1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

103 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại của công dân và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hµ néi - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

GIANG

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Trọng Hách

Hµ néi - 2011

Trang 3

ĐẤT ĐAI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1.2.1 Khái niệm về giải quyết khiếu nại hành chính 8

1.1.2.2 Thẩm quyền gia ̉i quyết khiếu na ̣i hành chính 8 1.1.3 Đối tượng của khiếu nại hành chính 10 1.2 Quan niê ̣m giải quyết khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu công

nghiê ̣p của các cơ quan hành chính nhà nước

Trang 4

1.2.5 Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp 17 1.3 Vai trò của giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công

nghiê ̣p

20

1.3.1 Bảo vệ quyền , lơ ̣i ích hợp pháp của cá nhân , tổ chức trong

lĩnh vực đất đai

22

1.3.2 Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng , tiến đô ̣ xây dựng

và phát triển các khu công nghiệp

23

1.3.3 Tăng cườ ng pháp chế, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương nhằm nâng

cao hiê ̣u quả quản lý nhà nước về đất đai , giảm số vụ việc

liên quan đến khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p

24

QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

27

2.1 Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tại các

khu công nghiệp

2.2.1 Tình hình khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp ở

tỉnh Bắc Giang

33

2.2.2 Nô ̣i dung khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p ở

tỉnh Bắc Giang

38

2.2.3 Nguyên nhân phát sinh khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu

công nghiê ̣p ở tỉnh Bắc Giang

39

2.3 Những tồn ta ̣i, hạn chế trong giải quyết khiếu nại về đất đai

tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính ở tỉnh

45

Trang 5

2.3.1 Sự chưa hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật về đất đai và

khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp hiện nay

47

2.3.2 Tinh thần trách nhiê ̣m của các cơ quan hành chính ở tỉnh Bắc

Giang trong giải quyết khi ếu nại về đất đai tại các khu công

nghiê ̣p thuô ̣c đi ̣a bàn tỉnh chưa cao , còn nhiều vi phạm

53

2.3.3 Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở các cấp và một bộ

phận cán bộ công chức trong các cơ quan đó còn có hành

vi hành chính, quyết định hành chính trái pháp luật xâm

phạm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong quản lý và

sử dụng đất đai gây bức xúc và bất bình trong nhân dân

56

2.3.4 Ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân về sử dụng

quyền khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i cá c khu công nghiê ̣p ở tỉnh

Bắc Giang chưa cao

59

QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT

60

3.1 Yêu cầu về nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết

khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

60

3.1.1 Đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân trong

Nhà nước pháp quyền

60

3.1.2 Bảo đảm tiến độ cho việc phát triển các khu công nghiệp

phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

61

3.1.3 Bảo đảm nguyên tắc pháp chế, kỷ luật, kỷ cương và tăng

cường công tác chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ

trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

62

3.1.4 Khắc phục nhanh chóng những tồn tại, thiếu sót trong công

tác giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

63

3.2 Phương hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải

quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai

66

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại và giải quyết

khiếu nại

67

3.2.2 Hoàn thiện các cơ quan hành chính có thẩm quyền giải

quyết khiếu nại theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính

73

3.2.3 Tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền khiếu nại phát

huy quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây

dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

74

3.3 Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết

khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

76

3.3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý và sử

dụng đất đai tại các khu công nghiệp

76

3.3.2 Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan hành chính với các

cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, cấp ủy Đảng, Ban quản

lý khu công nghiệp trong giải quyết khiếu nại về đất đai

tại các khu công nghiệp

78

3.3.3 Nâng cao đời sống, ý thức pháp luật cho nhân dân, tăng cường

thực hiện quy chế dân chủ trên địa bàn các khu công nghiệp

82

3.3.4 Nâng cao năng lực, trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có

thẩm quyền trong việc quản lý đất đai, quản lý khu công

nghiệp trong giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu

công nghiệp

86

3.3.5 Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của các cơ quan

nhà nước, tổ chức xã hội, công dân đối với công tác giải

quyết khiếu nại về đất đai

88

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định Giải quyết khiếu nại là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc giải quyết khiếu nại tốt góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước

ta đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại của công dân và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này, trong đó có Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo năm 1991; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005); Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006), Luật Tố tụng hành chính (năm 2010)… Việc ban hành các văn bản pháp luật nêu trên đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện hành chính; làm cơ sở cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại và khiếu kiện hành chính

Trong thời gian qua, mặc dù các cấp, các ngành đã có những cố gắng trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại nhưng tình hình khiếu nại hành chính vẫn diễn ra hết sức phức tạp Số các vụ việc tăng nhanh, tính chất gay gắt, khiếu nại đông người, vượt cấp ngày càng gia tăng, trong đó có một số vụ việc trở thành điểm nóng xảy ở nhiều địa phương, gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Nhiều đoàn khiếu nại đông người có tổ chức đến trụ sở cơ quan và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước để khiếu nại, nhất là trong thời gian diễn ra cuộc họp Trung ương, Quốc hội, bầu cử Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Nhiều vụ việc đã được tập trung giải quyết nhưng không dứt điểm được Ở một số địa phương khiếu nại diễn ra trên bình diện rộng Nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến đất đai, đất đai tại các khu công nghiệp như: khiếu nại về giá đất khi thu

Trang 8

hồi, giải toả; đòi lại đất đai của tập đoàn sản xuất; đòi lại đất đã giao cho người khác; khiếu nại về việc bố trí tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

