1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về khoảng không vũ trụ tiếp cận từ góc độ luật học so sánh

104 634 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 911,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, tìm hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, tình hình ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế về lĩnh vực nà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG TRUNG KIÊN

PHÁP LUẬT VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG TRUNG KIÊN

PHÁP LUẬT VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

Hà nội – 2009

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ 3

1.1 Hiệp ước quốc tế về những nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác ( Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967) 4

1.2 Hiệp ước về cứu hộ nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào vũ trụ (Hiệp ước về cứu hộ 1968) 9

1.3 Công ước về trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra ( Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1972) 16

1.4 Công ước về Đăng ký các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ (Công ước về đăng ký 1975) 22

1.5 Hiệp ước điều chỉnh các hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác ( Hiệp ước Mặt trăng 1979) 28

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC GIA VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ 33

2.1 Achentina: 35

2.2 Anh 38

2.3 Australia 41

2.4 Hoa Kỳ 46

2.5 Indonesia 52

2.6 Nam Phi 56

2.7 Nga 59

Trang 4

2.8 Nhật Bản 63 2.9 Thụy Điển 64 2.10 Ucraina 66

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC 71

3.1 Tình hình ký kết, thực hiện các Điều ước quốc tế và các chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ

vì mục đích hòa bình của Việt Nam 71 3.2 Tình hình và xu hướng hoạt động liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam 74 3.3 Mô hình lý luận về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về khoảng không vũ trụ của Việt Nam, bài học kinh nghiêm từ các nước 77

3.3.1 Tên gọi và hình thức pháp lý của văn bản 78 3.3.2 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với các hoạt động vũ trụ 79 3.3.3 Thiết chế quản lý Nhà nước về hoạt động vũ trụ của 81 3.3.4 Vấn đề liên quan đến cấp phép và giám sát các hoạt động vũ trụ 85 3.3.5 Vấn đề đăng ký vật thể vũ trụ 88 3.3.6 Các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại 89 3.3.7 Các vấn đề khác có liên quan 90

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

đích hoà bình của Liên hợp quốc

khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

vũ trụ Nhật Bản

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

Sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo của Trái đất mang tên Sputnik vào khoảng không vũ trụ ngày 04 tháng 10 năm 1957 đã tạo nên một điểm mốc quan trọng đánh dấu một bước tiến trong tiến trình chinh phục khoảng không vũ trụ, mở ra một kỷ nguyên đối với các hoạt động của loài người đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ với nhiều ứng dụng khoa học hết sức to lớn phục vụ cuộc sống của con người Tuy nhiên, cùng với nhiều lợi ích về kinh tế, khoa học

và xã hội mang lại cho các quốc gia tham gia và khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, các hoạt động của con người tiến hành trong khoảng không vũ trụ cũng có thể gây ra mối nguy hiểm tiềm tàng cho cộng đồng cũng như các chủ thể khác (đặc biệt là giữa các quốc gia khác nhau) do đặc tính vật lý và pháp lý của khoảng không vũ trụ và vật thể vũ trụ Chính vì vậy, nhu cầu điều chỉnh các hoạt động của con người trong môi trường hoàn toàn mới là nhu cầu tự nhiên và được đặt ra từ rất sớm kể cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế

Với việc Việt Nam đã ký kết tham gia một số các điều ước quốc tế về hoạt động liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ [1] đồng thời tham gia vào nhiều hoạt động vũ trụ và đặc biệt là việc phóng và khai thác vệ tinh VINASAT-

1 thì việc nghiên cứu pháp luật về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình là một việc làm thiết thực, đáp ứng được mục tiêu xây dựng khung pháp lý

về các hoạt động vũ trụ trước năm 2010 [2]

Mục tiêu của luận văn này nhằm tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật của Việt Nam trong vấn đề thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình dưới góc độ của luật học so sánh nhằm hiểu rõ hơn về nội dung thực chất của các quy định pháp luật này khi tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt, lý giải ở mức độ nhất định nguyên nhân của hiện tượng này đồng thời đưa ra các nhận xét, kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam nhằm thuân thủ các điều ước

Trang 7

Thứ nhất, tìm hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về vấn đề

sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình, tình hình ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế về lĩnh vực này của các quốc gia trên thế giới để thấy được nguyên tắc chung, cơ bản thể hiện qua các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ

Thứ hai, để thực hiện so sánh những điểm tương đồng và khác biệt trong

các nội dung cơ bản trong pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ, tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật về khoảng không vũ trụ của các quốc gia đại diện cho các cường quốc vũ trụ, đại diện cho các châu lục và đặc biệt là một số nước châu

Á và đặc biệt là thuộc khối ASEAN với nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về trình độ phát triển điều kiện kinh tế, khoa học - kỹ thuật, xã hội và hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vũ trụ

Cuối cùng, nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn để hoàn thiện hệ thống các

quy định của pháp luật Việt Nam về khoảng không vũ trụ, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu tình hình ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; thực trạng các hoạt động vũ trụ

ở Việt Nam và tình hình xây dựng và ban hành các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế và nhu cầu quản lý nhà nước đối với các hoạt động liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ Trong Chương III này, các nội dung cơ bản mang tính chất phổ quát, phương thức thực hiện theo quy định của pháp luật quốc tế cũng như của các quốc gia khác cũng được xem xét như những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng pháp luật vũ trụ của Việt Nam

Trang 8

3

CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ

Pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ được hình thành từ nhu cầu cần

có một số các nguyên tắc được thống nhất giữa các quốc gia áp dụng cho các hoạt động trong một vùng hoàn toàn mới, vì thế nó mang nhiều đặc điểm xa lạ với các tiêu chí truyền thống trong quá trình xây dựng pháp luật quốc tế như vấn

đề chủ quyền quốc gia, nghĩa vụ hợp tác nhằm bảo đảm lợi ích riêng của từng quốc gia cũng như lợi ích chung toàn nhân loại trong hoạt động thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ

Nguồn của pháp luật quốc tế về lĩnh vực liên quan đến khoảng không vũ trụ phong phú và đa dạng, bao gồm các điều ước quốc tế đa phương trong khuôn khổ của Liên hợp quốc; các điều ước quốc tế giữa các quốc gia trong việc thành lập các tổ chức quốc tế ở phạm vi toàn cầu cũng như khu vực hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến khoảng không vũ trụ như: EU, ESA, EUTELSAT, EUMETSAT, IMSO (IMMARSAT), ITSO (INTELSAT), INTERSPUTNIK, INTERCOSMOS và ITU và các điều ước quốc tế song phương giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia [3]

Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình cũng như nội dung pháp lý của các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc, Nghị quyết số 53/45 ngày 3 tháng 2 năm 1999 của Đại hội đồng yêu cầu COPUOS tại các kỳ họp trong Chương trình nghị sự của mình (từ năm 1999) phải có nội dung rà soát hiện trạng của việc ký kết và tham gia năm điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình và thông tin về việc xây dựng pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc Như vậy có thể thấy rằng COPUOS quan tâm đến tình trạng phê chuẩn và ký kết năm điều ước quốc tế của Liên hợp quốc cũng như thực tiễn của quá trình thực hiện các nghĩa vụ của quốc

Trang 9

4

gia thành viên này việc ban hành pháp luật quốc gia thường được đề cập với tên gọi pháp luật vũ trụ (space law) điều chỉnh các hoạt động liên quan đến sử dụng khoảng không vũ trụ như là phương thức hiệu quả được sử dụng một cách phổ quát trong hoạt động quản lý nhà nước của quốc gia trên thế giới

Như vậy, phạm vi nghiên cứu của Chương này này sẽ tập trung vào nội dung của năm điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình

1.1 Hiệp ước quốc tế về những nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác (Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967)

Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 được thông qua bằng Nghị quyết

2222 (XXI) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1966 Nội dung của Hiệp ước này hầu hết dựa trên Tuyên bố về những nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ được Đại hội đồng thông qua bằng Nghị quyết số 1962 (XVIII) năm 1963 nhưng

có bổ sung một số quy định mới Tính đến ngày 01/01/2009 đã có 100 quốc gia phê chuẩn và 26 quốc gia đã ký Hiệp ước [4]

Đây là điều ước quốc tế đã thiết lập nền tảng pháp luật cho các hoạt động của con người đối với các thành phần của thiên hà xung quanh hành tinh của chúng ta mà tác động đáng kể và đến mức có thể nhận biết được đến cuộc sống của con người trên Trái đất Ngoài ra, các nguyên tắc được quy định trong Hiệp ước cũng đã được dự liệu để áp dụng cho các hoạt động của loài người không chỉ trong hệ Mặt trời mà còn cho các hoạt động ở ngoài hệ Mặt trời trong Ngân

hà và các thiên hà khác Hiệp ước này được đông đảo cộng đồng quốc tế xem như là một nền tảng vững chắc cho tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật về khoảng không vũ trụ và là một Điều ước quốc tế quan trọng đối với việc

