, kỹ thuật pháp lý v.v tại phiên họp toàn thể
Quyền lực của Quốc hội mang tính tập thể Nhà nước pháp quyền đòi hỏi Quốc hội có cơ chế giúp các đại biểu Quốc hội liên kết với nhau trong hoạt động lập pháp, cho phép đại biểu Quốc hội quyền vận động, thuyết phục, tranh luận nhằm đưa ý kiến về giải pháp chính sách của mình vào pháp luật Có như vậy, ý chí và nguyện vọng của nhân dân thông qua đại biểu Quốc hội có thể đi vào pháp luật Ngoài ra, Quốc hội phải có cơ chế để mọi
tổ chức, hiệp hội, trường đại học, chuyên gia, nhà nghiên cứu pháp lý, cơ
Trang 38quan thông tấn báo chí v.v quan tâm đến hoạt động lập pháp được mời tham gia và góp ý kiến và đưa tin về hoạt động xây dựng pháp luật tại các Uỷ ban, tạo sự gắn kết liên tục giữa Quốc hội với xã hội
* Giám sát
Để đảm bảo tính tối thượng của pháp luật, bên cạnh việc ban hành một hệ thống pháp luật tốt, Nhà nước pháp quyền còn đòi hỏi Quốc hội phải thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát việc thi hành pháp luật Trọng tâm hoạt động giám sát của Quốc hội là giám sát việc tổ chức thực hiện và thi hành pháp luật của Chính phủ nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ
Hoạt động giám sát trước hết đòi hỏi Quốc hội phải cân bằng được các nguồn thông tin thông qua việc tăng cường mối liên hệ với cử tri cả nước, có cơ chế khai thác nguồn thông tin từ các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức điều tra, nghiên cứu độc lập, tránh tình trạng lệ thuộc vào các báo cáo của Chính phủ Hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ cần diễn ra thường xuyên hơn, không chỉ tại phiên họp toàn thể Quốc hội
mà có thể diễn ra ở các Uỷ ban, dưới nhiều hình thức đa dạng với sự tham gia đưa tin của các phương tiện thông tin đại chúng Giám sát chỉ có hiệu quả thực sự khi gắn liền với việc hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm Vì vậy, cần
có cơ chế hữu hiệu để đại biểu Quốc hội có thể thực hiện được quyền này của mình, tạo thành cơ chế đối trọng, kiểm soát và tăng trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ trước Quốc hội, trước nhân dân
2.2.1.4 Nhà nước pháp quyền đòi hỏi hoạt động của Quốc hội phải mang tính chuyên nghiệp, phát huy bản tính cẩn trọng
Tính chuyên nghiệp trong hoạt động đòi hỏi trước hết Quốc hội phải độc lập, độc lập cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Thứ nhất Quốc hội phải tách rời hành pháp, khối đại biểu chuyên trách làm công việc của Quốc hội phải vượt trội số đại biểu cầm quyền Theo chúng tôi, tỷ lệ đại biểu Quốc hội
Trang 39chuyên trách tối thiểu phải là 80% Thứ hai, Quốc hội phải có thực quyền và
có năng lực để đảm bảo ra quyết định một cách độc lập, tránh Quốc hội hình thức, chỉ biết bấm nút thông qua những gì đã được quyết định
Tính chuyên nghiệp trong hoạt động đòi hỏi Quốc hội phải duy trì sự hiện diện thường xuyên của mình trong quá trình vận hành của bộ máy nhà nước Nhà nước pháp quyền không chấp nhận cơ quan một cơ quan quyền lực cao nhất lại hoạt động xuân thu nhị kỳ Muốn vậy, phải đa dạng hoá hình thức hoạt động của Quốc hội Quốc hội không chỉ hoạt động ở Hội trường
mà cần phát huy vai trò của các Uỷ ban Quốc hội, theo đó đa số khối lượng công việc lập pháp, giám sát, thảo luận, phản biện các vấn đề quan trọng sẽ được các đại biểu Quốc hội giải quyết chủ yếu tại các Uỷ ban của Quốc hội Phiên họp toàn thể Quốc hội chỉ dành để thực hiện chức năng ra quyết định Các Uỷ ban cung cấp cho Quốc hội những tri thức chuyên sâu, các kỹ năng
