1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thi các cam kết của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới trong lĩnh vực ngân hàng

89 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng 2.1 Tỷ lệ nhận tiền gửi từ thể nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng so với vốn được cấp của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 28 2.2 Quy định về tổng tài s

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 4

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 4

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 4

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng 4

1.1.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng và nội dung dịch vụ ngân hàng 5

1.1.3 Vai trò và xu hướng phát triển của ngành ngân hàng 11

1.2 KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG14 1.2.1 Vị trí dịch vụ ngân hàng trong GATS 15

1.2.2 Nội dung dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS 15

1.2.3 Phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS 17 1.2.4 Các nguyên tắc chung của GATS áp dụng đối với thương mại - dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng) 18

Chương 2 24

CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CAM KẾT 24

2.1 CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 24

2.1.1 Các cam kết chung của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng) 24

2.1.2 Cam kết cụ thể đối với các phân ngành dịch vụ ngân hàng 25

2.2 SO SÁNH CAM KẾT WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VỚI CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TẠI BTA VÀ CAM KẾT WTO CỦA TRUNG QUỐC 29

2.2.1 So sánh với cam kết của Việt Nam tại BTA 29

2.2.2 So sánh với cam kết WTO của Trung Quốc 30

2.3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CÁC CAM KẾT WTO 33

2.3.1 Đánh giá việc tuân thủ các nghĩa vụ chung của GATS 33

2.3.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến các cam kết chung của Việt Nam trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ 38

2.3.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến các cam kết WTO của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng 39

Trang 2

1.1.1 Các văn bản điều chỉnh việc cấp phép thành lập, tổ chức hoạt động

của tổ chức tín dụng nước ngoài 40 2.3.3.2 Các văn bản điều chỉnh việc góp vốn, mua cổ phần tại ngân hàng Việt

Nam 48 2.3.3.3 Các văn bản điều chỉnh việc cung cấp dịch vụ ngân hàng 50

2.4 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA VIỆT

pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật thương mại dịch vụ, kinh tế, tài chính 69

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGÂN HÀNG ĐÁP

ỨNG YÊU CẦU CỦA WTO VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 69

3.2.1 Giải pháp về lập pháp, chính sách 693.2.2 Giải pháp tăng năng lực điều hành hoạt động cho ngành ngân hàng 73

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTA: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO IMF: Quỹ Tiền tệ quốc tế

Luật Các TCTD: Luật Các tổ chức tín dụng

MFN: Chế độ đối xử tối huệ quốc

NT: Chế độ đối xử quốc gia

NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần

TCTD: Tổ chức tín dụng

TMDV: Thương mại dịch vụ

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Tỷ lệ nhận tiền gửi từ thể nhân Việt Nam không có quan

hệ tín dụng so với vốn được cấp của Chi nhánh ngân hàng

nước ngoài

28

2.2 Quy định về tổng tài sản đối với TCTD nước ngoài thiết

lập hiện diện thương mại tại Việt Nam

29

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau tiến trình chuẩn bị và đàm phán hơn mười một năm Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc chúng ta phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ ở một mức độ nhất định Trong ngành dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là một trong lĩnh vực gay go khi đàm phán vào WTO do đây luôn là ngành "huyết mạch" của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đòi hỏi các bước đi thận trọng khi mở cửa thị trường Việc thực thi các cam kết trong ngành ngân hàng tạo ra nhiều sức ép đối với hệ thống pháp luật Việt Nam sao cho vừa tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước tăng sức cạnh tranh, không bị "thôn tính" bởi các ngân hàng nước ngoài trong khuôn khổ các cam kết với WTO

Tác giả chọn đề tài "Thực thi các cam kết của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế giới về dịch vụ ngân hàng" để nghiên cứu vì những lý do

sau đây:

- Mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ những quy định của WTO về tự do hoá dịch vụ ngân hàng; nghiên cứu các cam kết của Việt nam với WTO về dịch vụ ngân hàng

- Hiện nay, chúng ta đang trong giai đoạn rà soát, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm thực hiện các cam kết trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ nói chung và ngân hàng nói riêng Trong lĩnh vực ngân hàng hàng loạt các văn bản pháp luật cũng đang được nghiên cứu sửa đổi, xây dựng mới để phù hợp với các cam kết của Việt Nam tại WTO

- Đưa ra những nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng nhằm thực thi tốt các cam kết của

Trang 6

Việt Nam khi gia nhập WTO Trên cơ sở đó tác giả đưa ra giải pháp cụ thể đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật về ngân hàng trong bối cảnh thực thi các cam kết của WTO

2 Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lí luận của đề tài

Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu một

số nội dung của cam kết WTO trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về thực hiện các cam kết với WTO về dịch vụ ngân hàng với nội dung gồm các phần chính

là nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia và các quy định của pháp luật Việt Nam

Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống

về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa

lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với cam kết quốc tế và là cơ sở pháp lý cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa thực hiện đúng các cam kết quốc tế vừa phát triển ngành ngân hàng của Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Hiệp định chung

về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO về dịch vụ ngân hàng và các chế định, quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ ngân hàng

Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu các dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS tại Phụ lục về dịch vụ tài chính, thực trạng pháp luật Việt Nam về dịch vụ ngân hàng theo các tiêu chí của GATS và cam kết gia nhập WTO của Việt Nam Từ đó, tác giả luận văn đưa ra đề xuất về định hướng và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 7

pháp luật về dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực hiện cam kết WTO cũng như lộ trình hội nhập kinh tế của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh luật học

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát quy định của WTO về dịch vụ ngân hàng và cam

kết gia nhập WTO của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng

Chương 2: Thực tiễn thực thi cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về

dịch vụ ngân hàng

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ngân hàng

Việt Nam đáp ứng các cam kết gia nhập WTO và lộ trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Trang 8

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH

CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng

Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với lịch

sử của xã hội loài người Hình thức ngân hàng sơ khai được nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền là các đền thờ, thánh đường Ban đầu, tài sản gửi tại đền thờ là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi đến kim loại quý như vàng Đền thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản bởi xét về tâm linh thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn linh thiêng này

Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho thấy tới đầu thế

kỷ 18 trước công nguyên, tại Babylon, dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy

tu trông giữ đền thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong đền Việc này giống như hoạt động huy động vốn để cho vay của ngân hàng [59]

Đến thời kỳ Phục Hưng, các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng các nghiệp vụ mới như chi trả bằng thương phiếu Thời

kỳ này đã xuất hiện các ngân hàng gia tầm cỡ như Jacques ở Pháp, gia đình Medicis ở Ý, gia đình Fugger ở Đức và các tổ chức kinh doanh tiền tệ như Banco di Valencia năm 1409, Banco di Realto năm 1507 Đây là các tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên có dáng dấp như một ngân hàng hiện đại

Thời kỳ cận đại là giai đoạn xuất hiện các ngân hàng hiện đại như ngân hàng Amsterdam ở Hà Lan năm 1609, ngân hàng Hamburg ở Đức năm 1617, ngân hàng Anh Quốc năm 1694 [22, tr 61-62]

Trang 9

Trong giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, hoạt động ngân hàng có các đặc trưng sau:

- Các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra hệ thống tạo sự ràng buộc lẫn nhau

- Nhiều ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tương tự nhau như nhận ký thác, chiết khấu, cho vay và thực hiện các dịch vụ tiền tệ

- Mỗi ngân hàng phát hành một đồng tiền riêng Một số ngân hàng phát hành tiền không dựa trên sự bảo đảm bằng vàng và bị phá sản nên giấy bạc ngân hàng kém hoặc mất giá trị

Trong giai đoạn từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng thông qua việc ban hành các đạo luật nhằm hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành tiền để đảm bảo sự an toàn cho tiền gửi, khắc phục nhược điểm của hệ thống ngân hàng giai đoạn trước đó Trong giai đoạn này, ngân hàng đã hình thành hệ thống và được chia thành hai loại:

- Các ngân hàng được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng phát hành)

- Các ngân hàng không được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng trung gian)

Trong nền kinh tế chỉ còn một số ngân hàng được phép phát hành tiền

Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, tại đa số các quốc gia, nhà nước chỉ cho phép một ngân hàng được quyền phát hành tiền và nắm quyền quản lý các ngân hàng phát hành bằng một trong các hình thức: quốc hữu hóa 100%, nắm giữ trên 51% số cổ phần Từ những năm 80 của thế kỷ 20, các ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức tập đoàn và chuyển sang hướng kinh doanh đa năng

1.1.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng và nội dung dịch vụ ngân hàng

1.1.2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng

Theo trang web www.bitpipe.com, dịch vụ ngân hàng là bất kỳ hoạt

động nào liên quan đến việc nhận và bảo vệ an toàn tiền gửi của cá nhân và tổ

Trang 10

chức, sau đó cho vay số tiền đó nhằm kiếm lợi nhuận (Any activities involved

in accepting and safeguarding money owned by other individuals and entities, and then lending out this money in order to earn a profit)

Pháp luật các nước không đưa ra định nghĩa tổng quát về dịch vụ ngân hàng mà thường liệt kê các dịch vụ được coi là dịch vụ ngân hàng Ví dụ như:

Theo Luật về Tài chính 1994 của Ấn Độ (Finance Act), dịch vụ ngân hàng và

tài chính có nghĩa là các dịch vụ được cung cấp bởi một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, bao gồm cả tổ chức tài chính phi ngân hàng, các doanh nghiệp khác, gồm các dịch vụ sau: (i) cho thuê tài chính bao gồm cho thuê thiết bị

và thuê mua, (ii) dịch vụ thẻ tín dụng, (iii) dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp, (iv) kinh doanh chứng khoán và ngoại hối, (v) quản lý tài sản bao gồm quản

lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các dịch

vụ lưu ký và tín thác, nhưng không bao gồm quản lý tiền mặt, (vi) dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, nghiên cứu và tư vấn đầu

tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua bán và sáp nhập, tư vấn về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp, (vii) cung cấp và chuyển thông tin và xử lý dữ liệu

(As per section 65(10) of the Finance Act, 1994, "banking and financial services" means the following services provided by a banking company or a financial institution including a non banking financial company, namely: (i) financial leasing services including equipment leasing and hire-purchase by a body corporate; (ii) credit card services; (iii) merchant banking services; (iv) securities and foreign exchange (forex) broking; (v) asset management including portfolio management, all forms of fund management, pension fund management, custodial depository and trust services, but does not include cash management; (vi) advisory and other auxiliary financial services including investment and portfolio research and advice, advice on mergers and acquisition and advice on corporate restructuring and strategy; and (vii) provision and transfer of information and data processing)

Trang 11

Theo các tài liệu nêu trên, khái niệm dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận

Quan điểm khác cho rằng các hoạt động sinh lời khác của ngân hàng ngoài hoạt động cho vay thì được coi là hoạt động dịch vụ

Luận văn tiếp cận quan điểm thứ nhất, đó là dịch vụ ngân hàng là tất cả dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng, bao gồm cả hoạt động tín dụng

1.1.2.2 Nội dung dịch vụ ngân hàng

a) Các dịch vụ ngân hàng truyền thống

Dù phát triển đến trình độ nào, các dịch vụ ngân hàng truyền thống vẫn là sản phẩm không thể thiếu của các ngân hàng

Theo Peter Rose (2001), các dịch vụ truyền thống của ngân hàng gồm:

(i) Trao đổi tiền: đây là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên

Ban đầu, dịch vụ này đơn thuần chỉ là việc ngân hàng thực hiện đổi một loại tiền này lấy một loại tiền khác cho khách hàng và hưởng phí dịch vụ.Về sau, khi thị trường ngoại hối quốc tế hình thành, các ngân hàng lớn thực hiện kinh doanh ngoại tệ trên thị trường với số lượng lớn

(ii) Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ

đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương - những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt Tiếp đó các ngân hàng thực hiện cho vay trực tiếp để doanh nhân xây dựng cơ sở sản xuất, mua hàng hóa

để kinh doanh

(iii) Nhận tiền gửi: Để thực hiện được hoạt động cho vay, các ngân hàng

phải thực hiện huy động nguồn vốn, trong đó nguồn huy động vốn quan trọng nhất là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Khách hàng gửi tiền tại ngân

hàng vừa nhận được tiền lãi vừa tránh được nguy cơ mất cắp do lưu giữ tiền mặt

Trang 12

(iv) Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung cổ, các ngân hàng đã

bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản Các giấy chứng nhận do ngân hàng phát cho khách hàng

có thể lưu hành như tiền - đây là hình thức có tính chất như séc và thẻ tín dụng ngày nay

(v) Cung cấp các tài khoản giao dịch: một dịch vụ ngân hàng quan trọng

được phát triển trong thời kỳ cách mạng công nghiệp tại Châu Âu và Châu

Mỹ là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) - loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch

vụ Dịch vụ này cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, đặc biệt

là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng, nhanh chóng và an toàn hơn

(vi) Cung cấp dịch vụ ủy thác: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực

hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp Ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản

lý Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp

b) Các dịch vụ ngân hàng hiện đại

Xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng ngày càng cao Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, ngân hàng đang cung cấp nhiều dịch vụ hơn, như:

(i) Cho vay tiêu dùng: Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích

cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình do các khoản vay này có quy mô nhỏ và rủi ro cao Tuy nhiên, sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng - đối tượng khách hàng trung thành tiềm năng Tại Việt Nam, dịch vụ cho vay tiêu dùng phát triển mạnh trong những năm gần đây, tiêu biểu là các dịch vụ cho vay mua nhà, mua xe, cho vay du học…

Trang 13

(ii) Tư vấn tài chính: Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư

vấn tài chính đa dạng, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư Tại Việt Nam, gần đây một số ngân hàng đã bắt đầu cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cá nhân như Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng thương mại

cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank)

(iii) Quản lý tiền mặt: ngân hàng quản lý việc thu và chi cho một công

ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần

(iv) Dịch vụ thuê mua thiết bị: Ngân hàng mua thiết bị theo yêu cầu

của khách hàng và cho khách hàng thuê lại

(v) Cho vay tài trợ dự án: Các ngân hàng ngày càng trở nên năng

động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Do rủi ro trong loại hình tín dụng này cao nên các ngân hàng thường thực hiện cho vay cùng với sự tham gia của các nhà thầu và các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro Ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital và Citicorp Venture, Inc

(vi) Dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng ngày nay còn tham gia kinh

doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ; tái bảo hiểm phi nhân thọ trong và ngoài nước; hoạt động đầu tư tài chính, cụ thể:

- Kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm thân tàu; bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm trách nhiệm chung; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo hiểm con người và các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác

- Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: ngân hàng xây dựng được mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các công ty tái bảo hiểm có uy tín trên thế giới như Swiss Re, Labuan Re, B.E.S.T Re, Malaysian Re Berhad, Caisse

Trang 14

Centrale De Reassurance Tái bảo hiểm là một trong những công cụ quản lý rủi ro, đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăng doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từ nhượng tái bảo hiểm

- Đầu tư tài chính: thực hiện hoạt động đầu tư tài chính theo hướng chuyên nghiệp hóa nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty, hỗ trợ các hoạt động khai thác Ngoài ra, nghiệp vụ đầu tư tài chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty điều hòa nguồn vốn và sử dụng hợp lý tối đa nguồn vốn nhàn rỗi Với nghiệp vụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp, công ty bảo hiểm ngân hàng sẽ có điều kiện thực hiện chiến lược mở rộng đầu tư, đầu

tư chiến lược vào các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm cũng như lĩnh vực có nhiều tiềm năng

(vii) Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Ngân hàng của các quốc gia phát

triển cung cấp dịch vụ quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến

(viii) Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Các ngân

hàng cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng

cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán

(ix) Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Do ngân hàng cung

cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp Loại hình này cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn, cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn ngày nghỉ hưu) Ngược lại, quỹ tương hỗ

Trang 15

bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự gia tăng giá trị vốn)

(x) Dịch vụ thẻ thanh toán: Ngày nay, thẻ thanh toán là một phương

tiện thanh toán thông dụng và văn minh Các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này Các loại thẻ Master Card, Visa, Dinners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Người sử dụng thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả cước phí điện, điện thoại, tiền nước hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động 24/24 rất tiện lợi Ngoài ra, họ còn được cấp hạn mức thấu chi qua thẻ

mà không phải bảo quản cất giữ tiền mặt không an toàn

Tóm lại, rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp đầy

đủ dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua internet và thẻ thông minh (smart) đang được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm Nhìn chung, danh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng

và tại một địa điểm Ở các nước có nền kinh tế phát triển, sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể lên đến vài nghìn sản phẩm khác nhau còn ở các nước đang phát triển, con số này chỉ ở hàng trăm

1.1.3 Vai trò và xu hướng phát triển của ngành ngân hàng

1.1.3.1 Vai trò của ngân hàng đối với nền kinh tế

Thứ nhất, ngân hàng là trung gian tài chính trong nền kinh tế Ngân

hàng đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho

Trang 16

vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán thuận tiện Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ Đặc biệt là đối với nền kinh tế, ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó, ngân hàng thúc đẩy nền kinh

tế phát triển

Thứ hai, ngân hàng là trung gian thanh toán Ngân hàng đóng vai trò

là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu từ việc bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó

mà các chủ thể trong nền kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền

để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán, nhờ vậy mà tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Việc thanh toán qua ngân hàng đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc

độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, nhờ vậy tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản

Trang 17

Thứ ba, ngân hàng là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân

hàng trung ương Ngân hàng thương mại là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế Để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng trong lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ của chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các ngân hàng thương mại cũng như việc chấp hành qui định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt

và nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư

1.1.3.2 Xu hướng phát triển của ngành ngân hàng

Mặc dù xảy ra cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ

và một số nền kinh tế phát triển khác trong thời gian gần đây, xét về dài hạn ngành dịch vụ ngân hàng vẫn có tiềm năng phát triển rất lớn

Xu hướng phát triển thứ nhất của ngành ngân hàng là hình thành các tập đoàn tài chính - ngân hàng đa chức năng, có khả năng đáp ứng hầu hết các nhu cầu về tài chính của khách hàng Danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như tư vấn tài chính cá nhân, bảo hiểm, thẻ thông minh được các ngân hàng nghiên cứu và cung cấp cho khách hàng Thực sự ngân hàng đã trở thành "bách hóa tài chính" ở kỷ nguyên hiện đại, nơi hầu hết nhu cầu về tài chính của khách hàng được đáp ứng Công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và Bancassurance ở Pháp [36]

Xu hướng thứ hai là áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hoạt động ngân hàng để đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng và quản lý khách hàng, ví

dụ như hệ thống máy rút tiền tự động (ATM) cho phép khách hàng rút tiền,

Trang 18

chuyển khoản và thanh toán dịch vụ, các máy thanh toán tiền dịch vụ (POS) lắp đặt tại các điểm bán hàng thay thế việc thanh toán bằng tiền mặt, dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) cho phép các giao dịch ngân hàng được thực hiện qua internet mà khách hàng không cần phải trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng hay hệ thống chấm điểm tín dụng khách hàng tự động Do đó, ngân hàng đang dần trở thành ngành kinh tế sử dụng ít lao động, sử dụng nhiều vốn

1.2 KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Trong số các điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh lĩnh vực thương mại - dịch vụ, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO là điều ước quốc tế có phạm vi lớn nhất, có nhiều quốc gia thành viên tham gia nhất Mục tiêu của GATS là nhằm thiết lập các nguyên tắc và quy tắc của thương mại - dịch vụ nhằm mở rộng thương mại - dịch vụ trong điều kiện minh bạch và tự do hóa, ổn định các quan hệ thương mại thông qua các cam kết về chính sách trên cơ sở nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia

Trang 19

1.2.1 Vị trí dịch vụ ngân hàng trong GATS

Kết cấu của GATS gồm: Lời nói đầu, Phần I - Phạm vi và định nghĩa, Phần II - Các nghĩa vụ và nguyên tắc chung, Phần III - Những cam kết cụ thể, Phần IV - Tự do hóa từng bước, Phần V - Những quy định về thể chế, Phần VI - Điều khoản cuối cùng, Phần các Phụ lục, Phần Quyết định về cơ chế của Hiệp định, Phần cuối cùng là thỏa thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính

Tại Điểm 5 Phụ lục về các dịch vụ tài chính của GATS đưa ra định

nghĩa về dịch vụ tài chính như sau: Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có

tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên thực hiện Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm)

Qua định nghĩa trên ta thấy dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính Do vậy, dịch vụ ngân hàng chịu sự điều chỉnh của các quy định của GATS về dịch vụ tài chính, bên cạnh nhóm các quy định mang tính chất nguyên tắc chung đối với thương mại - dịch vụ

1.2.2 Nội dung dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS

Theo quy định tại Phụ lục của GATS về dịch vụ tài chính thì dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm) gồm:

i) Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng;

ii) Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại;

iii) Thuê mua tài chính;

iv) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;

v) Bảo lãnh và cam kết;

Trang 20

vi) Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về:

(A) công cụ thị trường tiền tệ (gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); (B) ngoại hối;

(C) các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng quyền chọn (options);

(D) các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như hoán vụ (swarps), hợp đồng tỷ giá kỳ hạn;

(E) chứng khoán có thể chuyển nhượng;

(F) các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý

vii) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý (dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó;

viii) Môi giới tiền tệ;

ix) Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác;

x) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;

xi) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính

và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;

xii) Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu từ điểm (iv) đến (xi), kể

cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lược doanh nghiệp

Trang 21

Đồng thời, Phụ lục của GATS còn khẳng định rõ: "Nhà cung cấp dịch

vụ tài chính" là pháp nhân hoặc thể nhân của một Thành viên muốn cung cấp hoặc đang cung cấp những dịch vụ tài chính nhưng thuật ngữ "nhà cung cấp dịch vụ tài chính" không bao gồm tổ chức công (Điểm 5.b)

Các dịch vụ ngân hàng được đề cập tại Phụ lục của GATS nêu trên là các dịch vụ ngân hàng hiện đại Đối với các quốc gia đang phát triển, việc gia nhập GATS sẽ tạo điều kiện phát triển các dịch vụ ngân hàng mới, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bên cạnh các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống

1.2.3 Phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS

Điều 1 của GATS nêu các phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng như sau:

i) Phương thức cung cấp qua biên giới (Phương thức 1): là việc dịch

vụ ngân hàng được cung cấp từ lãnh thổ của một nước Thành viên đến lãnh thổ của nước Thành viên nào khác Theo phương thức này cả người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ đều không di chuyển ra khỏi lãnh thổ nước mình

ii) Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2): là phương thức mà người tiêu dùng của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để sử dụng dịch vụ ngân hàng, còn người cung cấp dịch vụ không ra khỏi lãnh thổ nước mình

iii) Phương thức hiện diện thương mại (Phương thức 3): là phương thức mà theo đó, nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng

Trang 22

iv) Phương thức hiện diện thể nhân (Phương thức 4): là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng (di chuyển thể nhân)

Đồng thời WTO cũng đưa ra các đối tượng thuộc diện "di chuyển thể nhân", bao gồm ba đối tượng chính là: những người lưu chuyển trong nội bộ công ty (intracorporate transferee), khách kinh doanh (business visitor) và người chào bán dịch vụ (service salesperson), nhà cung ứng dịch vụ theo hợp đồng (contractual services supplier)

1.2.4 Các nguyên tắc chung của GATS áp dụng đối với thương mại - dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng)

1.2.4.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

Nguyên tắc này là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên, được

quy định tại Điều II.1 của GATS như sau:

1 Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch

vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác

2 Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt kê

và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các ngoại lệ đối với Điều II

3 Các quy định của Hiệp định này không được hiểu là để ngăn cản bất kỳ một Thành viên nào dành cho các nước lân cận những lợi thế nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trong phạm vi giới hạn của vùng biên giới

Nội dung của nguyên tắc này là thành viên của WTO phải dành cho tất cả các nước thành viên khác các điều kiện và ưu đãi như nhau, không được

Trang 23

phép phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại khác nhau Nghĩa vụ MFN trong GATS áp dụng cho bất kỳ "biện pháp" nào ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong bất kỳ ngành nào được quy định trong Hiệp định, cho dù ngành

đó có được đưa vào cam kết hay không Do đó, nguyên tắc MFN áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ và cho tất cả các thành viên WTO Tuy nhiên, theo Phụ lục của GATS về các ngoại lệ đối với Điều II, vào thời điểm Hiệp định GATS có hiệu lực hoặc vào thời điểm gia nhập WTO, các Thành viên có thể bảo lưu ngoại lệ của nguyên tắc MFN Về nguyên tắc, ngoại lệ này không được duy trì quá 10 năm, tuy nhiên trong thực tế, hầu hết các nước WTO đã liệt kê các ngoại lệ MFN trong một khoảng thời gian không xác định

Theo quy định của GATS, nguyên tắc MFN có một số ngoại lệ như sau:

Thứ nhất, Điều II.2 GATS cho phép các thành viên duy trì biện pháp

không phù hợp với nguyên tắc MFN với điều kiện là biện pháp đó được liệt kê

và đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt nêu tại Phụ lục về các ngoại lệ đối với Điều II (phải đệ trình lên Hội đồng TMDV rà soát và xem xét các điều kiện cần thiết để áp dụng biện pháp đó, thời gian áp dụng biện pháp đó không quá 10 năm)

Thứ hai, cơ chế thương mại giữa các nước thành viên WTO có đường

biên giới giáp nhau cho phép một nước thành viên được dành ưu đãi cho riêng các nước láng giềng với mục đích là tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi dịch vụ và tiêu dùng tại khu vực biên giới

Thứ ba, Điều V của GATS quy định thành viên WTO có quyền dành ưu

đãi cho các nước tham gia Hiệp định tự do hóa thương mại dịch vụ Điều V (b) cũng cho phép dành ưu đãi cho các nước tham gia Hiệp định về thiết lập thị trường lao động hội nhập

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, một số dạng ngoại lệ (miễn trừ) MFN thường được các nước áp dụng trong thực tiễn là: (i) theo tiêu chí cơ sở

áp dụng: các miễn trừ dựa trên nguyên tắc có đi có lại và các miễn trừ theo các điều ước quốc tế, (ii) theo tiêu chí loại biện pháp áp dụng: các miễn trừ

Trang 24

MFN liên quan đến di chuyển thể nhân, miễn trừ MFN về thuế và các miễn trừ MFN liên quan tới hiện diện thương mại, các miễn trừ MFN về tiêu chuẩn

kĩ thuật, (iii) theo tiêu chí mục tiêu áp dụng: mục đích văn hóa và bảo tồn bản sắc khu vực, hợp tác khu vực và hội nhập quốc tế, thực hiện chính sách công nghiệp, môi trường và bảo tồn…

Đối với dịch vụ ngân hàng, nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một Thành viên cho phép và tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài nào đó (kể cả nước không phải thành viên) hoạt động trên thị trường ngân hàng của quốc gia mình, thì thành viên đó cũng phải cho phép và tạo điều kiện bình đẳng như vậy cho ngân hàng của các thành viên khác hoạt động trên thị trường, trừ khi Thành viên đó có những ngoại lệ MFN nêu trên

1.2.4.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)

Tại Khoản 1 Điều XVII của GATS quy định nguyên tắc đối xử quốc

gia như sau: Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục cam kết, và tùy

thuộc vào các điều kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi Thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình

Theo quy định nêu trên, trong những lĩnh vực được ghi trong danh mục cam kết và tùy thuộc vào các điều kiện được quy định tại danh mục đó, các thành viên phải dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài

sự đối xử giống như họ dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương

tự trong nước

Giống như nguyên tắc tiếp cận thị trường, nguyên tắc này chỉ áp dụng trong lĩnh vực mà Thành viên đã đưa ra cam kết cụ thể Các Thành viên WTO cũng có thể đưa ra các điều kiện trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và quy định trong cam kết của mình

Trang 25

Đối với dịch vụ ngân hàng, nguyên tắc này đòi hỏi các quốc gia thành viên đối xử như nhau giữa các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong nước

1.2.4.3 Nguyên tắc minh bạch hóa

Minh bạch hóa là nguyên tắc quan trọng của tự do hoá đa phương, được quy định tại các điều: Điều III, III.bis và IV.2 của GATS Theo các quy định này, các thành viên có nghĩa vụ công bố và thông báo nhanh chóng những các sửa đổi văn bản pháp luật cũng như hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến thương mại dịch vụ thuộc phạm vi cam kết, thành lập các điểm cung cấp thông tin (điểm hỏi đáp) để trả lời câu hỏi của các nước thành viên liên quan đến cơ chế thương mại dịch vụ

Nguyên tắc này cho phép phát hiện những hạn chế và những biện pháp bảo hộ trái quy định của GATS, tạo điều kiện tốt hơn để các nhà cung cấp dịch vụ tiếp cận thị trường các nước thành viên và cùng cạnh tranh

Đối với dịch vụ ngân hàng, nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên phải công bố và thông báo nhanh chóng những thay đổi pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng, duy trì các điểm hỏi đáp và tiến hành rà soát các văn bản pháp luật ngân hàng một cách công bằng

1.2.4.4 Nguyên tắc tiếp cận thị trường

Đây là nguyên tắc thể hiện mức độ tự do hoá trên cơ sở các cam kết của các nước thành viên, được quy định tại Điều XVI của GATS Theo

nguyên tắc này, mỗi thành viên sẽ "dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp

dịch vụ của các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử theo những điều kiện, điều khoản và giới hạn đã được thoả thuận và quy định tại Danh mục cam kết cụ thể" Cũng theo quy định của GATS, thì trừ khi

được quy định cụ thể trong Danh mục cam kết, các Thành viên sẽ không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp dưới đây dù là ở quy mô vùng hay trên toàn lãnh thổ:

Trang 26

- Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ dù dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;

- Hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế;

- Hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ đầu ra tính theo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;

- Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hoặc một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;

- Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ;

- Các hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài bằng việc quy định

tỷ lệ phần trăm tối đa cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước ngoài tính đơn hoặc tính gộp

Khi mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng, các quốc gia thành viên WTO phải cam kết theo lộ trình giảm bớt các rào cản hạn chế tiếp cận thị trường và phân biệt đối xử trong tất cả phương thức cung cấp và tiến tới xóa

bỏ hoàn toàn các rào cản tiếp cận thị trường trong lĩnh vực ngân hàng

1.2.4.5 Quy định trong nước

Điều VI của GATS yêu cầu các biện pháp có hiệu lực áp dụng chung của các nước thành viên WTO có ảnh hưởng tới TMDV phải được vận hành một cách hợp lý, khách quan và bình đẳng

Các nước thành viên phải duy trì hoặc thành lập các toà án tư pháp, trọng tài hoặc toà án hành chính hoặc thủ tục để xem xét một cách nhanh

Trang 27

chóng và đưa ra các biện pháp khắc phục đối với các quyết định hành chính

có tác động đến TMDV theo yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ chịu tác động, đồng thời phải đảm bảo rằng các thủ tục trên thực tế được xem xét một cách khách quan và bình đẳng

Điều VI.5 của GATS được thiết kế nhằm đảm bảo rằng những cam kết

cụ thể không bị làm vô hiệu hoặc giảm bớt mức cam kết thông qua việc đưa

ra các tiêu chuẩn không dựa trên tiêu chí khách quan và minh bạch hay nhằm

đưa ra những trở ngại quá mức cần thiết

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kinh doanh ngân hàng là ngành kinh doanh có lịch sử phát triển lâu đời, là ngành có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế và có tiềm năng phát triển to lớn trong tương lai Bởi vậy, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, thị trường dịch vụ ngân hàng của mỗi quốc gia cần mở cửa ở một mức độ nhất định thông qua các thỏa thuận song phương và đa phương Tổ chức thương mại thế giới - một tổ chức quốc tế có quy mô toàn cầu được thiết lập đã tạo ra cơ sở cho việc đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ nói chung và thị trường dịch vụ ngân hàng nói riêng

Tại chương 2, luận văn sẽ tổng hợp và phân tích các cam kết của Việt Nam với WTO về mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và đánh giá pháp luật thực định của Việt Nam trong tương quan với các cam kết này cũng như mức

độ phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam

Trang 28

Chương 2

CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CAM KẾT

2.1 CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

Cam kết WTO của Việt Nam là tuyên bố của Việt Nam - một quốc gia thành viên, nhằm cụ thể hóa việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của mình khi gia nhập một điều ước quốc tế Vì thế, cam kết về dịch vụ ngân hàng là cam kết để thực hiện GATS và là cơ sở để Việt Nam ban hành mới hoặc điều chỉnh các quy định hiện hành cụ thể trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng

Cam kết trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng gồm các cam kết chung và các cam kết trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ

2.1.1 Các cam kết chung của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch

vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng)

Cam kết chung hay còn gọi là cam kết nền là những cam kết được áp dụng chung cho tất cả 12 ngành, phân ngành dịch vụ theo phân loại của WTO Nội dung các cam kết nền chỉ tập trung trong phương thức hiện diện thương mại và phương thức hiện diện thể nhân

Đối với phương thức hiện diện thương mại, Việt Nam công bố một cam kết không đầy đủ khi bảo lưu các hạn chế sau:

i) Các công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được cho phép theo cam kết trong từng ngành

cụ thể (vừa là hạn chế đầu tư, vừa là hạn chế phương thức cung cấp dịch vụ)

ii) Các công ty nước ngoài cũng được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng mức mua trong từng ngành sẽ phải phù hợp

Trang 29

với hạn chế về phần vốn thuộc sở hữu nước ngoài quy định trong Biểu cam kết (riêng ngành ngân hàng, phía nước ngoài chỉ được phép mua tối đa 30%

và chuyên gia của công ty phải là người Việt Nam và mỗi doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép có tối thiểu 3 nhà quản lý, giám đốc điều hành và chuyên gia không phải là người Việt Nam Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải tuân thủ các thủ tục nhập cảnh, lưu trú và xuất cảnh của Việt Nam Việt Nam cũng cho phép người chào bán dịch vụ và người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại được nhập cảnh và lưu trú tới 90 ngày, nếu như những người này không tham gia trực tiếp vào việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ cho công chúng Việt Nam đồng ý cam kết cho phép các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng (CSS), tức là các tự nhiên nhân là nhân viên của các doanh nghiệp nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, được nhập cảnh

và lưu trú tới 90 ngày Tuy nhiên, cam kết này chỉ áp dụng đối với dịch vụ máy tính và dịch vụ tư vấn kỹ thuật và phải căn cứ vào một số điều kiện khác

2.1.2 Cam kết cụ thể đối với các phân ngành dịch vụ ngân hàng

Trang 30

iii) Thuê mua tài chính;

iv) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;

vii) Môi giới tiền tệ;

viii) Quản lý tài sản, như quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác;

ix) Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác;

x) Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác;

xi) Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác đối với tất cả các hoạt động được nêu từ các tiểu mục (i) đến (x),

kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại và về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp

Như vậy, về cơ bản, phạm vi các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Việt Nam cam kết là phù hợp với nội dung dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS Riêng đối với lĩnh vực "Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng

Trang 31

khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý (dù công khai hoặc theo

thỏa thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó" và lĩnh

vực "Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về: các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng quyền chọn (options), chứng khoán có thể chuyển nhượng" theo quy định của GATS không thuộc phạm vi các cam kết của Việt Nam về dịch

vụ ngân hàng và tài chính Các lĩnh vực này được Việt Nam cam kết trong phân ngành "Chứng khoán" (Điểm C - Mục II.1 Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ)

2.1.2.2 Cam kết về tiếp cận thị trường

- Đối với phương thức cung cấp qua biên giới (phương thức 1):

Việt Nam chưa cam kết tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với phương thức 1, ngoại trừ:

 Dịch vụ cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp

 Dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác đối với tất cả các hoạt động trong phạm vi các lĩnh vực nêu trong tiểu mục (i) đến (x) phần "phạm vi của cam kết" nêu trên

- Đối với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài (phương thức 2):

Việt Nam không giới hạn việc cá nhân Việt Nam tại các nước thành viên WTO sử dụng các dịch vụ ngân hàng của các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng ở nước Thành viên đó

- Đối với phương thức hiện diện thương mại (phương thức 3):

Việt Nam duy trì các hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà cung cấp

dịch vụ ngân hàng như sau:

Thứ nhất, hạn chế về hình thức thành lập doanh nghiệp Theo cam kết

của Việt Nam, khả năng thiết lập hiện diện thương mại đối với các TCTD

Trang 32

nước ngoài bị giới hạn như sau: chỉ được thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới một số hình thức pháp lý nhất định, bao gồm văn phòng đại diện, chi nhánh, ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài trong đó vốn đóng góp của bên nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều lệ, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài

Kể từ 1/4/2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài có thể được thành lập

Thứ hai, hạn chế về số lượng dịch vụ được cung cấp Việt Nam duy trì

hạn chế sau: Trong vòng 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh phù hợp với lộ trình sau:

Bảng 2.1: Tỷ lệ nhận tiền gửi từ thể nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng

so với vốn được cấp của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thời hạn Tỷ lệ nhận tiền gửi từ thể nhân Việt Nam không có quan hệ tín

dụng/ vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Tuy nhiên, các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở điểm giao dịch ở ngoài trụ sở của chi nhánh mình

Thứ ba, hạn chế về việc tham gia cổ phần của bên nước ngoài Việt

Nam có thể hạn chế việc tham gia cổ phần của các TCTD nước ngoài tại các ngân hàng thương mại nhà nước của Việt Nam được cổ phần hoá như mức tham gia cổ phần của các ngân hàng Việt Nam Đối với việc tham gia góp vốn dưới hình thức mua cổ phần, tổng số cổ phần do các thể nhân và pháp nhân nước

Trang 33

ngoài nắm giữ tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng, trừ khi luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

Vì lí do thận trọng, Việt Nam còn đưa ra một số hạn chế đối với nguyên tắc đối xử quốc gia, cụ thể là yêu cầu về tổng tài sản đối với TCTD nước ngoài muốn kinh doanh tại Việt Nam nêu tại bảng sau:

Bảng 2.2: Quy định về tổng tài sản đối với TCTD nước ngoài thiết lập

hiện diện thương mại tại Việt Nam

Thành lập chi nhánh của một ngân hàng

thương mại nước ngoài Ngân hàng phải có tổng tài sản ở Việt Nam hơn 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước

thời điểm nộp đơn Thành lập một ngân hàng liên doanh hoặc

một ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô

la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn Thành lập một công ty tài chính 100% vốn

đầu tư nước ngoài hoặc một công ty tài

chính liên doanh, một công ty cho thuê tài

chính 100% vốn nước ngoài hoặc một công

ty cho thuê tài chính liên doanh

TCTD nước ngoài có tổng tài sản có trên

10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước

thời điểm nộp đơn

- Đối với phương thức hiện diện thể nhân (phương thức 4): Việt Nam

không cam kết

2.2 SO SÁNH CAM KẾT WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VỚI CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TẠI BTA VÀ CAM KẾT WTO CỦA TRUNG QUỐC

2.2.1 So sánh với cam kết của Việt Nam tại BTA

So sánh với BTA, có thể thấy một số cam kết WTO của Việt Nam được giữ ở mức như ở BTA, cụ thể: không cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài mở điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, hạn chế các TCTD nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng thương mại được cổ phần hóa cũng như ngân hàng trong nước So với BTA, các cam kết với WTO có một

Trang 34

số bước tiến phù hợp với thực trạng phát triển của ngành ngân hàng và định hướng của Nhà nước về mở cửa ngành dịch vụ ngân hàng Cụ thể: cho phép ngân hàng nước ngoài được thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài

kể từ ngày 1/4/2007 (sớm hơn BTA khoảng 3 năm), đẩy nhanh lộ trình cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại Việt Nam Việt Nam cũng đã bổ sung một số hạn chế quan trọng

để tăng hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường dịch vụ ngân hàng, đó là: đưa ra yêu cầu về tổng tài sản của các TCTD nước ngoài muốn kinh doanh tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước ngoài không được mua quá 30% tổng

số cổ phần của các ngân hàng thương mại, trừ khi pháp luật Việt Nam có quy

định khác hoặc được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền

2.2.2 So sánh với cam kết WTO của Trung Quốc

Ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của WTO sau gần 14 năm đàm phán Nhìn chung, mức độ cam kết mở cửa và tự

do hoá dịch vụ ngân hàng của Trung Quốc là khá cao Trung Quốc đưa ra lộ trình tự do hóa đầy đủ trong vòng 5 năm (từ 2006 trở đi không có sự phân biệt đối xử nào giữa các TCTD trong nước và nước ngoài, không có hạn chế về loại hình TCTD, về kinh doanh ngoại tệ và hạn chế theo vùng địa lý)

Các cam kết chung trong WTO của Trung Quốc liên quan đến lĩnh vực dịch vụ tài chính bao gồm:

- Thực hiện đồng bộ, công bằng và hợp lý luật pháp, quy định và các biện pháp quản lý khác của Chính phủ - có thể áp dụng ở cấp địa phương và dưới cấp quốc gia cũng như đối với chính quyền trung ương;

- Xuất bản một tạp chí chính thức về tất cả các luật, quy định và các biện pháp quản lý khác của chính phủ có tác động đến thương mại dịch vụ;

- Báo cáo hàng năm với Ban thư ký WTO về tất cả các luật, quy định

và các hướng dẫn hành chính và các biện pháp quản lý khác của chính phủ liên quan đến thương mại dịch vụ;

Trang 35

- Thành lập một cơ quan cung cấp thông tin và trả lời các câu hỏi liên quan đến WTO;

- Có sự xem xét của toà án đối với tất cả các hoạt động quản lý liên quan đến việc thực hiện tất cả các luật, quy định và các biện pháp quản lý khác của chính phủ liên quan đến WTO; và

- Những người ra quy định tách biệt và không chịu trách nhiệm về các đối tượng bị quy định

Về lĩnh vực dịch vụ tài chính, Trung Quốc không cam kết về việc cung cấp qua biên giới, trừ vấn đề cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, xử lý số liệu và phần mềm liên quan, và tư vấn, trung gian và các dịch

vụ tài chính phụ trợ Các cam kết về ngân hàng của Trung Quốc bao gồm:

- Bãi bỏ các hạn chế theo địa lý đối với kinh doanh bằng ngoại tệ từ ngày gia nhập WTO Các hạn chế về địa lý đối với kinh doanh bằng đồng nội

tệ được dỡ bỏ hoàn toàn trong vòng 5 năm kể từ ngày gia nhập

- Các hạn chế đối với khách hàng trong các giao dịch bằng ngoại tệ được xoá bỏ từ ngày gia nhập Trung Quốc cam kết cho phép TCTD nước ngoài kinh doanh bằng đồng nội tệ với các doanh nghiệp của Trung Quốc từ ngày 11/12/2003 và với cá nhân người Trung Quốc từ ngày 11/12/2006 Các TCTD nước ngoài được cấp phép kinh doanh bằng đồng nội tệ trong một khu vực có thể phục vụ khách hàng ở bất kỳ khu vực nào khác không theo các hạn chế về mặt địa lý Tuy nhiên, để được cấp phép kinh doanh bằng nội tệ, các tổ chức nước ngoài phải hoạt động ở Trung Quốc được 3 năm và phải kinh doanh có lãi trong hai năm liên tiếp trước khi nộp đơn xin cấp phép

- Trung Quốc cam kết là các tiêu chí cấp giấy phép cung cấp dịch vụ ngân hàng hoàn toàn nhằm mục đích bảo đảm an toàn (không áp dụng quy định về đáp ứng yêu cầu kinh tế và không có hạn chế về mặt số lượng) Các biện pháp không phải là biện pháp bảo đảm an toàn làm hạn chế quyền sở

Trang 36

hữu, hoạt động và hình thức pháp nhân (bao gồm cả vấn đề mở chi nhánh nội

bộ và giấy phép) sẽ được xoá bỏ trước 11/12/2006

So sánh với cam kết WTO của Việt Nam:

Với phương thức 1, trong khi Việt Nam không cam kết cả tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia thì Trung Quốc không hạn chế các loại hình cung cấp dịch vụ theo phương thức này, trừ tiếp cận thị trường liên quan đến thông tin số liệu, phần mềm, và các dịch vụ tài chính phụ trợ liên quan đến các hoạt động của ngân hàng

Với phương thức 2, cả Việt Nam và Trung Quốc đều không có hạn chế nào ngoài trừ Việt Nam yêu cầu các dịch vụ liên quan đến ngoại hối phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Với phương thức 3, các quy định về hiện diện thương mại của Việt Nam và Trung Quốc là như nhau, tức là các ngân hàng nước ngoài có thể thành lập chi nhánh, thành lập ngân hàng liên doanh hay các công ty tài chính, tuy nhiên họ không được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài Tuy nhiên những yêu cầu liên quan đến tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia của Việt Nam tương đối phức tạp hơn của Trung Quốc Ví dụ, trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không cấp giấy phép thành lập thêm chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hay phần vốn góp của phía nước ngoài trong các ngân hàng liên doanh phải thấp hơn 50% tổng số vốn pháp định; việc mua cổ phần của các ngân hàng cổ phần phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Trong khi đó các tiêu chuẩn để thành lập chi nhánh, các ngân hàng liên doanh ở Trung Quốc sẽ chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá mức độ thận trọng

Về phạm vi hoạt động, trong khi Trung Quốc quy định các chi nhánh, các ngân hàng liên doanh không được kinh doanh đồng nội tệ tại một số khu vực, thành phố trong một thời gian nhất định sau khi gia nhập, Việt Nam lại đưa ra các các quy định chặt chẽ đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

Trang 37

cụ thể: các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không được đặt các máy rút tiền tự động tại những địa điểm không phải là trụ sở Việt Nam cũng không đưa ra lộ trình dỡ bỏ những hạn chế này

Việt Nam không có cam kết gì đối với các giao dịch theo phương thức

4 trong khi đó Trung Quốc không có bất kỳ hạn chế nào, kể cả tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia với các giao dịch thuộc phương thức 4 [3]

2.3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CÁC CAM KẾT WTO

Hiệp định Marrakesh năm 2005 về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Chương XVI đoạn 4) yêu cầu Việt Nam (cũng như bất cứ thành viên nào khác) phải "đảm bảo sự phù hợp của các luật, quy định và thủ tục hành chính đối với các nghĩa vụ quy định trong các Hiệp định liên quan" Quy định pháp

lý này song hành cùng với các nguyên tắc pháp lý quan trọng của luật quốc tế,

đó là nguyên tắc "pacta sunt servanda" (nghiêm chỉnh thực hiện cam kết quốc tế), và không bên nào được "viện dẫn các điều khoản của luật trong nước để bào chữa cho việc không thể thực hiện hiệp ước" Điều này cũng đã được khẳng định bởi Cơ quan Giải quyết tranh chấp của WTO Theo đó, Việt Nam không được phép có bất cứ luật, quy định hoặc thủ tục hành chính nào vi phạm các nghĩa vụ WTO

Trong mục 2.3 này, luận văn sẽ đánh giá thực trạng pháp luật của Việt Nam trong tương quan với các nghĩa vụ, cam kết của Việt Nam với WTO

2.3.1 Đánh giá việc tuân thủ các nghĩa vụ chung của GATS

Về cơ bản, pháp luật Việt Nam hiện hành đã tuân thủ các nghĩa vụ chung (các nguyên tắc) theo quy định của GATS

2.3.1.1 Về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia

Văn bản trực tiếp quy định nguyên tắc này là Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002 Theo đó,

Trang 38

nguyên tắc MFN được áp dụng đối với tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến TMDV và các hoạt động thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ở Việt Nam, áp dụng cho đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia không quy định điều kiện cụ thể để áp dụng "một phần" hay "toàn bộ" chế độ MFN

do vậy quy định của Pháp lệnh chưa đủ để áp dụng trực tiếp cho các ngành dịch vụ Mặt khác, Pháp lệnh cũng không quy định trường hợp nào Chính phủ được quyền quyết định các ngoại lệ của MFN (Khoản 5 Điều 10) Trong khi

đó, theo kết quả đàm phán với WTO, Việt Nam chỉ được duy trì các ngoại lệ được nêu tại Phụ lục về các ngoại lệ MFN theo Điều II của GATS

Ngoài Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia, nguyên tắc MFN còn được quy định tại các văn bản pháp lý khác như Luật Đầu tư

2005, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp lý liên quan đến các ngành dịch vụ cụ thể

Trong lĩnh vực ngân hàng, các văn bản pháp luật về ngân hàng đều thể hiện nguyên tắc đối xử không kém thuận lợi hơn giữa các nhà cung cấp dịch

vụ của một nước so với nhà cung cấp dịch vụ tương tự của nước thứ ba, trừ một số trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn như tại Nghị định 22/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng nước ngoài, các quy chế nghiệp vụ ngân hàng như Quy chế cho vay của các TCTD, Quy chế bảo lãnh ngân hàng đều quy định đối tượng áp dụng bao gồm tất cả các TCTD nước ngoài mà không phân biệt TCTD của nước nào

Liên quan đến ngoại lệ MFN về các hiệp định hội nhập kinh tế (Điều V GATS), Việt Nam đang tham gia vào một số hiệp định thương mại tự do như ASEAN, ASEAN + (ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN -

Úc và New Zealand, ASEAN - Nhật Bản) Tất cả những hiệp định này quy định mức độ tự do hoá TMDV nhất định đối với các quốc gia tham gia hiệp định so với các quốc gia khác Tuy nhiên, do cách hiểu về Điều V của GATS

Trang 39

và các điều kiện cho phép áp dụng ngoại lệ của MFN còn chưa thống nhất nên chưa có đầy đủ cơ sở để đánh giá tính tuân thủ của các hiệp định này so với quy định của GATS

2.3.1.2 Về nguyên tắc minh bạch hóa

Cơ chế minh bạch hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 5/3/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật này (trước đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

1996, được sửa đổi bổ sung năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành), đối với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì được điều chỉnh bởi Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đáp ứng được các cam kết của Việt Nam với WTO về minh bạch hóa, từ giai đoạn lấy ý kiến công chúng đối với dự thảo văn bản cho đến việc công bố các văn bản đã ban hành Trong lĩnh vực ngân hàng, các văn bản quy phạm pháp luật do NHNN ban hành đều được đăng Công báo và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Ngoài ra, định kỳ hàng tháng NHNN còn ban hành tập văn bản quy phạm pháp luật đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị…và các văn bản quy phạm do NHNN ban hành Bên cạnh đó, công tác

rà soát và công bố các văn bản do NHNN ban hành đã hết hiệu lực thi hành đã được chú trọng

Tuy nhiên, tình trạng khá phổ biến là một số văn bản quy phạm do NHNN ban hành trong thời gian gần đây không tuân thủ đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thời điểm hiệu lực của văn bản Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi năm 2002) quy định văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

Trang 40

quan ngang Bộ có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó (Khoản 3 Điều 75) Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2009) quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành (Khoản 1 Điều 78) Hai Luật

kể trên quy định các trường hợp ngoại lệ mà văn bản quy phạm có thể có hiệu lực ngay kể từ ngày ký hoặc ban hành, đó là trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, hoặc để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh

Như vậy, có thể thấy hàng loạt văn bản quy phạm do NHNN ban hành

đã vi phạm các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới các hình thức như: quy định thời điểm có hiệu lực chỉ vài ngày sau ngày ban hành hay có hiệu lực vào ngày ký ban hành, dù không thuộc trường hợp được

phép quy định có hiệu lực ngay nêu trên Ví dụ: Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN

ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất bằng đồng Việt Nam quy định thời điểm có hiệu lực của Quyết định này là ngày 19/5/2008 (Điều 2) - tức là chỉ có ba ngày kể từ ngày ban hành, các văn bản hướng dẫn chi tiết cơ chế hỗ trợ lãi suất cho cá nhân, tổ chức vay vốn ngân hàng ngắn hạn và trung dài hạn (Thông tư 02/2009/TT-NHNN ngày 03/2/2009, Thông tư 05/2009/TT-NHNN ngày 7/4/2009 của NHNN… đều có hiệu lực kể từ ngày ký)

Thực hiện các cam kết với WTO về việc công bố danh mục các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn hoặc điều chỉnh các dịch vụ và tất cả các thủ tục và điều kiện cấp phép hiện hành, hiện Việt Nam đang triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính (website www.csdl.thutuchanhchinh.vn)

để công khai, minh bạch hóa các thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục hành chính trong hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó, trang thông tin điện tử của NHNN cũng công bố bộ thủ tục hành chính trong hoạt động ngân hàng

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thương mại (2007), Các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam, (Tài liệu bồi dưỡng), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2007
2. Bộ Tư pháp (2008), Hội nhập kinh tế quốc tế, (Tài liệu bồi dưỡng kiến thức ngành Tư pháp), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
3. Bộ Thương mại, Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, (Tài liệu tham khảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
4. Chính phủ (2001), Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
5. Chính phủ (2002), Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/2 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/2 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2007), Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng thương mại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
8. Chính phủ (2008), Nghị định số 81/2008/NĐ-CP ngày 29/7 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 81/2008/NĐ-CP ngày 29/7 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
9. Chính phủ (2008), Nghị định 95/2008/NĐ-CP ngày 25/8 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 95/2008/NĐ-CP ngày 25/8 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
10. Chính phủ (2009), Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 5/3 hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 5/3 hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
12. Nguyễn Bá Diến (Chủ biên) (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
16. Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (Mutrap II) (2008), Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - Giải thích điều kiện gia nhập, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - Giải thích điều kiện gia nhập
Tác giả: Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (Mutrap II)
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2008
20. Trần Trí Dũng, "Lịch sử ngành ngân hàng thế giới", www.saga.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngành ngân hàng thế giới
21. Nguyễn Thị Hiền (2006), "Phát triển dịch vụ ngân hàng trong dân cư - Một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 và 2020", www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ ngân hàng trong dân cư - Một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 và 2020
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2006
22. Nguyễn Minh Kiều (2007), Tiền tệ ngân hàng, Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
23. Ngô Quốc Kỳ (2005), Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Quốc Kỳ
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
24. Nguyễn Đại Lai (2007), "Tự do hóa tài chính - Xu thế và giải pháp chính sách cho ngân hàng Việt Nam thời kỳ hậu WTO", www.kiemtoan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hóa tài chính - Xu thế và giải pháp chính sách cho ngân hàng Việt Nam thời kỳ hậu WTO
Tác giả: Nguyễn Đại Lai
Năm: 2007
25. Nguyễn Thị Anh Nga (2006), Các quy định của WTO về dịch vụ ngân hàng và vấn đề hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định của WTO về dịch vụ ngân hàng và vấn đề hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Nga
Năm: 2006
26. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2003), Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w