Trang 10

Tuy nhiên, trong khi xác định phạm vi áp dụng của Hiệp ước quốc tế về

"khoảng không vũ trụ" thì các nhà thiết kế Hiệp ước dường như đã không đưa ra được một định nghĩa rõ ràng và hoàn hảo về tình trạng pháp lý cũng như xác định về mặt khoa học của một vùng hoàn toàn mới mẻ đối với môi trường hoạt động của con người mà được gọi là khoảng không vũ trụ (outer space) [5] Thay

vì đi tìm một định nghĩa cho vấn đề này, họ đồng ý tiếp cận theo chức năng đó là

về tính mục đích và định hướng của hoạt động liên quan đến khoảng không vũ

trụ bằng cụm từ "việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả mặt

trăng và các thiên thể khác phải được thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ kinh tế, khoa học và là công việc chung của toàn nhân loại" Cụm từ "là công việc chung của nhân loại" đã thể hiện được toàn bộ nguyên tắc hàng đầu của Hiệp ước mà không cần

nói đến bản thân của vấn đề khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên

thể khác, và bản chất mục tiêu của "việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ

trụ” lại chỉ được thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc

Trang 11

Như vậy, có thể nói rằng trong việc tạo dựng khung pháp lý cho khoảng không vũ trụ, Hiệp ước có sự giống nhau với mô hình khung pháp lý đối với vùng biển quốc tế nơi mà chế độ pháp lý được kết tinh bằng đặc trưng của một loạt các quyền tự do biển cả sau nhiều thế kỷ tranh cãi Tương tự như vùng biển quốc tế, Điều II tuyên bố nguyên tắc khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các

thiên thể khác "không thể bị chiếm làm của riêng của một quốc gia bằng hành vi

tuyên bố chủ quyền, hành vi chiếm giữ, sử dụng hay bất kỳ hành vi nào khác”

Nguyên tắc này đủ rộng để không chỉ bao trùm toàn bộ khoảng không vũ trụ mà còn đề cập đến cả các thành phần bộ phận của nó – các thiên thể tồn tại trong khoảng không vũ trụ Điểm hạn chế của các nội dung tại Điều II cũng như trong toàn bộ nội dung của Hiệp ước là sự im lặng về vấn đề xác định ranh giới của khoảng không vũ trụ với vùng trời thuộc chủ quyền quốc gia và trong mối liên

hệ của nguyên tắc pháp lý chống lại việc chiếm giữ bằng bất kỳ hình thức nào, hay như các hình thức vi phạm trật tự pháp luật quốc tế trong vùng này

Điều III của Hiệp ước mang ý nghĩa nền tảng cho khung khổ pháp lý về khoảng không vũ trụ và các hoạt động trong khu vực này Trong nội dung của Điều này, tính chất bắt buộc của tính hợp pháp quốc tế của các hoạt động thăm

dò, khai thác khoảng không vũ trụ được quy định trực tiếp, là các hoạt động này

rõ ràng phải được thực hiện "theo quy định của pháp luật quốc tế, kể cả Hiến

Chương Liên hợp quốc" Hơn nữa, sự cần thiết giữ gìn yếu tố hoà bình trong các

hoạt động này được nhấn mạnh "nhằm duy trì hoà bình và anh ninh quốc tế,

tăng cường sự hợp tác và hiểu biết quốc tế" Nội dung của Điều này cần được

Trang 12

7

hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ với phần mở đầu của Hiệp ước khi ghi nhận

nguyện vọng của các quốc gia thành viên bằng việc bày tỏ mong muốn " đóng

góp vào sự mở rộng hợp tác quốc tế về khía cạnh khoa học cũng như pháp luật trong việc thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình" Một

nguyên tắc chung nữa được biết đến được ghi nhận tại Điều III là "duy trì

khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình", và nguyên tắc này được củng cố

thêm khi kết hợp với việc đặt ra một số các biện pháp cụ thể về phi quân sự hoá khoảng không vũ trụ được quy định trong Điều IV

Ngoài ra, các nguyên tắc khác của Hiệp ước mang ý nghĩa quan trọng cho đặc trưng của khung khổ pháp luật về khoảng không vũ trụ, bao gồm: nguyên tắc

trợ giúp nhà du hành vũ trụ - được coi như là "sứ giả của loài người trong

khoảng không vũ trụ" đối với trường hợp tai nạn, khẩn nguy hoặc hạ cánh khẩn

cấp (Điều V); nguyên tắc bảo đảm nghĩa vụ quốc tế đối với hoạt động của quốc gia trong khoảng không vũ trụ không kể là các hoạt động đó được các cơ quan nhà nước hoặc các thực thể phi chính phủ thực hiện bảo đảm việc tuân thủ với Hiệp ước (Điều VI khoản 1); nguyên tắc trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại các thiệt hại do các hoạt động của quốc gia thành viên của Hiệp ước gây ra cho thể nhân, pháp nhân của của các quốc gia khác hoặc của chính mình (Điều

VI khoản 2); nguyên tắc về đăng ký vật thể vũ trụ và quyền tài phán, kiểm soát đối với các vật thể đó dựa trên đăng ký (Điều VII, Điều VIII); nguyên tắc hợp tác và trợ giúp đa phương trong thăm dò, khai thác khoảng không vũ trụ với vai trò đặc biệt của Liên hợp quốc, Tổng thư ký Liên hợp quốc đối với việc phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này (Điều IX, Điều XX)

Cuối cùng, một đặc điểm rất quan trọng nói lên đặc trưng của khung khổ pháp lý về khoảng không vũ trụ do chính Hiệp ước này và các văn bản khác của Liên hợp quốc về khoảng không vũ trụ thiết lập chính là vấn đề về Tổ chức quốc

tế chuyên môn để quản lý và điều phối mà được hình thành một cách phổ biến trong các lĩnh vực khác (hàng không, hàng hải, …) Trong khi Liên hợp quốc

Trang 13

8

hoàn toàn có thể thiết lập một tổ chức chuyên môn để quản lý và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác như Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) và Cơ quan quản lý đáy biển quốc tế (International Seabed Authority), Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), hay như một thiết chế ít phổ biến hơn là Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) thì trong lĩnh vực về các hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ không có một cơ quan chuyên môn nào trong hệ thống các cơ quan của Liên hợp quốc xuất hiện mà thay vào đó là các chức năng được phân tán giữa một số các thiết chế và tổ chức với vai trò trung tâm của COPUOS [6]

Có thể nói rằng cơ chế hiện tại về hợp tác quốc tế trong các hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ vẫn còn phù hợp với Hiệp ước mà không cần thiết phải thiết lập một cơ quan chuyên môn trong hệ thống cơ quan của Liên hợp quốc để giải quyết các vấn đề hợp tác quốc tế trong các vấn đề liên quan đến khoảng không vũ trụ Mặc dù các dấu hiệu hiện tại cho thấy ít có khả năng một thiết chế có cơ cấu mở rộng dưới dạng cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc

sẽ được thiết lập trong tương lai gần, tuy nhiên, xuất phát từ một số vấn đề toàn cầu mang tính cấp thiết xứng đáng hơn với sự quan tâm của cộng đồng quốc tế như: kiểm soát và cải thiện môi trường của Trái đất sử dụng công nghệ vũ trụ, bảo vệ môi trường khoảng không ngoài vũ trụ, thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên từ Mặt trăng và các thiên thể khác, năng lượng từ khoảng không vũ trụ, tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, liên lạc với nền văn minh ngoài Trái đất mà Liên hợp quốc cần phải quan tâm vì lợi ích của toàn nhân loại

Các nhà thiết kế, xây dựng Hiệp ước này chắc chắn không có ý định và cũng không thể tạo ra một văn bản pháp luật toàn diện có dự liệu và điều chỉnh mọi khía cạnh của các hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ khi đó và trong tương lai và điều này có thể được minh chứng bởi ngay tên gọi của Hiệp ước khi chỉ nói đến vấn đề thoả thuận về các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình Đặc trưng

Trang 14

9

này của Hiệp ước còn được thấy rõ qua việc Hiệp ước để tạo cánh cửa ngỏ cho việc phát triển sau này của pháp luật về khoảng không vũ trụ bởi các Điều ước quốc tế bổ sung và các nguyên tắc được soạn thảo chi tiết sau khi Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 có hiệu lực Tất cả các văn bản đó đó đều căn cứ vào Hiệp ước này như văn bản pháp lý nền tảng và phản ánh mong muốn và duy trì

sự phù hợp của các khái niệm với Hiệp ước về khoảng không vũ trụ và các văn bản theo sau của Liên hợp quốc liên quan đến khoảng không vũ trụ

Tóm lại, Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 có vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là nền móng cho toàn bộ công việc xây dựng pháp luật quốc tế

về khoảng không vũ trụ Ngoài các đặc điểm phổ biến chung, các nguyên tắc chính của nó vẫn còn giá trị và hữu ích đặc biệt là các quy định đã thiết lập khung khổ pháp lý về khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác như là vấn đề vấn đề chung toàn cầu do đó Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 chưa cần đến bất kỳ sửa đổi nào Tuy nhiên, cùng với việc đó một số quy định của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 cũng như các quy định trong các điều ước quốc tế khác của Liên hợp quốc cần sự phê chuẩn và việc áp dụng chúng phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Chính vì vậy một số nguyên tắc cơ bản của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 cần được bổ sung điều chỉnh để đáp ứng được sự thay đổi về hoàn cảnh so với điều kiện khi Hiệp ước này ra đời

1.2 Hiệp ước về cứu hộ nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào vũ trụ (Hiệp ước về cứu hộ 1968)

Văn bản pháp lý tiếp theo của Liên hợp quốc về hoạt động trong lĩnh vực

vũ trụ được thông qua sau Hiệp ước về khoảng không vũ trụ là Hiệp ước cứu hộ

1968 Ngày 18/12/1967, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua với sự nhất trí cao về Nghị quyết 2345 (XXII) tạo sự ra đời cho Hiệp ước về Cứu hộ nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ Tính đến ngày 01/01/2009 đã có 90 quốc gia thành viên và 24

