1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay

88 820 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 790,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ như Đề tài nghiên cứu khoa học số 05-2005 “Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan” định nghĩa “Thủ tục hải quan điện tử là t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THANH BÌNH

VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THANH BÌNH

VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Bính

Hà nội – 2010

Trang 3

Chương 2: NỘI DUNG CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ LIÊN

QUAN ĐẾN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ VÀ KINH

NGHIỆM CỦA HẢI QUAN MỘT SỐ NƯỚC VỀ VIỆC ÁP

DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI

mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử 43

Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC

QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT

NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH VIỆC ÁP

DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI

54

Trang 4

QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

3.1 Chỉ đạo của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thủ tục hải quan

3.2 Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan

3.3 Một số giải pháp để đẩy mạnh việc áp dụng chuẩn mực quốc tế

trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACV Hệ thống tính giá tự động

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC Diễn đàn Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương C/O Xuất xứ hàng hóa

TMQT Thương mại quốc tế

WCO Tổ chức Hải quan Thế giới

UN Tổ chức Liên hiệp quốc

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hiện nay, thương mại quốc tế đang có những bước phát triển mạnh mẽ với những đặc điểm như tốc độ lưu chuyển thương mại nhanh, nhiều sản phẩm hàng hóa mới, đa dạng, bao gồm cả vô hình và hữu hình xuất hiện, nhiều phương thức thương mại mới ra đời làm thay đổi hoặc mở rộng nội dung khái niệm xuất nhập khẩu như xuất nhập khẩu trực tiếp, gián tiếp, xuất nhập khẩu tại chỗ, hàng hóa tạm quản,…Các bên xuất nhập khẩu có thể sử dụng giao dịch, ký kết hợp đồng qua mạng mà không cần gặp nhau, không cần hiện diện tại nước xuất nhập khẩu Vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với sản phẩm nói chung và sản phẩm xuất nhập khẩu nói riêng không còn là khái niệm mới mẻ đối với hầu hết các nước phát triển

và một số các nước đang phát triển

Trong xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay hàng loạt các liên kết kinh tế khu vực và thế giới dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế quốc tế đã được ký kết hoặc trong quá trình đàm phán, nhiều tổ chức kinh tế quốc tế thế giới và khu vực ra đời như: WTO (1995), ASEM (1996), ASEAN (1967), APEC (1998)

Hoạt động hải quan gắn liền với giao lưu thương mại quốc tế nên trong xu thế phát triển rất nhanh, rất đa dạng của thương mại quốc tế, các biện pháp quản lý của Hải quan cũng đã hoặc buộc phải có những thay đổi kịp thời, sâu sắc theo hướng vừa tạo thuật lợi cho thương mai, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý của mỗi quốc gia Ở quy mô toàn cầu, điều đó thể hiện ở tiến trình phát triển của các chuẩn mực hải quan quốc tế như: Công ước Kyoto, từ chỗ chỉ đưa ra định hướng thống nhất phát triển nghiệp vụ hải quan đến nay (1999) đã phải sửa đổi bổ sung theo hướng: ràng buộc nhiều hơn các bên ký kết, hạn chế và quy định thời hạn xem xét lại các bảo lưu, xây dựng một cơ cấu tiêu chuẩn để đánh giá và cập nhật các thủ tục hải quan, các thông lệ tốt nhất, nâng cao hơn nữa tính tiên tiến trong các thủ tục hải quan phù hợp yêu cầu quản lý và phục vụ trong bối cảnh mới của thương mại toàn cầu; hay như trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, định nghĩa Brucxel tuy đã tính

Trang 7

đến các nguyên tắc xác định trị giá theo Điều VII của GATT nhưng việc thực hiện vẫn chưa thực sự khách quan, tạo thuận lợi cho thương mại và nay áp dụng xác định trị giá giao dịch – giá thực trả hay phải trả của hàng hóa, tức tôn trọng tính khách quan của thực tiễn thương mại hay nói cách khác từng bước đi đến mục tiêu tôn trọng, tạo thuận lợi cho thương mại Bên cạnh việc cải cách, đổi mới các biện pháp truyền thống, hải quan thế giới còn phát triển các biện pháp nghiệp vụ mới cả về cơ

sở nhận thức cũng như nội dung biện pháp nghiệp vụ, đó là: Kiểm tra sau thông quan, Tình báo hải quan, Quản lý rủi ro…những biện pháp nghiệp vụ có tính then chốt trong việc tăng cường chất lượng quản lý hải quan đồng thời tạo điều kiện cho thương mại phát triển

Toàn bộ quá trình vận động không ngừng nêu trên đã tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển hệ thống thủ tục hải quan hiện đại ở từng quốc gia nhằm đảm bảo rằng các cải cách hiện đại hóa thủ tục hải quan được đề xuất là hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc tế, các thông lệ phổ biến nhất và các tiêu chuẩn

đã được chấp nhận

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thủ tục hải quan thủ công đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển Tuy nhiên, xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới đã đặt Hải quan đứng trước những thách thức mới và một trong số đó là yêu cầu phải cải cách hiện đại hóa nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại và đầu tư phát triển Hiện nay, do yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời trên thực tế lượng hàng hoá nhập khẩu vào Việt nam đang tăng lên đáng kể, việc áp dụng thêm hình thức thủ tục hải quan hiện đại sẽ góp phần thúc đẩy thương mại phát triển nhằm đưa kinh tế nước ta tiến kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới

Một trong những nội dung rất quan trọng trong chương trình cải cách hiện đại hoá Hải quan Việt Nam là vấn đề thủ tục hải quan điện tử Để có thể thực hiện thủ tục hải quan điện tử, Hải quan Việt Nam đã triển khai 2 hoạt động:

Trang 8

Thứ nhất: Thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử

Theo Quyết định số 149/2005/QĐ - TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Hải quan đã trình Bộ Tài chính ký Quyết định số 50/2005/QĐ-BTC ngày 19/7/2005 ban hành Quy định quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Tuy Quyết định 50/2005/QĐ - TTg có nhiều điểm tiến bộ song phần lớn quy trình nghiệp vụ thủ tục vẫn thực hiện bằng phương pháp thủ công, một số bước, một số khâu còn chồng chéo, quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử chưa xác định rõ; chưa

có quy định cho việc tham gia của đại lý thủ tục hải quan

Thứ hai: Thực hiện với sự hỗ trợ từ dự án hiện đại hóa theo nguồn vốn vay

từ Ngân hàng thế giới, dự án Hiện đại hóa hải quan bắt đầu được triển khai từ năm

2006 và sẽ kết thúc vào năm 2010 Một trong những nội dung cơ bản của dự án hiện đại hóa liên quan tới thủ tục hải quan là tái thiết kế quy trình Việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định 149/2005/QĐ - TTg sẽ tạo cơ sở ban đầu cho việc ứng dụng nhanh các kết quả của tái thiết kế quy trình thuộc dự án Hiện đại hóa Hải quan trong phạm vi toàn Ngành

Hai hoạt động trên có điểm chung là phải dựa vào các chuẩn mực quốc tế về thủ tục hải quan Xuất phát từ yêu cầu phải sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện triển mở rộng thủ tục hải quan điện tử thì việc nghiên cứu, áp dụng chuẩn mực quốc tế về thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay rất cần thiết

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Về việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay"

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực công tác hải quan là những vấn đề mang tính thời sự Chỉ tính từ năm 2003 đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng, như:

1 Đề tài khoa học cấp Bộ: "Xây dựng chiến lược phát triển Ngành hải quan đến năm 2010"

Trang 9

2 Đề tài khoa học cấp Ngành: "Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan phù hợp với các cam kết quốc tế mà Hải quan Việt Nam tham gia ký kết"

3 Đề tài khoa học cấp Ngành: " Nghiên cứu một số mô hình quản lý hải quan hiện đại tại các nước phát triển, đề xuất các giải pháp vận dụng vào điều kiện Việt Nam"

4 Đề tài khoa học cấp Ngành: "Nghiên cứu vận dụng Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999 vào thực tiễn hoạt động của Hải quan Việt Nam và xây dựng lộ trình tham gia"

5 Đề tài cấp Ngành: "Một số giải pháp chuẩn hóa công tác Văn phòng theo yêu cầu cải cách, hiện đại hóa Ngành Hải quan"

6 Đề tài cấp Ngành: "Tăng cường mối quan hệ giữa Hải quan và các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập và hiện đại hóa"

7 Đề tài cấp Ngành: Nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng công chức Hải quan đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa"

8 Đề tài cấp Ngành: "Đánh giá hiệu quả tác động của các điều ước quốc tế Việt nam đã ký kết hoặc gia nhập trong lĩnh vực pháp luật Hải quan đến năm 2010"

9 Đề tài cấp Ngành: "Đổi mới công tác quản lý thuế đáp ứng yêu cầu hải quan hiện đại"

10 Đề tài cấp Ngành: "Những cơ hội và thách thức đối với Hải quan khi gia nhập WTO"

Các đề tài nghiên cứu khoa học trên tuy chưa đề cập một cách trực diện đến việc chuẩn hóa thủ tục hải quan điện tử theo các điều ước quốc tế nhưng đã gián tiếp đưa ra các mục tiêu, phương hướng, luận cứ khoa học, các giải pháp nhằm từng bước cải cách, hiện đại hóa Hải quan theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các chuẩn mực quốc tế về thủ tục hải quan điện tử

Trang 10

- Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam hiện nay

- Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam theo các chuẩn mực quốc tế

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu bối cảnh hoạt động của Hải quan hiện nay

- Nghiên cứu kinh nghiệm về triển khai mô hình thủ tục hải quan điện tử của một số nước tiên tiến trên thế giới (như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia)

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả chuẩn mực quốc tế vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4.1 Mục đích của luận văn:

- Đánh giá đúng thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục tục hải quan điện tử ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả chuẩn mực quốc tế vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ của luận văn:

- Nghiên cứu để thấy được sự cần thiết phải áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam hiện nay

- Đưa ra được báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan điện tử của Việt nam

- Đề ra các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả chuẩn mực quốc tế

vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 11

- Yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Chỉ đạo của Chính phủ về triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn tiếp cận phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong

đó nghiên cứu kết hợp các phương pháp đánh giá, thống kê, phân tích, đối chiếu các vấn đề thực tế với nội dung cần nghiên cứu Việc kết hợp các phương pháp cho phép nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện, biện chứng trong mối quan

hệ gắn bó, tác động qua lại trong từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

6 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn làm nổi bật lên tính tất yếu của việc phải chuẩn hóa thủ thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam hiện nay

- Đưa ra được báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan điện tử của Việt nam

- Đề ra các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả chuẩn mực quốc tế

vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

7 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho việc cải cách hiện đại hóa thủ tục hải quan đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập, phát triển kinh tế quốc tế hiện nay

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận về áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử

Chương II: Nội dung các chuẩn mực quốc tế liên quan đến thủ tục hải quan

điện tử và kinh nghiệm của hải quan một số nước về việc áp dụng chuẩn mực quốc

tế trong thủ tục hải quan điện tử

Trang 12

Chương III: Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải

quan điện tử ở Việt Nam và một số giải pháp để đẩy mạnh việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam

Cuối Luận văn là Danh mục tài liệu tham khảo đã được sử dụng trong quá trình viết Luận văn

Trang 13

Chương I Những vấn đề lý luận về áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử

1.1 Khái luận về thủ tục hải quan điện tử

1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan điện tử

Về khái niệm thủ tục hải quan điện tử cho đến nay mặc dù sử dụng rất nhiều , thậm chí đã triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử (Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005), đã qua nhiều lần dự thảo xây dựng Nghị định

về Thủ tục hải quan điện tử nhưng vẫn chưa có văn bản nào đề cập đến khái niệm này Vì chưa có khái niệm cụ thể nên chưa xác định được đúng nội hàm và vì thế việc xác định các nội dung liên quan cũng các bước chuẩn bị triển khai không phải lúc nào cũng rõ ràng, đúng định hướng

Hiện nay các nước không đề cập tới khái niệm “thủ tục hải quan điện tử” mà thường đề cập tới khái niệm “hệ thống tự động hóa hải quan” (customs automation system) Đây là chương trình ứng dụng CNTT để xử lý các nghiệp vụ hải quan Hệ thống gồm nhiều chương trình ứng dụng CNTT để quản lý hàng hóa đưa ra, đưa vào lãnh thổ hải quan, và các chương trình hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ hải quan

Quan niệm về thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam:

Ở Việt Nam chưa có văn bản pháp lý nào định nghĩa rõ ràng thế nào là “Thủ tục hải quan điện tử’ Tuy nhiên, các khái niệm liên quan như “Thủ tục hải quan”,

“GDĐT”, “phương tiện điện tử” đã được quy định tại Luật Hải quan, Luật GDĐT;

cụ thể:

- Thủ tục hải quan: Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan

và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải

- Thủ tục hải quan điện tử: Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan thực hiện bằng phương thức điện tử trong đó hệ thống xử lý dữ liệu tự động phục vụ cho việc thông quan hàng hóa đóng vai trò quyết định Khái niệm thủ tục hải quan điện

tử rất rộng bao hàm từ khai báo điện tử, lưu trữ điện tử, trao đổi xử lý thông tin, dữ liệu điện tử từng phần hoặc toàn phần cho đến thủ tục hải quan phi giấy tờ…

Trang 14

- Chứng từ hải quan điện tử: Chứng từ hải quan điện tử là tờ khai hải quan điện

tử và các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan được nộp cho cơ quan hải quan thông qua phương tiện điện tử

- Giao dịch điện tử: Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử

- Phương tiện điện tử: Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện

từ hoặc công nghệ tương tự

Ngoài ra, còn có một số tài liệu đề cập đến khái niệm thủ tục hải quan điện tử

Ví dụ như Đề tài nghiên cứu khoa học số 05-2005 “Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan” định nghĩa

“Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan được thực hiện bằng phương thức điện

tử trong đó hệ thống xử lý dữ liệu tự động phục vụ cho việc thông quan hàng hóa đóng vai trò quyết định Khái niệm thủ tục hải quan điện tử rất rộng, bao hàm từ khai báo điện tử, lưu trữ điện tử, trao đổi xử lý thông tin, dữ liệu điện tử từng phần hoặc toàn phần cho đến thủ tục hải quan phi giấy tờ,…” (trang 99)

Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án hiện đại hóa Hải quan vay vốn Ngân hàng thế giới xác định một số đặc trưng cơ bản của thủ tục hải quan điện tử : (i) Hầu hết khai hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện thông quan mạng; (ii) Xử lý hồ sơ hải quan thông qua mạng máy tính; (iii) Hệ thống phân luồng tự động trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro; (iv) Thiết lập kết nối trao đổi dữ liệu điện tử với các hãng vận chuyển, cảng vụ, sân bay, đại lý, kho bạc, ngân hàng, các cơ quan cấp phép để tiếp nhận thông tin về hàng hóa, hành khách trước khi phương tiện nhập cảnh; (v) Thực hiện thông quan trước khi hàng đến đối với các doanh nghiệp

có độ tuân thủ cao

Những khái niệm và đặc trưng trên cho ta một cái nhìn ban đầu về thủ tục hải

quan điện tử và theo một nghĩa chung nhất thì có thể coi: Thủ tục Hải quan điện tử

là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục quản lý thuế) được thực hiện bằng phương tiện điện tử Nội dung thực hiện thủ tục hải quan điện tử được thể hiện ở chỗ:

Trang 15

Doanh nghiệp gửi và nhận thông tin (bao gồm thông tin trong tờ khai và các chứng từ liên quan) tới cơ quan hải quan bằng phương tiện điện tử

Cơ quan hải quan tiếp nhận, xử lý, ra quyết định và phản hồi thông tin bằng phương tiện điện tử Để có thể tiếp nhận, xử lý bằng phương tiện điện tử, cơ quan hải quan phải có trung tâm tiếp nhận, xử lý, lưu trữ dữ liệu điện tử đủ mạnh; tự động hóa các quy trình nghiệp vụ; sử dụng kỹ thuật quản lý hải quan và hệ thống máy móc hiện đại hỗ trợ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa để nâng cao mức độ

tự động hóa của hệ thống

Cơ quan hải quan cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho các doanh nghiệp

1.1.2 Mối quan hệ giữa “thủ tục hải quan điện tử” và “thủ tục hải quan truyền thống”

Từ khái niệm về thủ tục hải quan điện tử ở phần trên, ta có thể thấy, thủ tục hải quan điện tử, xét về nội dung cũng như phương diện nghiệp vụ hải quan, là hoàn toàn trùng khớp với thủ tục hải quan nói chung, hay thủ tục hải quan truyền thống nói riêng Vì thế, thủ tục hải quan điện tử mang hầu hết các đặc trưng nghiệp vụ của thủ tục hải quan: được thực hiện đối với tất cả các loại hình quản lý hàng hóa, phương tiện vận tải, ở tất cả các khâu trước, trong, sau thông quan Điểm khác biệt lớn nhất của thủ tục hải quan điện tử so với thủ tục hải quan truyền thống chính là phương thức thực hiện (thủ tục hải quan truyền thống thực hiện bằng thủ công; thủ tục hải quan điện tử thực hiện bằng phương thức điện tử) trên cơ sở sự ứng dụng nền tảng CNTT để từ thủ tục hải quan truyền thống, với một hệ thống đồ sộ các công việc được tiến hành thủ công và các loại chứng từ, giấy tờ phụ trợ đi kèm, trở thành một hoạt động nghiệp vụ được tự động hóa cao dựa trên các thông tin, chứng

từ điện tử và phi giấy tờ

Cụ thể hơn, có thể thấy những khác biệt cơ bản giữa hai phương thức làm thủ tục hải quan như sau:

Về thông tin khai báo: nếu thủ tục hải quan truyền thống yêu cầu khai báo thông tin trên các mẫu văn bản cố định thì thủ tục hải quan điện tử chỉ yêu cầu khai báo thông tin dưới dạng mã hóa vào hệ thống máy tính;

Trang 16

Về hồ sơ hải quan: hồ sơ hải quan truyền thống là tập hợp các loại chứng từ, giấy tờ nhằm chứng minh cho những thông tin đã khai báo trên tờ khai hải quan Còn hồ sơ hải quan điện tử là tệp dữ liệu điện tử bao gồm các chỉ tiêu thông tin khai báo và chứng từ hỗ trợ được điện tử hóa, gửi kèm theo các chỉ tiêu thông tin nêu trên;

Về phương thức tiếp nhận khai báo: trong khi thủ tục hải quan truyền thống yêu cầu người khai hải quan phải trực tiếp đến văn phòng hải quan để nộp bộ hồ sơ hải quan thì thủ tục hải quan điện tử cho phép người khai có thể gửi các chỉ tiêu thông tin qua mạng internet đến hệ thống thông tin điện tử của cơ quan hải quan;

Về cách thức xử lý thông tin: thủ tục hải quan điện tử trực tiếp kiểm tra, đối chiếu một cách tự động hoặc bán tự động đối với các chỉ tiêu thông tin Còn thủ tục hải quan truyền thống lại yêu cầu công chức hải quan phải trực tiếp đọc từng chứng

từ kèm theo tờ khai hải quan để so sánh, đối chiếu, kiểm tra tính chính xác, thống nhất của nội dung khai báo Vì vậy, xử lý bộ hồ sơ trong thủ tục hải quan điện tử trở nên nhanh chóng, giản tiện hơn nhiều so với xử lý bộ hồ sơ hải quan thủ công;

Về phương pháp QLRR: Về bản chất, không có sự khác biệt đáng kể giữa áp dụng CNTT trong thủ tục hải quan truyền thống và thủ tục hải quan điện tử Tuy nhiên, đối với QLRR trong thủ tục hải quan điện tử sẽ được thường xuyên cập nhật, thanh loại tiêu chí một cách sát thực vào hệ thống phục vụ phân luồng kiểm tra hơn trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin về doanh nghiệp và mặt hàng thường xuyên làm thủ tục hải quan tại tất cả các cấp Bên cạnh đó, QLRR trong thủ tục hải quan điện tử được xây dựng bằng các bài toán kỹ thuật thống nhất, rà soát tổng thể trong nhiều phạm vi (Chi cục, Cục, Tổng cục, theo từng mặt hàng, nhóm mặt hàng ) theo cùng một phương pháp đối với tất cả các hồ sơ hải quan, dù cho là thuộc loại hình nào, của đối tượng nào và kinh doanh loại hàng nào

