hiện nay", Luận án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM KIM DUNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
Ở THÀNH PHỐ HÀ HỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM KIM DUNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
Ở THÀNH PHỐ HÀ HỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2010
Trang 31.1 Khái quát về giáo dục pháp luật 6
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức hành chính
6
1.1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật 10
1.1.3 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật 12
1.1.4 Chủ thể, khách thể, đối tượng giáo dục pháp luật 16
1.1.5 Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị tư
tưởng, giáo dục đạo đức và các dạng giáo dục khác
18
1.2 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính 21
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức hành chính 21
1.2.2 Đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức hành chính
Trang 41.3.2 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho cán
áp dụng pháp luật
48
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
49
2.1 Khái quát về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ở
thành phố Hà Nội
49
2.1.1 Thực trạng về công tác giáo dục pháp luật ở thành phố Hà
Nội trong thời gian qua
49
2.1.2 Những kết quả của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức hành chính ở thành phố Hà Nội
56
2.2 Những ưu điểm và các mặt hạn chế trong công tác giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà
Nội trong thời gian qua
2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà Nội
73
Trang 5Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
75
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
75
3.2 Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao hiệu quả công tác
giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trên địa
bàn thành phố Hà Nội
77
3.2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội của Hà Nội trong điều kiện hiện nay
và yêu cầu giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
3.3.1 Đổi mới nội dung giáo dục pháp luật theo hướng phân rõ đối
tượng giáo dục pháp luật
3.3.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và quy định trách nhiệm cán
bộ, công chức phải thường xuyên cập nhật pháp luật
3.3.7 Xây dựng hệ thống thông tin pháp luật, tạo điều kiện để cán bộ,
công chức tiếp cận với pháp luật một cách kịp thời, chính xác
96
3.3.8 Nâng cao hiệu quả hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tham gia giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức
99
Trang 63.3.9 Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất công tác giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
104
3.3.10 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm
những vi phạm kỷ luật, pháp luật
108
3.3.11 Bảo đảm kinh phí trong công tác phổ biến pháp luật cho cán
bộ, công chức hành chính trên địa bàn
109
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ, công chức
ở thành phố Hà Nội trong những năm qua (2004 - 2009)
68
2.2 Kết quả đào tạo, bồi dưỡng các lĩnh vực khác có nội dung
pháp luật cho cán bộ, công chức ở thành phố Hà Nội
trong những năm qua (2004 - 2009)
68
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam ở mục 1 phần IX của Báo cáo Chính trị đã ghi: "Nhà nước là công
cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" [16], "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật" [16]
Để có được "Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" ở nước ta hiện nay, điều quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được một đội ngũ cán
bộ, công chức vừa có đức vừa có tài Đó là những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, có ý thức và năng lực đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, nắm vững chính sách và pháp luật của Nhà nước Giáo dục ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý, hình thành lối sống theo pháp luật là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với mọi nhà nước trong quá trình phát triển Điều 12 Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, ngoài các tiêu chí như hệ thống pháp luật phải đầy đủ, pháp luật phải nhân đạo, vì con người… thì yêu cầu giáo dục ý thức pháp luật là một nội dung quan trọng Điều này không chỉ góp phần khắc phục những tiêu cực của xã hội do ý thức pháp luật kém gây
ra, mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trật tự, ổn định và phát triển
Để quản lý được Nhà nước và xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí của một nhà nước pháp quyền, cán bộ, công chức phải được trang bị những kiến
Trang 9thức về nhà nước và pháp luật một cách đầy đủ và kịp thời Nhưng hiện nay, qua các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy: ở nhiều địa phương, việc vi phạm pháp luật, làm trái pháp luật của cán bộ, công chức không phải là ít Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm đó, có một nguyên nhân cơ bản,
đó là cán bộ, công chức chưa nắm vững kiến thức về nhà nước và pháp luật
Ở thành phố Hà Nội, những năm gần đây, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức nói chung, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục pháp luật nói riêng đã được cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương quan tâm hơn Việc mở các lớp đào tạo cán bộ, công chức tại Thành phố và tham gia thi tuyển, cử tuyển cán bộ, công chức đi học ở các
cơ sở đào tạo chuyên ngành về nhà nước và pháp luật ngày càng nhiều hơn Tuy vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục ý thức pháp luật để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước và quản lý xã hội cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay đang còn là vấn đề bức xúc Làm thế nào để tất cả cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của thành phố Hà Nội khi đã tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội phải nắm bắt, am hiểu pháp luật một cách chặt chẽ, áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, trước hết là trong lĩnh vực mình quản lý, là một vấn đề hết sức quan trọng
Qua hai năm học tập, nghiên cứu tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, kết hợp giữa lý luận đã học và thực tiễn, tôi lựa chọn đề tài: "Giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay" làm đề tài luận văn tốt nghiệp Tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào
công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ở thành phố Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu
Giáo dục pháp luật là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố, như:
"Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước
Trang 10hiện nay", Luận án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề
giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996; "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay", Luận án
phó tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, 1996; "Giáo dục pháp luật qua
hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật", Luận án phó
tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996; "Công tác tuyên truyền giáo dục pháp
luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng,
1997; "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997; "Đổi mới giáo
dục pháp luật trong hệ thống các trường Chính trị ở nước ta hiện nay", Đề tài
khoa học cấp Bộ, Khoa Nhà nước - pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 1999; "Đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở
nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Hoàng, 2000; Đề tài "Cơ
sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo luật pháp" trong chương
trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07; tác giả Đào Duy Tấn trong
luận án tiến sĩ triết học "Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức
pháp luật ở Việt Nam hiện nay", Hà Nội 2000 Một số bài viết trên các tạp
chí, như: "Làm thế nào để xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp
luật", tác giả Đào Trí Úc - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/1993; "Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống" của tác giả
Vũ Minh Giang, tạp chí Nhà nước và pháp luật 1993… Các giáo trình: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Luật hành chính của các cơ sở đào tạo luật học, hành chính cũng có một số chương đề cập đến vấn đề ý thức pháp luật
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận
và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ Tuy nhiên,
Trang 11có thể nói rằng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ và có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có hệ
thống vấn đề này trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong quá trình nghiên cứu,
luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên và các tài liệu khác có liên quan Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống việc giáo dục ý thức pháp luật nói chung và trong đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan hành chính sự nghiệp của thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Đánh giá đúng thực trạng và xác định được phương hướng, giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện việc giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính sự nghiệp của thành phố Hà Nội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa lý luận chung về giáo dục pháp luật;
- Đánh giá thực trạng của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức ở thành phố Hà Nội;
- Từ thực trạng đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, ngoài cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở địa phương còn có các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn Luận văn chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm
Trang 12tăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính của thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử ) Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, tiếp cận hệ thống
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức cơ quan hành chính; đánh giá về thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cơ bản trong công tác xây dựng ý thức pháp luật Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng dạy về nhà nước và pháp luật tại các cơ sở đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
hành chính
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trong
các cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật
cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
1.1 Khái quát về giáo dục pháp luật
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật cho cán
Xây dựng nền hành chính Việt Nam trong sạch, vững mạnh là một tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nền hành chính đó đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ công chức hành chính không chỉ vững vàng về bản lĩnh chính trị, có đạo đức, lối sống lành mạnh, mà còn phải có kiến thức, hiểu biết pháp luật ở trình độ cao
và tinh thông nghiệp vụ Cán bộ, công chức hành chính là khâu chủ yếu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước phải được cán bộ, công chức hành chính triển khai thì mới có thể đi vào trong đời sống xã hội được Cán bộ, công chức hành chính là những người trực tiếp chuyển "pháp luật trên giấy
Trang 14tờ" thành "pháp luật trong hành động" Vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật và có ý thức pháp luật ở trình độ cao để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng cho cán
bộ, công chức hành chính nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng và được coi là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật" Để mọi người dân và cán bộ, công chức hành chính có ý thức pháp luật, biết sống và làm việc theo pháp luật thì vấn đề giáo dục pháp luật phải được đặt ra một cách nghiêm túc và phải được giải quyết đúng đắn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Hiện nay, khái niệm giáo dục pháp luật được tiếp cận từ nhiều góc độ rộng, hẹp khác nhau tùy theo cơ sở xuất phát để nghiên cứu và vận dụng vào
quá trình giáo dục pháp luật cụ thể
Thứ nhất, giáo dục pháp luật được coi là một bộ phận - một hệ thống
con của hệ thống giáo dục nói chung Giáo dục pháp luật được khẳng định là một bộ phận, một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con như kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức tạo nên một hệ thống các mối quan hệ xã hội tác động đến các cá nhân, làm hình thành nên bản chất người - xã hội - lịch sử Quan niệm này về giáo dục pháp luật xuất phát từ nghĩa rộng nhất của thuật ngữ giáo dục, đồng nhất nó với quá trình xã hội hóa cá nhân Nhân cách con người được hình thành và phát triển
là do tác động, ảnh hưởng của tổ hợp các nhân tố xã hội, như môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, pháp luật, đạo đức trong quá trình con người tham gia vào các quan hệ xã hội Quan niệm giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng này có hai ý nghĩa quan trọng sau đây:
Một là, thấy được quá trình xã hội hóa cá nhân nói chung và giáo dục
pháp luật nói riêng chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố xã hội Chủ thể
Trang 15giáo dục có thể chủ động khai thác, phát huy các yếu tố tích cực và hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực, có tính tự phát, làm hạn chế hoặc suy giảm hiệu quả của giáo dục pháp luật trong thực tiễn hiện nay
Hai là, không đồng nhất, không coi giáo dục pháp luật đã có trong
giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, do đó đã hạ thấp vai trò của giáo dục pháp luật Ví dụ, quan niệm đạo đức là pháp luật tối đa, còn pháp luật chỉ là đạo đức tối thiểu nên không cần phải giáo dục pháp luật, mọi người dân phải
có nghĩa vụ chấp hành pháp luật Quan niệm như vậy rõ ràng là đã bó hẹp phạm vi của giáo dục pháp luật, coi giáo dục pháp luật chỉ còn là việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật của Nhà nước, là việc mọi công dân phải chấp hành pháp luật
Thứ hai, giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp là quá trình tác động (hoạt
động) có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (chủ thể giáo dục pháp luật) để chuyển tải, truyền đạt những nội dung (thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật ), thông qua các phương pháp giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tượng tiếp nhận giáo dục (khách thể giáo dục pháp luật) nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định
Theo nghĩa hẹp nói trên, có thể định nghĩa: Giáo dục pháp luật là quá
trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục đến khách thể giáo dục nhằm làm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết (nhận thức) về pháp luật, tình cảm, thói quen và hành vi xử sự theo các chuẩn mực pháp luật
Nội dung định nghĩa giáo dục pháp luật nêu trên đề cập đến những khía cạnh sau:
- Hoạt động giáo dục pháp luật là hoạt động có mục đích (chỉ bao hàm những tác động mang tính chất tự giác) của chủ thể giáo dục pháp luật lên đối tượng (cá nhân, tổ chức) cần và được giáo dục pháp luật với các nội dung,
Trang 16nhiệm vụ cụ thể khác nhau Tính có mục đích trong hoạt động của chủ thể giáo dục pháp luật mang tính khách quan, thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi của
xã hội về pháp luật, được chủ thể giáo dục pháp luật chuyển tải và biến nó thành nhu cầu, động cơ bên trong của đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật Quá trình giáo dục pháp luật chỉ đạt được hiệu quả khi đối tượng được giáo
dục pháp luật thực sự tự giác biến những yêu cầu pháp luật khách quan thành
nhu cầu nội tại của bản thân người được giáo dục pháp luật
- Quá trình giáo dục pháp luật luôn luôn là hoạt động có tổ chức, có kế hoạch, tuân theo nội dung và chương trình nhất định, dựa trên các phương pháp giáo dục khoa học, hiện đại và các hình thức giáo dục phù hợp nhằm hiện thực hóa tối ưu mục đích giáo dục pháp luật đã định Khía cạnh này của khái niệm giáo dục pháp luật có một số vấn đề cần lưu ý: giáo dục pháp luật
có những điểm chung của quá trình giáo dục, như cũng có nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức , nhưng chúng chưa được xác định thật sự rõ ràng, ổn định trong một hệ thống Điều đó đòi hỏi phải tìm ra cách tiếp cận quá trình giáo dục pháp luật phù hợp Bên cạnh đó, không được đồng nhất chương trình đào tạo của các trường luật (đào tạo những người làm nghề luật) với chương trình giáo dục pháp luật theo khái niệm giáo dục pháp luật cho mọi công dân Ngược lại, việc đào tạo những người làm việc trong các lĩnh vực chuyên về luật hoặc có liên quan đến pháp luật, tuy cũng là giáo dục - đào tạo về pháp luật, nhưng không thể xem đó là đối tượng giáo dục pháp luật theo chương trình giáo dục pháp luật chung
- Suy cho cùng, quá trình giáo dục pháp luật phải đạt được hiệu quả đặt ra Hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật phải được nhìn nhận, đánh giá qua những mục tiêu đạt được từ quá trình này Đó là mục tiêu về nhận thức (sự tiếp thu, tích lũy những thông tin, tri thức, hiểu biết về pháp luật); mục tiêu về thái độ, tình cảm (làm hình thành ở đối tượng được giáo dục sự tôn trọng pháp luật; sự phê phán, lên án các hành vi phạm pháp, phạm tội; sự công phẫn trước các tội ác dã man; niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh
Trang 17của pháp luật ); mục tiêu về hành vi (kỹ năng vận dụng tri thức, hiểu biết pháp luật để giải quyết công việc chuyên môn, hành vi pháp luật tích cực, lối sống theo pháp luật )
Xuất phát từ định nghĩa giáo dục pháp luật và vai trò của giáo dục pháp
luật có thể khẳng định, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
là hoạt động có định hướng, có tổ chức, thông qua các phương pháp đặc thù
và bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tới cung cấp, trang bị cho cán bộ, công chức hành chính những tri thức, hiểu biết về các vấn đề pháp luật nói chung, về các vấn đề pháp luật cụ thể liên quan đến hoạt động công vụ nói riêng, nhằm làm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành
1.1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật
Hoạt động giáo dục luôn có tính mục đích Trong cấu trúc của giáo dục pháp luật, mục đích là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng Việc xác định mục đích của giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn bởi lẽ mỗi mục đích cần được thực hiện bằng những hình thức, những phương pháp cụ thể, phù hợp Các phạm trù, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật phần lớn phụ thuộc vào việc xác định những mục đích xã hội nào được đặt ra trước quá trình giáo dục Mục đích của giáo dục pháp luật phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của xã hội đối với giáo dục pháp luật ở từng giai đoạn, trong các điều kiện lịch sử cụ thể Theo quan điểm chung của nhiều nhà khoa học, giáo dục pháp luật bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:
- Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của công dân (mục đích nhận thức) Đây là mục đích đầu tiên của giáo dục pháp luật Điều này xuất phát từ mối quan hệ giữa nhận thức với thái
độ và hành vi của chủ thể Chính sự am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng đắn
về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là điều kiện cần thiết để
Trang 18hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp cho con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật Mục đích này đặc biệt quan trọng trong điều kiện như nước ta hiện nay, khi mà hiểu biết pháp luật của công dân còn thấp, còn chịu ảnh hưởng tư tưởng và nếp sống của người sản xuất nhỏ, nhận thức về quyền và nghĩa vụ của công dân chưa đầy đủ Mặt khác, công tác giáo dục pháp luật chưa được coi trọng dẫn đến tình trạng pháp chế bị buông lỏng, làm giảm hiệu lực của pháp luật; dẫn đến giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Do
đó, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục pháp luật:
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật Cán bộ quản lý các cấp từ Trung ương đến đơn vị cơ sở phải
có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân [7, tr 121]
"Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật" [8, tr 92], "phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật" [16, tr 135]
- Hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích cảm xúc hay thái độ) Mục đích này rất quan trọng, vì nếu có tri thức pháp luật mà không có tình cảm tôn trọng và lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người rất dễ hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp luật vì lợi ích riêng tư Nội hàm của mục đích cảm xúc đạt được thông
qua việc: Một là, giáo dục tình cảm công bằng, biết xác định các tiêu chuẩn
đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xử với người khác và với chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng thể hiện qua các quy phạm pháp
luật Hai là, giáo dục tình cảm trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi
Trang 19nơi mọi lúc Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành
vi phạm pháp Đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Có được tình cảm trên, con người sẽ có được lòng tin vững chắc vào sự cần thiết tuân theo những quy phạm pháp luật Khi đã có lòng tin vào pháp luật, con người sẽ có những hành vi hợp pháp
- Hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật (mục đích hành vi) Động cơ và hành vi hợp pháp là kết quả cuối cùng của cả quá trình nhận thức pháp luật, đấu tranh nội tâm dưới tác động của những yếu tố tâm lý, tình cảm, lòng tin Thói quen xử sự hợp pháp được hiểu là thói quen tuân thủ các quy phạm hướng dẫn của pháp luật, thói quen thực hiện đúng đắn, tận tâm các quyền và nghĩa vụ pháp lý, thói quen sử dụng và áp dụng các tri thức pháp luật và các quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình, của người khác, của Nhà nước và của xã hội
Có thể khẳng định rằng, việc phân chia các mục đích giáo dục pháp luật trên đây chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ đan xem qua lại trong mối liên hệ hữu cơ thống nhất Bản thân quá trình nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi, điều chỉnh hành chính theo chuẩn mực pháp luật là một quá trình có sự liên quan chặt chẽ và sự chuyển hóa Từ tri thức pháp luật đến tính tự giác; từ tính tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Ngược lại, khi có thói quen xử sự theo pháp luật thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại được củng cố Do đó, khi tiến hành giáo dục pháp luật đều phải hướng hoạt động vào cả ba mục đích của giáo dục pháp luật
1.1.3 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật
1.1.3.1 Nội dung của giáo dục pháp luật
Để hiện thực hóa các mục tiêu của giáo dục pháp luật thì vấn đề quan trọng là xây dựng nội dung giáo dục pháp luật Nội dung giáo dục pháp luật là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật, nó được xác định
Trang 20trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và đồng thời xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng giáo dục pháp luật Xác định đúng nội dung của giáo dục pháp luật sẽ bảo đảm cho giáo dục pháp luật có chất lượng, đạt được các mục đích của giáo dục pháp luật, tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của các đối tượng được giáo dục
Bản thân hoạt động giáo dục pháp luật hướng đến nhiều đối tượng khác nhau với những mục đích cụ thể Chính vì vậy, khi nghiên cứu về nội dung giáo dục pháp luật, lý luận về giáo dục pháp luật khẳng định cần làm rõ được các vấn đề chủ yếu là phạm vi, đặc điểm, những yếu tố chủ yếu của nội dung giáo dục pháp luật
Phạm vi của nội dung giáo dục pháp luật theo quan điểm chung hiện nay bao gồm:
- Các thông tin về pháp luật gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định;
- Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật;
- Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện
áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tượng, các tầng lớp dân cư Đồng thời phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật;
- Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền hợp pháp)
Bản thân phạm vi nội dung giáo dục pháp luật cũng cần được cụ thể hóa hơn đối với mỗi nhóm đối tượng, những hoạt động giáo dục pháp luật cụ thể Từ phạm vi nội dung giáo dục pháp luật nêu trên, trong thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung giáo
Trang 21dục pháp luật Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung giáo dục pháp luật Những đặc điểm này cần được nhận thức đầy đủ đối với những người làm công tác giáo dục pháp luật Trên cơ sở đó họ lựa chọn phương pháp tiếp cận tới nội dung giáo dục pháp luật của từng đối tượng một cách phù hợp, giúp cho đối tượng giáo dục có cách nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, cũng như những điểm mâu thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triển khoa học pháp lý và pháp luật thực định ở nước ta
Những nội dung chủ yếu của giáo dục pháp luật, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, được xác định theo những mức độ, tầng cấp độ khác nhau tùy theo từng loại đối tượng phù hợp với những nhu cầu, đặc điểm của đối tượng giáo dục pháp luật Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục pháp luật, người ta phân định nội dung giáo dục pháp luật thành ba cấp độ khác nhau sau đây:
Cấp độ thứ nhất: Mức độ tối thiểu về giáo dục pháp luật phổ cập cho
mọi công dân Sống trong một xã hội được quản lý bằng pháp luật thì mỗi công dân phải cơ những hiểu biết tối thiểu về pháp luật và có những kỹ năng tối thiểu để sử dụng pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện nghĩa vụ của mình
Cấp độ thứ hai: Mức độ giáo dục pháp luật theo nhu cầu ngành nghề
của các công dân hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật, văn hóa xã hội Họ cần những hiểu biết và kỹ năng sử dụng pháp luật ở mức độ cao hơn, mang tính định hướng nghề nghiệp rõ hơn thì ngoài những khái niệm pháp lý
cơ bản thường gặp trong thực tiễn, nội dung giáo dục pháp luật theo ngành nghề còn bao gồm một số luật thực định, liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng Các quyền và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực hoạt động và các trình tự giải quyết các tranh chấp phổ biến liên quan trong lĩnh vực nghề nghiệp
Trang 22Cấp độ thứ ba: Mức độ giáo dục chuyên luật, đây là mức độ cao nhất
của nội dung giáo dục pháp luật, nhằm mục đích đào tạo các luật gia cho bộ máy nhà nước và các tổ chức mang tính nghề nghiệp về pháp luật Sự hiểu biết của đối tượng này bao gồm cả những quan điểm, những học thuyết về nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại Những hiểu biết tương đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế trong lĩnh vực chuyên sâu của từng người (về hình sự, về dân sự, về kinh tế, về hôn nhân gia đình,
về luật quốc tế, ) Kỹ năng của họ không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ pháp luật mà chủ yếu là vận dụng chính xác, linh hoạt các quan hệ pháp luật vào việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật (hoặc tư vấn cho việc giải quyết các vấn đề về pháp luật, như các tranh chấp, các vi phạm pháp luật ) Kỹ năng quan trọng và đặc thù của đối tượng là sáng tạo pháp luật, là khả năng tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật
1.1.3.2 Hình thức giáo dục pháp luật
Từ những phân tích về mục đích, nội dung của pháp luật có thể nhận thấy để hiện thực hóa được những điều này cần có những hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật phù hợp, cần phải có sự phối hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu giáo dục pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục đích của giáo dục pháp luật mà nội dung giáo dục pháp luật đề ra Mục đích và nội dung của giáo dục pháp luật không thể tự thân đi vào nhận thức, tình cảm của người được giáo dục pháp luật, mà phải qua những kênh chuyển tải thông tin, là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức quá trình giáo dục pháp luật, thể hiện nội dung giáo dục pháp luật Các dạng hoạt động cụ thể đó phải phù hợp với khả năng tiếp cận của đối tượng Do đó, hiệu quả của giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào việc xác định đúng mục đích và nội dung giáo dục pháp luật mà còn phụ thuộc vào việc xác định đúng hình thức giáo dục pháp luật
Trong giáo dục học, hình thức giáo dục được quan niệm là các hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục
Trang 23nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt mục đích giáo dục Trên cơ sở của
khái niệm này, hình thức giáo dục pháp luật được coi là các dạng cụ thể, có tổ chức phối hợp giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng giáo dục pháp luật
để thể hiện nội dung giáo dục pháp luật và đạt mục đích giáo dục pháp luật
Từ khái niệm hình thức giáo dục pháp luật, người ta còn phân chia hình thức giáo dục pháp luật ra thành nhiều loại khác nhau Qua thực tiễn cũng như qua nghiên cứu lý luận về nguyên tắc, nội dung, chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật, hình thức giáo dục pháp luật được chia làm hai loại:
- Các hình thức giáo dục pháp luật mang tính phổ biến, truyền thống của giáo dục chính trị tư tưởng như: Phổ biến, nói chuyện pháp luật tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, các địa bàn dân cư; các hội nghị, hội thảo pháp luật; các câu lạc bộ pháp luật; các đội thông tin cổ động pháp luật; các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền qua báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác; các hình thức văn học nghệ thuật; dạy và học pháp luật trong các nhà trường;
- Các hình thức giáo dục pháp luật đặc thù như: Các hoạt động định hướng giáo dục pháp luật trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án và Viện kiểm sát); giáo dục pháp luật qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức quần chúng (tổ hòa giải, tư vấn pháp lý )
1.1.4 Chủ thể, khách thể, đối tượng giáo dục pháp luật
1.1.4.1 Chủ thể giáo dục pháp luật
Trong quan niệm của giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy cô giáo
và tất cả những người làm công tác giáo dục khác Trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay người học được coi là chủ thể của quá trình giáo dục Tuy nhiên, xét từ góc độ chủ thể truyền giảng kiến thức thì giáo viên và các chủ
thể khác đóng vai trò chủ thể giáo dục Từ cách tiếp cận này có thể hiểu: Chủ
thể giáo dục pháp luật là tất cả những người mà theo chức năng, nhiệm vụ
Trang 24hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích giáo dục pháp luật Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xác định và thừa nhận
có hai loại chủ thể giáo dục pháp luật: chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp với vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu trình độ và kỹ năng giáo dục pháp luật khác nhau
Chủ thể chuyên nghiệp giáo dục pháp luật là những người mà chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp của họ là thực hiện các mục đích, nội dung giáo dục pháp luật (giảng viên luật, các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật )
Chủ thể không chuyên nghiệp giáo dục pháp luật là những người mà chức năng chính không phải là giáo dục pháp luật, nhưng một trong các nhiệm vụ của họ là thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện mục đích giáo dục pháp luật (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ, công chức thuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp )
1.1.4.2 Khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm về khách thể: "Khách thể là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của chủ thể Khách thể không phải là toàn bộ thế giới hiện thực, mà chỉ là một bộ phận nhất định của thế giới đó - bộ phận đang tác động qua lại với chủ thể" Điều này cho thấy khái niệm khách thể luôn được đặt trong mối quan hệ với chủ thể nhất định
Quá trình giáo dục pháp luật thực chất là quan hệ xã hội giữa một bên
là người giáo dục (chủ thể) và một bên là người được giáo dục (khách thể hay đối tượng) Mối quan hệ này có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bên tham gia trong mối quan hệ Song chiều tác động chủ yếu vẫn là sự tác động, chi phối của người giáo dục (chủ thể) Sự tác động giáo dục là những hoạt động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt tới những mục tiêu, mục đích nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc, mục
Trang 25đích hành vi, thói quen xử sự theo pháp luật) Nói cách khác, chủ thể giáo dục pháp luật tác động lên khách thể (đối tượng) giáo dục với những mong muốn
cụ thể là xây dựng được ý thức và những hành vi hợp pháp cho khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật
Như vậy, khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật ở đây không chỉ là
cá nhân, những nhóm cộng đồng xã hội mà còn bào hàm cả những yếu tố bên trong của họ như nhận thức, tình cảm, cảm xúc, hành vi cụ thể của họ phù hợp với pháp luật
Từ phân tích trên cho thấy, khách thể của giáo dục pháp luật cũng giống như khách thể của giáo dục nói chung, nó mang tính đồng nhất với đối tượng giáo dục pháp luật Vậy khách thể của giáo dục pháp luật được hiểu là những cá nhân, nhóm cộng đồng xã hội cùng với ý thức và hành vi pháp luật của họ
Việc xác định chủ thể, khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục pháp luật trên cơ sở mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể trong quá trình giáo dục pháp luật Trong đó, chủ yếu là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người giáo dục pháp luật lên người được giáo dục pháp luật Điều đó tạo cho chủ thể xác định các nội dung, hình thức, phương tiện, biện pháp phù hợp để tiếp cận với khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật một cách có hiệu quả nhất
1.1.5 Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức và các dạng giáo dục khác
Giáo dục pháp luật tuy có những nét đặc thù riêng, nhưng phải được đặt trong mối quan hệ chung được coi như một dạng giáo dục trong hệ thống giáo dục Giáo dục pháp luật khi đặt trong tổng thể của hệ thống giáo dục thì giáo dục pháp luật có mối quan hệ khá mật thiết với các dạng giáo dục khác như: giáo dục chính trị, đạo đức, lao động, kinh tế
Trang 26- Giáo dục pháp luật tác động tương hỗ một cách sâu sắc với giáo dục chính trị tư tưởng V.I Lênin đã chỉ rõ rằng: "Luật là biện pháp chính trị, là chính trị" [29, tr 99] Hiện nay, đường lối chính trị của Đảng ta - chỗ dựa của đổi mới mọi mặt về chính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất cả các mặt hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Có thể nói rằng, mỗi một quy phạm pháp luật đều là phương tiện để củng cố, ghi nhận, một quy tắc mà xã hội cần,
xã hội ủng hộ nhằm bảo vệ không những lợi ích của Nhà nước mà còn là của mỗi công dân Bởi vậy, khi thực hiện giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị tư tưởng, góp phần hình thành ở đối tượng giáo dục những quan hệ giá trị xác định với chính trị tư tưởng Ngược lại, trong giáo dục chính trị tư tưởng có chức năng đan xen trong nội dung của mình những hiện tượng của pháp luật, củng cố những quan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợi ích điều chỉnh bằng pháp luật Mối quan hệ mật thiết qua lại chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật và giáo dục chính trị tư tưởng đòi hỏi các chủ thể giáo dục pháp luật phải biết kết hợp và bổ sung cho nhau trong quá trình giáo dục
- Giáo dục pháp luật có quan hệ chặt chẽ với giáo dục đạo đức, Đảng
ta đã nhận thức rõ điều đó, nên trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức" [12, tr 45] Giữa pháp luật và đạo đức không có sự đối lập nhau, pháp luật là chỗ dựa và
là cơ sở của việc hình thành đạo đức; các nguyên tắc căn bản của đạo đức được thể chế hòa thành các quy phạm pháp luật Do đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức, bảo vệ tính công bằng, nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Vì vậy, giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết để hình thành ở công dân sự tôn trọng sâu sắc đối với pháp luật Ngược lại, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trên thực tế những nguyên tắc đạo đức mới Quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức đều hướng tới điều chỉnh
Trang 27hành vi của con người, giữa chúng có một số điểm chung là cùng tác động lên con người, những điểm chung đó là:
+ Tạo ra lòng tin và giá trị xã hội của pháp luật;
+ Tạo ra thói quen xử sự trong các hoàn cảnh cụ thể theo các chuẩn mực đạo đức và pháp luật
Như vậy, sự thống nhất giữa giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức thể hiện ở hành vi của con người Sự thống nhất đó đòi hỏi sự tác động tổng hợp của cả hai dạng giáo dục Do đó, trong hoạt động thực tiễn, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội phải sử dụng đồng bộ các hình thức, các biện pháp của cả hai dạng giáo dục để bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau với mục đích hình thành các hành vi hợp pháp, hợp đạo đức ở các đối tượng được giáo dục
- Hiện nay, "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [16, tr 23] Để thực hiện đường lối kinh tế nói trên của Đảng và Nhà nước, cần đẩy mạnh hoạt động giáo dục kinh tế trong mối quan hệ với sự nghiệp đổi mới Tất nhiên, giáo dục kinh tế trong giai đoạn hiện nay là những
tư duy và phương pháp của "cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" Các quan hệ kinh tế ở nước ta ở mức độ này hay mức độ khác được thể hiện thành các hình thức pháp lý Thiếu các hình thức pháp lý thích hợp, các quan hệ kinh tế khó lòng thực hiện Điều đó có nghĩa rằng, bên cạnh giáo dục kinh tế, cần phải tiến hành giáo dục pháp luật bao gồm việc giải thích, phổ biến, học tập, nghiên cứu những văn kiện liên quan trực tiếp đến việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế
Ngoài những dạng giáo dục có mối quan hệ mật thiết với giáo dục pháp luật như đã nêu trên, còn nhiều dạng giáo dục khác Trong điều kiện đổi mới hiện nay, việc nghiên cứu mối quan hệ tổ hợp, đan xen giữa các dạng
Trang 28giáo dục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách Việc giáo dục pháp luật chỉ
có thể đạt được mục đích và hiệu quả trong mối quan hệ thống nhất, tổ hợp của cả hệ thống các hình thức giáo dục Tất cả các dạng giáo dục phải được phối hợp và tiến hành thường xuyên trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
1.2 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức hành chính
1.2.1.1 Khái niệm cán bộ
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người
ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức" và "viên chức" Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước
xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội Tuy nhiên, xác định cụ thể ai với những tiêu chí nào là cán bộ thì chỉ đến khi có Luật Cán bộ, công chức năm 2008 mới được quy định chính thức
Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu
Trang 29trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.2.1.2 Khái niệm công chức, công chức
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý chưa xác định được rõ ràng công chức với các khái niệm về cán
bộ, viên chức
Nhìn lại lịch sử, năm 1950 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức, khái niệm công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan chính phủ Do hoàn cảnh kháng chiến, tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các nội dung của Quy chế đó không được áp dụng Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, chế độ cán bộ được thực hiện trên phạm vi cả nước, theo đó tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ là "cán
bộ, công nhân viên nhà nước" Hầu như mọi người khi kê khai lý lịch nếu đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước đều ghi ở mục thành phần bản thân là
"cán bộ, công nhân viên nhà nước"
Trang 30Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban hành, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là" cán bộ, công chức" Lúc này, phạm
vi và đối tượng đã được thu hẹp hơn so với trước nhưng vẫn gồm cả khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể Vấn đề ai
là cán bộ, ai là công chức cũng chưa xác định được Những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang thì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân điều chỉnh Với quy định của Pháp lệnh Cán
bộ, công chức, các tiêu chí: công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương
từ ngân sách nhà nước mới chỉ là những căn cứ để xác định một người có phải
là "cán bộ, công chức" hay không Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa được giải quyết
Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Nhà nước đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp Việc phân định này đã tạo cơ sở để bước đầu đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Nhưng vấn đề làm rõ thuật ngữ "công chức" và thuật ngữ "viên chức" cũng chưa được giải quyết
Có chăng, trong Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước
là công chức Nhưng như thế, cách gọi tắt này không giải quyết được vấn đề làm rõ thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức"
Vì không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ "cán bộ", "công chức",
"viên chức" nên dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến cơ chế và các quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo,
Trang 31bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của công chức, viên chức Do
đó, nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và đầu tiên của Luật Cán bộ, công chức là làm rõ được những tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai là công chức Từ đó, tạo
cơ sở và căn cứ cho những nội dung đổi mới và cải cách thể hiện trong Luật cán bộ, công chức, tạo cơ sở để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn quản lý đang đặt ra Đồng thời đây cũng là căn cứ để xác định rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật; theo đó, đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do một văn bản luật khác điều chỉnh
Khái niệm công chức đã được đưa ra hoàn chỉnh trong Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người
đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ Do đó, căn
cứ vào các tiêu chí do Luật Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ
Trang 32chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Khái niệm công chức trong Luật Cán bộ, công chức thực tế bao hàm
cả công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, công chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị của quân đội nhân dân, công an nhân dân Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, công chức hành chính hướng đến đối tượng công chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở các cấp chính quyền
1.2.2 Đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
1.2.2.1 Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính là một bộ phận cấu thành giáo dục pháp luật nói chung, nghĩa là nó cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình giáo dục pháp luật, phải đáp ứng các yêu cầu về chủ thể, khách thể, về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của quá trình này Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính cũng có những đặc điểm riêng xuất phát từ những nét đặc thù về vị trí công tác, tiêu chuẩn chuyên môn và chức năng của họ
Thứ nhất, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính có sự khác biệt với cán bộ, công chức ở các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội Cán bộ, công chức hành chính là những người trực
tiếp giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức, là những người áp dụng pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Cán bộ, công chức hành chính là hình ảnh của nhà nước, của chính quyền trước người dân Cán
bộ, công chức hành chính biết áp dụng pháp luật và biết giải đáp những vấn
đề về pháp luật khi người dân có những yêu cầu, những kiến nghị, hướng dẫn người dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật Chính vì vậy, giáo dục
Trang 33pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính không chỉ là phổ biến, giới thiệu pháp luật chung chung mà còn cần giúp nâng cao nhận thức, hiểu, biết về văn bản quy phạm pháp luật và đặc biệt quan trọng là khả năng áp dụng pháp luật của cán bộ, công chức để giải quyết công việc của người dân
Thứ hai, nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính có tính đặc thù riêng so với các nhóm đối tượng cán bộ, công chức khác Việc giáo dục pháp luật phải hướng đến những nội dung pháp luật cụ
thể liên quan đến công việc mà cán bộ, công chức hành chính đang đảm nhiệm Điều này là thực sự quan trọng bởi lẽ nếu cán bộ, công chức hành chính không nắm vững pháp luật, không cập nhật pháp luật liên quan đến công việc của mình thì sẽ dẫn đến giải quyết trái pháp luật các công việc của người dân, làm giảm uy tín của chính quyền trước nhân dân Vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải thực sự cụ thể, thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm và chiều sâu
Thứ ba, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đòi hỏi tính chuyên ngành, chuyên nghiệp cao cả trên phương diện chủ thể giáo dục pháp luật và nội dung giáo dục pháp luật Cán bộ, công chức hành chính là những người
đang làm việc trong các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước nên họ rất cần đến kiến thức pháp luật Bởi vì, trong nhà nước pháp quyền, pháp luật
có một vị trí độc tôn, đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, ngay cả Nhà nước - người ban hành pháp luật - cũng phải đặt mình dưới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật Điều đó có nghĩa, cán bộ, công chức phải gương mẫu, đi đầu trong "sống, làm việc theo pháp luật" Do đó, ngoài kiến thức chuyên môn, họ rất cần được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nhất là kiến thức pháp luật chuyên ngành Nhận định về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, cán bộ đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách đúng, vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc"
Trang 34Để thực hiện tốt nhiệm vụ công vụ được giao, cán bộ, công chức trước hết phải có sự hiểu biết, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật Cán bộ, công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình Cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật
Vì vậy, nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải là những kiến thức pháp luật có tính hệ thống và tính chuyên ngành, chuyên nghiệp cao
Từ yêu cầu cao về mặt nội dung tri thức pháp luật trang bị cho cán bộ, công chức hành chính, chủ thể giáo dục pháp luật cũng đòi hỏi phải có trình
độ cao về pháp luật và kỹ năng sư phạm tốt Nói cách khác, chủ thể giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính phải là những nhà giáo dục pháp luật chuyên nghiệp
Thứ tư, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức đòi hỏi phải có sự lựa chọn, phân loại cụ thể, hợp lý về đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật
Như đã phân tích ở trên, nhu cầu giải quyết các công việc chuyên môn đòi hỏi cán bộ, công chức hành chính phải có trình độ kiến thức pháp luật chuyên ngành cao Tuy nhiên, theo phân cấp hành chính hiện nay, cán bộ, công chức hành chính ở nước ta đang đảm nhiệm công việc tại bốn cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau và thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau Ở mỗi cấp, mỗi lĩnh vực lại có những yêu cầu và văn bản pháp luật điều chỉnh, quy định
phạm vi, chức năng, nhiệm vụ riêng Chính vì vậy, nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở mỗi cấp, mỗi ngành cũng đa dạng và khác nhau Chẳng hạn, nhu cầu thông tin, kiến thức
pháp luật của cán bộ, công chức hành chính cấp xã khác với nhu cầu thông tin, kiến thức pháp luật của cán bộ, công chức cấp huyện và cấp tỉnh; nhu cầu
về thông tin pháp luật cho cán bộ, công chức ngành văn hóa - thông tin chắc
Trang 35chắn khác nhiều so với nhu cầu thông tin pháp luật cho cán bộ, công chức ngành tư pháp hay địa chính
Bên cạnh đó, vấn đề trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của các
đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật cũng khác nhau Có những cán bộ,
công chức hành chính đã có trình độ cử nhân luật, cử nhân hành chính trước khi trở thành cán bộ, công chức hành chính nên nhu cầu thông tin pháp luật của họ khác với nhu cầu của những người chưa được đào tạo chính quy, bài bản hoặc hiện giờ mới đang tham gia các khóa giáo dục, đào tạo pháp luật Tính chất nông - sâu, rộng - hẹp trong truyền đạt nội dung pháp luật cho mỗi nhóm đối tượng cũng khác nhau
Chính vì vậy, việc sàng lọc, lựa chọn, phân loại các đối tượng tiếp
nhận giáo dục pháp luật theo cấp, theo ngành, theo năng lực, trình độ và nhu cầu thông tin của mỗi nhóm đối tượng là vấn đề hết sức quan trọng trong tổ
chức hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính nhằm
gia tăng hiệu quả của hoạt động này, thực hiện phương châm "trang bị cái mà
đối tượng của giáo dục pháp luật cần chứ không phải trang bị cái mà nhà giáo dục pháp luật có"
Thứ năm, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính đòi hỏi phải sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp Về
nguyên tắc, chủ thể giáo dục pháp luật phải căn cứ vào mục đích, mục tiêu, nội dung chương trình và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật để lựa chọn
và sử dụng phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục pháp luật cho phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính có những nét đặc thù về mục tiêu, nội dung và đối tượng nên chủ thể giáo dục pháp luật cần chủ động tìm ra các phương pháp và hình thức tổ chức tối ưu nhất
Cán bộ, công chức hành chính là những người đang làm việc trong các
cơ quan hành chính nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định nên ít
Trang 36nhiều đã tích lũy được những kinh nghiệm thực tiễn Phương pháp là hình thức chuyển tải nội dung Có lẽ, phương pháp giáo dục phù hợp với cán bộ, công chức hành chính không phải là phương pháp độc thoại, lý luận suông,
mà phải là những phương pháp sinh động, hấp dẫn gắn liền với thực tiễn công
vụ hành chính, như nêu tình huống, chủ đề pháp luật để họ tranh luận, thảo luận, phương pháp tọa đàm, trao đổi thông tin Dù là sử dụng phương pháp nào thì cũng phải lấy đối tượng tiếp nhận giáo dục làm trung tâm
Thứ sáu, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức phải luôn gắn bó mật thiết với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức Cán bộ, công chức là nhân
tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, là khâu then chốt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Xét cho cùng, vận hành bộ máy phải là những con người cụ thể Vì vậy, công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính phải luôn gắn chặt với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức không chỉ là việc giáo dục kiến thức pháp luật đơn thuần mà còn phải kết hợp cả với việc giáo dục phong cách làm việc, đạo đức, lối sống, "không
có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" Hơn nữa, giữa hình thức giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau, có những nét tương đồng bên cạnh tính độc lập tương đối của mỗi hình thức giáo dục Mục đích của giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức là thiết lập trật tự pháp pháp luật và trật tự đạo đức, hình thành ở mỗi cán
bộ, công chức hành chính hành vi hợp pháp và hợp với đạo đức xã hội Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là xã hội mà ở đó từ cán bộ, công chức cho đến công dân phải có ý thức và có lối sống phù hợp với đạo đức và tuân thủ pháp luật Nguyên tắc chung và mục tiêu của nền pháp luật và đạo đức xã hội là phục vụ con người, vì những giá trị nhân văn của con người
Mặt khác, giáo dục đạo đức tạo điều kiện cần thiết để hình thành ở mỗi cán bộ, công chức hành chính tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật
Trang 37Ngược lại, giáo dục pháp luật cũng có vai trò to lớn đối với việc xây dựng ý thức và lối sống đạo đức giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong thực tiễn hàng ngày những nguyên tắc của đạo đức, củng cố những nghĩa vụ đạo đức, kích thích và làm hình thành những giá trị đạo đức mới Như vậy, giữa giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức có sự thống nhất, hỗ trợ cho nhau nhằm đảm bảo tăng cường sự tác động lên tình cảm con người, hình thành hành vi hợp pháp và hợp đạo đức Giáo dục đạo đức hỗ trợ cho giáo dục pháp luật, hướng tới cái thiện và hạn chế những tiêu cực Chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính chỉ có thể từng bước đạt được nếu có sự kết hợp với giáo dục đạo đức
Thứ bảy, giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức là giáo dục cho các chủ thể thực hiện giáo dục pháp luật cho đối tượng khác Trong hoạt
động giáo dục pháp luật, cán bộ, công chức hành chính có "vai trò kép" Họ vừa là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật, lại vừa là chủ thể giáo dục pháp luật Trong mối quan hệ với giáo dục pháp luật cho chính đội ngũ cán bộ, công chức hành chính thì họ là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật Với vai trò là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật, họ phải đảm bảo các mục đích, yêu cầu của giáo dục pháp luật Còn với vai trò là cán bộ, công chức hành chính trong mối quan hệ với cán bộ, công chức hành chính dưới quyền
và với các tầng lớp nhân dân thì cán bộ, công chức trở thành chủ thể giáo dục pháp luật Vì vậy, vai trò của họ có tác động rất lớn đến sự hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Do đặc điểm này nên trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính, ngoài nội dung pháp luật chuyên ngành, còn phải chú ý cung cấp cho họ kiến thức, kỹ năng
về phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật, giáo dục cho cán bộ, công chức hành chính ý thức về vai trò là "đầy tớ", "công bộc" của dân
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mỗi cán bộ, công chức hành chính cần phải rèn luyện tinh thần "cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư", xem pháp luật là cán cân công lý, coi tri thức, hiểu
Trang 38biết pháp luật là để thực thi nhiệm vụ và chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Ý thức pháp luật của các chủ thể này là cơ sở cho việc thực hiện, áp dụng pháp luật một cách kịp thời, đúng đắn Hơn bất cứ hình thức giáo dục nào khác, với tư cách chủ thể giáo dục pháp luật, cán bộ, công chức hành chính phải thấm nhuần phương châm "nói đi đôi với làm"; do đó, yêu cầu về trình độ kiến thức pháp luật, năng lực chuyên môn, sự gương mẫu trong phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống luôn phải được đặt lên vị trí hàng đầu Chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dưới sự tác động mạnh mẽ của
xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, với những thành tựu phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin Bối cảnh đó vừa là điều kiện thuận lợi vừa
là thách thức to lớn đối với yêu cầu hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa nền công
vụ của nước ta, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong bộ máy nhà nước phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết và nắm vững pháp luật đồng thời có những đổi mới tương ứng nhằm thích nghi, đủ khả năng giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.2.2 Nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính Cán bộ và công chức hành chính là những người trong phạm vi chức
năng của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người lãnh đạo, quản lý nhà nước và quản lý xã hội Thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật hay không của cán bộ, công chức là thí dụ sinh động, là tấm gương phản chiếu tính pháp chế trong tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng
Cán bộ, công chức là những người trực tiếp, có tác động rất mạnh đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân đối với pháp luật Với tư cách này, cán bộ, công chức phải được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong việc áp dụng pháp luật và trước tiên họ phải có ý thức đầy đủ về trách
Trang 39nhiệm chủ thể giáo dục pháp luật của mình trong khi tiến hành các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ cụ thể
Căn cứ vào đối tượng cán bộ, công chức mà xây dựng nội dung giáo dục pháp luật phù hợp, có thể phân làm hai nhóm lớn như sau:
Thứ nhất: Đối với cán bộ, công chức nói chung, nội dung giáo dục
pháp luật bao gồm:
- Những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước, thực thi pháp luật, cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
- Các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân do Hiến pháp và một số đạo luật quy định;
- Các thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
và thực hiện các nghĩa vụ của công dân;
- Hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực tiễn;
- Một số pháp luật thực định liên quan đến hoạt động của cán bộ, công chức như: các bộ luật, các đạo luật quan trọng, có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Hôn nhân và gia đình
Thứ hai: Đối với cán bộ, công chức chuyên ngành pháp luật, nội dung
giáo dục pháp luật bao gồm:
- Những quan điểm, những học thuyết về nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại;
- Hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế;
- Cung cấp, giải thích các quy phạm pháp luật cụ thể, về những hậu quả pháp lý do việc chấp hành hay vi phạm các quy phạm pháp luật đó, hướng dẫn hành vi xử sự cụ thể;
Trang 40- Cập nhật những thông tin pháp luật;
- Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật
1.2.2.3 Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức được thể hiện khá đa dạng, biểu hiện dưới nhiều hình thức như: Dạy và học pháp luật trong các trường (các trường chuyên ngành và cả các trường khác trong hệ thống giáo dục); tập huấn chuyên đề về nhà nước pháp luật hoặc kết hợp giáo dục pháp luật trong các lớp tập huấn, các hội nghị chuyên đề khác; giáo dục pháp luật qua tuyên truyền và cổ động (tuyên truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua báo, tạp chí, qua hoạt động nghệ thuật, qua các cuộc thi ); giáo dục pháp luật qua hoạt động thực tiễn của cán bộ, công chức trên lĩnh vực công tác của mình, nhất là các hoạt động trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; giáo dục pháp luật qua hệ thống thông tin pháp luật (Công báo, các bản tin pháp luật, các văn bản pháp luật qua đường công văn nhà nước )
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, chủ thể, khách thể (đối tượng) của giáo dục pháp luật, có thể chia hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức làm ba loại:
Thứ nhất: Hình thức quan trọng và cơ bản nhất trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính là đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn về kiến thức pháp luật ở các trường, các cơ sở đào tạo
Có hai dạng giáo dục pháp luật qua hình thức này:
- Đào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong các trường không chuyên luật (các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp không chuyên luật và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị xã hội)
- Đào tạo, bồi dưỡng pháp luật trong các trường, các khoa chuyên về Nhà nước và pháp luật như: Đại học Luật, Khoa luật Đại học Quốc gia, Viện