Trang 15

10

quốc gia khác ký Hiệp ước, ngoài ra 01 tổ chức quốc tế tuyên bố chấp nhận các

Những ai đã chứng kiến quá trình đàm phán lâu dài và tiến độ rất chậm trong việc dự thảo Hiệp ước đều ngạc nhiên bởi sự kiện Hiệp ước được thông qua chỉ một năm sau khi ký kết Hiệp ước về khoảng không vũ trụ năm 1967 Có thể có nhiều lý do với mức độ quan trọng khác nhau được nêu ra để lý giải cho

sự thay đổi đột ngột này về tiến trình xây dựng văn bản Nhưng rõ ràng là những vấn đề chính thức và cốt lõi của quá trình đàm phán đã được xúc tiến và giải quyết một cách nhanh chóng bởi việc ký kết và phê chuẩn Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 với nội dung quy định tại Điều V " dành mọi sự hỗ trợ cần thiết cho các nhà du hành vũ trụ trong trường hợp tai nạn, khẩn nguy, hạ cánh khẩn cấp xuống lãnh thổ của quốc gia thành viên khác hay trên vùng biển quốc tế" Trong trường hợp hạ cánh, nhà du hành vũ trụ "cần phải được trao trả cho quốc gia mà phương tiện được đăng ký một cách nhanh chóng và an toàn" Hơn nữa, Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 đã bao gồm trong Điều VIII các nguyên tắc liên quan đến việc trao trả các vật thể được phóng vào khoảng không

vũ trụ và các thiết bị thành phần của chúng được tìm thấy ngoài giới hạn lãnh thổ của quốc gia thành viên nơi đăng ký vật thể Vì thế, sau khi Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 được ký kết thì các nhà soạn thảo Hiệp ước cứu hộ chỉ còn làm công việc quy định chi tiết nguyên tắc đã được chấp thuận trước đó trong một văn bản riêng

Ngoài ra, có thể công việc soạn thảo và thông qua đối với Hiệp ước Cứu

hộ 1968 có thể sẽ không được thúc đẩy nhanh chóng nếu không có một sự kích thích đặc biệt, đó là 2 sự kiện bi thảm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vấn đề được thảo luận chính thức trong Hiệp ước đối với tất cả các quốc gia và thúc đẩy các cường quốc về vũ trụ kết thúc quá trình thảo luận kéo dài Sự kiện đầu tiên xảy

ra ngày 27/01/1967 vào đúng ngày Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 được

ký tắt, một vụ cháy tại trung tâm vũ trụ Kennedy xảy ra ở khoang mũi phi thuyền

Trang 16

11

Apollo và chỉ trong vài giây đã làm thiệt mạng 3 nhà du hành vũ trụ người Mỹ - những người theo kế hoạch được chọn để làm phi hành đoàn của Mỹ đầu tiên hạ cánh xuống Mặt trăng, sự kiện thứ hai đến vào 3 tháng sau, ngày 24/04/1967 tàu

vũ trụ thế hệ mới của Soviet mang tên Soyuz I đã gặp tai nạn và chỉ huy tàu cũng

bị thiệt mạng [8] Trong trường hợp đầu xảy ra trong khi tiến hành thử nghiệm tại mặt đất, tại trung tâm vũ trụ và giả thiết rằng không có khả năng cho vấn đề hợp tác quốc tế trong hoạt động cứu trợ và không thể có khả năng cứu hộ các nhà du hành vũ trụ, nhưng trong trường hợp thứ hai xảy ra tại giai đoạn cuối của nhiệm vụ của chuyến du hành và ở tình huống có thể phải cần đến sự hợp tác như vậy trong lĩnh vực này

Cấu trúc của Hiệp ước này có mối quan hệ đơn giản và được thiết kế có thể chia làm hai nhóm vấn đề

Nhóm các quy định đầu tiên được đưa vào bốn điều giải quyết các vấn đề liên quan đến việc hỗ trợ và trao trả các nhà du hành vũ trụ Cũng giống như các ngành luật khác như hàng không hay hàng hải quốc tế, các quy định về mục đích của hoạt động tìm kiếm, cứu hộ đều xuất phát từ các quan điểm về nhân đạo thể hiện qua nội dung Điều I quy định về việc thông báo về vụ tai nạn, sau đó Hiệp ước đi thẳng vào vấn đề cứu hộ và trợ giúp các nhân viên của tàu vũ trụ hạ cánh trên lãnh thổ của quốc gia thành viên quy định tại Điều II cũng như hạ xuống vùng biển quốc tế nêu tại Điều III; việc trao trả một cách an toàn, nhanh chóng các nhân viên phi hành đoàn vô điều kiện được quy định trong Điều IV

Nhóm các quy định thứ hai, tập trung vào năm khoản của Điều V, liên quan đến việc tìm kiếm và trao trả các vật thể vũ trụ Vấn đề này dựa trên một số cách tiếp cận khác với các quy định trước đó, do xuất phát từ quyền sở hữu của vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ và đòi hỏi đền bù đối với dịch vụ tìm kiếm và trao trả vật thể Điều VI có ý nghĩa đặc biệt trong việc giải thích thuật ngữ "cơ quan phóng hành" và cũng giải quyết vấn đề xác định địa vị pháp lý của các tổ chức quốc tế liên chính phủ theo phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước này

Trang 17

có thể xảy ra trong quá trình thu hồi tàu vũ trụ và chắc chắn việc trao trả nhân viên có thể thu xếp riêng biệt và được điều chỉnh bởi các quy định khác với các quy định về việc trao trả tàu vũ trụ

Giống như việc trợ giúp các nhân viên phi hành đoàn của tàu vũ trụ hạ cánh thuộc lãnh thổ thuộc quyền tài phán của quốc gia thành viên, theo quy định tại Điều II, cơ quan phóng hành phải có nghĩa vụ với quốc gia có lãnh thổ mà tàu

vũ trụ hạ cánh Đây là vấn đề chưa rõ ràng: có hay không nghĩa vụ như vậy phát sinh khi có đề nghị của quốc gia có lãnh thổ mà tàu vũ trụ hạ cánh; cơ quan phóng hành không chỉ có nghĩa vụ đề nghị mà còn có quyền yêu cầu mình được tham gia cho đến khi hoàn thành vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn hay phải có thoả thuận giữa các chủ thể đó Nguyên tắc chung về sự tôn trọng yếu tố chủ quyền quốc gia được thể hiện qua cấu trúc của các quy định này như sau: thứ nhất, nghĩa vụ của quốc gia có lãnh thổ tàu vũ trụ hạ cánh phải thực hiện mọi công việc có thể nhằm mục đích cứu hộ; thứ hai, trách nhiệm về thông báo sự việc của cơ quan phóng hành; thứ ba, nghĩa vụ của cơ quan phóng hành trong việc hợp tác và đặc biệt nêu rõ trong đoạn cuối của Điều II "Các hoạt động phải được đặt dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của quốc gia có lãnh thổ nơi tàu vũ trụ hạ

Trang 18

Cũng như việc trợ giúp các nhân viên phi hành đoàn tàu vũ trụ hạ cánh ngoài lãnh thổ của quốc gia thành viên Hiệp ước, quy định tại Điều III dường như gắn trách nhiệm hàng đầu về cứu hộ cho cơ quan phóng hành liên quan khi trao quyền được sắp đặt về phương tiện và thiết bị cho mục đích này Hơn nữa, bất kỳ khi nào cơ quan phóng hành tự thấy không có khả năng thực hiện, hoặc quá muộn để hành động, các quốc gia thành viên khác "trong tình huống có thể thực hiện việc cứu hộ" phải trợ giúp các nhân viên liên quan ngay lập tức Các quốc gia này phải hành động theo phán quyết và tự mình quyết định mà không cần phải đợi bất kỳ một sự yêu cầu nào Nghĩa vụ của các quốc gia này là thông báo cho cơ quan phóng hành và Tổng thư ký Liên hiệp quốc theo quy định của quốc gia mình

Một hệ quả phổ biến có thể thấy là trường hợp các hoạt động cứu hộ do cơ quan phóng hành thực hiện không hiệu quả, các quốc gia thành viên khác có nghĩa vụ trợ giúp theo cả Điều V của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 và Điều III Hiệp ước Cứu hộ 1968

Điều IV bao gồm một quy định giản đơn liên quan đến việc trao trả nhân viên phi hành đoàn của tàu vũ trụ hạ cánh "do tai nạn, khẩn nguy hoặc hạ cánh khẩn cấp hoặc bất thường" trong lãnh thổ thuộc quyền tài phán của quốc gia thành viên khác hoặc được tìm thấy trên vùng biển quốc tế hoặc bất kỳ nơi nào khác mà không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào Trong tất cả các tình huống như vậy " họ phải được trao trả một cách nhanh chóng và an toàn cho

Trang 19

14

đại diện của cơ quan phóng hành" Mặc dù câu chữ của quy định này không hoàn toàn cân đối với tư cách của " sứ giả của loài người" nhưng nó nhấn mạnh rằng nó không chứa đựng bất kỳ điều kiện nào (quasi-reservation) và nghĩa vụ trao trả vô điều kiện bắt nguồn từ Điều V của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ

1967 và được nhắc lại trong lời nói đầu của Hiệp ước cứu hộ 1968 Ngoài ra, theo cách dùng từ trong Điều IV, Hiệp ước không cho phép bất kỳ một sự chậm trễ nào trong việc trao trả các nhà du hành vũ trụ