Về cách thức phản hồi thông tin: thủ tục hải quan điện tử phản hồi trực tiếp vào hệ thống CNTT của người khai hải quan thông qua các thông điệp, thông báo (message) điện tử Người khai hải quan được giao tiếp với cơ quan hải quan gián tiếp thông qua hệ thống máy tính Ngược lại, thủ tục hải quan truyền thống lại yêu

Trang 17

cầu sự hiện diện của cả người khai hải quan và công chức hải quan, từ đó công chức hải quan thông báo, bằng miệng hoặc bằng văn bản, cho người khai hải quan về kết quả xử lý nghiệp vụ, cũng như hướng dẫn người khai hải quan tiếp tục thực hiện các bước đi tiếp theo của quy trình thủ tục hải quan

Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản trên, thủ tục hải quan điện tử đòi hỏi cơ quan hải quan phải được trang bị một nền tảng CNTT đủ mạnh và bắt buộc sử dụng các kỹ thuật quản lý, trang thiết bị hiện đại Còn thủ tục hải quan truyền thống thì có thể sử dụng các ứng dụng CNTT, các kỹ thuật quản lý hoặc cũng có thể không hề

sử dụng các phương tiện, công cụ này trong suốt quá trình làm thủ tục hải quan

Từ những đặc điểm cơ bản của thủ tục hải quan điện tử so với thủ tục hải quan truyền thống nêu trên, có thể thấy thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan truyền thống có tính độc lập tương đối, song cũng có quan hệ hữu cơ với nhau Cụ thể là:

Thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan truyền thống đều dựa trên những nguyên tắc cơ bản nhất, nền tảng nhất của thủ tục hải quan Đó là những hoạt động nghiệp vụ nhằm quản lý sự ra vào hay xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong lãnh thổ hải quan Các hoạt động đó có thể được thực hiện bằng các phương thức khác nhau nhưng đều nhằm một mục đích tạo thuận lợi thương mại, thu thuế, bảo vệ quốc gia khỏi những nguy cơ tiềm ẩn đến từ các loại hàng hóa, phương tiện vận tải Thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan truyền thống có thể sử dụng cơ sở

dữ liệu riêng biệt, thủ tục điện tử là cơ sở dữ liệu điện tử hóa, còn thủ tục hải quan truyền thống là cơ sở dữ liệu lưu trên các chứng từ, tài liệu giấy, hoặc cũng có thể

sử dụng cơ sở dữ liệu chung, điện tử hóa

Thủ tục hải quan điện tử, dù có được tự động hóa đến mức nào, thì cũng có những khâu, những động tác phải được hỗ trợ bằng hoạt động của con người (Ví dụ như khâu kiểm tra hồ sơ giấy, khâu kiểm hóa)

Vì thủ tục hải quan điện tử phải phụ thuộc nhiều vào năng lực hoạt động của

hạ tầng CNTT nên ở những khâu mà CNTT chưa đáp ứng hoặc xảy ra sự cố làm cho thủ tục hải quan điện tử không thể hoạt động được; khi đó, thủ tục hải quan

Trang 18

truyền thống chính là một “cứu cánh” thực sự hữu hiệu và hiệu quả Tuy nhiên, một khi một quy trình thủ tục hải quan đã được bắt đầu vận hành theo phương thức nào, điện tử hay thủ công, thì toàn bộ quy trình sẽ được “chạy” trên hệ thống riêng đó đến tận điểm – nội dung cuối cùng Một quy trình nghiệp vụ hải quan không thể

“nhảy”, dù là 1 lần hay liên tục, từ hệ thống điện tử sang hệ thống thủ công, trừ phi chấm dứt trên một hệ thống và quay lại từ bước đầu trên hệ thống còn lại

Trên thực tế, mặc dù xu hướng toàn cầu hiện nay là thực hiện thủ tục hải quan điện tử, nhưng không có một quốc gia nào từ chối, phủ nhận hay hoàn toàn loại bỏ

sự tồn tại của thủ tục hải quan thủ công Bởi vì đối với một số khâu, loại hình, trên những địa bàn nhất định; việc áp dụng thủ tục thủ công sẽ tiết kiệm nguồn lực và hiệu quả hơn rất nhiều so với thủ tục điện tử Ví dụ như thủ tục hải quan đối với hành lý của khách xuất nhập cảnh, thủ tục hải quan đối với hàng hóa mua bán của

cư dân biên giới đường bộ, thủ tục hải quan ở những địa bàn có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thấp

1.1.3 Vai trò của thủ tục hải quan điện tử trong hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.3.1 Thủ tục hải quan điện tử với TMQT

Hải quan có vai trò chủ chốt trong TMQT và tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp Khi hàng hóa được dịch chuyển qua biên giới, chủ hàng phải cung cấp, xuất trình thông tin, tài liệu, hàng hóa có thể bị kiểm tra thực tế Điều này

sẽ làm phát sinh chi phí hành chính đối với các giao dịch thương mại, thủ tục hải quan điện tử được thực hiện với mục đích là giữ các chi phí này ở mức thấp mà không làm phát sinh rủi ro lớn đối với Hải quan Chính vì vậy, thủ tục hải quan điện

tử có vai trò rất quan trọng đối với TMQT, cụ thể:

Tạo thuận lợi thương mại: Thủ tục hải quan điện tử được xác định là giữ vai trò

quan trọng nhất trong các biện pháp tạo thuận lợi thương mại

Bảo đảm sự tuân thủ với các quy tắc TMQT: Thủ tục hải quan điện tử được thực hiện trên cơ sở áp dụng các chuẩn mực, thông lệ về hải quan tốt nhất để chuẩn hóa, đơn giản và hài hòa hóa các quy trình nghiệp vụ của cơ quan hải quan với quy trình kinh doanh của doanh nghiệp Do đó sẽ đảm bảo sự tuân thủ với các quy tắc

Trang 19

TMQT, không gây cản trở tới quá trình tiếp cận thị trường và tính cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp trên trường quốc tế;

Giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ hải quan và doanh nghiệp;

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với Hải quan và các cơ quan quản lý biên giới khác trở nên thuận tiện, thân thiện, minh bạch, đỡ tốn kém và hiệu quả hơn thông qua thiết lập thông tin trao đổi điện tử giữa các bên;

Bảo đảm sự bình đẳng và thúc đẩy sự cạnh tranh cho các chủ thể liên quan tới các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu: Khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử, các chính sách, quy trình được đơn giản, minh bạch, áp dụng một cách thống nhất đối với các đối tượng tham gia thủ tục hải quan điện tử; doanh nghiệp được tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, Do đó, các doanh nghiệp không bị phân biệt đối

xử, được chủ động về thông tin do đó sẽ chủ động được các hoạt động kinh doanh của mình;

Bên cạnh đó, việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử làm cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công do cơ quan hải quan cung cấp; bao gồm truy xuất các thông tin về kinh doanh, tải các mẫu đơn, gia hạn giấy phép, đăng ký kinh doanh, xin cấp phép và nộp thuế… Các dịch vụ này sẽ cho phép đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, hỗ trợ quá trình phê duyệt đối với các yêu cầu của doanh nghiệp, sẽ thúc đẩy kinh doanh phát triển đặc biệt là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp

Giảm chi phí và thời gian, nhân lực: Với thủ tục hải quan điện tử, doanh nghiệp chỉ cần khai tờ khai điện tử và gửi đến cơ quan hải quan; làm thủ tục hải quan trong thời gian rất ngắn ngay cả khi khoảng cách giữa địa điểm làm thủ tục hải quan và

trụ sở doanh nghiệp rất xa nhau (mà không bị giới hạn bởi không gian địa lý;

Giảm thiểu các loại chứng từ, tài liệu và các thủ tục không cần thiết: Việc nộp, xuất trình nhiều loại chứng từ, tài liệu cũng như việc thực hiện các thủ tục hành chính giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, giữa các cơ quan quản

lý nhà nước với nhau chiếm nhiều thời gian và chi phí khá lớn đối với thương mại

Trang 20

và ngân sách nhà nước Các chứng từ, tài liệu điện tử và việc xử lý các chứng từ, tài liệu, hàng hóa trong thời gian ngắn và được sử dụng bộ chứng từ, tài liệu gốc xuất trình Hải quan và các cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ làm giảm gánh nặng hành chính và các chi phí, thời gian đối với chuỗi cung ứng TMQT Tại Singapore, trước khi có hệ thống TradeNet; các doanh nghiệp Singapore thường phải nộp khoảng 21 loại chứng từ tới 23 cơ quan khác nhau, quy trình xử lý thường mất 15-20 ngày Sau khi áp dụng hệ thống TradeNet, các doanh nghiệp chỉ phải nộp 2 loại chứng từ và nhận tất cả các chấp thuận cần thiết của chính phủ trong vòng 15 phút Với những

ưu thế đó, việc thực hiện thương mại điện tử đã “tiết kiệm 15% giá trị hàng hóa nhập khẩu; hệ thống này làm tăng tính hiệu quả và tiết kiệm được hơn 1 tỷ USD mỗi năm”, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia vào các

đã và đang hình thành nên những nét chung của nền hành chính hiện đại, bên cạnh những đặc điểm riêng của nền hành chính mỗi nước Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nền hành chính hiện đại đó là sự ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới nhất vào quản lý hành chính nhà nước, xây dựng nền hành chính điện tử- chính phủ điện tử trên 2 trụ cột quan trọng: Áp dụng các CMQT về quản lý hành chính nhà nước và quản lý nghiệp vụ; Ứng dụng CNTT và truyền thông vào quản lý hành chính nhà nước

Nhận thức được những lợi ích to lớn của quản lý hành chính hiện đại, Hải quan các nước nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học vào hoạt động quản

Trang 21

lý hành chính và hoạt động nghiệp vụ Hầu hết các chương trình cải cách, hiện đại hóa quản lý của các cơ quan hải quan đều dựa trên 2 trụ cột này và tích hợp các quy trình và thủ tục hải quan vào hệ thống thông tin được tự động hóa, cụ thể là việc thực hiện các nội dung:

Thứ nhất: Áp dụng đồng thời các tiêu chuẩn của tổ chức về tiêu chuẩn hóa quốc tế - ISO đối với các hoạt động quản lý hành chính thông thường; áp dụng các các chuẩn mực, thông lệ tốt nhất về hải quan của WCO, WTO, Liên Hợp quốc… Thứ hai: Ứng dụng CNTT và truyền thông vào các khâu thực hiện thủ tục hải quan và các hoạt động nghiệp vụ từ khai báo hải quan, xác nhận dữ liệu, xử lý tờ khai hàng hóa, kiểm tra hải quan, kiểm soát hàng hóa tồn kho, thông báo điện tử giải phóng hàng, hạch toán số thu tới kiểm soát hải quan

Thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại các nước đã đem lại những lợi ích to lớn cho thực hiện cải cách hành chính, hiện đại hóa quản lý của cơ quan hải quan Theo đánh giá của WCO tại Hướng dẫn về Ứng dụng CNTT, Chương 7 Phụ lục Tổng quát, Công ước Kyoto sửa đổi thì việc áp dụng CNTT nói chung và thực hiện thủ tục hải quan điện tử nói riêng đem lại những lợi ích sau cho cơ quan hải quan: Kiểm soát hiệu quả hơn: Việc áp dụng QLRR trong môi trường tự động hóa, đặc biệt khi các chức năng kiểm soát hàng hoá và/hoặc kiểm tra quá trình khai báo hàng hoá cũng như khai báo của khách xuất nhập cảnh đã được tự động hoá, quá trình lựa chọn có thể được tiến hành trên cơ sở kỹ càng và có nhiều thông tin hơn Thông tin tình báo do Hải quan thu thập có thể được đưa vào hệ thống máy tính và được xem xét đến khi tiến hành quá trình lựa chọn Khả năng phát hiện những hành

vi gian lận vì vậy được tăng cường hơn trong môi trường sử dụng hệ thống tự động hoá, nơi các tệp dữ liệu liên quan tới việc chọn lọc có thể được xử lý một cách có hệ thống, chính xác và kịp thời hơn

Thông quan hiệu quả hơn: Thực hiện thủ tục hải quan điện tử cho phép xử lý thông tin trước khi hàng đến và/hoặc trước khi hàng đi Xử lý thông tin thường xuyên trước khi hàng hoá thực tế vào lãnh thổ Hải quan hoặc sắp rời lãnh thổ Hải quan cho phép Hải quan kiểm tra thông tin và tiến hành đánh giá rủi ro về hàng hoá

Trang 22

Với thông tin đã có sẵn, quyết định giải phóng hàng hoá có thể được chuyển đi ngay khi hàng hoá đến thông qua sử dụng phương thức điện tử

Áp dụng thống nhất luật hải quan: Các qui định pháp luật mà Hải quan phải thực thi ngày càng nhiều và phức tạp Trong môi trường làm việc thủ công, Hải quan cảm thấy khó khăn để chắc chắn được rằng họ đã xem xét đến toàn bộ các quy định hiện hành khi xử lý hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu hay chưa Khi ứng dụng

hệ thống tin học hoá, mọi giao dịch được xử lý theo cách thức thống nhất, vì vậy đảm bảo áp dụng nhất quán các quy định luật pháp trong nước và đối xử ngang bằng với tất cả các đối tác thương mại Việc sử dụng các kỹ thuật lập mẫu mô hình kinh doanh và dữ liệu theo CMQT cho phép áp dụng thống nhất hơn và đối xử công bằng trong phạm vi các quy tắc thương mại để khi luật pháp thay đổi thì bản thân các quy tắc cũng thay đổi

Thu thuế hiệu quả hơn: Tự động hoá quy trình thu thuế góp phần đảm bảo rằng thuế được thu chính xác và tính toán kịp thời Các khoản nợ quá hạn hoặc nợ xấu có thể được xác định và xử lý nhanh chóng

Phân tích dữ liệu hiệu quả hơn: Tự động hoá các hệ thống Hải quan cho phép Hải quan truy cập ngay lập tức các thông tin cập nhật và cùng với việc ứng dụng Hệ thống thông tin quản lý, Hải quan có thể sử dụng thông tin này một cách hữu ích

Tự động hoá hải quan còn tạo khả năng kiểm soát sau kiểm tra hiệu quả hơn ở cả cấp độ địa phương và toàn quốc

CNTT cho phép các doanh nhân gửi đến Hải quan dữ liệu không có lỗi một cách kịp thời Dữ liệu được gửi và tiếp nhận theo phương thức điện tử có thể chính xác hơn do trong hệ thống nhận thông tin tự động có các chức năng kiểm tra giá trị

và độ tin cậy của dữ liệu Điều này đảm bảo rằng bất kỳ phân tích dữ liệu nào được thực hiện cũng sẽ chính xác hơn

Thống kê ngoại thương hiệu quả: Hầu hết các cơ quan Hải quan đều có nhiệm

vụ thu thập dữ liệu thương mại và nhiều cơ quan Hải quan còn chịu trách nhiệm thu thập số liệu thống kê ngoại thương của nước mình Dữ liệu phục vụ cho thống kê ngoại thương thường được thu thập từ các tờ khai hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu

Trang 23

Nếu các tờ khai hàng hoá không được xử lý bằng máy tính để thông quan thì việc lấy dữ liệu phải thực hiện sau Tuy nhiên, nếu quá trình khai báo tự động diễn ra thì

số liệu thống kê thương mại đã có trong số liệu thống kê nhận được tại thời điểm xuất khẩu và nhập khẩu theo cách thức đã cơ cấu Điều này rất hiệu quả về chi phí

và các số liệu thống kê có được theo cách này sẽ chính xác và cập nhật hơn Nhờ

đó, các cơ quan chính phủ khác có thể nhanh chóng ra quyết định, áp dụng các biện pháp phù hợp khi cần thiết

Nâng cao chất lượng dữ liệu: Một lợi ích lớn hơn nữa của CNTT là dữ liệu có

độ chính xác cao hơn nhờ có các chức năng kiểm tra giá trị và độ tin cậy trong quá trình tiếp nhận dữ liệu Do việc này được thực hiện khi hàng hoá vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Hải quan nên có thể xử lý các sai lệch dễ dàng hơn Các thao tác kiểm tra này đảm bảo độ tin cậy của các dữ liệu cơ bản dạng thô và được lưu trong hệ thống máy tính của Hải quan

Đánh giá dữ liệu (đảm bảo thông tin không chính xác không nhập được vào bản khai trên máy tính) có tầm quan trọng lớn nhất nếu như các lợi ích của tự động hoá đạt được trong thực tế Nếu số liệu không có giá trị được phép nhập vào hệ thống này thì kết quả của bất kỳ quá trình xử lý nào cũng đều không có giá trị và việc đầu tư các nguồn lực và đầu tư tiền của trở nên lãng phí

Thủ tục hải quan điện tử đem lại nhiều lợi ích cho cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước nói chung và trong lĩnh vực hải quan nói riêng Tuy nhiên, sự tác động này không phải là mối quan hệ một chiều; sự tác động của cải cách hành chính tới thủ tục hải quan điện tử mới là khâu then chốt để hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan vì:

Thứ nhất: Ứng dụng CNTT chỉ phát huy được hiệu quả khi quy trình thủ tục hải quan đã được đơn giản, hài hòa, minh bạch và chuẩn hóa Nếu hệ thống hành chính vẫn còn các quan hệ, quy trình, thủ tục rườm rà, không minh bạch rõ ràng và còn chồng chéo giữa các cơ quan Nhà nước thì không thể viết các thuật toán, quy trình cho thủ tục hải quan điện tử được Mặt khác, cốt lõi của cải cách hành chính đối với ngành hải quan là cải thiện môi trường làm thủ tục hải quan, hoạt động của

Trang 24

cơ quan hải quan đặc biệt là tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức Cải cách hành chính là điều kiện tiên quyết để áp dụng thủ tục hải quan điện tử

Thứ hai: CNTT trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử xét cho cùng chỉ là công cụ, phương tiện để cải cách hành chính, hiện đại hóa hoạt động quản lý; nó chỉ đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa chứ không phải là khâu quyết định cho sự thành công của cải cách hành chính

Chính vì những lý do trên mà để thực hiện thành công thủ tục hải quan điện tử trước hết chính phủ mỗi nước cần thực hiện cải cách thủ tục hành chính Đây là một trong những khâu then chốt quyết định tới thành công của các dự án hiện đại hóa hải quan nói riêng và dự án chính phủ điện tử nói chung

1.2 Khái luận về chuẩn mực quốc tế

1.2.1 Khái niệm chuẩn mực quốc tế

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư “CMQT là những tiêu chuẩn được các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế xây dựng và phát triển Các chuẩn mực này được chấp nhận

và phổ biển toàn cầu”

Các CMQT có thể được sử dụng một cách trực tiếp hoặc thông qua một quy trình chuyển đổi để sử dụng với những điều kiện phù hợp Việc chấp nhận các CMQT sẽ hình thành những chuẩn mực quốc gia tương đương, theo nghĩa về căn bản các chuẩn mực này giống nội dung kỹ thuật của các CMQT, nhưng có thể có một số sửa đổi về hình dạng, cách sử dụng các hình ảnh, ký tự hoặc các đơn vị đo lường… hoặc có sự khác nhau về quy định của các nước do phải điều chỉnh các yêu cầu kỹ thuật phù hợp với điều kiện khí hậu, địa lý, kỹ thuật, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, các yêu cầu về an toàn ở mỗi nước

Theo Điều 1, Công ước Kyoto sửa đổi: “Chuẩn mực” được hiểu như một quy định mà việc thi hành nó được thừa nhận là cần thiết để đạt được mục đích hài hòa

và đơn giản hóa các thủ tục và thông lệ hải quan

1.2.2 Các lợi ích khi áp dụng CMQT trong thủ tục hải quan điện tử

Trang 25

Áp dụng các CMQT trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử là khía cạnh kỹ thuật được các tổ chức quốc tế (WTO, WCO, UNCTAD…) yêu cầu và các

nước thực hiện trên cơ sở những lợi ích mà các chuẩn mực đem lại, cụ thể:

Tăng cường độ chắc chắn và khả năng dự báo của quy định và chính sách thương mại thông qua việc chuẩn hóa các định nghĩa, các thông tin, tài liệu về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải xuất trình hoặc nộp trên cơ sở áp dụng những chuẩn mực thống nhất trên phạm vi toàn cầu

Loại bỏ các thông tin, thủ tục trùng lặp; giảm thiểu sự sai sót trong quá trình thực hiện nhiều lần thủ tục giống nhau; làm cho thông tin trở nên đơn giản, dễ hiểu Hài hòa hóa thủ tục, quy trình nghiệp vụ của cơ quan hải quan với các cơ quan quản lý khác và doanh nghiệp là quá trình tìm ra sự tương đồng và các giải pháp tối

ưu để chuẩn hóa quy định, thủ tục hành chính và các quy trình nghiệp vụ; làm giảm những cản trở, góp phần tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa quốc tế, giúp cho mỗi doanh nghiệp lựa chọn các quy trình nghiệp vụ phù hợp với năng lực và phương thức điều hành của mình

Nâng cao chất lượng, hiệu quả và khắc phục những nhược điểm phổ biến của quản lý hành chính là làm theo thói quen, kinh nghiệm, tùy tiện: Thực hiện các CMQT được thực hiện trên cơ sở rà soát các thủ tục hành chính, các quy trình nghiệp vụ nhằm xây dựng một quy trình xử lý công việc nhất quán, khoa học, hợp

lý, xác định rõ công việc, người thực hiện công việc, cách thức, trình tự và các biểu mẫu thực hiện; đảm bảo cơ sở, căn cứ pháp lý để người lãnh đạo có thể kiểm soát được quá trình giải quyết công việc nội bộ của cơ quan hải quan Mặt khác, thực hiện chuẩn mực thống nhất cũng sẽ làm giảm thiểu sự ngăn cách về mặt ngôn ngữ, tạo điều kiện cho các bên xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền nói chung và cơ quan hải quan nói riêng xử lý nhanh chóng giấy tờ,

sổ sách liên quan tới hàng hóa

Tiêu chuẩn hóa ở mức độ có thể các tiêu chí thực hiện pháp luật đối với cả cơ quan hải quan, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước có liên quan; qua đó có thể đảm bảo được tính khách quan trong việc đánh giá quá trình thực hiện pháp luật của

Trang 26

các đối tượng này Bên cạnh đó, mọi thủ tục hải quan đều được thực hiện theo các quy trình, cách thức nhất định, do đó các quy định của Nhà nước về hoạt động hải quan đều được thực hiện thống nhất, theo đó mà các chủ thể hoạt động xuất nhập khẩu đều được đối xử như nhau

Là yếu tố quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa các nước: quá trình đơn giản hóa, hài hòa hóa các quy định về quản lý hải quan ở các nước sẽ dần dần hình thành quy trình xử lý tờ khai tương đồng Việc áp dụng các quy trình, chuẩn mực tương đồng sẽ tạo môi trường pháp lý khách quan, thống nhất và bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham gia TMQT, hạn chế các rào cản thương mại, sự can thiệp bất hợp lý của các nước

Trang 27

Chương 2 Nội dung các chuẩn mực quốc tế liên quan đến thủ tục hải quan điện tử

2.1 Các chuẩn mực, khuyến nghị của WTO, LHQ về thủ tục hải quan:

Theo hiệp định thành lập WTO, mục tiêu của WTO là hướng đến việc giảm tối

đa thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ TMQT nhằm tạo thuận lợi tối đa cho TMQT Điều 8, mục 1c GATT 94 nêu rõ: “cần thiết phải giảm thiểu các tác động cũng như tính phức tạp của các thủ tục về xuất nhập khẩu để giảm bớt và đơn giản hóa các yêu cầu

về chứng từ làm thủ tục xuất nhập khẩu” Theo đó, WTO đã tổ chức nhiều phiên đàm phán để đưa ra những chuẩn mực về tạo thuận lợi thương mại Các phiên đàm phán này đang được tiếp tục trong năm 2008 để thống nhất ý kiến của các thành viên, đưa ra bộ tiêu chuẩn chung đồng thời hướng dẫn các thành viên tự đánh giá mức độ tuân thủ của mình Mặc dù những chuẩn mực này chưa được phê chuẩn và công bố chính thức nhưng đã được hầu hết các thành viên thống nhất, áp dụng trong quá trình cải cách hiện đại hóa hải quan

Vấn đề tạo thuận lợi thương mại của WTO được WCO, Liên hợp quốc quan tâm và phát triển, đưa ra những chuẩn mực và tài liệu kỹ thuật hướng dẫn thực hiện Đặc biệt, UNCTAD đã đưa ra bộ “Các lưu ý kỹ thuật về các biện pháp thuận lợi hoá thương mại” với 21 nội dung bao gồm các vấn đề về phí và lệ phí, đơn giản hóa chứng từ thương mại, hệ thống thông quan tự động, quyết định trước…

Quá trình thực hiện các chuẩn mực về tạo thuận lợi thương mại gắn liền với quá trình cải cách hiện đại hóa của hải quan các nước, trong đó thủ tục hải quan điện tử là một công cụ hữu ích nhất để thực hiện các chuẩn mực này Dưới đây là những chuẩn mực có liên quan đến thủ tục hải quan điện tử nhằm đảm bảo tuân thủ

các hiệp định của WTO về tạo thuận lợi thương mại

Tự động hóa: WTO yêu cầu “Thành viên sử dụng CNTT và thương mại điện tử

để tự động hóa các thủ tục xuất nhập khẩu của mình ở mức tối đa có thể” Các nước thành viên thực hiện tự động hóa các quy trình thủ tục như: thông quan, xác định trị giá, thanh toán thuế… và các nội dung được tự động hóa này phải được

Trang 28

quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia Ngoài ra, các nước thành viên khi xây dựng các kế hoạch về CNTT, các chiến lược kinh tế quốc gia cần phải tính đến các phương án điện tử áp dụng đối với các thủ tục hành chính

Một số điểm cần lưu ý khi tự động hóa:

Cơ quan hải quan ưu tiên phát triển hệ thống thông quan tự động hóa

Các hệ thống cần được thiết kế theo hướng tối đa tốc độ thông quan trong khi vẫn duy trì được sự kiểm soát hải quan và tăng cường năng lực của quy trình thông quan dựa trên QLRR

Nên lắp đặt các thiết bị chuyển tiền điện tử để đảm bảo thanh toán nhanh các khoản thuế, phí và thu khác

Giải phóng hàng tự động để phục vụ quy trình thông quan hàng nhanh, giảm ách tắc tại cảng, sân bay và tạo thuận lợi chung cho lưu thông các lô hàng cụ thể Quá trình lập kế hoạch cũng phải xác định rõ năng lực của cơ quan hải quan và nghiệp vụ cần CNTT hỗ trợ để đáp ứng được các nhu cầu trước mắt và mục tiêu chiến lược lâu dài của cơ quan hải quan cũng như của các bên liên quan

Tài liệu kỹ thuật của UNCTAD về sử dụng hệ thống hải quan tự động phân tích và hướng dẫn cụ thể về tự động hóa UNCTAD khuyến nghị về các điều kiện chuẩn bị cho tự động hóa hải quan bao gồm:

- Tạo dựng sự ủng hộ về mặt chính trị của chính phủ và lãnh đạo ngành hải quan, sự ủng hộ của đội ngũ nhân viên hải quan và những bên liên quan (doanh nghiệp, đại lý hải quan…) đối với quá trình cải cách và hiện đại hóa

- Phân chia quá trình tự động hóa thành các giai đoạn để thực hiện

- Nghiên cứu áp dụng các công ước, chuẩn mực và công cụ quốc tế khác để xây dựng hệ thống hải quan tự động bao gồm: Xây dựng danh mục hàng hóa và biểu thuế theo công ước HS (WCO), các biểu mẫu chứng từ dựa trên bộ mẫu chứng từ của Liên hợp quốc

- Xem xét đánh giá, sửa đổi toàn diện hệ thống luật pháp hải quan và các quy định khác có liên quan để đảm bảo sự phù hợp với thủ tục mới, nhất là quy định xuất trình chứng từ, dữ liệu bằng phương thức điện tử và cơ chế một cửa

Trang 29

UNCTAD cũng khuyến nghị cần đào tạo và xây dựng đội ngũ nhân viên, chuẩn bị nguồn vốn sẵn có để đổi mới và thay thế trang thiết bị, cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu tự động hóa hải quan

Khai báo trước và thông quan trước: WTO yêu cầu các nước thành viên có

chính sách cho phép doanh nhân xuất trình hồ sơ hàng hóa nhập khẩu và những thông tin theo yêu cầu cho cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan tại cửa khẩu trước khi hàng đến Trường hợp không cần kiểm tra thực tế và các điều kiện khác đã đáp ứng đầy đủ (như việc nộp thuế đã được đảm bảo) thì hàng hóa có thể được giải phóng hoặc thông quan ngay lập tức khi hàng đến cửa khẩu Trong các phiên đàm phán về tạo thuận lợi thương mại, WTO đề xuất chuẩn mực cơ bản:

“Thành viên sẽ đưa ra các điều khoản khi đăng ký tờ khai và quy trình thủ tục về dữ liệu thông quan và hồ sơ trước khi hàng đến” WTO đặc biệt khuyến nghị các nước thành viên áp dụng hình thức này đối với hàng chuyển phát nhanh và nên có điều khoản về bản lược khai hàng hoá Các nước thành viên cũng nên thực hiện hình thức điện tử trong thủ tục khai báo trước và thông quan trước Thông quan trước khi hàng đến là một phần của phương pháp tiếp cận QLRR trong việc kiểm tra hải quan

và cần được áp dụng kết hợp với quá trình thông quan hiệu quả và kiểm tra sau thông quan Khai báo trước dựa trên việc xuất trình sớm những chứng từ có những

số liệu chi tiết cho phép các thương nhân nhận hàng ngay khi hàng đến Việc kiểm tra các dữ liệu hàng hóa bằng phương tiện điện tử là một phương pháp hiệu quả nhất, cho phép Hải quan tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, dữ liệu và thông tin về hàng hóa trước khi hàng đến, gửi thông báo qua hệ thống (trực tuyến) tới nhà nhập khẩu nếu phải kiểm tra thực tế hàng hóa và ra quyết định thông quan trên hệ thống

UNCTAD cho rằng mặc dù thông quan trước có thể được áp dụng trong môi trường thủ công hoặc bán tự động nhưng những kết quả tốt nhất có thể đạt được trong triển khai thông quan trước luôn đi cùng với việc thực hiện tự động hóa các thủ tục

Áp dụng QLRR: “Thành viên sẽ tiến hành kiểm tra và giám sát dựa trên việc

áp dụng QLRR” Hệ thống CNTT tiên tiến có thể hỗ trợ hải quan các nước trong

Trang 30

việc chuyển sang một biện pháp hoạt động dựa trên các nguyên tắc QLRR Trong một hệ thống như vậy, các lô hàng có độ rủi ro cao được xác định thông qua các hoạt động nghiệp vụ hải quan tại các trạm xử lý thông tin (back-office) dựa trên phân tích QLRR được định hướng bởi thông tin tình báo đối với dữ liệu hải quan có được trước đó Hệ thống sẽ sử dụng một cơ chế phân luồng hiệu quả để xác định và loại các lô hàng có rủi ro cao ra khỏi quy trình xử lý thông thường Các lô hàng này sau đó có thể phải qua quy trình kiểm soát hải quan đầy đủ bao gồm kiểm tra chứng

từ hay kiểm tra thực tế phạm vi rộng (hay cả hai) Các lô hàng không bị lọc ra để kiểm tra thường được thông quan với độ kiểm soát tối thiểu vì không phải là đối tượng hải quan cần chú ý nhiều

Phương pháp xử lý hàng hoá có trọng điểm là hoạt động cơ bản của các cơ quan hải quan hiện đại Phương pháp này được hỗ trợ rộng rãi bởi và phụ thuộc vào

cơ chế phản hồi hiệu quả để chuyển lại các kết quả kiểm tra sau thông quan và các chiến lược kiểm tra dựa trên hệ thống để cập nhật hồ sơ rủi ro và tiến hành đánh giá rủi ro liên tục

Đơn giản hóa chứng từ thương mại: Một trong những tiêu chí quan trọng về

tạo thuận lợi thương mại là đơn giản hóa chứng từ trong giao dịch thương mại, đặc biệt là trong khai báo hải quan Theo điều VIII GATT 94 “các bên ký kết thừa nhận cần hạn chế tối thiểu các tác động cũng như tính phức tạp của các thủ tục về xuất nhập khẩu, giảm bớt và đơn giản hóa yêu cầu về chứng từ làm thủ tục xuất nhập khẩu” WTO khuyến nghị các nước thành viên “phải đảm bảo các thủ tục và yêu cầu về chứng từ liên quan đến thương mại không còn là những gánh nặng hành chính hoặc có tính hạn chế thương mại để đạt được các mục tiêu chính sách luật pháp của mình”; “phải sử dụng thông tin có liên quan đã sẵn có về các giao dịch thương mại và các bản sao của chứng từ có liên quan nếu được” và có cơ chế để doanh nghiệp chỉ phải cung cấp một lần các chứng từ, thông tin (cơ chế một cửa) Hải quan cũng nên đưa ra các thỏa thuận cho phép nộp tờ khai hàng tại bất kỳ một địa điểm hải quan nào bằng điện tử

Trang 31

Trong thủ tục hải quan điện tử, quyết định của hải quan chủ yếu dựa trên những thông tin có sẵn trên hệ thống và khai thác được nhờ quá trình trao đổi thông tin với các bên có liên quan hơn là dựa vào thông tin trên chứng từ do người khai hải quan cung cấp Do đó, yêu cầu cung cấp các chứng từ thương mại trong khai báo hải quan sẽ được đơn giản hóa Áp dụng CNTT trong các quy trình xử lý nghiệp vụ của hải quan cũng khuyến khích hải quan sử dụng các tham chiếu chéo với các bên liên quan (hải quan các nước, các bộ ngành liên quan…) theo xu hướng hải quan tự tìm kiếm thông tin để ra quyết định xử lý thay vì yêu cầu người khai cung cấp, giúp giảm bớt chi phí về chứng từ cho người khai hải quan

Liên Hợp Quốc đã đưa ra một số sáng kiến để chuyển sang hệ thống chứng từ thương mại đơn giản và chuẩn mực bao gồm:

Mẫu Tờ khai của Liên Hợp quốc (UNLK) đã được thông qua năm 1963 và đã trở thành Khuyến nghị số 1 của UNECE vào năm 1978 Các mẫu được tạo ra cùng với Mẫu Tờ khai của Liên Hợp Quốc được gọi là “Bộ chứng từ giấy đồng bộ” Mẫu

Tờ khai của Liên Hợp Quốc có thể được sử dụng để tạo ra các mẫu Tờ khai quốc tế

và quốc gia và được đưa vào quá trình áp dụng xử lý dữ liệu điện tử

Danh mục các yếu tố cơ sở dữ liệu thương mại (UNTDED), được xuất bản bởi ISO và UNECE, có chứa các ô xây dựng, mã và khái niệm

Giao diện trao đổi dữ liệu điện tử Liên Hợp Quốc dành cho Cơ quan quản lý, Thương mại và vận tải (UN/EDIFACT) đã được thông qua chuẩn mực ISO và trở thành Khuyến nghị số 25 của UNECE vào năm 1987 Giao diện dữ liệu bao gồm các chuẩn mực đã được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, danh mục và hướng dẫn đối với trao đổi dữ liệu điện tử thương mại được cấu trúc giữa các hệ thống thông tin được vi tính hoá độc lập

Nhằm tăng cường độ tinh vi và yêu cầu ngày càng tăng đối với CNTT và viễn thông (ICT) của chính phủ và doanh nghiệp và để giải quyết với vấn đề giấy tờ trên phạm vi toàn cầu, Trong năm 2000, UNECE đã xây dựng những khái niệm về UNeDOCs để cung cấp một giải pháp toàn cầu đối với các thách thức của chứng từ giấy trong dây chuyền cung ứng bao gồm các chuẩn mực chứng từ thương mại hiện

Trang 32

hành đối với giấy tờ có sử dụng kỹ thuật mẫu cơ sở dữ liệu, các công cụ điện tử và Ngôn ngữ Markup mở rộng (XML), tại đó các chứng từ thương mại được xác định thông qua các khái niệm cơ sở dữ liệu, các chuẩn mực có thể áp dụng và các thông

lệ thương mại tốt nhất Điều này cho phép xuất trình điện tử giữa các thương nhân, người điều phối và hải quan và đặc biệt có ích đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ có trang bị máy tính và các kết nối internet chuẩn mực

Trước khi đưa vào áp dụng các chứng từ điện tử, các thủ tục xuất khẩu/ nhập khẩu phải được thống nhất và đơn giản hóa, vì những thủ tục phức tạp sẽ ảnh hưởng xấu đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT và truyền thông Quá trình mở đầu khi áp dụng chứng từ thương mại điện tử (bao gồm các khai báo hải quan, giấy phép

và các chứng nhận) phải lập kế hoạch cẩn thận và dựa trên định hướng tiếp cận theo giai đoạn Bước tiếp theo sẽ chuyển từ chứng từ thương mại trên giấy sang chứng từ thương mại trên giấy đã được đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa rồi mới đến chứng từ điện tử Các chứng từ điện tử đã được đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa cần phải được thiết kế lại hơn là việc đưa ra các bản sao điện tử của chính các mẫu cũ, đồng thời giảm số lượng các biểu mẫu, chứng từ xuống mức thấp nhất, điều chỉnh những định dạng và các yêu cầu về dữ liệu về các tiêu chuẩn quốc tế

Giai đoạn mở đầu của chứng từ thương mại điện tử có thể bị giới hạn ở các chứng từ được lựa chọn ban đầu, hoặc chỉ gồm những danh mục hàng xuất khẩu nhất định Trong suốt giai đoạn đầu, hệ thống có thể chỉ chấp nhận những loại chứng từ đơn giản đối với hàng không có thuế và không phải qua quá trình kiểm soát Sau khi hệ thống đã được thử nghiệm và ổn định và sau khi tham khảo các bên

có liên quan, các đơn vị có trách nhiệm sẽ xem xét mở rộng hệ thống tới những chứng từ của những hàng hóa khác, bao gồm các loại hàng phải kiểm soát hay phải

có quota Quá trình này sẽ mở ra hơn nữa do có sự liên kết của các cửa khẩu khác nhau và các cơ quan quản lý có liên quan qua một cửa sổ điện tử duy nhất – Cơ chế một cửa cho việc chấp nhận và xử lý tất cả các chứng từ thương mại điện tử Nó có thể bao gồm cả việc thanh toán thuế điện tử và các loại phí và lệ phí khác

Trang 33

Cơ chế một cửa: WTO yêu cầu “Thành viên sẽ áp dụng việc yêu cầu nộp

chứng từ xuất nhập khẩu và và dữ liệu (bao gồm cả các phiên bản điện tử) chỉ một lần và chỉ cho một cơ quan đầu mối” Mục đích của chuẩn mực là tạo thuận lợi thương mại thông qua việc áp dụng “một cửa” để nộp tất cả các chứng từ và dữ liệu liên quan đến các thủ tục xuất nhập khẩu cùng một lúc và chỉ cho một cơ quan đầu mối Yêu cầu để thực hiện chuẩn mực này bao gồm:

Xác định địa điểm và hệ thống thực hiện cơ chế một cửa;

Xác định các yêu cầu về đăng ký một lần cho hồ sơ và dữ liệu xuất nhập khẩu; Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành;

Chuẩn hoá các văn bản của các Bộ, ngành liên quan, các yêu cầu về dữ liệu

Cơ chế một cửa không chỉ được WTO khuyến nghị mà được UN, APEC, ASEAN và nhiều tổ chức quốc tế khác hướng dẫn cụ thể Đặc biệt, trong phạm vi khu vực; ASEAN đã ký kết Hiệp định và Nghị định thư về xây dựng và thực hiện

cơ chế một cửa ASEAN, trong đó nêu rõ “Các nước thành viên sẽ sử dụng CNTT

và viễn thông phù hợp với các chuẩn mực liên quan đã được chấp nhận trên phạm vi quốc tế trong quá trình xây dựng và thực hiện các Cơ chế một cửa quốc gia” Trong quá trình đàm phán và thảo luận triển khai cơ chế một cửa, các thành viên ASEAN đều thống nhất rằng áp dụng phương thức trao đổi dữ liệu điện tử là phù hợp, hiệu quả nhất để thực hiện thành công cơ chế một cửa

Xác định xuất xứ: Tuân thủ hiệp định xuất xứ và các hiệp định về thuế quan của

WTO, các chính sách ưu đãi thuế quan để xác định xuất xứ là rất cần thiết Trong xây dựng thủ tục hải quan điện tử nếu có thể tích hợp được hệ thống xác định xuất

xứ tự động dựa trên những thông tin có sẵn và dựa trên cơ sở trao đổi thông tin giữa hải quan các nước là một bước tiến bộ trong quá trình hiện đại hoá quản lý hải quan Hải quan truyền thống thường xác định xuất xứ dựa trên Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) do người khai hải quan nộp kèm theo hồ sơ hải quan Nếu

có nghi ngờ về xuất xứ, hải quan phải kiểm tra ngược lại đối với cơ quan hay nước cấp chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá Quá trình này dường như đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn Khi áp dụng thủ tục hải quan điện tử với hệ thống trao đổi thông tin

Trang 34

tự động có thể cho phép theo dõi đường đi của hàng hoá qua các quốc gia và cho phép kiểm tra thông tin về xuất xứ một cách dễ dàng hơn dựa trên trao đổi thông tin giữa hải quan các nước Điều này giúp quá trình thông quan hàng hoá rút ngắn thời gian, tạo thuận lợi tối đa cho thương mại

Xác định trị giá và tính thuế tự động: Hiệp định trị giá GATT trao quyền xác

định trị giá tính thuế theo thứ tự các phương pháp từ điều 1 đến điều 6 cho người khai hải quan WTO cũng lưu ý đến việc tự động hóa quy trình xác định trị giá và tính thuế Khi triển khai thủ tục hải quan điện tử, nếu đưa vào ứng dụng hệ thống áp giá tính thuế tự động được xây dựng trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc xác định trị giá của WTO và sử dụng những thông tin về giá tính thuế liên tục cập nhật vào hệ thống sẽ đảm bảo tuân thủ hiệp định trị giá GATT trong quá trình thực thi Người khai hải quan khi đăng nhập hệ thống khai báo, trên cơ sở dữ liệu có sẵn về giá tính thuế của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự đã được thông quan, có thể tự xác định được giá tính thuế của hàng hóa khai báo theo trình tự xác định trị giá của WTO Ngoài ra, khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử, hải quan sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc khai thác, trao đổi thông tin phục vụ quá trình xác định trị giá tính thuế theo phương pháp khấu trừ hoặc phương pháp tính toán

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu trị giá tự động đang là một ưu tiên hàng đầu tại các nước đang phát triển mà thiếu nó hệ thống tính giá tự động (ACV) không thể vận hành một cách hiệu quả Lý do là bởi tại các nước này, mức giá đưa ra trong hợp đồng thương mại không thể được chấp nhận là mức giá đã hay sẽ thanh toán đối với phần lớn lượng hàng nhập khẩu Việc thiết lập một cơ sở dữ liệu trị giá để

sử dụng như nguồn cung cấp thông tin và hướng dẫn trong định giá là phù hợp với nội dung của ACV Cũng cần xem xét khả năng thiết lập cơ sở dữ liệu trị giá khu vực Trên thực tế, cơ sở dữ liệu giá sẽ cho phép hải quan ra được quyết định trị giá chính xác hơn dựa trên nguồn thông tin đầy đủ hơn

Phương thức trao đổi dữ liệu điện tử ngày càng được sử dụng nhiều hơn mở ra

khả năng sử dụng công nghệ để lấy thông tin về trị giá Việc đưa công nghệ này vào

vận dụng sẽ cung cấp những thông tin mô tả sản phẩm tiêu chuẩn được quốc tế thừa

Trang 35

nhận Nó gắn liền với các giá tại một khâu nhất định trong chu trình phân phối Biện pháp này cũng giúp phát hiện hàng giả (sử dụng mã vạch của sản phẩm chính hiệu song lại do các nhà sản xuất không được cấp phép làm ra nên giá sẽ rẻ hơn) có trị giá khai báo ở mức giá của hàng chính gốc

Thanh toán tự động: WTO đề xuất “Thành viên cho phép thanh toán tự động

các khoản thuế và các khỏan phí và lệ phí liên quan đến thương mại” Hải quan các nước thành viên cần sử dụng các hệ thống thanh toán tự động các khoản thuế, phí

và lệ phí nhằm giảm các công việc giấy tờ và cung cấp cho các doanh nghiệp các dịch vụ nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn Theo đó, phí và thuế Hải quan có thể được chấp nhận là tiền mặt, thẻ, hối phiếu ngân hàng và thẻ tín dụng từ nhà nhập khẩu/đại lý hải quan và chấp nhận trả trên cơ sở thời gian thực tế sử dụng hệ thống chuyển khoản điện tử Hệ thống chuyển tiền điện tử (Electronic Funds Transfer – EFT) phải kết nối với hệ thống máy tính Hải quan đến hệ thống các ngân hàng thương mại, giao dịch của hệ thống truyền thông tài chính liên ngân hàng thế giới (SWIFT) cho phép doanh nghiệp chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của họ đến tài khoản của cơ quan Hải quan, với thông tin điện tử được gửi đến cho tất các các bên liên quan để xác nhận thông tin chuyển khoản Thông tin EDI theo chuẩn quốc tế tồn tại cho việc chuyển thông tin nộp thuế WTO cũng khuyến nghị các nước thành viên cần xây dựng các hệ thống đi kèm và quy định các hình thức thanh toán để đáp ứng yêu cầu của chuẩn mực này

Thông quan điện tử: Cùng với việc tự động hóa các quy trình thủ tục hải quan

như đã đề cập đến ở trên, quyết định thông quan đối với hàng hóa cũng sẽ được hải quan thực hiện và gửi đến người khai hải quan bằng phương thức điện tử Với việc thông quan điện tử, hải quan sẽ xác nhận trên tờ khai bằng phương thức điện tử, tất

cả các giao dịch trao đổi giữa hải quan và người khai hải quan sẽ thực hiện qua hệ thống điện tử Luật GDĐT và các quy định về chữ ký số sẽ hỗ trợ cho việc xác nhận bằng phương thức điện tử của hải quan

Trong môi trường thông tin điện tử, cán bộ Hải quan thường được bố trí tại các cổng của sân bay hoặc cảng để nhận thông báo phân phối hàng và kiểm tra hệ thống

Trang 36

để xem xét việc giải phóng hàng hoá hoặc container Trong môi trường tự động hoá cao, kỹ thuật soi số container có thể được áp dụng nhờ đó việc giải phóng container cần soi cả giấy phép, số container và thậm chí là cả hình ảnh giấy chứng minh nhân dân của lái xe Hệ thống cổng xuất có thể tự động ghi lại thông tin này và so sánh với các cơ sở dữ liệu khi không có cán bộ Hải quan kiểm tra xuất trình trực tiếp tại cổng

Xây dựng hệ thống danh mục hàng cấm và hạn chế nhập khẩu để tiện ích

hơn cho quá trình thông quan hàng hoá tự động, đảm bảo tuân thủ các hiệp định về hàng cấm của WTO

2.2 Các chuẩn mực, khuyến nghị của Liên hợp quốc (UN) về GDĐT

UNICITRAL là cơ quan chuyên trách của Liên Hợp quốc nhằm hỗ trợ các nước thành viên trong xây dựng luật pháp liên quan đến TMQT Tổ chức này cung cấp cho các nước thành viên các Luật mẫu đồng thời cũng là các tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về TMQT mà các nước thành viên có thể áp dụng trong xây dựng chính sách pháp luật về thương mại của mình

UNICITRAL đưa ra 02 bộ luật mẫu: Luật mẫu về thương mại điện tử, Luật mẫu về chữ ký điện tử và Công ước về sử dụng các phương tiện GDĐT trong các hợp đồng TMQT, cung cấp quy định pháp lý cơ bản cho việc thực thi chính sách thương mại điện tử Những quy định cơ bản liên quan đến các hoạt động thương mại có sử dụng phương tiện điện tử có thể áp dụng trong triển khai thủ tục hải quan điện tử bao gồm những yếu tố sau:

Công nhận tính pháp lý của thông tin chứa đựng trong thông điệp dữ liệu điện

tử (gọi tắt là thông điệp): Đây là nội dung rất quan trọng của Luật mẫu về thương

mại điện tử, quy định giá trị pháp lý của các thông điệp, theo đó không phân biệt đối xử giữa tài liệu giấy và tài liệu điện tử: “Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (điều 5 chương II) Luật cũng xác định nội hàm của thông điệp, công nhận đa dạng các phương tiện truyền, nhận, lưu trữ thông tin như: phương tiện điện

tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư

Trang 37

điện tử, điện tín, telex, thiết bị truyền hình; công nhận giá trị pháp lý của Hợp đồng

Thông điệp có giá trị như văn bản: “Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin

phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết” (điều 6 chương II-Luật mẫu về thương mại điện tử) Quy định này được xây dựng trên yêu cầu pháp lý đối với văn bản giấy và xác định chức năng tương đương cho văn bản dạng điện tử

Thông điệp có giá trị như bản gốc: “Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin

được trình hoặc lưu giữ dưới dạng nguyên bản, thông điệp dữ liệu có thể coi là đáp ứng yêu cầu đó nếu những thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu được đảm bảo chắc chắn là còn nguyên vẹn như khi được tạo ra và có thể hiển thị được” (điều 8 chương II-Luật mẫu về thương mại điện tử) Tiêu chuẩn để đánh giá tính nguyên vẹn của thông tin là thông tin đó vẫn còn nguyên vẹn hoàn toàn, không bị thay đổi trừ việc thêm vào những ghi chú hay xác thực đằng sau và những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình truyền nhận, lưu giữ hoặc hiển thị thông điệp

Thông điệp có giá trị làm bằng chứng: Bên cạnh những nội dung trên, Luật

mẫu về thương mại điện tử cũng đề cập tới việc thừa nhận giá trị của các thông điệp khi tranh tụng tại Tòa án Giá trị làm bằng chứng của thông điệp được đánh giá dựa trên cách tạo lập, lưu giữ và truyền gửi thông điệp, cách duy trì tính nguyên vẹn của

dữ liệu, cách xác định người khởi tạo và một số nhân tố khác

Trong công ước về sử dụng các phương tiện GDĐT trong các hợp đồng quốc

tế, Liên hợp quốc cũng công nhận giá trị pháp lý, giá trị văn bản, giá trị làm bằng chứng của hợp đồng ký kết bằng phương thức điện tử Công ước quy định: hợp đồng được thực hiện bằng phương tiện điện tử có thể được hình thành bằng hệ thống thông tin tự động mà không có sự tác động của con người Cùng với các quy định này, Công ước cũng xác định cụ thể nội hàm có liên quan như: “hệ thống thông tin tự động”, “chào hàng”… Đây là những khái niệm cho phép thực hiện toàn

Trang 38

bộ hoặc một phần các giao dịch hợp đồng bằng hệ thống thông tin tự động mà không có sự can thiệp của con người

Chữ ký điện tử: “Trường hợp pháp luật có yêu cầu về chữ ký của một người,

thông điệp dữ liệu được coi là có thể đáp ứng yêu cầu đó nếu chữ ký điện tử trên thông điệp dữ liệu là dấu hiệu nhận biết của người ký và xác nhận việc phê chuẩn của người ký đối với thông tin trên thông điệp dữ liệu, phù hợp với mục đích tạo và gửi thông điệp” (Điều 7 chương 2-Luật mẫu về thương mại điện tử) Luật mẫu cũng dựa trên chức năng tương đương của chữ ký được thể hiện trên văn bản giấy, xác định các điều kiện để công nhận chữ ký điện tử, theo đó chữ ký điện tử phải được kiểm chứng bằng một quy trình kiểm tra an toàn do các bên giao dịch thỏa thuận và đáp ứng được các điều kiện: thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký, không bị thay đổi chữ ký và nội dung ký

Đối với chữ ký điện tử trong hợp đồng, điều 9 Công ước đưa ra những quy định về chữ ký điện tử và các phương pháp xác định chữ ký điện tử cho phép xác định được người ký và trách nhiệm pháp lý của người đó đối với hợp đồng

Trong luật mẫu về chữ ký điện tử, UNICITRAL đưa những quy định cụ thể hơn về chữ ký điện tử:

Các yếu tố đảm bảo an toàn cho chữ ký điện tử: Chữ ký điện tử được coi là

đảm bảo an toàn khi đáp ứng các điều kiện: dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký trong bối cảnh dữ liệu đó được sử dụng; dưới sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký; không có sự thay đổi với nội dung tại thời điểm ký (điều 6) Chữ ký điện tử đã được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử chứng thực được xem là bảo đảm các điều kiện an toàn trên

Luật cũng đưa ra các hướng dẫn về cách quản lý, nghĩa vụ của người ký chữ

ký điện tử, bên chấp nhận chữ ký điện tử và nhà cung cấp dịch vụ xác thực chữ ký điện tử nhằm đảm bảo tính an toàn cho chữ ký điện tử

Công nhận chữ ký điện tử đối với các giao dịch qua biên giới (công nhận chữ

ký điện tử và chứng thư điện tử có yếu tố nước ngoài): Cả Luật mẫu về chữ ký điện

tử và Công ước của Liên Hợp quốc về việc sử dụng các phương tiện điện tử trong

Trang 39

các hợp đồng quốc tế đều quy định về nội dung công nhận chữ ký điện tử đối với các giao dịch qua biên giới Theo Luật này thì chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện

tử được các nước thành viên công nhận giá trị pháp lý mà không tính tới các yếu tố:

vị trí địa lý nơi giấy chứng nhận được phát hành hoặc chữ ký được tạo lập, sử dụng; không tính tới vị trí địa lý của địa điểm kinh doanh của người phát hành giấy chứng nhận hoặc người ký

Ngoài ra Luật mẫu về thương mại điện tử và Công ước cũng quy định cụ thể

về lưu giữ thông điệp, xác định người khởi tạo, thông báo về việc nhận, thời gian

gửi, nhận thông điệp dữ liệu, địa điểm gửi, nhận, xử lý lỗi phát sinh trong quá trình

truyền thông điệp, công nhận lẫn nhau giữa các bên đối với thông điệp

Hiện nay, rất nhiều các quốc gia đã nội luật hóa các quy định về chữ ký điện

tử, xác thực chữ ký điện tử trong 02 bộ luật mẫu của Liên hợp quốc như là một trong những nội dung cơ bản của Luật quốc gia có liên quan Luật mẫu về thương mại điện tử trở thành chuẩn mực quan trọng nhất trong các văn bản pháp luật của các nước về thương mại điện tử và là công cụ quốc tế quan trọng để chuẩn hóa và hài hòa hóa các quy định về thương mại điện tử của Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế khu vực

2.3 Các chuẩn mực, khuyến nghị của WCO

Với vai trò định hướng cho sự phát triển của Hải quan thế giới, kể từ khi được thành lập tới nay, WCO đã không ngừng xây dựng, phát triển các chuẩn mực, khuyến nghị về hải quan Những chuẩn mực, khuyến nghị này được hầu hết cơ quan hải quan, các tổ chức quốc tế liên quan quan tâm, thực hiện Liên quan tới xây dựng

và thực hiện thủ tục hải quan điện tử, Hải quan các nước thường tham chiếu tới 03 công cụ của WCO gồm Công ước Kyoto sửa đổi, Khung tiêu chuẩn SAFE, Mô hình

dữ liệu WCO

2.3.1 Công ước Kyoto sửa đổi

Công ước quốc tế về đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan do Hội đồng hợp tác Hải quan xây dựng và quản lý, ra đời ngày 19/5/1977 và được sửa đổi tháng 6/1999 (Công ước Kyoto sửa đổi) Việt Nam đã tham gia Công ước năm 1997 và gia nhập

Trang 40

Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto năm 2008 với mức độ chấp nhận sự ràng buộc của Thân Công ước và Phụ lục Tổng quát

Phụ lục Tổng quát của Công ước bao gồm các CMQT về thủ tục hải quan bao gồm 10 chương quy định các vấn đề: Nguyên tắc chung, Định nghĩa, Thủ tục hải quan, Thuế và lệ phí, Bảo đảm, Kiểm tra hải quan, Áp dụng CNTT, Quan hệ giữa Hải quan với bên thứ ba, Thông tin, quyết định và các quy chế do Hải quan cung cấp, Khiếu nại về các vấn đề hải quan

Do Hải quan mỗi nước đều hoạt động trên những hệ thống pháp lý, cơ sở pháp

lý và hạ tầng CNTT khác nhau Vì vậy, đối với việc ứng dụng CNTT, các chuẩn mực cũng như hướng dẫn của WCO không có khuyến nghị pháp lý cụ thể cũng như không yêu cầu pháp luật các nước thành viên cần phải có biện pháp điều chỉnh cụ thể Thay vào đó WCO đã thống kê những vấn đề pháp lý mà các nước thường gặp khi ứng dụng CNTT thực hiện các giao dịch trong lĩnh vực hải quan

Chương VII Phụ lục Tổng quát Công ước Kyoto sửa đổi đưa ra 4 chuẩn mực yêu cầu các nước thành viên tham gia công ước ứng dụng CNTT vào công tác hải quan ở mức độ đòi hỏi cơ quan hải quan phải áp dụng CNTT, đưa vào vận hành các ứng dụng máy tính hỗ trợ cho các hoạt động hải quan; quy định rõ các điều kiện, tiêu chuẩn áp dụng CNTT; sử dụng các tiêu chuẩn thích hợp đã được quốc tế chấp nhận; sửa đổi hệ thống luật pháp nhằm thay thế, xác minh, chấp nhận chứng từ lưu trữ bằng các phương pháp thương mại điện tử thay thế cho chứng từ dựa trên cơ sở giấy tờ Bên cạnh đó, có một số chuẩn mực ứng dụng CNTT khác xen kẽ với các chuẩn mực về nghiệp vụ hải quan được quy định tại các chương khác nhau của Công ước đề cập đến ứng dụng CNTT trong công tác hải quan cho phép việc nộp chứng từ hải quan, cung cấp thông tin được tiến hành qua hệ thống CNTT và thương mại điện tử

Hướng dẫn phụ lục tổng quát giải thích cụ thể nội dung và cách thức áp dụng chuẩn mực vào luật pháp quốc gia; đồng thời, đưa ra thực tế hoạt động hải quan của một số nước làm tham chiếu cho các nước thành viên và đưa ra khuyến nghị xây dựng các quy trình nghiệp vụ chính dựa trên nền tảng CNTT như: Đăng ký tờ khai

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngân hàng Thế giới, “Sổ tay hiện đại hóa hải quan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hiện đại hóa hải quan
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
2. Nguyễn Toàn, Đề tài nghiên cứu khoa học số 05-2005 “Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan
3. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, “Luật Hải quan 2001” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hải quan 2001
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
4. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, “Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan 2005” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan 2005
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
5. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, “Luật giao dịch điện tử 2005” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giao dịch điện tử 2005
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
6. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, “Luật quản lý thuế 2006” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quản lý thuế 2006
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
7. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, “Pháp lệnh Hải quan 1990” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Hải quan 1990
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
8. Tổng cục Hải quan, “Hải quan Singapore và tiến trình tin học hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải quan Singapore và tiến trình tin học hóa
10. Tổng cục Hải quan, Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về hiện đại hóa Hải quan tại Hàn Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về hiện đại hóa Hải quan tại Hàn Quốc
Tác giả: Tổng cục Hải quan
11. Tổng cục Hải quan, Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát mô hình thông quan điện tử tại HQ Malayasia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát mô hình thông quan điện tử tại HQ Malayasia
Tác giả: Tổng cục Hải quan
12. Tổng cục Hải quan, Báo cáo chuyên đề về nghiệp vụ hải quan Đài Loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề về nghiệp vụ hải quan Đài Loan
Tác giả: Tổng cục Hải quan
23. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Nghị định thư sửa đổi Công ước hệ thống hài hóa và mô tả hàng hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định thư sửa đổi Công ước hệ thống hài hóa và mô tả hàng hóa
Tác giả: Ủy ban hợp tác quốc tế
24. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định GATT)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định GATT)
25. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
Tác giả: Ủy ban hợp tác quốc tế
26. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Công ước tạm quản (Công ước Istanbul)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước tạm quản (Công ước Istanbul)
27. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Công ước hải quan về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong các vấn đề hải quan (Công ước Johaneburge)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước hải quan về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong các vấn đề hải quan (Công ước Johaneburge)
28. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Công ước hệ thống hài hòa và mô tả mã hàng hóa (Công ước HS)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước hệ thống hài hòa và mô tả mã hàng hóa (Công ước HS)
29. Ủy ban hợp tác quốc tế, “Công ước quốc tế về hài hòa hóa và đơn giản thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về hài hòa hóa và đơn giản thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi)
9. Tổng cục Hải quan, Báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về thủ tục hải quan điện tử tại Singapore Khác
13. Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 Bộ trưởng Bộ Tài chính Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w