và cơ cấu tổ chức cần thiết để xử lý những vấn đề mang tính kỹ thuật và ngày càng phức tạp cả trong nước và quốc tế Các Uỷ ban cũng là một diễn đàn cho sự tham gia rộng rãi của báo chí, các nhóm lợi ích, các nhóm cử tri
đa dạng trong giai đoạn xây dựng dự án luật của quy trình lập pháp Khi Quốc hội và các Uỷ ban đi vào hoạt động thực chất, thường xuyên cũng có nghĩa là không cần thiết phải có một cơ quan thường trực như Uỷ ban thường vụ Quốc hội và vai trò của Văn phòng Quốc hội ngày càng lớn, hỗ trợ tích cực các đại biểu Quốc hội và các Uỷ ban trong hoạt động
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện tối cao của nhân dân Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số Quyền lực của Quốc hội do vậy là quyền lực tập thể, chỉ phát huy được khi có đa số thành viên đồng lòng Muốn vậy, Quốc hội phải
có cơ chế để các thành viên liên kết lại với nhau, phát huy sức mạnh và ý chí tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân Một cơ chế như vậy phải bảo đảm trước hết quyền đề xuất, thuyết phục, vận động của một hoặc một nhóm thành viên đối với những thành viên khác
Trang 40Tính chuyên nghiệp còn đòi hỏi sự chuyên sâu trong hoạt động của Quốc hội Quốc hội thực quyền là Quốc hội phải có chuyên môn Hoạt động lập pháp, giám sát hay khi quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thường đòi hỏi tính chuyên môn, chuyên sâu rất cao trong từng lĩnh vực cụ thể Trong khi đó, tập thể Quốc hội không thể có kiến thức chuyên môn về tất cả các lĩnh vực Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi Quốc hội phải chuyên môn hoá các uỷ ban của mình, có bộ máy giúp việc chuyên nghiệp, có cơ chế thuê chuyên gia tư vấn, sử dụng các viện nghiên cứu độc lập, huy động
sự tham gia của các trường đại học v.v
Ngoài ra, Nhà nước pháp quyền còn đòi hỏi Quốc hội có tính cẩn trọng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước, mọi quyết định của Quốc hội đều liên quan đến sự phát triển nhanh chậm của quốc gia, đến quyền lợi của hàng triệu người, vì vậy phải cân nhắc thận trọng trước khi quyết định Hơn nữa, Quốc hội là cơ quan hoạt động tập thể, cách thức làm việc của Quốc hội là sự thảo luận, bàn bạc, tính toán một cách
kỹ lưỡng, thấu đáo, điều đó góp phần tạo nên bản tính của Quốc hội là tính cẩn trọng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi Quốc hội trong mọi hoạt động phải phát huy bản tính cẩn trọng Muốn vậy, Quốc hội phải có cơ chế làm việc quả, vừa đảm bảo tiến độ công việc, vừa đảm bảo sao cho một vấn đề quan trọng hay một dự luật phải được xem xét ít nhất hai lần tại phiên họp toàn thể Quốc hội và phải được xem xét kỹ lưỡng, nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau (thẩm tra, phản biện, điều trần) tại các Uỷ ban của Quốc hội
2.2.2 Những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đối với đại biểu Quốc
hội
Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền là cơ quan đại diện thực sự của nhân dân, thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát, hoạt động chuyên nghiệp và là trung tâm của nền dân chủ đại diện Một Quốc hội như vậy đặt
ra những yêu cầu hoàn thiện lớn lao đối với các thành viên của mình