Về vấn đề thu hồi và trao trả các vật thể vũ trụ, được giải quyết theo các quy định phức tạp và cũng chưa hoàn toàn sáng tỏ tại khoản 2 và 3 Điều V thể hiện trong một số các thoả hiệp dựa trên cách thông qua Hiệp ước Nghĩa vụ trao trả các vật thể vũ trụ được thu hồi là hệ quả logic của nguyên tắc quy định tại Điều V Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 Theo đó, quyền sở hữu của các vật thể vũ trụ được phóng vào khoảng không vũ trụ và các thành phần của nó không bị ảnh hưởng vào vị trí tồn tại của chúng (trong khoảng không vũ trụ, trên các thiên thể hoặc đã quay trở lại Trái đất) Tuy nhiên, nguyên tắc này không mang ý nghĩa cơ quan phóng hành không thể từ bỏ quyền sở hữu của mình và từ

bỏ một vật thể vũ trụ hoặc các bộ phận thành phần của nó trong việc trao trả mà

nó không còn giá trị và được quan tâm nữa

Với việc thực hiện phóng một vật thể nhất định mà không công bố các dữ liệu quan trọng về nhiệm vụ của chúng, cơ quan phóng hành có thể đối mặt với tình huống khó xử để trao đổi các dữ liệu nhận dạng trước khi đề nghị cho việc trao trả hoặc cũng như đòi hỏi việc trao trả Mặt khác, quốc gia thành viên phát hiện ra vật thể vũ trụ hoặc bộ phận thành phần của nó được nhận diện không có nghĩa vụ để đòi hỏi việc việc báo cáo các dữ liệu về nhận dạng và sẵn lòng trao trả chúng vô điều kiện

Ý nghĩa đặc biệt khi xác định nghĩa vụ của cơ quan phóng hành theo Điều

V khoản 4 là nhằm thực hiện một cách hiệu quả để dần hạn chế mối nguy hiểm,

có hại từ tính chất nguy hiểm và có hại của vật thể vũ trụ Quy định liên quan

Trang 20

là cân đối và hợp lý bởi lợi ích của cơ quan phóng hành sẽ có được bằng việc thực hiện thu hồi và trao trả và do đó cũng không có quy định cụ thể về quy trình hay thoả thuận giữa các bên liên quan cho vấn đề xác định phương pháp tính toán chi phí do cơ quan phóng hành phải thanh toán

Đặc trưng của yếu tố quốc tế trong Hiệp ước này không loại trừ bất kỳ việc tham gia của các cá nhân và phương tiện tham gia hoạt động tìm kiếm, cứu

hộ, miễn là chúng có ích (cứu hộ bởi tàu thuyền của tư nhân trên vùng biển quốc

tế, tìm kiếm và cứu hộ bằng tàu bay tư nhân ở vùng xa xôi, ) Tất nhiên, những

cá nhân này không hoạt động như là chủ thể trực tiếp với quyền và nghĩa vụ của luật quốc tế, họ cũng không hành động như là đại diện của các quốc gia liên quan trừ khi được sự cho phép rõ ràng bởi các quốc gia đó, quốc gia này vẫn phải chịu trách nhiệm gián tiếp đối với các hành động sai hoặc thiếu sót có thể xảy ra

Ngoài các quốc gia, các Tổ chức quốc tế liên chính phủ chịu trách nhiệm phóng hành vật thể vũ trụ có thể là người thụ hưởng các quyền và người nhận các nghĩa vụ phát sinh từ Hiệp ước này nếu Tổ chức quốc tế tuyên bố chấp nhận các quyền và nghĩa vụ quy định trong Hiệp ước và nếu đa số các quốc gia thành viên của Tổ chức quốc tế là quốc gia thành viên của Hiệp ước này và Hiệp ước

về khoảng không vũ trụ 1967 Bằng việc tuyên bố chấp thuận của mình các tổ

Trang 21

16

chức liên chính phủ có quyền đối với các quyền và có nghĩa vụ đáp ứng các nhiệm vụ phát sinh từ Hiệp ước ngoại trừ các vấn đề còn lại gắn liền với lãnh thổ của quốc gia thành viên của Hiệp ước Bởi vậy, vị trí của tổ chức quốc tế liên chính phủ có những tuyên bố theo yêu cầu có thể được coi như đáp ứng được vấn đề tham gia Hiệp ước

Cũng như các nguyên lý chung về pháp luật chỉ phản ánh được hoàn cảnh

và nhu cầu điều tiết cho từng giai đoạn cụ thể, Hiệp ước Cứu hộ 1968 cũng phản ánh trình độ công nghệ của các chuyến bay vào khoảng không vũ trụ và thực tiễn trong giai đoạn đầu của các hoạt động vũ trụ Sau này, những điều kiện và các vấn đề mới xuất hiện trong các hoạt động về khoảng không vũ trụ mà chưa từng được biết đến trong giai đoạn đầu đòi hỏi bổ sung các quy tắc pháp luật phù hợp trên nền tảng hiệu lực của nguyên tắc trợ giúp và cứu hộ các nhà du hành vũ trụ, việc trao trả họ và các vật thể vũ trụ Những quy tắc này cần tập trung giải quyết các vấn đề về trợ giúp và cứu hộ các nhà du hành vũ trụ trong các trường hợp khẩn nguy hoặc khẩn cấp khi họ vẫn ở trên tàu vũ trụ hoặc bước ra ngoài khoảng không vũ trụ và không thể trở về tàu an toàn nếu như không có sự hợp tác phù hợp Công việc hỗ trợ cứu hộ cần được điều chỉnh ở phạm vi quốc tế, chú trọng đến nhân viên của trạm vũ trụ trên quỹ đạo và trên các thiên thể trong tương lai Trong điều kiện hiện tại về gia tăng thương mại hoá các hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ, việc tham gia của các cá nhân bao gồm khách du lịch vũ trụ trên các chuyến bay vào vũ trụ , các quy tắc tương ứng cho một loạt hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ mới cần phải được xây dựng và đó cũng chính vấn đề chung trong tiến trình phát triển của pháp luật về khoảng không vũ trụ

1.3 Công ước về trách nhiệm quốc tế và bồi thường thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra ( Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1972)

Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1972 được sự nhất trí thông qua bằng Nghị quyết 2777 (XXVI) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1971,

Trang 22

17

có hiệu lực tháng 9 năm 1972 Công ước đã cụ thể hoá nội dung Điều VII Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 với nội dung chính là ràng buộc cho quốc gia phóng hành trách nhiệm bồi thường thiệt hại một cách tuyệt đối hay hạn chế đối với thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra cho nạn nhân trên bề mặt Trái đất hoặc đối với tàu bay đang bay Tính đến ngày 01/01/2009 đã có 87 quốc gia phê chuẩn và 23 quốc gia đã ký công ước này, ngoài ra 3 tổ chức quốc tế là ESA, EUMETSAT, EUTELSAT đã tuyên bố chấp nhận các quyền và nghĩa vụ theo quy định của công ước này [9]

Công ước được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua sau một thập kỷ đàm phán, nó chứa đựng các yếu tố mang tính chất nền tảng được thể hiện trong các đề xuất của các quốc gia thành viên và một số các đề xuất ít quan trọng hơn được loại bỏ trong quá trình bàn bạc để đạt đến nội dung thoả hiệp Văn bản này đưa ra sự bảo đảm tối đa khi xác định trách nhiệm của Quốc gia phóng hành là thành viên Công ước trong việc chi trả các yêu cầu đòi bồi thường và khuyến khích các cường quốc vũ trụ giải quyết một cách công bằng với các yêu cầu đòi bồi thường hại mà chứng minh được cho các quốc gia đòi bồi thường

Trong chừng mực nào đó, trách nhiệm và nghĩa vụ về khoảng không vũ trụ của quốc gia là song song với quyền tự do thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ Tuy nhiên các hoạt động trong khoảng không vũ trụ trên thực tế là nguồn nguy hiểm cao độ bởi vì chúng được thực hiện trong môi trường rất đặc biệt từ góc độ công nghệ và các nguyên lý về vật lý Thực chất, Công ước này

chủ yếu nhằm điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân "vô tội"

không tham gia đến các hoạt động về khoảng không vũ trụ

Trước hết, Công ước chỉ áp dụng đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụ

gây ra như định nghĩa tại Điều I bao gồm: "chết, bị thương hoặc thương tật vĩnh

viễn; tài sản của Nhà nước hoặc của cá nhân, pháp nhân hoặc của các tổ chức quốc tế bị phá huỷ hoặc bị hư hại", như vậy định nghĩa này sẽ không áp dụng

đối với các thiệt hại về môi trường vũ trụ hay môi trường của Trái đất Công ước

Trang 23

18

này áp dụng đối với các vật thể vũ trụ bao gồm cả các thành phần cấu thành vật thể vũ trụ cũng như các thiết bị phóng và các phần của nó và cách giải thích theo

xu hướng này thì các mảnh vỡ trong vũ trụ cũng được coi là vật thể vũ trụ

Mục đích và cơ sở lý luận của định nghĩa này khi đưa ra 4 khả năng để xác định có thể là quốc gia phóng hành chính là nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong việc tìm một quốc gia có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại Công ước bồi thường thiệt hại đưa ra khái niệm về quốc gia phóng hành như được định nghĩa tại Điều I như sau:

i) quốc gia phóng hoặc được quốc gia khác thực hiện cho việc phóng một vật thể vũ trụ; hoặc

ii) quốc gia có lãnh thổ hoặc thiết bị phóng vật thể vũ trụ

Từ khi công ước được thông qua, quan điểm về quốc gia phóng hành đã thu hút sự chú ý của giới luật học về khoảng không vũ trụ, trong đó quan tâm chủ yếu đến thực tiễn liên quan đến việc phóng hành vật thể vũ trụ và sự tham gia của thành phần tư nhân trong đó Hơn nữa, định nghĩa này hoàn toàn rõ ràng đối với khả năng có thể có nhiều hơn một quốc gia phóng hành đối với mỗi vật thể vũ trụ hay bộ phận cấu thành của nó Đó chính là lý do tại sao Công ước luôn gắn việc đồng trách nhiệm cho hơn một quốc gia phóng hành và mỗi quốc gia phóng hành có thể đưa ra yêu cầu bồi hoàn từ quốc gia phóng hành khác hoặc theo một thoả thuận về trách nhiệm một cách phù hợp