Hoạt động giải quyết khiếu nại ở nước ta nói chung và trong lĩnh vực đất đai tại các khu công nghiệp nói riêng đã có nhiều tiến bộ, tốc độ giải quyết khiếu nại nhanh hơn, tỷ lệ vụ việc khiếu nại được giải quyết nhiều hơn, hạn chế tình trạng khiếu nại nhiều cấp, khiếu nại lòng vòng, vượt cấp… Tuy nhiên, hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính trong thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nhất là giải quyết về khiếu na ̣i đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p Có nguyên nhân chủ quan từ phía cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại như chưa làm tốt trách nhiệm giải quyết khiếu nại, chưa dành thời gian thỏa đáng, tập trung chỉ đạo giải quyết khiếu nại của dân nhất là với những khiếu nại phức tạp, kéo dài, còn tình trạng lảng tránh trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại; một bộ nhận nhân dân còn chưa nhận thức và sử dụng đúng đắn quyền khiếu nại của mình, lợi dụng khiếu nại gây khó khăn cho các hoạt động quản lý nhà nước, cố tình khiếu nại kéo dài, khiếu nại vượt cấp…

Có nguyên nhân khách quan là hệ thống pháp luật về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, Luật đất đai và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đầy

đủ, hoàn chỉnh, đồng bộ… Mô hình giải quyết khiếu nại hiện nay còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết khiếu nại

Vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài: "Giải quyết khiếu nại về đất đai tại khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang" làm luận văn cao học luật Đề tài vừa có tính khách quan, cấp thiết

vừa có tính lý luận và thực tiễn trong điều kiện hiện nay

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ

những vấn đề lý luận, thực tiễn về khiếu nại, giải quyết khiếu nại về đất đai ở nước ta hiện nay, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Trang 9

Nhiệm vụ của luận văn: Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề về: Khiếu nại, thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai ta ̣i cá c khu công nghiê ̣p của cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiệ n nay; phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính về đất

đai tại các khu công nghiệp ở nước ta hiện nay

3 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những vấn đề liên quan đến khiếu nại hành chính đã được nhiều công trình khoa học ở nhiều cấp độ đề cập và nghiên cứu như: Thanh tra nhà nước

(1996), Việc giải quyết khiếu nại của công dân trong hệ thống các cơ quan

hành chính nhà nước sau khi Toà án hành chính được thiết lập, đề tài nghiên

cứu khoa học; Thanh tra nhà nước (2004), Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu

kiện hành chính, đề tài nghiên cứu khoa học; Thanh tra nhà nước (2004), Xây dựng quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại hành chính, đề tài nghiên cứu

khoa học; Nguyễn Thế Thuấn, Tăng cường hiệu lực của pháp luật trong việc

giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ

luật học; Trần Văn Sơn, Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt

động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học; Nguyễn Thi ̣ Minh Hà (2002), Thẩm quyền giải

quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước , Luâ ̣n văn cao ho ̣c

luâ ̣t; Đinh Văn Minh (2005), Hoàn thiện pháp luật nhằm đổi mới cơ chế giải

quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam, Luận văn cao học luật; Nguyễn Hoài

Thoa (2005), Giải quyết khiếu nại về đất đai cu ̉a các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương hiện nay, Luận văn cao học luật; Trương Tiến Dũng

(2007), Giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về

đất đai ở nước ta hiê ̣n nay , Luâ ̣n văn cao ho ̣c quản lý hành chính công Tuy

nhiên, cho đến nay vấn đề giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai tại cá c khu công nghiê ̣p ở nước ta trong điều kiện hiện nay vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn

Trang 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề lớn: Tình hình khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ở nước ta hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu đề cập đến vấn đề khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai tại các khu công nghiê ̣p ở tỉnh Bắc Giang

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, quyền sử dụng đất… tôn trọng bảo vệ các quyền của công dân

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, tổng kết thực tiễn, khảo sát, điều tra…

6 Đóng góp mới của luận văn

Với giới hạn là một luận văn cao học nội dung luận văn là kết qủa tổng hợp nhận thức của tác giả về nhà nước, pháp luật, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong thời gian học tập và nghiên cứu khoa học tại Khoa Luật - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i Trên cơ sở các tri thức đó tác giả luận văn đã đề cập và làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai tại các khu côn g nghiê ̣p ,

từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính trên lĩnh vực này trong tình hình hiện nay Với những kết quả đạt được, luận văn

có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong lĩnh vực chuyên ngành

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luâ ̣ n của giải quyết khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p của các cơ quan hành chính nhà nước

Chương 2: Thực tra ̣ng pháp luâ ̣t và thực tiễn giải quyết khiếu na ̣i về

đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p của các cơ quan hành chính nhà nước trên đại bàn tỉnh Bắc Giang

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác

giải quyết khiếu nại về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p ở nước ta hiện nay

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

VỀ ĐẤT ĐAI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Quan niê ̣m chung về khiếu na ̣i và giải quyết khiếu na ̣i hành chính

1.1.1 Khái niệm khiếu nại hành chính

Hiện nay trong khoa học tồn tại nhiều quan niệm về khiếu nại Khiếu nại theo nghĩa Latinh được hiểu tương ứng với từ "complaint" đó là sự phàn nàn, ca thán, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề liên quan đến bản thân họ

Theo Từ điển Tiếng Việt, khiếu nại là "đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý" [54, tr 483] Với nghĩa trên phạm vi khiếu nại rất rộng, bao gồm mọi việc làm của các cơ quan, cán bộ, công chức, tổ chức xã hội mà người khiếu nại không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý, trái pháp luật

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định

kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng hành

vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận

Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng đưa ra việc phân chia khái niệm khiếu nại nói chung thành hai loại: khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp

Khiếu nại hành chính là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cơ quan hành chính nhà nước xem xét, sửa chữa một hành vi hay một quyết định hành

Trang 13

chính mà họ cho là hành vi và quyết định đó không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Khiếu nại tư pháp là việc công dân hay tổ chức đề nghị cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án mà họ cho rằng việc hoặc quyết định đó là không đúng pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Theo quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 2 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định:

Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thủ tục do luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình [33]

Khiếu nại được hiểu theo Luật Khiếu nại, tố cáo đã tiếp cận từ chủ thể của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại Do vậy, nó chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi hoạt động quản lý của nhà nước

Từ những quan niệm trên có thể nhận thấy một số đặc trưng cơ bản của khiếu nại như sau:

Thứ nhất, khiếu nại xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu

nại cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm Nói cách khác khiếu nại là một hình thức phản ứng của công dân, cơ quan, tổ chức với những hiện tượng vi phạm các quyền và lợi ích của họ được pháp luật bảo vệ

Thứ hai, khiếu nại luôn mang trong mình thông tin về sự vi phạm các

quyền và lợi ích của công dân được pháp luật quy định hoặc bắt nguồn từ những nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và những quy định của cộng đồng cũng như sự vi phạm các quyền lợi khác nhau của cá nhân khác của

Trang 14

công dân Việc xác định loại vi phạm cụ thể hoặc thiệt hại cụ thể bởi những việc làm trái pháp luật là yếu tố nhất thiết của nội dung khiếu nại

Thứ ba, người khiếu nại không thể tự khôi phục những quyền và lợi

ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Sự khiếu nại của họ trông chờ vào quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Khiếu nại hành chính có thể hiểu là: việc cá nhân, cơ quan hoặc tổ

chức yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

1.1.2.1 Khái niệm về giải quyết khiếu nại hành chính

Khoản 13 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định "giải

quyết khiếu nại" là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của

người giải quyết khiếu nại Như vậy, theo quy định tại khoản 13 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại trong cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005)

1.1.2.2 Thẩm quyền gia ̉i quyết khiếu nại hành chính

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình trực tiếp quản lý

Trang 15

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền: giải quyết khiếu

nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại

- Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình trực tiếp quản lý

- Giám đốc sở và cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; giải quyết khiếu nại mà Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn

có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà những người quy định tại Điều 24 Luật khiếu nại, tố cáo đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; giải quyết khiếu nại

có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

- Tổng thanh tra Chính phủ có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại mà

Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có

Trang 16

khiếu nại; giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm

- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền: Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Khiếu nại, tố cáo

Ngoài ra pháp luật về khiếu nại, tố cáo còn quy định trách nhiệm của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong giải quyết khiếu nại hành chính Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có trách nhiệm giải quyết kịp thời, khách quan khiếu nại của cá nhân hoặc tổ chức xử lý nghiêm người vi phạm, áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, đảm bảo cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

1.1.3 Đối tượng của khiếu nại hành chính

Từ việc nghiên cứu khái niệm khiếu nại hành chính chúng ta thấy khiếu nại hướng vào việc xem xét các quyết định hành chính và hành vi hành chính trái pháp luật Quyết định quản lý (dạng văn bản) hoặc hành vi quản lý trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng, đó

là một hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước Tuy nhiên trong hoạt động quản lý nhà nước những quyết định, hành vi hành chính quản lý nhà nước không phải lúc nào cũng tuân theo những quy định của pháp luật Sự tồn tại

Trang 17

của các quyết định quản lý trái pháp luật, các hành vi trái pháp luật có tính tất yếu khách quan

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đối tượng của khiếu nại hành chính là quyết định hành chính (một loại quyết định quản lý nhà nước mang tính cá biệt - cụ thể) và hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, của người có thẩm quyền trong các cơ quan đó đã trực tiếp xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (đây chính

là đối tượng của quản lý nhà nước)

Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi,

bổ sung năm 2004, 2005) thì đối tượng của khiếu nại hành chính gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi

có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của mình

- Quyết định hành chính trái pháp luật là đối tượng của khiếu nại hành

chính: "quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành

chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề

cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước" [33, khoản 10, Điều 2]

Quyết định hành chính là đối tượng của khiếu nại hành chính phải đảm bảo các yếu tố:

Trang 18

+ Nhóm quyết định hành chính giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước (chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước) với cá nhân, tổ chức (đối tượng của quản lý hành chính nhà nước);

+ Nhóm các quyết định hành chính giải quyết các mối quan hệ trong

tổ chức hoạt động nội bộ của các cơ quan nhà nước

Các quyết định hành chính có đặc điểm sau:

Một là, chủ thể ban hành chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước,

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước

Hai là, thể hiện ý chí, tính quyền lực, tính đơn phương của chủ thể

quản lý vì lợi ích của nhà nước, của xã hội

Ba là, quyết định áp dụng pháp luật vào các trường hợp cụ thể, chỉ có

hiệu lực đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể và được áp dụng một lần

Bốn là, làm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính Năm là, được ban hành theo hình thức văn bản với tên gọi cụ thể là

quyết định (quyết định quản lý nhà nước cá biệt, cụ thể - quyết định hành chính)

- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm

vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998)

Hành vi hành chính thực chất là một dạng của hành vi công vụ (công

vụ được hiểu là một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước gắn với nhà nước và nhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức Nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội Ngoài các đặc điểm trên thì hành vi hành chính còn có các đặc điểm sau:

Một là, hành vi hành chính do cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ,

công chức trong cơ quan hành chính thực hiện chủ yếu vì hoạt động này gắn

Trang 19

liền với việc tổ chức thực hiện pháp luật một cách trực tiếp, thường xuyên trong đời sống

Hai là, hành vi hành chính biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không

hành động

Hành vi hành chính hành động là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc vượt quá thẩm quyền hoặc làm trái pháp luật

về một vấn đề nào đó

Hành vi hành chính không hành động là hành vi của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước không thực hiện một trách nhiệm công vụ mà theo quy định của pháp luật thì

họ phải thực hiện

- Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức: là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương , giáng chức , cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thực chất là một loại quyết định hành chính nhưng chủ yếu thể hiện mối quan hệ trong nội bộ cơ quan nhà nước, cơ quan quản lý, sử dụng đối với cán bộ, công chức thuộc quyền trực tiếp quản lý cán bộ, công chức Quyết định kỷ luật là một hình thức xử lý đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm pháp chế trong hoạt động này Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho cán bộ, công chức trước những quyết định kỷ luật trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trái pháp luật cũng là đối tượng của khiếu nại, hành chính

Trang 20

1.2 Quan niê ̣m giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiê ̣p của các cơ quan hành chính nhà nước

1.2.1 Quan niê ̣m khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiê ̣p

Trên cơ sở việc nghiên cứu các khía cạnh về khiếu nại chúng ta thấy khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó là vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Như vậy, có thể hiểu khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý

hành chính nhà nước về đất đai tại các khu công nghiệp là việc công dân, cơ quan hoặc tổ chức theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo và Luật đất đai khiếu nại đến cơ quan hành chính, người có thẩm quyền về giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai tại các khu công nghiệp khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích của mình

1.2.2 Quan niê ̣m giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công n ghiê ̣p

Như chúng ta đã biết, khiếu nại là sự phản ứng của công dân trước việc làm của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi họ cho rằng có sự vi phạm quyền chủ thể và lợi ích được pháp luật bảo vệ và yêu cầu khôi phục chúng kết hợp với việc phê phán đơn vị, cơ quan, tổ chức, người có chức vụ mà quyết định, hành vi của

họ đã vi phạm quyền chủ thể của người khiếu nại

Việc giải quyết khiếu nại một mặt bảo đảm quyền dân chủ của công dân, của nhà nước đồng thời đề cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người

có thẩm quyền trong việc giải quyết các công việc của công dân, góp phần

Trang 21

sửa chữa các sai phạm, khuyết điểm đảm bảo pháp chế, kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, kịp thời phát hiện và

xử lý các vi phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản

1.2.3 Đối tượng và đặc điểm của khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

1.2.3.1 Đối tượng của khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định tại điều 74 Hiến pháp 1992 và được cụ thể hóa tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) và nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện khác

Đối tượng của khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước

về đất đai tại các khu công nghiệp bao gồm các quyết định hành chính, hành

vi hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong các trường hợp cụ thể sau:

- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

- Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;

- Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Quyết định gia hạn thời gian sử dụng đất

Trang 22

1.2.3.2 Đặc điểm của khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp Thứ nhất, khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất

đai tại các khu công nghiệp chủ yếu là phát sinh từ các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện luật đất đai, liên quan đến các lĩnh vực như: Khiếu nại về giá đất bồi thường quá thấp so với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, giá đất ở được giao tại nơi nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi; đòi bồi thường theo giá đất mới đối với các trường hợp bị thu hồi đất và được bồi thường theo các chính sách trước đây…

Thứ hai, khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai

tại các khu công nghiệp thường là loại khiếu kiện phức tạp, đông người, thời gian giải quyết khiếu nại kéo dài và là loại khiếu nại khó giải quyết dứt điểm nhất

Thứ ba, khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà

nước về đất đai tại các khu công nghiệp diễn ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh

Thứ tư, khiếu nại hành chính về đất đai tại các khu công nghiệp là loại

khiếu nại dễ phát sinh ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Thứ năm, khiếu nại hành chính về đất đai tại các khu công nghiệp chủ

yếu là cá nhân người sử dụng

Thứ sáu, khiếu nại hành chính tại các khu công nghiệp thường xuất

hiện khiếu nại đông người, tính chất phức tạp

1.2.4 Thẩm quyền gia ̉ i quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

chưa có quy định riêng của pháp luật mà đó là thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung được quy định tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 như sau:

Trang 23

Thứ nhất, người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành

chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai

Thứ hai, việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:

- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân;

- Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày,

kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân

Thứ ba, việc giải quyết khiếu nại về đất đai quy định tại khoản 2 Điều

này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai

1.2.5 Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước về hình thức là khiếu nại hành chính đã được điều

Trang 24

chỉnh trong Luật Khiếu nại, tố cáo, do đó thủ tục giải quyết khiếu nại một vụ việc hành chính về đất đai tại các khu công nghiệp cũng tuân thủ các bước của thủ tục giải quyết một vụ việc giải quyết khiếu nại về hành chính nói chung, gồm: Nhận đơn, phân loại đơn và thụ lý để giải quyết; thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ; kết luận và kiến nghị việc giải quyết; ra quyết định giải quyết khiếu nại; thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại

Những công việc của giai đoạn này nối tiếp nhau trong một mối quan

hệ hữu cơ và là điều kiện của nhau trong một mục tiêu thống nhất của việc giải quyết khiếu nại hành chính Tuy nhiên thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai tại các khu công nghiệp có những đặc thù riêng, những đặc thù này là cơ sở để giải quyết vụ việc khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp được đảm bảo một cách chính xác, khách quan, đúng quy định của pháp luật

Trong giai đoạn nhận đơn, phân loại và thụ lý đơn để giải quyết, cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền khi nhận được đơn khiếu nại về đất đai phải xem xét, phân loại và xử lý đơn Để xác định được đơn đó có đủ điều kiện thụ lý hay không thì không chỉ tuân thủ các điều kiện thủ tục về hình thức theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo mà còn phải xem xét nội dung khiếu nại về đất đai đó có vi phạm quy định của nhà nước về những bảo đảm cho người sử dụng đất hay không, nếu vi phạm thì đơn khiếu nại đó không được thụ lý để giải quyết Do đó cần phải xác định rõ quy định của pháp luật

về những bảo đảm cho người sử dụng đất

Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2003 (sau đây gọi tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP) thì nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong các trường hợp:

Trang 25

- Đất bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện cải cách ruộng đất

ở miền Bắc; chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam;

- Đất đã hiến tặng cho Nhà nước, cho hợp tác xã và tổ chức khác, cho

hộ gia đình, cá nhân;

- Đất đã góp vào hợp tác xã nông nghiệp theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao;

- Đất thổ cư mà Nhà nước đã giao cho người khác để làm đất ở; đất ở

và đất vườn đã giao lại cho hợp tác xã để đi khai hoang; ruộng đất đã bị thu hồi để giao cho người khác hoặc điều chỉnh cho người khác khi giải quyết tranh chấp ruộng đất;

- Đất đã chia cho người khác khi hưởng ứng cuộc vận động san sẻ bớt một phần ruộng đất để chia cho người không có ruộng và thiếu ruộng tại miền Nam sau ngày giải phóng

Trong giai đoạn thẩm tra, xác minh vụ việc giải quyết khiếu nại về đất đai Trước hết phải nắm vững những căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung và khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Đây là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết khiếu nại

về đất đai tại các khu công nghiệp Căn cứ vào những quy định của pháp luật cần phải xây dựng kế hoạch thẩm tra, xác minh sát thực tế, để kết luận nội dung khiếu nại, ra quyết định giải quyết khiếu nại chính xác, khách quan Căn

cứ pháp luật đó là:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 181/NĐ-CP thì việc giải quyết các khiếu nại về đất đai phải căn cứ vào quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm xảy ra các quan hệ đất đai dẫn đến khiếu nại: Trước năm

1998, Luật Đất đai năm 1998, Luật Đất đai sửa đổi năm 2001, Luật Đất đai năm 2003, các văn bản hướng dẫn thi hành theo từng giai đoạn

Trang 26

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 181/NĐ-CP thì việc Việc giải quyết đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có công trình xây dựng trên đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết

số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội và văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Nghị quyết này

- Theo quy định tại khoản 3, điều 112 Nghị định số 181/NĐ-CP trường hợp cơ quan nhà nước đã mượn đất ở gắn với nhà ở của hộ gia đình, cá nhân trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 thì giải quyết theo quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991

Trong giai đoạn thẩm tra, xác minh vụ việc giải quyết khiếu nại về đất đai phải xác minh được nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng phần đất có khiếu nại, phải kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ, hiện trạng sử dụng đất của chủ sử dụng đồng thời phải thu thập các văn bản về quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai của chính quyền địa phương

1.3 Vai tro ̀ của giải quyết khiếu na ̣i về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p

Pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính nói chung và pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nói riêng là phương tiện cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Ở nước ta, pháp luật có mối quan hệ mật thiết với chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Trong mối quan hệ này Đảng giữ vai trò chủ đạo, định hướng xây dựng pháp luật Pháp luật luôn phản ánh đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể là thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành các quy định của pháp luật Đây cũng là nội dung quan trọng thể

Trang 27

hiện sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay

Mở rộng và phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước Văn kiện Hội nghị Trung ương 8, khóa VII nhấn mạnh: "Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu nại của công dân, soát xét, bổ sung và thể chế hóa các chính sách, trước hết đối với chính sách,

lĩnh vực mà dân khiếu kiện nhiều như tranh chấp đất đai" [20, tr 30] Tại văn

kiện Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII chỉ rõ: Xác định rõ trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, xử

lý nghiêm minh các hành vi hoãn, chậm trễ, sai lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của mình

Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về khiếu na ̣i , giải quyết khiếu nại làm cơ sở pháp lý cho việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại nói chung và khiếu nại , giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đấ t đai nói riêng , như: Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005); Luật Đất đai năm 2003, nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành khác

Trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai là một trong những nhân tố góp phần quan trọng vào sự thành công của công cuộc đổi mới của đất nước đặc biệt là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Yêu cầu này không phải thuần túy phát sinh từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hay tham gia vào đời sống kinh tế xã hội toàn cầu mà còn phát sinh từ chính quá trình vận hành của nền kinh tế trong nước

Thực tế, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại hành chính và khiếu nại trong lĩnh vực về đất đai ngày càng được nâng cao Đội ngũ cán bộ công chức được kiện toàn, hoàn thiện cả

về trình độ chuyên môn lẫn năng lực phẩm chất Cơ sở pháp lý phục vụ cho

Trang 28

quá trình giải quyết khiếu nại được đảm bảo Cùng với những cải thiện trong

tổ chức, hoạt động, cơ chế, thẩm quyền của từng cơ quan đã bước đầu được hoàn thiện hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Để tiếp tục thực hiện có hiệu lực hiệu quả mục tiêu đề ra, việc đổi mới

cơ chế giải quyết khiếu nại ở nước ta hết sức cấp bách đòi hỏi chúng ta phải đưa

ra những lựa chọn có tính ngắn hạn để nhanh chóng nghiên cứu cơ chế vai trò của giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai đảm bảo hiệu quả, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

1.3.1 Bảo vệ quyền , lơ ̣i ích hợp pháp của cá nhân , tổ chức trong lĩnh vực đất đai

Quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ Pháp luật là công cụ, phương tiện hữu hiệu để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân,

do dân và vì dân Đảm bảo công bằng xã hội là mục tiêu của xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là một phương tiện thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, vừa là con con đường bảo đảm cho sự công bằng xã hội Thực hiện quyền khiếu nại chính là hình thức công dân thực hiện hiện quyền dân chủ, tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội Việc giải quyết khiếu nại của công dân kịp thời, đúng đắn thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của Nhà nước trước công dân

Như chúng ta đã biết khiếu nại là sự phản ứng của công dân, cơ quan,

tổ chức trước việc làm không đúng của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, yêu cầu khôi phục quyền và lợi ích của mình Như vậy, qua việc giải quyết các khiếu nại hành chính, các quyết định hành chính, hành vi hành chính vi phạm pháp luật được phát hiện và xử lý, quyền và lợi ích của công dân được khôi phục và đảm bảo Những thiếu sót trong quá trình quản lý của nhà nước kịp thời được chấn chỉnh, nhiều chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà

Trang 29

nước được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, từ đó nhân dân tin vào chính quyền, tin chế độ, tích cực góp sức mình làm ổn định tình hình chính trị tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội

Tuy nhiên, trên thực tế các quyền và lợi ích hợp pháp này có thể bị xâm hại từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành nhiệm vụ, công vụ hoặc có thể bị xâm hại từ phía các thành viên khác của xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức

và công dân như: xuất phát từ trình độ yếu kém trong tổ chức, quản lý của các chủ thể nhà nước, sự hạn chế về năng lực chuyên môn, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc do thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ nhà nước

Chính vì vậy để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong lĩnh vực về đất đai, pháp luật về đất đai, pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính nói chung và giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã quy định cụ thể về quyền khiếu nại của công dân, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết khiếu nại Đây cũng là cơ sở để công dân yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm

phát triển các khu công nghiê ̣p

Trong quá trình thực hiện thu hút đầu tư, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là khâu quyết định tạo mặt bằng cho các nhà đầu tư xúc tiến đầu tư, song công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là công việc khó khăn phức tạp và nhạy cảm Bởi vì, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất liên quan đến nhiều vấn đề như: Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001; Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 87/CP

Trang 30

năm 1994 của Chính phủ quy định về khung giá bồi thường các loại đất, Nghị định 22/CP năm 1998 của Chính phủ quy định về chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng Đồng thời công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đụng chạm đến lợi ích thiết thực của các hộ có đất bị thu hồi và liên quan đến nhiều vấn đề về các chính sách xã hội, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước, các nhà đầu tư và các hộ dân sẽ dẫn đến tình trạng bất

ổn trong nhân dân, phát sinh những vụ khiếu kiện phức tạp và kéo dài, tạo nên những điểm nóng, làm nản lòng các nhà đầu tư Do đó nếu chúng ta giải quyết tốt những khiếu nại về đất đai sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư cũng như trong quá trình quản lý nhà nước, từ đó giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phát triển các khu công nghiệp

cao hiê ̣u quả quản lý nhà nước về đất đai , giảm số vụ việc liên q uan đến khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiê ̣p

Pháp chế và kỷ luật nhà nước có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời, chúng có tác động tích cực trong quá trình củng cố và xây dựng nhà nước pháp quyền

Nói đến pháp chế xã hội chủ nghĩa tức là nói đến việc bảo đảm hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của công dân đồng thời cúng là nói đến việc chấp hành nghiêm túc và thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và của cá nhân công dân, bảo đảm xử lý nghiêm minh và kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật

Kỷ luật nhà nước là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và hoàn thành nhiệm

vụ được nhà nước giao phó Củng cố kỷ luật nhà nước góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngược lại, thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện cần thiết để giữ vững kỷ luật nhà nước

Trang 31

Ở nước ta hiện nay, pháp luật quy định nhiều hình thức để đảm bảo pháp chế và kỷ luật nhà nước như hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước; hoạt động kiểm tra của Đảng, hoạt động thanh tra, kiểm tra của chính hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận…và trong đó có hoạt động khiếu nại, tố cáo Để đảm bảo cho các hoạt động khiếu nại, một mặt pháp luật quy định công dân có quyền khiếu nại, tố cáo và pháp luật cũng quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo; mặt khác pháp luật cũng đề ra và thực hiện các biện pháp bảo đảm pháp lý đối với người khiếu nại, tố cáo để các quyền khiếu nại, tố cáo của người dân trong mỗi lĩnh vực được đảm bảo thực hiện trên thực tế với vai trò là phương tiện để giám sát việc thực hiện pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Trong thời gian qua, tình trạng khiếu kiện nói chung và khiếu nại về đất đai nói riêng ở nước ta có những diễn biến phức tạp Thực trạng này một mặt phản ánh còn có những điểm chưa hoàn thiện trong cơ chế quản lý của chúng ta song cũng là một tín hiệu đáng mừng về vấn đề dân chủ trong đời sống xã hội Mỗi cá nhân, tổ chức ngày càng có ý thức hơn về quyền và lợi ích của họ khi tham gia vào các quan hệ xã hội, đặc biệt trong quan hệ với các

cơ quan quản lý nhà nước Ngược lại tư duy trong một bộ phận cán bộ, công chức cũng bước đầu có thay đổi về thái độ khi tiếp xúc và giải quyết công việc của công dân Cán bộ, công chức không phải là những ‘ông quan của dân’ mà là những đày tớ, công bộc của dân Nếu như trước đây cơ chế xin cho, cấp phát tồn tại trong suy nghĩ của người dân cũng như cán bộ, công chức thì hiện nay thay vào đó là cơ chế yêu cầu, phục vụ Chính vì vậy cách

tư duy về việc giải quyết khiếu nại hành chính của công dân cũng có những thay đổi nhất định Việc giải quyết này không chỉ do cơ quan nhà nước đơn phương quyết định mà cần có sự bày tỏ ý kiến, được trình bày mong muốn và nguyện vọng của người khiếu nại Nếu đảm bảo được điều này mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và người dân sẽ trở nên bình đẳng hơn, tâm lý e ngại

Trang 32

của người dân về tính khách quan và vô tư trong quá trình giải quyết vụ việc

sẽ được cải thiện đáng kể Bên cạnh những ưu điểm trên, cơ chế đối thoại giữa người dân và cơ quan nhà nước còn mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng khác như tạo sự thân thiện giữa người dân và cơ quan quản lý hành chính nhà nước; thông qua có chế này, cơ quan nhà nước được trực tiếp lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của nhân dân và kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế

Như vậy, các quy định của pháp luật đã góp phần tăng cường ý thức trách nhiệm của người dân khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại của người dân Đảm bảo thực thi quyền khiếu nại, tố cáo của người dân là biện pháp quan trọng để đảm bảo pháp chế và giữ nghiêm kỷ luật của nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội, làm giảm các

vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai

Trang 33

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TRÊN ĐI ̣A BÀN TỈNH BẮC GIANG

2.1 Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp

Bắc Giang là tỉnh miền núi có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên khoáng sản Địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có

nhiều vùng đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu

Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21 độ 07 phút đến 21 độ 37 phút vĩ

độ bắc; từ 105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh độ đông; cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh Tỉnh Bắc Giang có 9 huyện

và 1 thành phố Trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao (Sơn Động); 229 xã, phường, thị trấn

Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại là các loại đất khác Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp

và thủy sản Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội

và các tỉnh lân cận

Trang 34

Với lợi thế về vị trí địa lý, đất đai, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã hình thành nhiều khu công nghiệp như: khu công nghiệp Quang Châu, khu công nghiệp Vân Trung, khu công nghiệp Đình Trám, khu công nghiệp Song Khê- Nội Hoàng, khu công nghiệp Việt Hàn, cụm công nghiệp Đồng Vàng, cụm công nghiệp Đình Trám Qua nhiều năm xây dựng và phát triển, các khu công nghiê ̣p đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển công nghiệp và kinh tế-xã hội của tỉnh Các khu công nghiê ̣p đã trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; tăng trưởng kinh tế nhanh và trở thành nhân tố quyết định quá trình công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa của tỉnh Sự phát triển của các khu công nghiê ̣p đã tham gia vào việc phân bố, điều chỉnh lại không gian kinh tế-xã hội của tỉnh, tạo sự phát triển đồng đều

Các khu công nghiệp đã thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn trong

và ngoài nước, các dự án FDI lớn gần đây chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực điện, điện tử, viễn thông, công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia có thương hiệu khu vực và toàn cầu, các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu, tạo giá trị gia tăng cao Đây chính là cơ sở để Bắc Giang xác lập ngành công nghiệp mũi nhọn trong thời gian tới, mà trọng tâm là ngành công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, vật liệu mới, chế biến công nghệ cao

Bên cạnh những thành công về kinh tế, các khu công nghiê ̣p còn tham gia, đóng góp tích cực vào tổ chức đời sống xã hội Với việc thiết lập mô hình khu công nghiê ̣p , đô thị đã góp phần hình thành các khu đô thị mới gắn với phát triển cụm công nghiệp, làng nghề và kiến tạo bộ mặt nông thôn mới Tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Thúc đẩy hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, nhà ở, nhu cầu

về dịch vụ văn hóa, thể thao… góp phần bảo đảm cuộc sống của người lao động, ổn định an sinh xã hội

Với sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, tốc độ phát triển các khu công nghiệp, đô thị hóa nhanh dẫn đến nhu cầu sử dụng đất đai và các nguồn

Trang 35

tài nguyên ngày càng lớn, đất đai trở nên có giá trị và được người dân quan tâm hơn bao giờ hết Đây cũng là lí do khiến cho tình hình khiếu nại nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng tại các khu công nghiệp hết sức phức tạp, nhiều vụ việc khiếu nại về đất đai đông người, vượt cấp sau khi huyện, tỉnh đã giải quyết còn khiếu nại tiếp đến Trung ương

Về thực tra ̣ng pháp luâ ̣t giải quyết khiế u na ̣i về đất đai ta ̣i các khu

công nghiê ̣p , với quan điểm duy vật lịch sử, cần phải xem xét, đánh giá sự

hình thành và phát triển của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại và giải quyết khiếu nại qua các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử nhất định để từ đó đánh giá được thực trạng, ưu điểm, nhược điểm của khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính nói chung và khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp nói riêng ở mỗi giai đoạn và xu hướng vận động của nó Trên cơ sở đánh giá tổng thể có thể chọn lọc được những ưu điểm, nhược kinh nghiệm trong lịch sử pháp luật về khiếu nại hành chính để tiếp thu, kế thừa, bổ sung vào pháp luật khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn hiện nay Với cách tiếp cận này, có thể chia sự hình thành và phát triển của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta trong lĩnh vực đất đai làm hai giai đoạn

Trang 36

quyền nhân dân mà qua đó còn kịp thời phát hiện sai sót, hạn chế để sửa chữa, uốn nắn những chính sách của Đảng, pháp luật của Bhà nước cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống

Pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân được quy định từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 Trong Hiến pháp 1946 chưa có quy định cụ thể về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân mà đến Hiến pháp 1959 tại Điều 29 mới quy định cụ thể:

Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào của Nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ và nhân viên cơ quan nhà nước Người bị thiệt hại do các hành vi trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường [29]

Trên cơ sở Hiến pháp 1959, hàng loạt các văn bản dưới luật được ban hành nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và ngày càng được cụ thể hóa trong các Hiến pháp sau này (Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001)

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 về quyền khiếu nại của công dân, năm 1998 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo Các cơ quan có thẩm quyền cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân thực hiện quyền khiếu nại (trong đó có các khiếu nại liên quan đến đất đai) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có quyết định hoặc hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước xâm hại

Luật Đất đai cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng

đi vào cuộc sống Đây là một trong những đạo luật thu hút được sự quan tâm

Trang 37

nhiều nhất của nhân dân, với một hệ thống quy phạm khá hoàn chỉnh, chi tiết,

cụ thể, rõ ràng, đề cập đến nhiều quan hệ đất đai (kể cả những vấn đề của lịch

sử rất phức tạp mà trước đây thường né tránh hoặc bỏ qua) phù hợp với thực

tế, đặc biệt đã thể hiện quan điểm đổi mới, phù hợp với cơ chế thị trường và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Pháp luật về đất đai đã tạo

ra khung pháp lý mang tính khả thi cao, thuận lợi cho công tác quản lý được đông đảo nhân dân đồng tình

Từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý đất đai có nhiều chuyển biến rõ rệt và ngày càng đi dần vào nề nếp Số vụ vi phạm pháp luật về đất đai đã giảm hẳn, đã khắc phục được cơ bản tình trạng đầu cơ đất kéo dài trong nhiều năm trước đó; tạo cơ sở pháp lý trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai

Hệ thống pháp luật về đất đai luôn được sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cuộc sống Từ tháng 10/2004 đến tháng 11/2005, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định để thi hành Luật Đất đai bao gồm các Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Nghị định số 17/2006/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung và đất đai tại các khu công nghiệp nói chung Đến nay, Chính phủ đã ban hành 13 Nghị định,

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành khác ở Trung ương đã ban hành hơn 200 văn bản, trong đó có 65 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và hơn 150 văn bản liên quan đến pháp luật đất đai

Trang 38

Trên cơ sở những quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nói chung và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nói riêng đã ban hành theo thẩm quyền hầu hết 6 loại văn bản quy định

cụ thể về giá đất, về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

về hạn mức giao đất ở; về hạn mức công nhận đất ở cho đất có vườn, ao gắn với nhà ở; về thủ tục hành chính trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, lập kế hoạch cụ thể để triển khai thi hành pháp luật về đất đai

2.2 Tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai ta ̣i các khu công nghiê ̣p ở tỉnh Bắc Giang

Từ nhiều năm nay, tình hình khiếu nại về đất đai nói chung và khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp nói riêng luôn là vấn đề bức bách được chính quyền, nhân dân tỉnh Bắc Giang quan tâm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tính chất phức tạp, trong đó khiếu nại về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại, tố cáo trong cả tỉnh, có những huyện, thành phố riêng về đất đai chiếm số lượng lớn, phức tạp, đông người như tại xã Song Mai, xã Dĩnh Kế, xã Tân Mỹ thành phố Bắc Giang; xã Tiền Phong huyện Yên Dũng; xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa; Thị trấn Nếnh, xã Vân Trung huyện Việt Yên

Tình hình khiếu nại trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, nhiều nơi đã trở thành điểm nóng Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ quan ở tỉnh, ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giải quyết của chính quyền địa phương Số lượng công dân đến khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan ở tỉnh hàng năm cao Nhiều vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, dựng lều trại, kéo đến các cơ quan chính

Trang 39

quyền, Đảng,… nhằm gây áp lực đòi được giải quyết quyền lợi theo yêu cầu

Số lượng công dân tập trung đông chủ yếu ở các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp, Đại hội đảng các cấp, có nơi công dân tập trung huy động phụ nữ, người già, trẻ em bao vây trụ sở chính quyền xã, huyện, tỉnh, doanh nghiệp gây mất trật tự, an toàn xã hội

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên - Môi trường thì từ năm 2005 đến năm 2010, Sở đã nhận được 895 đơn thư khiếu nại, trong đó có 757 đơn trong lĩnh vực đất đai, chiếm 84%, trong đó có 36 đơn khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp chiếm 4,7% Các khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp tuy số lượng không nhiều song tính chất của các vụ việc hết sức phức tạp Các khiếu nại liên quan đến đất đai tại các khu công nghiệp thường thấy như: đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm cho con em bị thu hồi đất…

2.2.1 Tình hình khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Giang

Thời gian vừa qua, tình hình khiếu nại trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quản lý nhà nước về đất đai tại các khu công nghiệp nói riêng rất phức tạp và đa dạng, diễn ra gay gắt ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tập trung chủ yếu ở các huyện Việt Yên, Yên Dũng, thành phố Bắc Giang Quy mô của các vụ khiếu nại từ một cá nhân đến tập thể đông người, từ một vài người đến hàng trăm người

Theo báo cáo của Thanh tra tỉnh Bắc Giang thì trên địa bàn tỉnh các

vụ khiếu nại từ năm 2005 đến năm 2010, cứ năm sau tăng hơn năm trước từ 5 đến 15% Đặc biệt là trong những năm 2007, 2009, 2010 năm sau tăng hơn năm trước là 15%

Tính chất của các khiếu nại ngày càng phức tạp hơn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề đất đai tại các khu công nghiệp Việc khiếu nại có sự tham gia của nhiều tầng lớp dân cư

Trang 40

khác nhau bao gồm cả các cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các đảng viên cũng tham gia khiếu nại Tính chất khiếu nại còn phức tạp ở chỗ khiếu nại đông người được tiến hành có tổ chức, có bộ phận chỉ đạo điều hành hoặc công khai, hoặc đứng đằng sau

Nhiều vụ khiếu nại kéo dài, người khiếu nại tập trung đến trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp, các công ty, các doanh nghiệp, thậm chí dựng lều, trại gây sức ép đối với chính quyền địa phương

Theo báo cáo của Sở Tài Nguyên Môi trường năm 2005 tổng số đơn thư khiếu nại của Sở tăng 1,1 lần so với năm 2004, trong đó có 84% đơn thư khiếu nại, tố cáo tranh chấp về đất đai, trong đó có khoảng 50% đơn thư khiếu nại của công dân về nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng bồi thường chưa thỏa đáng, 35% đơn thư đòi lại đất cũ, tranh chấp đất cũ Đặc biệt, trong năm có 03 vụ khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp Hơn 80% các quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố là phù hợp với quy định của pháp luật, hơn 10% các quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban dân dân các huyện, thành phố phải điều chỉnh, bổ sung, số còn lại là những quyết định giải quyết khiếu nại chưa phù hợp với quy định của pháp luật Sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh đã thành lập nhiều đoàn công tác do Thanh tra sở chủ trì đi thẩm tra, xác minh giải quyết các vụ việc đạt hiệu quả cao

Cũng theo báo cáo tổng kết của Sở Tài nguyên và Môi trường năm

2006, số đơn thư công dân gửi đến sở là 100 lượt đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó số lượt đơn thư do sở tiếp nhận là 38 đơn, số đơn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tài nguyên - Môi trường là 58 đơn, số đơn của năm 2005 chuyển sang là 4 đơn Trong năm 2006 Sở đã tiếp

50 lượt công dân, giảm 23 lượt người so với năm 2005, ngoài ra sở đã phối hợp với phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp 5 đoàn đông người, trong đó có 2 đoàn khiếu nại đông người khiếu nại về công tác bồi thường

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12 hướng dẫn thi hành Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12 hướng dẫn thi hành Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
2. Chính phủ (1999), Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
3. Chính phủ (2001), Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
4. Chính phủ (2002), Nghị định 62/2002/NĐ-CP ngày 14/6 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 62/2002/NĐ-CP ngày 14/6 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
6. Chính phủ (2004), Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7. Chính phủ (2004), Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 29/10 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 29/10 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
8. Chính phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
9. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
10. Chính phủ (2004), Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12 về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12 về thu tiền sử dụng đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
11. Chính phủ (2004), Mấy vấn đề lớn về phát triển kinh tế-xã hội năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lớn về phát triển kinh tế-xã hội năm 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Chính phủ (2005), Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8 về thầm định giá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8 về thầm định giá
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
13. Chính phủ (2005), Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. Chính phủ (2006), Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
16. Chính phủ (2008), Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
17. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8 quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8 quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
18. Chính phủ (2010), Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
19. Chính phủ (2010), Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa VII), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w