Năm 2004, một dự thảo nghị quyết về việc áp dụng khái niệm "quốc gia

phóng hành" được thông qua bởi Tiểu ban pháp luật và được phê chuẩn bằng

Nghị quyết 59/155 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc ngày 10/12/2004 với tựa đề

"Áp dụng khái niệm quốc gia phóng hành" Nghị quyết này không mang ý nghĩa

giải thích chính thức nào và cũng không cấu thành việc sửa đổi đối với Công ước bồi thường thiệt hại và Công ước đăng ký mà chỉ giúp hiểu rõ hơn về những vấn

đề chính phát sinh trong việc thực hiện Công ước Nó chủ yếu khuyến nghị các quốc gia quan tâm đến việc ban hành nội luật để cấp phép và giám sát các hoạt

Trang 24

Chỉ có những "vi phạm trắng trợn" hoặc "hành động hoặc không hành động

được thực hiện nhằm mục đích phá hoại" có thể là đối tượng mà trách nhiệm bồi

thường không phải gánh chịu, tuy nhiên không có bất kỳ việc miễn trách nhiệm nào trong trường hợp thiệt hại là kết quả của hành vi bất hợp pháp do quốc gia phóng hành thực hiện theo luật quốc tế đặc biệt là Hiến Chương Liên hợp quốc

và Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967

Trách nhiệm của quốc gia phóng hành áp dụng cho toàn bộ hoạt động từ khi phóng tên lửa đẩy, trong khi tiến vào quỹ đạo, tới khi vật thể vũ trụ hoạt động trên quỹ đạo, quay quanh quỹ đạo và đến khi ra khỏi quỹ đạo

Nếu như cơ chế trách nhiệm rất có hiệu quả đối với người bị thiệt hại trên mặt đất hoặc trong tàu bay đang bay thì Công ước lại quy định rất khác biệt về trách nhiệm do lỗi khi thiệt hại gây ra cho các vật thể vũ trụ khác trong khoảng không vũ trụ Trong trường hợp này, quốc gia phóng hành vẫn phải chịu trách nhiệm nhưng chỉ đối với lỗi có thể chứng minh được Trong trường hợp thiệt hại đối với người hoặc tài sản trên các vật thể vũ trụ khác thì nguyên tắc trách nhiệm

sẽ được xem xét đối với quốc gia phóng hành Nếu lỗi không do quốc gia phóng hành thực hiện mà do quốc gia khác thì Công ước không được áp dụng trong trường hợp này

Như trên đã đề cập, khi có hơn một quốc gia phóng hành (Điều V) hoặc khi có hai vật thể vũ trụ liên quan (Điều IV) các quốc gia phóng hành đều đồng

Trang 25

20

trách nhiệm và riêng biệt Theo cách hiểu này nghĩa là quốc gia có người bị thiệt hại có thể yêu cầu toàn bộ khoản bồi thường từ bất kỳ quốc gia phóng hành nào Sau đó, các quốc gia phóng hành sẽ chia sẻ chi phí bồi thường theo Điều IV hoặc Điều V

Trong trường hợp khi hai hoặc nhiều hơn hai quốc gia cùng tham gia phóng vật thể vũ trụ, các quốc gia đó đồng trách nhiệm và riêng biệt đối với bất

kỳ thiệt hại nào bị vật thể vũ trụ gây ra Cùng lúc đó, quốc gia phóng hành đã trả khoản bồi thường cho thiệt hại có quyền đưa ra yêu cầu bồi hoàn lại đối với các quốc gia thành viên vào việc cùng phóng vật thể vũ trụ Các bên tham gia vào hoạt động chung cùng phóng vật thể vũ trụ có thể ký kết thoả thuận liên quan đến tỷ lệ về nghĩa vụ tài chính giữa các thành viên trong vấn đề đồng trách nhiệm và riêng biệt Các thoả thuận như vậy không được làm tổn hại được quyền của quốc gia chịu thiệt hại để đòi toàn bộ khoản bồi thường từ một hay tất cả các quốc gia phóng hành có trách nhiệm chung và riêng biệt theo Công ước này và quốc gia có lãnh thổ đặt các phương tiện để phóng vật thể vũ trụ được coi là quốc gia phóng hành

Trong trường hợp nếu thiệt hại được gây ra bởi vật thể vũ trụ của một quốc gia phóng hành đối với một vật thể vũ trụ hoặc đối với người, tài sản trên vật thể vũ trụ của một quốc gia khác ở bất kỳ đâu không phải trên mặt đất hay đối với cá nhân hoặc pháp nhân của quốc gia thứ ba thì hai quốc gia đầu phải cùng chịu trách nhiệm và riêng biệt đối với quốc gia thứ ba Nếu thiệt hại gây ra cho quốc gia thứ ba trên mặt đất hoặc đối với tàu bay đang bay thì trách nhiệm này là tuyệt đối Nếu thiệt hại gây ra cho vật thể vũ trụ của quốc gia thứ ba hoặc đối với người hoặc tài sản trên vật thể vũ trụ đó ở bất kỳ đâu không ở trên mặt đất thì trách nhiệm bồi thường đối với quốc gia thứ ba sẽ dựa vào lỗi của hai quốc gia đầu tiên hay lỗi của người mà người đó cũng có trách nhiệm

Cuối cùng, tất cả các trường hợp đồng trách nhiệm và riêng biệt về bản chất là chi phí bồi thường thiệt hại phải chia sẻ giữa các quốc gia liên quan theo

Trang 26

21

mức độ lỗi, nếu mức độ lỗi của các quốc gia không thể xác định được thì chi phí bồi thường được chia đều cho các quốc gia Việc phân chia như vậy không được gây ảnh hưởng tới quyền của quốc gia thứ ba để đòi toàn bộ khoản bồi thường theo quy định của Công ước này từ bất kỳ hoặc tất cả các quốc gia phóng hành

mà có trách nhiệm chung và riêng biệt

Các điều khoản nêu trên của Công ước cho thấy rõ ràng rằng việc phân chia khoản bồi thường giữa các quốc gia phóng hành được giải quyết bằng thoả thuận đặc biệt giữa các quốc gia này Về vấn đề này, một ví dụ trong thực tiễn là các thoả thuận liên quan đến cơ chế pháp luật cho việc phóng tàu Ariane từ căn

cứ vũ trụ Kourou ở Guyana thuộc Pháp liên quan đến Pháp, Cơ quan vũ trụ châu

Âu (ESA) và các quốc gia chấp nhận Tuyên bố Ariane còn được gọi là "Tuyên

bố sản xuất" được mở ra để ký ngày 14/01/1980 và có hiệu lực từ 14/04/1980,

được gia hạn vào các năm 1992, 2001 và có hiệu lực áp dụng đến cuối năm 2006 [10]

Công ước này không áp dụng đối với các thiệt hại gây ra cho công dân của quốc gia phóng hành tham gia vào quá trình phóng vật thể vũ trụ (Điều VII)

và cũng không áp dụng đối với công dân nước ngoài tham gia vào hoạt động phóng hành Sự loại trừ này xác nhận rằng Công ước chỉ đặc biệt quan tâm đến

việc bảo vệ những nạn nhân "vô tội", những người không liên quan gì đến hoạt

động nguy hiểm này

Một nội dung quan trọng khác của Công ước là giải quyết thủ tục đòi bồi thường bằng nội dung tại Điều III khoản 1 quy định cho quốc gia chịu thiệt hại hoặc quốc gia có thể nhân hoặc pháp nhân chịu thiệt hại khả năng đưa ra yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại với quốc gia có trách nhiệm Vì thế, Công ước thiết lập quyền được xem xét của các quốc gia liên quan, như vậy các thể nhân, pháp nhân chịu thiệt hại không có quyền mặc nhiên yêu cầu quốc gia mình phải đòi trách nhiệm bồi thường quốc tế đối với quốc gia phóng hành Tuy nhiên vì quyền lợi của người bị thiệt hại, trong trường hợp quốc gia mà người đó mang quốc

Trang 27

22

tịch không đưa ra yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thì quốc gia khác có lãnh thổ trên đó thiệt hại được gây ra đối với cá nhân hoặc pháp nhân có thể yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường thiệt hại hoặc trong trường hợp quốc gia mà người thiệt hại mang quốc tịch hoặc quốc gia có lãnh thổ nơi xảy ra thiệt hại đều không yêu cầu đòi bồi thường thì quốc gia nơi có địa chỉ thường trú của người bị thiệt hại có quyền yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường thiệt hại

Điều IX quy định yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại phải được đưa ra đối với quốc gia phóng hành qua kênh ngoại giao Trong trường hợp quốc gia này không duy trì quan hệ ngoại giao đối với quốc gia phóng hành liên quan, quốc gia đó có thể yêu cầu quốc gia khác đại diện cho lợi ích của mình theo Công ước yêu cầu quốc gia phóng hành bồi thường Quốc gia này cũng có thể yêu cầu bồi thường qua Tổng thư ký Liên hợp quốc, miễn rằng hai quốc gia này đều là thành viên Liên hợp quốc và ở góc độ này, có thể khẳng định rằng Công ước bồi thường thiệt hại 1972 đã lấy tư tưởng từ nền tảng bảo vệ quan hệ ngoại giao theo luật quốc tế chung [11]

1.4 Công ước về Đăng ký các vật thể được phóng vào khoảng không

vũ trụ (Công ước về đăng ký 1975)

Công ước Đăng ký vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ bao gồm

12 điều, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong Nghị quyết số 3235 (XXIX) ngày 12/11/1974, tính đến ngày 01/01/2009 đã có 52 quốc gia phê chuẩn và 4 quốc gia ký Công ước này [12]

Thực ra vấn đề này lần đầu tiên được đề cập và bước đầu giải quyết vào năm 1961 khi Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết số 1721 (XVI) yêu cầu Tổng thư ký Liên hợp quốc duy trì đăng ký công khai về việc phóng hành dựa trên cơ sở thông tin được các quốc gia phóng vật thể vào quỹ đạo hoặc phóng ra ngoài quỹ đạo của hệ Mặt trời Nghị quyết kêu gọi các quốc gia phóng vật thể vào khoảng không vũ trụ cung cấp thông tin nhanh chóng cho COPUOS qua Tổng thư ký Liên hợp quốc để đăng ký việc phóng hành Nghị quyết này vẫn

Trang 28

23

được áp dụng đối với những quốc gia chưa phê chuẩn Công ước đăng ký 1975,

do đó các quốc gia này vẫn có thể đăng ký các vật thể vũ trụ trong khuôn khổ LHQ trên nguyên tắc tự nguyện

Sau Nghị quyết 1721 (XVI), nội dung này lại được chính thức đề cập đến

trong Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 trong đó tại Điều III quy định "Các

quốc gia thành viên Hiệp ước có vật thể vũ trụ được đăng ký sẽ giữ quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể vũ trụ và bất kỳ người nào trên đó trong thời gian trong khoảng không vũ trụ và trên thiên thể" Trong ý này, nó bao hàm ba

nguyên tắc quan trọng về vấn đề đăng ký: thứ nhất, tất cả các vật thể vũ trụ phải được đăng ký theo quy định của quốc gia; thứ hai, các vật thể này được đặt dưới quyền tài phán và kiểm soát của quốc gia đăng ký; thứ ba, những vật thể vũ trụ

bị bị thất lạc phải được trao trả cho quốc gia đăng ký

Tuy nhiên, trong khi Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 cho rằng vật thể vũ trụ phải được đăng ký nhưng lại không có quy định nào cụ thể về vấn đề đăng ký và nó cũng không đề cập đến quốc gia nào thực hiện quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể vũ trụ không được đăng ký Do đó, Công ước đăng ký vật thể vũ trụ 1975 chỉ làm nhiệm vụ lấp khoảng trống này với các nội dung sau:

Thứ nhất, Công ước yêu cầu quốc gia phóng vật thể vũ trụ vào khoảng không vũ trụ phải cung cấp thông tin về vật thể vũ trụ cho Cơ quan đăng ký của Liên hợp quốc Mục đích cho việc nhận dạng của Công ước Đăng ký được phản

ánh tại lời nói đầu của Công ước như sau: " Theo tinh thần của Hiệp ước về các

nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác, Hiệp ước cứu

hộ các nhà du hành vũ trụ, trao trả nhà du hành vũ trụ và các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ, Công ước trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra mong muốn lập quy định về đăng ký cho các quốc gia phóng vật thể vũ trụ vào khoảng không vũ trụ với quan điểm tạo điều kiện cho các quốc gia trong việc nhận diện vật thể vũ trụ, " và " tin tưởng

Trang 29

Thứ ba, Công ước quy định quy trình để nhận biết vật thể vũ trụ gây thiệt hại cho quốc gia thứ ba hoặc thiệt hại cho thể nhân, pháp nhân của quốc gia thứ

ba hoặc vật thể vũ trụ có bản chất nguy hiểm, độc hại của nó

Trong khung khung khổ pháp lý mang tính chất nền tảng, cần phải phản ánh rõ ràng hơn khái niệm "tài phán và kiểm soát" mà Quốc gia đăng ký phải duy trì đối với vật thể vũ trụ khi đang ở trong khoảng không vũ trụ cũng như ngoài hệ Mặt trời mà trong thực tiễn pháp lý thì hình thức thể hiện quyền tài phán quốc gia được thể hiện hết sức khác nhau và phạm vi quyền tài phán quốc gia cũng có thể rất khác nhau theo các tình huống cụ thể [13]

Theo pháp luật quốc tế đương đại, quốc gia có quyền tài phán chủ yếu dựa trên yếu tố lãnh thổ của mình và khi thực hiện quyền tài phán vì lợi ích của một quốc gia khác thì yêu cầu đòi quyền tài phán cần phải được kết hợp Nói chung vẫn có xu thế thiên về nguyên tắc khái quát theo đó quyền tài phán của quốc gia

sẽ được xác định theo mối liên hệ chặt chẽ nhất giữa bản chất của vấn đề với quốc gia hành xử chủ quyền

Xem xét vấn đề này trong mối liên hệ với luật biển và luật hàng không quốc tế chúng ta thấy vùng biển quốc tế không thuộc lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào nên nó không thuộc quyền tài phán của của quốc gia nào, tuy nhiên quốc gia vẫn có quyền tài phán đối với người và vật trên tàu, thuyền khi ở vùng biển quốc tế Trật tự pháp lý trên vùng biển quốc tế chủ yếu dựa trên các quy tắc của pháp luật quốc tế yêu cầu mọi tàu thuyền qua lại vùng biển quốc tế đều phải có quốc tịch và treo cờ của một quốc gia nhất định Theo nghĩa này, tàu, thuyền, người và vật trên boong thuộc quyền tài phán tuyệt đối nói chung theo pháp luật

Trang 30

25

của quốc gia treo cờ Vì vậy mỗi quốc gia đều quy định các điều kiện để cấp quốc tịch hoặc đăng ký quốc tịch trên lãnh thổ của mình và như vậy có mối liên

hệ bản chất giữa quốc gia và tàu thuyền [14]

Tương tự như vậy đối với vùng trời trên vùng biển quốc tế, tuy nhiên có

sự khác biệt đôi chút về chế độ pháp lý về vùng trời khi quyền tài phán đối với tàu bay khi trong vùng trời bên trên lãnh thổ của một quốc gia thuộc về quốc gia

có lãnh thổ Công ước Chicago về Hàng không dân dụng năm 1944 cũng đã thiết lập quyền tài phán cho quốc gia mà tàu bay đăng ký quốc tịch cho hầu hết các trường hợp, ngoài ra căn cứ theo quốc tịch tàu bay mà quyền và trách nhiệm của Quốc gia đăng ký được xác lập

Công ước Đăng ký 1975 cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa việc đăng ký vật thể với việc đăng ký tàu thuyền và tàu bay vì một thực tế rằng vấn đề đăng

ký vật thể vũ trụ không hàm ý mang quốc tịch của quốc gia đăng ký mà chỉ ngụ

ý rằng vật thể vũ trụ được đăng ký đang thực hiện một hoạt động trong khoảng không vũ trụ để có thể nhận biết các hoạt động đó là hoạt động của quốc gia đăng ký vật thể vũ trụ trong khuôn khổ quy định của Điều VI Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967

Nghĩa vụ đăng ký trong Công ước đăng ký 1975 được quy định cho quốc gia phóng hành và việc sử dụng cùng một định nghĩa về quốc gia phóng hành như Công ước trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại 1972 đã tạo ra sự lựa chọn trong trường hợp khi hai hoặc nhiều quốc gia tham gia vào quá trình phóng hành Chính vì vậy mà Công ước quy định hai hoặc các quốc gia phóng hành

"phải cùng nhau xác định quốc gia nào chịu trách nhiệm đăng ký vật thể vũ trụ"

tại cơ quan đăng ký quốc gia Quốc gia được lựa chọn sẽ trở thành quốc gia đăng

ký và có trách nhiệm phải cung cấp cho cơ quan đăng ký của Liên hợp quốc các thông tin theo quy định và được coi là có quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể vũ trụ được đăng ký

Trang 31

26

Vấn đề sử dụng cùng định nghĩa "Quốc gia phóng hành" trong Công ước

trách nhiệm quốc tế về bồi thường thiệt hại và Công ước Đăng ký này phát sinh các vấn đề liên quan đến hệ quả của việc thay đổi quyền sở hữu đối với vật thể

vũ trụ Trên thực tế một quốc gia có thể đã phóng hành và đăng ký vật thể vũ trụ

ví dụ như vệ tinh tuân thủ theo đúng các điều ước quốc tế liên quan Tuy nhiên

sẽ không công bằng nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra vẫn thuộc về quốc gia phóng hành khi đã chuyển giao quyền sở hữu và kéo theo

đó là quyền tài phán và kiểm soát thực chất vật thể vũ trụ này đã được chuyển giao trước thời điểm gây thiệt hại từ lâu [15]

Công ước về Đăng ký 1975 yêu cầu quốc gia đăng ký phải cung cấp thông

tin liên quan đến vật thể vũ trụ của mình "ngay khi có thể", nói cách khác Quốc

gia đăng ký có quyền định đoạt về thời gian theo hoàn cảnh của mình trong việc cung cấp thông tin cho Thư ký Liên hợp quốc sau khi phóng hành Mặc dù thực tiễn về vấn đề này của các quốc gia rất khác nhau nhưng Điều IV Công ước quy định các thông tin tối thiểu để hỗ trợ trong việc nhận dạng đối với quốc gia phóng hành và vật thể vũ trụ liên quan mà quốc gia đăng ký phải cung cấp cho Liên hợp quốc bao gồm các thông tin: tên quốc gia phóng hành, tên gọi hoặc số đăng ký của vật thể vũ trụ; ngày và vị trí hoặc lãnh thổ phóng hành; các thông số

cơ bản về quỹ đạo và chức năng khái quát của vật thể vũ trụ như: chu kỳ trên quỹ đạo, độ nghiêng của quỹ đạo, viễn điểm và cận điểm

Một điểm nữa của Công ước được cho là thiếu hụt so với các quy định cùng về vấn đề đăng ký đối với các loại phương tiện vận tải khác như tàu bay hoặc tàu thuyền khi Công ước không nêu ra cụ thể về việc sơn gắn dấu hiệu đăng

ký trên vật thể, tuy nhiên nếu quốc gia quyết định sơn hoặc gắn dấu hiệu lên vật thể vũ trụ thì sau đó Cơ quan đăng ký của Liên hợp quốc cần được thông báo về việc này

Trong thực tiễn, yếu tố quan trọng hơn ảnh hưởng đến sự không hoàn thiện và kém tin cậy vào hệ thống đăng ký của Liên hợp quốc chính là việc các

Trang 32

27

quốc gia có quyền không đăng ký vệ tinh mà chức năng và nhiệm vụ của nó mang tính chất chất nhạy cảm cao với an ninh quốc gia Mặc dù Công ước không phân biệt theo tiêu chí mục đích dân sự hay quân sự khi tại Điều II, khoản 3 quy định " nội dung đăng ký và điều kiện theo đó phải được duy trì do các quốc gia đăng ký liên quan quy định" Chính vì quy định này có thể được sử dụng để bỏ

ra ngoài sổ đăng ký quốc gia một số vật thể vũ trụ nhất định Yếu tố chưa hoàn thiện còn lại ở khía cạnh là Công ước không được soạn thảo nhằm ngăn chặn tai nạn mặc dù nó không có ý nói rằng việc đăng ký vật thể vũ trụ không hoặc không thể được sử dụng để đạt được mục đích này Tuy vậy, tại lời nói đầu của Công ước cũng đã để lại đủ chỗ để nhằm vào nhu cầu cung cấp dữ liệu đủ chi tiết và đủ sớm để ngăn chặn các vụ va chạm và can nhiễu giữa các vệ tinh cũng như tránh việc các vật thể vũ trụ khi quay trở lại trái đất bề mặt trái đất một cách nguy hiểm Theo góc độ này, các quốc gia cần quan tâm nghiêm túc đến việc cung cấp cho Tổng thư ký Liên hợp quốc và các quốc gia có ảnh hưởng tiềm tàng các thông tin bổ sung liên quan đến hoạt động của vật thể vũ trụ theo đăng

ký của chúng mà không còn hoạt động trong quỹ đạo xung quanh Trái đất

Từ năm 2004, theo kế hoạch làm việc 3 năm, Tiểu ban pháp luật của COPUOS đang xem xét thực tiễn của các quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc đăng ký vật thể vũ trụ mà cho thấy sự tồn tại của các yếu tố bất hợp lý trong công ước chủ yếu do hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích thương mại và sự tư nhân hoá các hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ [16] Hơn nữa việc đánh giá các hiện trạng thực tiễn quốc tế còn phát hiện ra những sự khác biệt về thông tin liên quan đến lãnh thổ phóng hành, các thông số cơ bản về quỹ đạo cũng như chức năng chính của vật thể vũ trụ và nó cũng cho thấy còn một số vật thể vũ trụ chưa được đăng ký hoặc cùng được nhiều quốc gia đăng

ký Như vậy, vấn đề cần phải được giải quyết là làm sao vá được những lỗ thủng của pháp luật cũng như tạo được sự áp dụng thống nhất hơn đối với Công ước đăng ký 1975

Trang 33

Các nguyên tắc liên quan của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 đã được tái khẳng định và hoàn thiện trong một Hiệp ước mới với mục đích xây dựng một cơ chế pháp luật cụ thể cho vệ tinh thiên tạo (tự nhiên) của Trái đất theo tinh thần cho mục đích loài người sẽ đặt chân xuống Mặt trăng Vì vậy, quy định của Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 liên quan đến tình trạng hoà

bình của Mặt trăng sẽ được khuyếch đại bằng việc cấm " bất kỳ sự đe doạ hoặc

sử dụng vũ lực bất kỳ hành động thù địch khác hoặc đe doạ sử dụng hành động thù địch trên Mặt trăng"

Tương tự như vậy, Hiệp ước Mặt trăng cấm "sử dụng Mặt trăng để tiến

hành bất kỳ hành động nào hoặc tham gia vào bất kỳ sự đe doạ nào liên quan đến Trái đất, Mặt trăng, tàu vũ trụ, nhân viên tàu vũ trụ hoặc các vật thể vũ trụ

do con người tạo ra"

Ngoài ra, Hiệp ước Mặt trăng 1979 bao gồm một số nhân tố mới, một vài trong số đó hoàn toàn có ý nghĩa mới khi nói đến các hình thức khác về hợp tác quốc tế như vấn đề liên quan đến việc trợ giúp trong việc thăm dò Mặt trăng, thiết lập trạm có và không có người điều khiển trên Mặt trăng, bảo vệ cuộc sống

và sức khoẻ người thực hiện các hoạt động vũ trụ và cuối cùng không kém phần quan trọng là bảo vệ môi trường của Mặt trăng

Trang 34

29

Khi đàm phán Hiệp ước Mặt trăng, những người dự thảo không thể dựa vào Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 để giải quyết các vấn đề về hoạt động kinh tế trên Mặt trăng bởi vì Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 hoàn toàn không đề cập gì đến khía cạnh này Nỗ lực để đạt đến một sự thoả hiệp có thể được đa số chấp nhận là sự kết hợp giữa việc xác nhận tự do nghiên cứu khoa học và việc thăm dò, sử dụng Mặt trăng là quyền của mọi quốc gia Với quy định nhằm thiết lập một cơ chế quốc tế điều chỉnh việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của Mặt trăng và công việc khai thác này phải được cho là có tính khả thi Tuy nhiên, giải pháp này không thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia và là bằng chứng cho số ít các quốc gia ký và phê chuẩn Hiệp ước này tới ngày 01/01/2009 với 13 quốc gia phê chuẩn và 4 quốc gia ký [17]

Các quy định gây tranh cãi nhiều nhất của Hiệp ước được thể hiện tại Điều XI mà theo đó Mặt trăng và nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Mặt trăng

được tuyên bố như là "di sản chung của loài người" Tại khoản 5 của Điều này, các quốc gia thành viên Hiệp ước cam kết "thiết lập một cơ chế quốc tế bao gồm

các quy trình thích hợp để điều chỉnh việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của Mặt trăng và công việc khai thác như vậy phải bảo đảm tính khả thi"

Hơn nữa, tại khoản 7 Điều XI, mục đích chính của cơ chế quốc tế mà phải được

thiết lập được đánh số, bao gồm "sự chia sẻ công bằng bởi các quốc gia thành

viên về lợi ích có được từ nguồn tài nguyên đó vì lợi ích và nhu cầu của các nước đang phát triển cũng như nỗ lực của các quốc gia đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc khai thác Mặt trăng sẽ được quan tâm đặc biệt"

Các quy định này của Hiệp ước Mặt trăng phản ánh nỗ lực tương tự đem lại các quy định trong Phần XI UNCLOS 1982 và trong các phụ lục liên quan đến vùng đáy biển và thềm lục địa vượt quá giới hạn quyền tài phán của quốc gia Mặc dù Hiệp ước Mặt trăng 1979 kết thúc trên cơ sở của sự nhất trí và cũng giống như các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc được thông qua và ca ngợi tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc và những sự phản đối mạnh mẽ nhưng kín đáo

Trang 35

30

chống lại văn bản này tập chung chủ yếu vào các quy định liên quan đến nguyên tắc di sản chung và việc cam kết thiết lập cơ chế quốc tế để điều chỉnh việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Mặt trăng [18]

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, so với UNCLOS 1982 về quy định chi tiết

về thiết lập một tổ chức quốc tế đầy đủ - Cơ quan Đáy biển - và hệ thống giải quyết tranh chấp với toà án Luật biển quốc tế, thì Hiệp ước Mặt trăng 1979 là một văn bản quá khiêm tốn khi nó chưa thiết lập được một cơ chế quốc tế có triển vọng Các quốc gia thành viên của Hiệp ước chỉ cam kết rằng cơ chế như vậy sẽ được xây dựng khi nhu cầu của nó thực sự xảy ra Việc tạo ra cơ chế này phụ thuộc vào việc sửa đổi Hiệp ước và chỉ có hiệu lực đối với các quốc gia chấp nhận sửa đổi đó, hơn nữa, cam kết thiết lập cơ chế như vậy đối với Mặt trăng chỉ

đề cập đến việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Các quy định khác về Mặt trăng bảo đảm rõ ràng quyền thăm dò và sử dụng Mặt trăng cũng như quyền

tự do nghiên cứu khoa học về Mặt trăng, quyền thu thập và di dời các mẫu vật về khoáng chất hay chất liệu khác của Mặt trăng và quyền sử dụng các chất đó để cung cấp cho nhiệm vụ ngoài khoảng không vũ trụ

Cũng cần nhắc lại rằng, việc phê chuẩn UNCLOS 1982 mà các quy định chi tiết về nguyên tắc di sản chung đã được ghi nhận bao gồm một hệ thống phức tạp về triển vọng thăm dò và khai thác với vai trò trung tâm của Cơ quan quốc tế

về đáy biển được tiến triển chậm chạp qua nhiều năm Tuy nhiên trở ngại chính

ẩn đằng sau quá trình này đã được loại bỏ vào năm 1994 bởi Hiệp định liên quan đến vấn đề thực hiện Phần XI của UNCLOS theo đó các phương thức và phương tiện để làm sao giải quyết hiệu quả phần gây tranh cãi của UNCLOS được tìm thấy Từ đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển đã thông qua UNCLOS 1982 và Nghị định thư 1994

Các phương pháp được dùng để loại bỏ những trở ngại và làm cho việc chấp nhận rộng rãi UNCLOS có thể được xem như là bài học để tiếp tục với các vấn đề của Hiệp ước Mặt trăng 1979, đặc biệt là làm thế nào đạt được thoả thuận

Trang 36

31

về việc thực hiện Điều XI của Hiệp ước Mặt trăng 1979 có thể được bắt đầu bằng việc tư vấn không chính thức vào một thời điểm phù hợp trong tương lai Những nỗ lực như vậy cần phải tương đồng với các yêu cầu được nhắc lại nhiều lần của Đại Hội đồng Liên hợp quốc đối với các quốc gia chưa là thành viên của các Điều ước quốc tế điều chỉnh việc sử dụng khoảng không vũ trụ, quan tâm đến việc phê chuẩn hoặc gia nhập các điều ước quốc tế này bao gồm cả Hiệp ước Mặt trăng 1979

Cần lưu ý rằng trong hoàn cảnh này, một nội dung trong Chương trình nghị sự của Tiểu ban Pháp luật của Uỷ ban Thăm dò và sử dụng khoảng không

vũ trụ vì mục đích hoà bình (COPUOS) được gọi là "Rà soát hiện trạng của năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ" được thảo luận vài năm trở lại đây Theo quan điểm của những người ủng hộ cho nội dung này, thì việc rà soát có thể cho phép Tiểu ban pháp luật " thúc đẩy cơ chế theo hướng đạt được sự tham gia đầy đủ nhất vào năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ" Cũng như Hiệp ước Mặt trăng 1979, mục tiêu rất quan trọng là khả năng áp dụng cho " các thiên thể khác trong hệ Mặt trời, ngoài Trái đất, ngoại trừ trong tương lai có các quy định pháp luật có hiệu lực về các thiên thể này"[19]

Tóm lại, qua các nội dung của các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ hiện hành phải được nhìn nhận như là một hệ thống pháp luật cấu thành pháp luật quốc tế đương đại Tuy nhiên, không như toàn bộ hệ thống pháp luật quốc tế mà ngày nay có thể được coi như đã hoàn chỉnh, pháp luật về khoảng không vũ trụ vẫn chưa hoàn thiện nhưng hơn các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật quốc tế mang đặc trưng của quá trình đang phát triển Không chỉ có vậy, những nguyên tắc và khái niệm trong các điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ và các văn bản pháp lý khác có liên quan đã thiết lập được một tình trạng chính trị pháp lý xác định cho khoảng không vũ trụ và đưa ra được các quy định khung đặc biệt nhằm mục đích điều chỉnh các loại hình hoạt động khác nhau trong lĩnh vực này Chúng cho thấy chế

Trang 37

32

độ pháp lý tổng hợp được dựa trên Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967, mà những phần trong tổng thể có mối liên hệ qua lại lẫn nhau Pháp luật về khoảng không vũ trụ được xây dựng bởi Liên hợp quốc đã trở thành một phần quan trọng của pháp luật quốc tế và đóng góp quan trọng vào việc hành xử theo pháp luật trong quan hệ quốc tế và sự phát triển cần phải được tiếp tục trong những năm sau này

Trang 38

33

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT QUỐC GIA VỀ KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ

Theo quan điểm của lý luận chung về nhà nước và pháp luật, nhu cầu xây dựng pháp luật quốc gia thường xuất phát từ sự cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trong một giai đoạn phát triển cụ thể của quốc gia theo chính sách, mục tiêu của Nhà nước qua từng giai đoạn nhất định Nhìn chung, trong bối cảnh phát triển của pháp luật quốc tế đương đại, sự hình thành pháp luật quốc gia về một lĩnh vực nhất định ngoài các yếu tố nội tại như mức độ hoạt động, nhu cầu quản lý, điều tiết, quan điểm chính trị, văn hóa, trình độ phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, kinh phí dành cho hoạt động xây dựng pháp luật, thì nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ các điều ước quốc tế mà các quốc gia là thành viên có vai trò thúc đẩy đáng kể cho việc hình thành pháp luật quốc gia nhằm tuân thủ pháp luật quốc tế

Đại Hội đồng Liên hiệp quốc đã có Nghị quyết số 53/45 khuyến nghị COPUOS yêu cầu Tiểu ban pháp luật thường xuyên rà soát hiện trạng ký kết, phê chuẩn năm điều ước quốc tế của liên hợp quốc điều chỉnh về khoảng không

vũ trụ một cách thường kỳ nhằm cập nhật hiện trạng từ đó có thể nhận diện được các vấn đề cần phải điều chỉnh Hơn nữa, Nghị quyết 59/155 của Đại Hội đồng

ngày 10/12/2004 với tựa đề "Áp dụng khái niệm quốc gia phóng hành" đã

khuyến nghị mạnh mẽ các quốc gia quan tâm đến việc ban hành nội luật để cấp phép và giám sát các hoạt động về khoảng không vũ trụ do các chủ thể tư thực hiện và việc ký kết các thoả thuận về vấn đề phóng hành chung

Ngoài ra, thực tiễn khảo sát pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ cho thấy, so với số lượng các quốc gia ký kết các Điều ước quốc tế của Liên hợp quốc liên quan đến khoảng không vũ trụ, số lượng các quốc gia có pháp luật về khoảng không vũ trụ rất khiêm tốn với 21 quốc gia theo thống kê của COPOUS [20] Như vậy có thể thấy rằng vấn đề thực hiện các nghĩa vụ quốc tế đối với các

Trang 39

34

hoạt động do thực thể chỉ có một số ít quốc gia có hoạt động vũ trụ của các thực thể phi Chính phủ, và nhu cầu thực tế về quản lý Nhà nước về các hoạt động vũ trụ của quốc gia do các thực thể Chính phủ thực hiện chưa cần thiết phải có các phương tiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật

Từ cách đặt vấn đề nêu trên, nghĩa vụ của các quốc gia đối với các cam kết quốc tế về vấn đề này thực sự là một yếu tố quan trọng trong sự hình thành

và phát triển của pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ nhằm đáp ứng các quy định chung của Liên hợp quốc sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình

Điều VI khoản 1 Hiệp ước về khoảng không vũ trụ 1967 ghi nhận nghĩa vụ quốc tế đối với hoạt động của quốc gia trong khoảng không vũ trụ không kể các hoạt động đó được các cơ quan nhà nước hoặc các thực thể phi chính phủ thực hiện pháp luật vẫn là một phương tiện hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động của các chủ thể tư trong lĩnh vực này

Hoạt động về khoảng không vũ trụ do các chủ thể tư thực hiện nhưng vẫn phải được điều chỉnh và bắt buộc tuân thủ theo pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ và thực tế tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy nhu cầu phải xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động trong khoảng không vũ trụ lại chính từ sự gia tăng các hoạt động vũ trụ của thành phần tư nhân [21]

Chương này chủ yếu phân tích các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện các quy định chung của Liên hợp quốc thường được đề cập đến với tên gọi pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ (national space law) chứa đựng các nhóm quy định cơ bản giải quyết trực tiếp các vấn đề mang tính nguyên tắc từ hệ quả của việc tham gia vào các hoạt động vũ trụ của các thành phần tư nhân Điều này cũng được khẳng định tại Nghị quyết 59/155 của Đại Hội đồng ngày 10/12/2004 khi khuyến nghị các quốc gia ban hành nội luật để cấp phép và giám sát các hoạt động về khoảng không vũ trụ do các chủ thể tư nhân thực hiện, mặc dù một số văn bản xác định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một tổ

Trang 40

35

chức thuộc bộ máy Chính phủ nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình

có thể được tồn tại dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật

Do vậy, các vấn đề trong trong pháp luật quốc gia nhằm điều chỉnh hoạt động của các thực thể Chính phủ hoặc chuyển hóa các điều khoản theo quy định quốc tế thành các quy định của quốc gia (Ví dụ: các định nghĩa, các yêu cầu đối với quốc gia thành viên như là chủ thể thực hiện hành vi mà được quốc gia phân công, giao nhiệm vụ cho một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước thực hiện) cũng

sẽ được xem xét Tuy nhiên, các quy định pháp luật là hệ quả của thể chế, cấu trúc cách thức vận hành bộ máy Nhà nước không liên quan trực tiếp tới các hành

vi của hoạt động vũ trụ như các cơ chế chính sách về nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, bảo đảm tài chính, nguồn lực, … sẽ không được tập trung nghiên cứu

Ngoài ra, các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động vũ trụ như: trách nhiệm dân sự, luật thương mại, vận tải, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, an ninh quốc gia mà có thể có hiệu lực áp dụng đối với các hoạt động liên quan đến vũ trụ của các thực thể phi chính phủ cũng không được đề cập mà chỉ tập trung cụ thể vào nội dung trực tiếp liên quan đến hoạt động vũ trụ

Các nội dung sẽ được tập trung nghiên cứu nhằm vào các vấn đề thuộc về giải pháp nhằm tuân thủ các nghĩa vụ đã được xác định rõ ràng theo các Điều ước quốc tế của Liên hợp quốc chủ yếu về vấn đề cấp phép, giám sát hoạt động sau cấp phép, các quy định đảm bảo bắt buộc thực hiện, đăng ký vật thể vũ trụ và trách nhiệm về tài chính đối với việc bồi thường thiệt do hoạt động vũ trụ gây hại cho người thứ ba theo tinh thần Nghị quyết 59/155 của Đại Hội đồng ngày 10/12/2004

2.1 Achentina:

Trong hệ thống pháp luật Achentina có hai văn bản pháp lý cho thấy vấn

đề thực hiện trách nhiệm cấp phép và tiếp tục giám sát các hoạt động vũ trụ của các thực thể phi chính phủ là Nghị định số 995/91 ngày 03/06/1991 về việc

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm