1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam

112 835 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Trọng tài thương mại 2010 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 17/6/2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 với nhiều quy định mới tiến bộ về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM CHÍ DŨNG

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á VÀ KINH

NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM CHÍ DŨNG

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á VÀ KINH

NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Minh Ngọc

Hµ néi - 2012

Trang 3

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI

6

1.1.4 Sự khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng tòa án trong giải

quyết tranh chấp thương mại quốc tế

19

1.1.5 Ưu thế của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với tòa án 22 1.2 Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài 25

Chương 2: THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA

TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC

30

2.1 Nội dung pháp luật trọng tài của một số nước trong khu vực

Châu Á về thẩm quyền xét xử của trọng tài

30

Trang 4

2.1.1 Cơ sở thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài 35 2.1.2 Quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài 43 2.2 Pháp luật trọng tài Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh

2.2.2 Những hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam về thẩm

quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

70

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI

77

3.1 Thực trạng hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại

Việt Nam

77

3.2 Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền

giải quyết tranh chấp của trọng tài

88

3.4 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về thẩm

quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADR : Phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn

SIAC : Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore

TTTM 2010 : Trọng tài Thương mại

UNCITRAL : Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế VIAC : Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra hết sức mạnh mẽ hiện nay giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh phát sinh ngày càng nhiều tranh chấp và hơn lúc nào hết giải quyết tranh chấp đang là một vấn đề "nổi cộm" đặt ra đối với các quốc gia trong đó có Việt Nam Trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR) như trung gian, hòa giải và trọng tài thì trọng tài thương mại với những ưu thế nổi bật của mình là một lựa chọn hấp dẫn đối với các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua tại Việt Nam thì trọng tài thương mại chưa thực sự phổ biến và các doanh nghiệp, doanh nhân cũng không thực sự "mặn mà" với phương thức giải quyết tranh chấp này Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát một phần từ những bất cập và hạn chế trong các quy định của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam Luật Trọng tài thương mại 2010 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 17/6/2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 với nhiều quy định mới tiến

bộ về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, trong đó nội dung quy định về mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các chuyên gia pháp lý, các nhà hoạt động thực tiễn và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước Hi vọng rằng với những đổi mới trong quy định của pháp luật, hoạt động trọng tài tại Việt Nam trong những năm tới sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ

và trọng tài Việt Nam sẽ là điểm đến, sự lựa chọn của các thương nhân trong

và ngoài nước trong việc giải quyết tranh chấp

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả thấy cần có một công trình nghiên cứu về lĩnh vực trọng tài trong đó tập trung chủ yếu vào chuyên đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Việt Nam và có

sự nghiên cứu, phân tích, so sánh với pháp luật của một số quốc gia trong khu

Trang 8

vực Châu Á về cùng vấn đề để thấy được những tiến bộ và hạn chế của pháp luật trọng tài Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, qua

đó có sự điều chỉnh các quy định pháp luật trọng tài cho phù hợp với thông lệ quốc tế và các nước trong khu vực

Trong điều kiện đó, tôi chọn đề tài "Thẩm quyền giải quyết tranh

chấp của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong khu vực Châu Á

và kinh nghiệm đối với Việt Nam" làm đề tài luận văn của mình với mong

muốn tìm hiểu rõ hơn về pháp luật trọng tài của một số nước trong khu vực Châu Á, trong đó tập trung vào vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài của một số quốc gia điển hình trong khu vực có hệ thống pháp luật trọng tài phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, qua đó có sự so sánh với những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn

đề này, đồng thời nêu ra một số bất cập và những giải pháp để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước hết có thể khẳng định rằng trọng tài không phải là một đề tài mới vì đã có nhiều bài viết khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ

và luận án tiến sỹ của các tác giả trong nước viết về vấn đề trọng tài Tuy nhiên, những bài viết, khóa luận, luận văn và luận án này tập trung chủ yếu

vào vấn đề "cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài" với tư cách là một

cơ chế giải quyết tranh chấp trong sự so sánh với các cơ chế giải quyết tranh chấp khác như trung gian, hòa giải và tòa án theo quy định của hệ thống pháp luật trọng tài trong nước, từ đó chỉ ra những điểm ưu việt cũng như những hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trọng tài

Về đề tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, qua tìm hiểu tác giả được biết, hiện nay tại Việt Nam chưa có bất kỳ luận văn thạc sỹ hoặc

Trang 9

luận án tiến sỹ nào nghiên cứu một cách cụ thể về vấn đề này, đặc biệt là thẩm quyền của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong khu vực Châu

Á - khu vực có hệ thống pháp luật về trọng tài và thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá phát triển

Trong phạm vi luận văn này, tác giả không đi sâu nghiên cứu toàn diện về cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo quy định của pháp luật trọng tài một số nước điển hình trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và Ấn Độ từ đó so sánh với pháp luật trọng tài của Việt Nam về vấn đề này Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu

về pháp luật trọng tài của các nước nói trên và pháp luật trọng tài Việt Nam, luận văn nêu ra một số hạn chế của pháp luật Việt Nam trong việc quy định

về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại và đề xuất một

số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài về vấn đề này

3 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn được nghiên cứu và viết dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp chủ yếu sau đây:

a) Các phương pháp nghiên cứu chung bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp phân tích lịch sử;

b) Các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp phân tích tình huống, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp xã hội học pháp luật và phương pháp phân tích và lựa chọn giải pháp

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Pháp luật về trọng tài là một phạm trù rất rộng và bao gồm nhiều vấn

đề khác nhau Mỗi khía cạnh của pháp luật trọng tài có thể là một đề tài để

Trang 10

học viên lựa chọn nghiên cứu Trong đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài là một khía cạnh của pháp luật trọng tài

Trong luận văn, ngoài việc nghiên cứu sơ lược về những vấn đề lý luận chung về thẩm quyền của trọng tài như khái niệm trọng tài, khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, các hình thức trọng tài, thủ tục trọng tài, ưu thế của trọng tài so với tòa án …, luận văn nghiên cứu vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài của một số nước điển hình trong khu vực Châu Á gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và

Ấn Độ qua đó so sánh với thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Việt Nam để thấy được những tiến bộ và hạn chế của pháp luật trọng tài Việt Nam

về vấn đề này Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu, luận văn chỉ ra những điểm chưa hợp lý và đề xuất một số kiến nghị để góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam về vấn đề này

5 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Thứ nhất: Nghiên cứu tổng quát những vấn đề lý luận chung về trọng

tài và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

Thứ hai: Phân tích vấn đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng

tài theo pháp luật trọng tài một số nước trong khu vực Châu Á và Việt Nam

Thứ ba: Kiến nghị các phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

a) Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trọng tài, thẩm quyền giải

quyết tranh chấp của trọng tài Việt Nam và trọng tài một số nước trong khu vực Châu Á

b) Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam và pháp luật trọng tài một số nước trong khu vực Châu Á về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

Trang 11

c) Đưa ra một số ý kiến và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

a) Thông qua việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn quy định pháp luật

trọng tài Việt Nam và trọng tài một số nước trong khu vực Châu Á về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, kết quả nghiên cứu và những ý kiến

đề xuất của luận văn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện những quy định pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, phù hợp với thông lệ quốc tế

b) Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, pháp luật quốc tế về trọng tài nói riêng … cho các cán bộ, giảng viên đang công tác trong các cơ quan pháp luật…

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của

trọng tài

Chương 2: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp

luật một số nước trong khu vực Châu Á và Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền

giải quyết tranh chấp của trọng tài

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI

1.1 Khái quát chung về trọng tài

1.1.1 Khái niệm trọng tài

Theo nghĩa thông thường nhất thì:

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên tranh chấp đưa tranh chấp của mình ra một bên trung gian thứ

ba (trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài) và bên trung gian này sẽ xem xét các tài liệu và lập luận của các bên sau đó sẽ đưa ra quyết định về tranh chấp của các bên [26]

Điểm a, khoản 2, Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế định

nghĩa: "Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực" [13]

Khoản 1, Điều 3 Luật TTTM 2010 quy định: "Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này" [21]

So với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, trung gian hòa giải, tòa án thì trọng tài có những đặc trưng như sau:

Thứ nhất, trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp được

hình thành trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên tranh chấp Nếu không có sự tự nguyện thỏa thuận của các bên về việc đưa tranh chấp đã hoặc

sẽ phát sinh giữa họ ra trọng tài giải quyết thì trọng tài không thể tham gia giải quyết vụ việc Đặc điểm này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với tòa án

ở chỗ để đưa tranh chấp ra tòa án giải quyết, các bên tranh chấp không cần bất

kỳ thỏa thuận nào

Trang 13

Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài mang tính chất

tài phán, có nghĩa là trọng tài được quyền đưa ra phán xét cuối cùng để giải quyết tranh chấp và phán quyết này có giá trị bắt buộc đối với các bên; trường hợp các bên không tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài thì sẽ bị cưỡng chế thi hành Điều này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải Trong phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải, các bên tranh chấp phải tự bàn bạc, thỏa thuận để thống nhất phương án giải quyết tranh chấp bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đó

Thứ ba, các phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm Phán quyết

trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của các bên, vừa mang tính chất tài phán của tổ chức có thẩm quyền xét xử Tuy nhiên, pháp luật cũng đưa ra nhiều yêu cầu bắt buộc trọng tài tuân thủ, nhất là yêu cầu về thủ tục và thẩm quyền Điều này sẽ đảm bảo quá trình giải quyết tại trọng tài được chính xác và khách quan Các phán quyết trọng tài bị hủy trong trường hợp trọng tài không tuân thủ quy định về hình thức

Từ những phân tích ở trên có thể định nghĩa: Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho một trọng tài và trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, trọng tài được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.

1.1.2 Các loại trọng tài

Trong những năm gần đây, số lượng những vụ tranh chấp thương mại quốc tế được giải quyết bằng trọng tài ngày càng tăng Các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy ở khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nơi được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới Ở các quốc gia khác nhau,

Trang 14

trọng tài thương mại phi chính phủ có những tính chất, đặc điểm khác biệt, phù hợp với trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Tuy vậy, nhìn chung có thể chia trọng tài làm hai loại chính dựa trên phương

pháp tiến hành tố tụng

* Trọng tài vụ việc (ad hoc arbitration):

Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài do các bên tranh chấp tự thành lập để giải quyết vấn đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì hội đồng trọng tài tự giải tán Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài

vụ việc có thể được tiến hành theo quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy chế hoặc không theo quy tắc của tổ chức trọng tài nào mà thủ tục tố tụng do các bên tự quy ước với nhau Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho thấy, đối với trọng tài vụ việc, các bên không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế mà họ có thể tự quy định quy tắc tố tụng riêng để áp dụng cho vụ tranh chấp của mình Đây chính

là ưu điểm của trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế Như vậy, trọng tài

vụ việc hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do thoả thuận của các bên tranh chấp Các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn bất kỳ một trọng tài viên nào hoặc người có kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh chấp hoặc uy tín làm trọng tài viên

để giải quyết tranh chấp của mình Người này chỉ cần được các bên nhất trí chứ không bị giới hạn bởi bất kỳ một điều kiện nào nhưng nếu các bên thống nhất lựa chọn một người không đủ khả năng thì chính họ là người sẽ phải gánh chịu hậu quả do sự đề cử của mình đem lại Do đó, trọng tài viên thường

là người có uy tín, kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ trong lĩnh vực thương mại quốc tế và công minh trong xét xử Ngoài ra, các bên tranh chấp còn có toàn quyền trong việc thoả thuận để tự thiết lập những thủ tục, nguyên tắc tố tụng riêng sao cho phù hợp với tranh chấp của mình chứ không nhất thiết phải tuân theo bất kỳ một nguyên tắc sẵn có nào Nhưng các bên tranh chấp cũng

có thể thoả thuận chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng tài, điển hình như Bản Quy tắc Trọng tài của UNCITRAL thông qua ngày 28/4/1976

Trang 15

hay Luật mẫu UNCITRAL thông qua ngày 21/6/1985 Như vậy, tổ chức và tố tụng của trọng tài vụ việc khá đơn giản, có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí của các bên liên quan

Thực tế hiện nay các bên tranh chấp thường có khuynh hướng lựa chọn hình thức trọng tài vụ việc để có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng

do thủ tục tố tụng đơn giản và giảm chi phí (do không phải trả chi phí cho các thủ tục hành chính của trọng tài quy chế) Tuy nhiên, hình thức trọng tài vụ việc không phải bao giờ cũng là quy trình trọng tài nhanh hơn và ít tốn kém hơn so với trọng tài quy chế Vì không có tổ chức trọng tài quy chế nào đặt ra

và giám sát thời hạn và không có biểu phí cố định cho trọng tài vụ việc, các bên sẽ phải thỏa thuận trực tiếp về vấn đề này đối với trọng tài viên Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận mức thù lao theo giờ với các trọng tài viên và kết quả là tổng chi phí cuối cùng có thể cao hơn số tiền các bên phải trả nếu đưa tranh chấp ra giải quyết tại một trung tâm trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế

Trong trọng tài vụ việc, không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành

tố tụng trọng tài và giám sát các trọng tài viên Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc vào các trọng tài viên tiến hành tố tụng như thế nào và liệu họ có kiểm soát được toàn bộ quá trình tố tụng không Cả trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội yêu cầu một tổ chức nào ủng hộ hay trợ giúp trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các trọng tài viên không thể giải quyết vụ kiện Sự giúp đỡ và ủng hộ duy nhất mà các bên

có thể nhận được là từ các tòa án quốc gia

Ở Việt Nam, tại các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây chưa có quy định cụ thể về hình thức trọng tài vụ việc này Pháp lệnh TTTM 2003 lần đầu tiên đưa ra quy định về loại hình trọng tài này tại Điều 26, chính thức công nhận loại hình trọng tài vụ việc và đồng thời cũng đã đưa ra được giải pháp đối với hạn chế nêu trên của trọng tài vụ việc

Trang 16

Điều 26 Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập

1 Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho bên nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án cấp Tỉnh) nơi

bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên cho bị đơn Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một thẩm phán chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên

2 Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các

bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo Hết thời hạn này, các bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án cấp tỉnh, nơi có trụ sở hoặc cư trú của một trong các bị đơn chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên

3 Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được chọn hoặc Toà án chỉ định, các Trọng tài viên này phải thống nhất chọn trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài Hết thời hạn này, nếu hai Trọng tài viên được chọn hoặc được chỉ định không chọn được Trọng tài viên thứ ba, các bên có quyền yêu cầu Toà án cấp tỉnh, nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên thứ ba Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày

Trang 17

nhận được yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch hội đồng Trọng tài và thông báo cho các bên

4 Trọng tài viên do các bên chọn hoặc do Toà án chỉ định

có thể là Trọng tài viên trong danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam

5 Trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của một bên, Chánh án Toà án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn mười lăm ngày,

kể từ ngày được yêu cầu và thông báo cho các bên

Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng Trọng tài Quyết định của Trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng Trọng tài [21]

Tiếp nối các quy định của Pháp lệnh TTTM 2003 về trọng tài vụ việc

và xu hướng chung của pháp luật trọng tài quốc tế, Điều 41 Luật TTTM 2010 cũng đã quy định về loại hình trọng tài này như sau:

Điều 41 Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc Trường hợp các bên không có thoả thuận khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định như sau:

1 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thoả thuận khác

về việc chỉ định Trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

Trang 18

2 Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, thì các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên và nếu các bên không có thoả thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;

3 Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định, các Trọng tài viên bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài Trong trường hợp không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài và các bên không có thoả thuận khác thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài;

4 Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, nếu các bên không có thoả thuận yêu cầu một Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất;

5 Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên và thông báo cho các bên [7]

* Trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế (Institutional Arbiration):

Trọng tài thường trực là trọng tài được thành lập và hoạt động thường xuyên theo một quy chế nhất định (Điều lệ, Quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài), có cơ quan thường trực (Trung tâm trọng tài, Ban điều hành gồm Chủ tịch và Ban thư ký)

Trang 19

Trọng tài thường trực có nghĩa là các bên lựa chọn cách thức tiến hành

tố tụng trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài quy chế và với sự trợ giúp của tổ chức đó Đối với trọng tài thường trực, khi lựa chọn trọng tài viên, các bên thường chỉ được lựa chọn trong một danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài, hoặc có thể được lựa chọn trọng tài viên ngoài danh sách của trung tâm trọng tài nhưng ít nhất trọng tài viên cũng phải đáp ứng được một số điều kiện tối thiểu do trung tâm trọng tài đặt ra Ví dụ như tại VIAC, các bên tranh chấp có thể lựa chọn trọng tài viên trong danh sách do VIAC công bố hoặc lựa chọn trọng tài viên ngoài danh sách này nhưng phải được VIAC chấp thuận Khi xét xử, trọng tài thường trực phải tuân theo quy tắc tố tụng đã định trước của trung tâm hoặc quy tắc tố tụng theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp (thường đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài) Tuy nhiên, đây cũng là quy định thuận lợi cho các bên chưa có nhiều kinh nghiệm trong thương mại quốc tế bởi vì các bên tranh chấp không cần phải thỏa thuận quá chi tiết về quy tắc, thủ tục tố tụng mà chỉ cần thỏa thuận trung tâm trọng tài nào sẽ giải quyết tranh chấp giữa các bên và chấp nhận quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài đó

Hình thức trọng tài thường trực có rất nhiều ưu điểm, với một điều lệ

và quy tắc tố tụng độc lập, tương đối ổn định, với thực tiễn và kinh nghiệm phong phú được tích luỹ qua quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp, với một đội ngũ những trọng tài viên là những chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (thương mại, hàng hải, thanh toán quốc tế, luật quốc tế, xây dựng, ngân hàng ) khiến cho quá trình tố tụng diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả Do đó, các tổ chức trọng tài phi chính phủ thường trực đã được thành lập ở rất nhiều nước trên thế giới Tại một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam trọng tài thường trực được tổ chức dưới hình thức các trung tâm trọng tài bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp, nhưng cũng

có những nước trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng công ty hoặc hiệp hội trọng tài như ở Nhật, Mỹ (Hiệp hội Trọng tài Mỹ AAA, Hiệp hội Trọng tài Nhật Bản JCAA), Anh (Tòa án Trọng tài Quốc tế Luân Đôn LCIA)

Trang 20

Ở Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) được thành lập theo Quyết định số 204/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Hàng hải và Hội đồng Trọng tài Ngoại thương VIAC có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc

tế Ngày 16/02/1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 114/TTg

về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của VIAC, theo đó VIAC được phép mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những quan hệ kinh doanh trong nước VIAC hoạt động theo điều lệ riêng, giải quyết tranh chấp theo quy tắc tố tụng riêng và là tổ chức trọng tài thương mại có uy tín nhất hiện nay ở Việt Nam

Ngoài VIAC, tại Việt Nam hiện nay còn có 6 trung tâm trọng tài đang hoạt động trên cả nước gồm Trung tâm Trọng tài Thương mại Á Châu, Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội, Trung tâm Trọng tài Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương, Trung tâm Trọng tài Viễn Đông

1.1.3 Tố tụng trọng tài

Thủ tục trọng tài được tiến hành theo đúng quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài hoặc quy tắc tố tụng mà hai bên đã thống nhất lựa chọn Mỗi trung tâm trọng tài ở một nước đều xây dựng cho mình một bản quy tắc tố tụng phù hợp với đặc điểm luật pháp về trọng tài của nước đó Tuy nhiên, để tăng sự hấp dẫn của các trung tâm trọng tài và để thuận tiện cho việc xét xử và công nhận phán quyết trọng tài, hầu hết quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài đều có xu thế xích lại gần với quy tắc của trọng tài ICC và quy tắc của Luật Mẫu UNCITRAL Quá trình tố tụng tại trọng tài thường bao gồm các bước như: đơn kiện, chọn và chỉ định trọng tài viên, công tác điều tra trước khi xét

xử, phiên họp xét xử, kết thúc xét xử

Trang 21

Theo một quy trình thông thường nhất, tố tụng trọng tài sẽ bắt đầu khi đơn kiện của nguyên đơn được gửi tới trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài xem xét đơn yêu cầu và bản giải trình nội dung tranh chấp, nếu thấy tranh chấp là đối tượng của thoả thuận trọng tài và thoả thuận trọng tài giữa các bên

là có giá trị hiệu lực pháp lý thì quá trình tố tụng sẽ bắt đầu và tiếp tục với việc hình thành một hội đồng trọng tài

Hội đồng trọng tài được chọn và thành lập theo đúng thoả thuận của các bên, có thể là một hoặc một số lẻ, thông thường là một hoặc ba trọng tài viên

Các bên tranh chấp có nghĩa vụ chỉ định trọng tài viên Thời gian chỉ định trọng tài viên có thể do các bên thoả thuận Thời gian này phải hợp lý, đảm bảo cho các bên lựa chọn được trọng tài phù hợp đồng thời vẫn đảm bảo cho quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra nhanh chóng Nếu các bên không thoả thuận về vấn đề này thì sẽ căn cứ theo quy tắc tố tụng hoặc luật trọng tài

có liên quan Ví dụ theo Luật Mẫu UNCITRAL, trong vòng 30 ngày các bên không chỉ định trọng tài sẽ mất quyền chỉ định trọng tài và khi đó tòa án hoặc

cơ quan có thẩm quyền khác sẽ thay mặt các bên chỉ định trọng tài viên; theo quy tắc của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ là 10 ngày; theo Điều 12 Quy tắc tố tụng của VIAC thì thời hạn này là 30 ngày (áp dụng đối với trường hợp Hội đồng Trọng tài gồm một Trọng tài viên duy nhất)

Pháp luật trọng tài của các nước khác nhau cũng quy định cách thức lựa chọn trọng tài viên khác nhau Thông thường nếu tranh chấp được giải quyết bằng Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên thì mỗi bên (nguyên đơn,

bị đơn) lựa chọn một trọng tài viên Hai trọng tài được chọn sẽ bầu một trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách trọng tài của trung tâm làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài Nếu tranh chấp được giải quyết bằng một trọng tài viên duy nhất thì các bên tự thương lượng chọn ra Đây là phương thức chọn lựa phổ biến nhất theo thông lệ quốc tế, ngoài ra mỗi nước có thể có các cách quy định khác Ví dụ tại Mỹ, ngoài phương pháp truyền thống là việc chọn lựa

Trang 22

trọng tài viên do các bên thực hiện, ngày nay có một phương pháp mới được

áp dụng rất phổ biến là: cơ quan hành chính nhà nước sẽ đứng ra là người thay mặt các bên đương sự chỉ định trọng tài, giúp việc cho cơ quan hành chính trong việc lựa chọn này là Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ Ngoài ra, các thương nhân thoả thuận luôn trong điều khoản trọng tài nhờ hiệp hội trọng tài chỉ định luôn trọng tài viên khi có tranh chấp phát sinh

Các bên được quyền lựa chọn và chỉ định trọng tài viên thì cũng có quyền từ chối trọng tài viên do chính họ chỉ định Luật mẫu UNCITRAL quy

định: "Một trọng tài viên có thể bị từ chối nếu có thể gây nên những nghi ngờ chính đáng về sự công minh và tính độc lập khách quan của mình, hoặc khi trọng tài viên không đủ điều kiện và trình độ chuyên môn như các bên đã thoả thuận" [13] Quy tắc trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) cũng quy định: Bất kỳ trọng tài viên nào cũng có thể bị khước từ một bên chỉ có thể khước từ trọng tài viên do chính mình chỉ định

Pháp luật Trọng tài Nhật Bản quy định một trọng tài viên có thể bị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng về sự công bằng và vô tư của anh ta, hoặc nếu trọng tài viên không đáp ứng được các yêu cầu của các bên (Điều 18(1) Luật Trọng tài) Các trọng tài viên được chỉ định phải thông báo cho các bên về các trường hợp có thể dẫn đến sự nghi ngờ về tính công bằng và vô tư của anh ta (Điều 18(3), (4)) Luật Trọng tài Thủ tục thay đổi trọng tài viên có thể được quyết định bởi thỏa thuận của các bên (Điều 19(1) Luật Trọng tài) Nếu các bên không có thỏa thuận, hội đồng trọng tài sẽ quyết định thay đổi theo yêu cầu của một bên (Điều 19(2) Luật Trọng tài) Nếu hội đồng trọng tài từ chối yêu cầu thay đổi trọng tài viên, bên yêu cầu thay đổi trọng tài viên có thể yêu cầu tòa án quyết định việc thay đổi trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được quyết định từ chối của hội đồng trọng tài và hội đồng trọng tài có thể tiếp tục thủ tục trọng tài và ra phán quyết (Điều 19(4), (5) Luật Trọng tài)

Trang 23

Theo quy định của pháp luật trọng tài Hàn Quốc, các bên có thể thay đổi trọng tài viên khi có nghi ngờ về tính độc lập, công bằng và năng lực của trọng tài viên này (Điều 14 Luật Trọng tài)

Phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật trọng tài các nước, Luật TTTM 2010 cũng quy định rất cụ thể về các trường hợp thay đổi trọng tài viên Điều 42 Luật TTTM 2010 quy định:

Điều 42: Thay đổi Trọng tài viên

1 Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp, các bên

có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

a) Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;

b) Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp; c) Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan;

d) Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản

2 Kể từ khi được chọn hoặc được chỉ định, Trọng tài viên phải thông báo bằng văn bản cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình

3 Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, việc thay đổi Trọng tài viên do Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định Nếu Hội đồng trọng tài đã được thành lập, việc thay đổi Trọng tài viên

do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong

Trang 24

trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên

4 Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc các bên tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên

5 Quyết định của Chủ tịch Trung tâm trọng tài hoặc của Toà án trong trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này

là quyết định cuối cùng

6 Trong trường hợp Trọng tài viên vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể tiếp tục tham gia giải quyết tranh chấp hoặc bị thay đổi thì việc chọn, chỉ định Trọng tài viên thay thế được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật này

7 Sau khi tham khảo ý kiến của các bên, Hội đồng trọng tài mới được thành lập có thể xem xét lại những vấn đề đã được đưa ra tại các phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài trước đó [21]

Sau khi thành lập hội đồng trọng tài, hoạt động tố tụng trọng tài sẽ được tiếp tục với thủ tục chuẩn bị xét xử Địa điểm xét xử và ngôn ngữ xét xử cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tố tụng, chi phí đi lại và phiên dịch có thể sẽ là không nhỏ nếu các bên không khôn khéo trong

Trang 25

vấn đề này Tuy nhiên, nếu các bên không thể thống nhất được vấn đề này thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định

Trong tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải nộp trước lệ phí trọng tài theo biểu phí trọng tài của trung tâm trọng tài Lệ phí trọng tài của các trung tâm trọng tài được quy định trong biểu phí trọng tài căn cứ theo trị giá vụ kiện

Trong quá trình tố tụng trọng tài, tính khách quan và việc xét xử công bằng phải được đảm bảo Hội đồng trọng tài xét xử không được có thành kiến với các bên khi tố tụng, các bên phải được đối xử bình đẳng và được quyền trình bày về vụ việc Các bên tranh tụng phải được thông báo về việc mở phiên xử và có quyền tranh luận trực tiếp, đưa ra mọi phương tiện chứng minh để bảo vệ lý lẽ của mình

Tố tụng trọng tài sẽ được đình chỉ nếu các bên đạt được sự hoà giải Biên bản hoà giải (nếu được hội đồng trọng tài chấp thuận) sẽ trở thành phán quyết trọng tài về điều kiện được thoả thuận Phán quyết công nhận thỏa thuận của các bên có giá trị hiệu lực như phán quyết trọng tài của hội đồng trọng tài về nội dung vụ kiện

Tố tụng trọng tài sẽ được chấm dứt bởi một phán quyết chung thẩm hoặc khi nguyên đơn rút đơn kiện, bị đơn chấp thuận và hội đồng trọng tài công nhận lợi ích chính đáng của họ trong việc có được một giải pháp cuối cùng về giải quyết tranh chấp hoặc khi Hội đồng trọng tài thấy rằng việc tiếp tục tố tụng có những nguyên nhân trở nên không cần thiết và không thể được

1.1.4 Sự khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

Trọng tài và toà án đều là những cơ quan tài phán được thành lập để giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa các bên Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng mà trong từng vụ việc cụ thể, sử dụng phương pháp này hay phương pháp kia sẽ phát huy được lợi thế của chúng Việc nắm bắt những

Trang 26

ưu điểm khác nhau của phương pháp này so với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng toà án là rất cần thiết

* Về thẩm quyền xét xử

Trọng tài và toà án đều không có thẩm quyền đương nhiên đối với những tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các thương nhân Tuy nhiên, điểm khác biệt là ở chỗ khi tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế, muốn kiện ra toà án, các bên đương sự phải kiện theo quy định theo pháp luật

về thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo giá trị vụ kiện, thẩm quyền theo lãnh thổ toà án Do đó, sự lựa chọn toà án là rất hạn chế Còn trong tố tụng trọng tài tại các trung tâm trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp, nơi có trụ sở thương mại, nơi

cư trú của các bên hoặc nơi có tài sản của các bên

* Về thủ tục tố tụng

Thủ tục tố tụng là điểm khác biệt quan trọng giữa hai hình thức Bản chất của trọng tài là dựa trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tham gia tranh chấp, do đó, trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, sự thoả thuận của các bên luôn được coi trọng Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên cũng như có quyền thoả thuận về thủ tục tố tụng Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên trong trường hợp các bên không thể lựa chọn được

Đối với tố tụng tại toà án thì thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp do pháp luật tố tụng quy định, các bên đương sự chỉ có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trên cơ sở căn cứ luật định

* Phiên họp xét xử

Về cơ bản, đây là nơi mà thẩm phán cũng như các trọng tài viên tiến hành xét xử tranh chấp trên cơ sở những chứng cứ thu được ở giai đoạn trước Thời gian và địa điểm tiến hành phiên toà trong tố tụng toà án do cơ quan tư pháp ấn định còn trong tố tụng trọng tài phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự

Trang 27

Thông thường, thời gian và địa điểm diễn ra phiên toà trong tố tụng toà án phải vào giờ hành chính và tại phòng xử án mà toà án quy định Tuy nhiên trong tố tụng trọng tài thì hoàn toàn khác Với mục đích đảm bảo uy tín và bí mật trong kinh doanh, nơi diễn ra phiên xét xử cũng như địa điểm diễn ra phiên xét xử do hai bên tự thoả thuận để phù hợp với điều kiện của mình, nếu các bên không thoả thuận được thì địa điểm xét xử do Hội đồng trọng tài quyết định Thời gian xét xử không nhất thiết phải diễn ra vào giờ hành chính hay ngày làm việc, địa điểm xét xử cũng không nhất thiết phải ở trụ sở của trung tâm trọng tài mà có thể ở bất cứ đâu Hơn nữa việc xét xử của toà án dựa trên nguyên tắc xét xử công khai (trừ những vụ án mang tính

bí mật quốc gia…), ngoài các bên đương sự ra có nhiều người khác tham dự phiên xét xử, phiên xét xử cũng có thể được đưa trực tiếp hoặc gián tiếp lên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình… Điều này có thể gây tổn hại đến uy tín và gây nhiều bất lợi cho việc kinh doanh trong tương lai của các bên tranh chấp Đây là một yếu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng toà án Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khắc phục được các yếu điểm này Nguyên tắc xét xử của trọng tài là xét xử kín, ngoài các bên tranh chấp và trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp ra sẽ không có một ai được tham dự phiên xét xử nếu như không được sự đồng ý của các bên tranh chấp Do đó, việc xét xử bằng trọng tài đảm bảo cho các bên giữ kín được bí mật kinh doanh và bảo toàn uy tín kinh doanh trên thương trường Đây chính là một trong những ưu điểm nổi bật nhất khiến các thương nhân ưa chuộng hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

* Kết thúc xét xử

Quá trình tố tụng tại một cơ quan tài phán bao giờ cũng kết thúc bằng văn bản mang tính chất pháp lý Tại toà án, quá trình tố tụng kết thúc khi thẩm phán ra bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đưa ra những quyết định mà

Trang 28

theo đó vụ án chấm dứt Trong tố tụng trọng tài, quá trình tố tụng chấm dứt bằng quyết định trọng tài (hay còn gọi là phán quyết trọng tài)

Các bản án và quyết định của toà án có thể bị kháng cáo và trải qua thủ tục phúc thẩm do toà án cấp cao hơn thực hiện Xuất phát từ đặc điểm xét

xử một lần, phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm (Quyết định trọng tài chỉ có thể bị tuyên hủy bởi tòa án khi có căn cứ rõ ràng theo quy định của pháp luật) Quyết định trọng tài được ban hành bởi một trung tâm trọng tài không bị xét xử lại bởi vì các trung tâm trọng tài khác nhau độc lập với nhau, không có sự phân cấp, phân vùng như trong hệ thống toà án, do đó một vụ việc đã giải quyết ở trung tâm trọng tài này rồi không thể đem ra giải quyết tại một trung tâm trọng tài khác Hơn nữa, trong tổ chức của một trung tâm trọng tài nhất định, thủ tục tố tụng là xét xử một cấp và thoả thuận trọng tài mang tính đích danh

1.1.5 Ưu thế của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với tòa án

Qua việc phân tích những điểm khác biệt giữa tố tụng trọng tài và tố tụng toà án trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc

tế, ta có thể thấy những ưu thế nổi bật của tố tụng trọng tài Đó là sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp hoà giải, thương lượng và phương pháp giải quyết tại toà án Những ưu thế của trọng tài so với toà án chính là những ưu điểm của phương pháp hoà giải, thương lượng đã được lồng vào một cơ chế pháp lý mới là trọng tài

So với tòa án, trọng tài có điểm giống là cùng mang tính chất tài phán nhưng điểm khác biệt cơ bản là trọng tài mang tính chất "quyền lực tư" nghĩa

là trọng tài chỉ có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi có sự thỏa thuận của các bên tranh chấp còn xét xử của tòa án là đại diện cho quyền lực công Tòa

án có thẩm quyền giải quyết đương nhiên theo luật định đối với các vụ tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực nếu các bên không có thỏa thuận khác

Trang 29

Với đặc trưng tôn trọng thoả thuận của các bên tranh chấp, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho phép các bên có quyền tự định đoạt khi có tranh chấp xảy ra Các bên có quyền lựa chọn hình thức trọng tài, có thể là trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của các bên, các bên có thể lựa chọn trọng tài viên, thời gian xét xử, địa điểm xét xử… Điều này giảm bớt sự cứng nhắc trong tố tụng đối với các bên

Về thời gian tố tụng, nếu nói rằng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

sẽ đảm bảo nhanh hơn giải quyết bằng toà án thì có thể không hoàn toàn chính xác Bởi vì, nếu như tranh chấp được giải quyết tại toà án sơ thẩm và không phải trải qua thủ tục xét xử tại các toà án cấp cao hơn thì có khi thời gian giải quyết tranh chấp bằng toà án còn ngắn hơn thời gian giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Tuy nhiên, bản án xét xử sơ thẩm của toà án không có tính chung thẩm nó dễ dàng bị kháng cáo và trải qua các thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của toà án cấp cao hơn … cho nên trong nhiều trường hợp, thời gian giải quyết tranh chấp bị kéo dài rất nhiều gây căng thẳng về tinh thần và tốn kém về chi phí cho các bên Trong những trường hợp như vậy thì giải quyết tranh chấp bằng trọng tài với thủ tục xét xử một cấp và phán quyết chung thẩm rõ ràng tiết kiệm và lợi hơn nhiều cho các bên tranh chấp

Đối với các vụ tranh chấp phát sinh từ thương mại quốc tế, một bên tranh chấp thường là người nước ngoài (có khi cả hai bên), việc lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp bên nước ngoài gạt bỏ được mặc cảm về việc đưa vụ tranh chấp ra xét xử tại toà án của nước khác Đây cũng là một lý do làm cho hình thức trọng tài được sử dụng nhiều trong giải quyết tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế

Trang 30

Bảng 1.1: So sánh tính ưu việt của trọng tài so với tòa án

để khước từ quyết định trọng tài tại tòa án

của tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo các quy tắc rất nghiêm ngặt

Quyết định trọng tài đạt được sự công nhận quốc tế thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc biệt là Công ước New York năm 1958 về Công nhận và thi hành Quyết định trọng tài nước ngoài Có khoảng 120 quốc gia đã tham gia Công ước New York

và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia

họ và thường cùng quốc tịch với một bên

Các bên có thể bình đẳng về nơi tiến hành trọng tài (tại một nước trung lập); ngôn ngữ sử dụng, quy tắc tố tụng; quốc tịch của các trọng tài viên; và đại diện pháp lý

Các bên có thể lựa chọn các trọng tài viên

có trình độ chuyên môn cao, miễn là các trọng tài viên độc lập Thông thường, các trọng tài viên theo vụ kiện từ đầu đến cuối

phiên họp giải quyết tranh chấp, thời hạn, địa điểm tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và nơi các trọng tài viên gặp gỡ, thời gian soạn thảo quyết định trọng tài

Trước khi hội đồng trọng tài được thành lập, các bên phải nhận lệnh tạm thời thông qua tòa án Ở hầu hết các hệ thống pháp luật, khi hội đồng trọng tài được thành lập, các bên có thể vẫn nhận lệnh của tòa

án để ngăn chặn hành vi vi phạm Tuy nhiên, trọng tài viên không thể ra lệnh cho bên thứ ba

có quyền triệu tập bên thứ ba và nhân chứng ra trước tòa Đây là quyền cưỡng chế mà trọng tài viên không có

Các trọng tài viên không có quyền triệu tập bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của

họ và không có quyền yêu cầu một bên phải mời nhân chứng đến

bên có thể gặp phải một loạt sự kháng cáo kéo dài và tốn kém

Trọng tài nhanh hơn tòa án Trọng tài có thể tiến hành rất nhanh (vài tuần hoặc vài tháng nếu các bên muốn như vậy)

chỉ có các bên nhận được quyết định Đây

là một ưu điểm lớn của trọng tài khi vụ kiện liên quan tới các bí mật thương mại

và phát minh

Nguồn: [26]

Trang 31

Tóm lại, với những đặc trưng như thủ tục giải quyết dân chủ, đơn giản, linh hoạt, xét xử nhanh chóng, đảm bảo bí mật, phán quyết tin cậy, tiết kiệm, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá bằng phương pháp trọng tài mang tính thương mại và phù hợp tâm lý chung cũng như đòi hỏi của các nhà kinh doanh Như vậy, có thể nói, các trung tâm trọng tài đã góp phần giảm bớt các gánh nặng của công tác xét xử, góp phần vào sự phát triển các quan hệ kinh tế Thực tiễn đã và đang chứng minh điều

đó, trọng tài ngày càng phổ biến và trở thành phương thức chủ yếu để giải quyết tranh chấp không chỉ trong thương mại quốc tế mà còn trong các quan

hệ thương mại khác

1.2 Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài được hiểu là giới hạn những quan hệ vụ việc mà trọng tài được quyền giải quyết thể hiện ở các nội dung cơ bản: Cơ sở thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; Quan hệ/phạm vi các loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; Vấn đề thẩm quyền của thẩm quyền; Vấn đề loại trừ thẩm quyền của trọng tài bởi tòa án và điều ước quốc tế và các thẩm quyền khác của trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp như thẩm quyền xác minh sự việc, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thực tiễn và lý luận pháp luật đã chỉ ra rằng mặc dù hoạt động của trọng tài là theo sự thoả thuận của các bên bằng một thỏa thuận trọng tài nhưng nếu tranh chấp đó không được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì trọng tài không được giải quyết Nếu trọng tài vẫn tiến hành giải quyết thì quyết định của trọng tài sẽ bị toà án huỷ khi một bên hoặc các bên có yêu cầu

Khả năng giải quyết bằng trọng tài được đáp ứng nghĩa là đối tượng tranh chấp phải có thể giải quyết bằng trọng tài Nếu đối tượng tranh chấp

Trang 32

không thể giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thỏa thuận trọng tài sẽ không

có hiệu lực Các quy tắc xác định khả năng giải quyết bằng trọng tài có thể khác nhau giữa các nước, giữa các hệ thống pháp luật Các trọng tài viên nên xem xét sự khác biệt này khi quyết định một vấn đề liên quan tới khả năng giải quyết bằng trọng tài để đảm bảo phán quyết của trọng tài đưa ra được thi hành trên thực tế

Hiện nay, trên thế giới pháp luật các nước thường xác định phạm vi thẩm quyền của trọng tài theo hai cách Cách thứ nhất liệt kê những tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài và tranh chấp không được giải quyết bằng trọng tài như pháp luật Việt Nam (quy định tại Pháp lệnh TTTM 2003 -

đã hết hiệu lực), Nga Theo cách này, những tranh chấp nằm ngoài phạm vi được liệt kê trọng tài không thể giải quyết Ưu điểm của cách quy định này là tạo thuận lợi cho người nghiên cứu nhưng có điểm hạn chế là không bao quát,

dự liệu được các tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nên sẽ hạn chế quyền lựa chọn của các bên tranh chấp và hạn chế hiệu quả hoạt động của trọng tài Phương pháp này sẽ không phù hợp với những nước có nền kinh tế thị trường đa dạng về chủ thể và tranh chấp Cách thứ hai liệt kê các loại việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Theo phương pháp loại trừ này, thẩm quyền của trọng tài được xác định ở phạm vi mở, tạo khả năng thích ứng và linh hoạt trong tố tụng trọng tài Nhiều quốc gia áp dụng cách thứ hai như Mỹ, Anh, Trung Quốc , theo đó về nguyên tắc không cho phép trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan về: quyền nhân thân; tình trạng

cá nhân, quan hệ hôn nhân, gia đình; tranh chấp về phá sản, vỡ nợ công ty, về

sở hữu trí tuệ; tranh chấp liên quan đến trật tự công cộng, lợi ích công… Ví

dụ, Điều 3 của Luật Trọng tài Trung Quốc 1994 quy định loại trừ những loại tranh chấp không thể đưa ra trọng tài, đó là: tranh chấp liên quan đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ, thừa kế; tranh chấp hành chính Ở một số nước, các vấn đề trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ như phạm vi bảo hộ, hiệu lực của văn bằng, vi phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp không

Trang 33

thể giải quyết bằng Trọng tài nhưng các bên lại có thể giải quyết bằng trọng tài vấn đề li-xăng Một số nước như Braxin cho phép các chủ nợ có thể có thể ký kết thoả thuận trọng tài về giải quyết nợ trước khi Toà án tiến hành thủ tục phá sản Trong lĩnh vực hình sự, các bên không thể thoả thuận về mức hình phạt song có thể thoả thuận về mức bồi thường thiệt hại và có thể dùng trọng tài để giải quyết

Thực tế, khái niệm khả năng giải quyết bằng trọng tài (thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài) là một sự giới hạn của trật tự công cộng đối với phạm vi của phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Theo trật tự công cộng của mình, mỗi quốc gia có thể quyết định vấn đề nào có thể giải quyết bằng trọng tài Tuy nhiên, vì phải xem xét cả trật tự công cộng của nước nơi thi hành hoặc công nhận quyết định trọng tài - và vì đây có thể là bất

cứ quốc gia nào trên thế giới nơi bên thua kiện có tài sản, các trọng tài viên thường phải tập trung vào các vấn đề mà hầu hết các quốc gia cho rằng không thể giải quyết bằng trọng tài Đây thường là các tranh chấp về luật cạnh tranh

và các vấn đề mất lòng tin, quan hệ hôn nhân, phá sản và một số quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, có một vài dấu hiệu thay đổi Luật trọng tài và học thuyết luật ở Châu Âu và Hoa Kỳ bắt đầu công nhận rằng những vấn đề về luật cạnh tranh phát sinh từ hợp đồng quốc tế có thể giải quyết bằng trọng tài mặc dù có một số hạn chế nhất định [31] Công ước New York 1958 quy định

tại Điều 12 là "việc công nhận và thi hành một quyết định trọng tài cũng có thể bị từ chối nếu cơ quan có thẩm quyền tại quốc gia nơi được yêu cầu công nhận và thi hành cho rằng đối tượng của tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của nước đó " [12] Hơn nữa, một quyết định trọng

tài có thể bị bác nếu quyết định về một đối tượng không thể giải quyết bằng trọng tài Đơn đề nghị hủy quyết định trọng tài có thể dựa trên lý do không có khả năng giải quyết bằng trọng tài, như quy định trong luật của nhiều quốc gia

và Điều 34.2 của Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế

năm 1985 "Quyết định trọng tài có thể bị hủy bởi tòa án được quy định tại

Trang 34

Điều 6 nếu tòa án nhận thấy đối tượng của tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của quốc gia này…" [13]

Khi các bên đã thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài,

họ trao cho hội đồng trọng tài thẩm quyền xét xử tranh chấp vì vậy tòa án quốc gia sẽ không có thẩm quyền xét xử tranh chấp trừ khi điều khoản trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy thỏa thuận trọng tài Đây có thể coi là tác động

"tiêu cực" của thỏa thuận trọng tài đối với thẩm quyền của các tòa án quốc gia bởi vì một bên đã ký thỏa thuận trọng tài thì không thể đưa vụ việc ra tòa án quốc gia Điều khoản cơ bản quy định về vấn đề này là Điều 2 của Công ước New York năm 1958 về Công nhận và Thi hành quyết định trọng tài nước ngoài

Điều 2: Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan

hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài Thuật ngữ "thoả thuận bằng văn bản" bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi [12]

Toà án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thoả thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Toà

án thấy rằng thoả thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được

Tuy nhiên, thẩm quyền quyết định các vấn đề đang tranh chấp của hội đồng trọng tài không loại trừ khả năng các tòa án quốc gia có thể được yêu cầu áp dụng một số biện pháp nhất định trước khi bắt đầu tố tụng trọng tài, hoặc thậm chí trong quá trình tố tụng trọng tài, ví dụ các biện pháp khẩn cấp tạm thời Yêu cầu tòa án quốc gia áp dụng các biện pháp đó không có nghĩa là

Trang 35

đã từ bỏ điều khoản trọng tài Nếu một bên không thừa nhận thẩm quyền của hội đồng trọng tài với lý do thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực, hội đồng trọng tài sẽ có quyền tự quyết định thẩm quyền của mình Đây được coi là

nguyên tắc thẩm quyền của thẩm quyền Điều này có nghĩa là nếu một bên có

khiếu nại về việc vụ tranh chấp hoặc một khía cạnh nào đó trong vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài

vô hiệu, việc này trước hết sẽ do hội đồng trọng tài quyết định Quyết định về thẩm quyền sẽ được hội đồng trọng tài đưa vào quyết định trọng tài

Một số nước như Pháp, Thụy Sĩ, Ấn Độ quy định rằng quyết định của hội đồng trọng tài về thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp là chung thẩm và các bên không được quyền kháng cáo lên tòa án Tuy nhiên luật một số nước khác như Đức, kể cả Luật Mẫu lại quy định các bên được quyền kháng cáo vấn đề này lên tòa án và tòa án mới là cơ quan cuối cùng quyết định thẩm quyền của hội đồng trọng tài

Ngoài ra, trong trường hợp hội đồng trọng tài cho rằng hợp đồng mà trong đó có thỏa thuận trọng tài là không tồn tại, hoặc vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn tồn tại và có hiệu lực Nguyên tắc phổ biến trong trọng tài quốc

tế là thỏa thuận trọng tài độc lập và tách biệt với những điều khoản còn lại của hợp đồng Vì vậy hội đồng trọng tài vẫn có thẩm quyền quyết định quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên và giải quyết khiếu kiện và yêu cầu của họ, mặc dù hợp đồng có thể không tồn tại hoặc vô hiệu

Trang 36

Chương 2

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC

TRONG KHU VỰC CHÂU Á VÀ VIỆT NAM

2.1 Nội dung pháp luật trọng tài của một số nước trong khu vực Châu Á về thẩm quyền xét xử của trọng tài

Bước sang thế kỷ 21, thế giới chứng kiến một sự phát triển nhanh chóng của hoạt động trọng tài thương mại quốc tế tại khu vực Châu Á Số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài ngày càng tăng đã chứng minh được tính ưu việt và hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như trung gian, hòa giải hay tòa án Vậy tại sao hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Châu Á lại đạt được sự phát triển nhanh đến như vậy? Có nhiều lý do để lý giải sự phát triển này, trong đó lý do quan trọng nhất là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu thế hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác nêu ở trên

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ít thủ tục hơn, tính bảo

mật được tuân thủ và trong thương mại quốc tế thì đây là một ưu việt Không giống như trong tố tụng tòa án, các trọng tài viên không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào về quá trình tố tụng trọng tài hoặc kết quả của vụ tranh chấp cho bên thứ ba Các hàng rào thương mại ngày càng giảm đã dẫn đến sự phát triển vượt bậc của thương mại toàn cầu Cùng với đó là sự gia tăng các tranh chấp giữa các bên trong thương mại quốc tế Trong một tranh chấp quốc tế, thường các bên có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, các bên lại không muốn giải quyết các vấn đề tranh chấp tại một tòa án của một quốc gia khác, với sự khác nhau về luật, ngôn ngữ và văn hóa, đồng thời có những nghi ngờ về năng lực của các thẩm phán tòa án… Vì lý do đó, thủ tục trọng

Trang 37

tài thường được tiến hành tại một địa điểm trung lập, với các trọng tài viên được các bên thống nhất lựa chọn và chỉ định trên cơ sở áp dụng các quy tắc trọng tài quốc tế được công nhận rộng rãi như Quy tắc Trọng tài ICC hoặc Luật Mẫu của UNCITRAL về Trọng tài Thương mại Quốc tế Các tồn tại cố hữu của các tòa án trong nước trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế cũng là vấn đề mà các bên tranh chấp quan tâm chẳng hạn như thẩm quyền xét xử, vấn đề liên quan đến quyền miễn trừ quốc gia, việc thi hành các phán quyết đã làm hạn chế hiệu lực của việc giải quyết bằng tòa án

Thứ hai, một trong những lợi thế của trọng tài trong việc giải quyết

các tranh chấp xuyên quốc gia được thừa nhận rộng rãi đó chính là khả năng thi hành các phán quyết trọng tài căn cứ theo Công ước New York 1958 về Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, theo đó việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài được tiến hành tại hơn

120 quốc gia tham gia Công ước New York 1958

Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của hoạt động trọng tài tại khu vực

Châu Á cũng bắt nguồn từ sự phát triển của nền kinh tế các nước trong khu vực và sự gia tăng việc tham gia vào thương mại toàn cầu Đồng thời, nền kinh tế các nước trong khu vực Châu Á cũng có sức "chịu đựng" tốt hơn các khu vực khác trong cuộc khủng hoảng kinh tế Các nền kinh tế Châu Á đã phục hồi một cách ấn tượng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và trong khu vực Châu Á Ngoài ra, sự mở cửa của các nền kinh tế trong khu vực Châu

Á trong đó có quốc gia đông dân nhất trên thế giới là Trung Quốc và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của quốc gia này đã đánh dấu một chương mới của Trung Quốc Điều này đã tạo ra những cơ hội chưa từng có để phát triển thương mại và đầu tư của Trung Quốc nói riêng và Châu Á nói chung

Thứ tư, một lý do khác làm cho hoạt động trọng tài tại khu vực Châu

Á phát triển nhanh chóng đó là người Châu Á không thích tiến hành tố tụng tại tòa án so với những người phương Tây Người Châu Á ưa thích phương

Trang 38

pháp giải quyết tranh chấp không đối đầu như trọng tài và hòa giải Yếu tố này bắt nguồn từ nền văn hóa và lịch sử của Châu Á, gồm những dân tộc yêu chuộng hòa bình và không thích đối đầu Người Châu Á mong muốn các tranh chấp được giải quyết theo các biện pháp tranh chấp lựa chọn như trung gian, hòa giải, trọng tài hơn là đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án

Thứ năm, yếu tố sâu xa khác cũng làm cho hoạt động trọng tài tại

Châu Á phát triển nhanh đó là do hạn chế của các tòa án quốc gia, đó là năng lực chưa được tốt của tòa án quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp phức tạp và mang tính chất đặc thù Các thẩm phán của tòa án quốc gia có thể không có kiến thức sâu rộng trong một số lĩnh vực và do đó, họ có thể đưa ra những quyết định không chính xác Ngược lại, trong hoạt động trọng tài, các bên được tự do lựa chọn hội đồng trọng tài nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên

Sự phát triển của hoạt động trọng tài trong khu vực Châu Á trong những năm gần đây có thể nhìn thấy rõ qua các con số thống kê Năm 1990, Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Quốc tế Trung Quốc (CIETAC) giải quyết 203 vụ; 10 năm sau (2000) số lượng các vụ tăng lên 738 vụ, năm

2008 số lượng các vụ tăng lên 1097 vụ, năm 2010 là 1352 vụ (số liệu: www:cietac.org) Năm 1998, số lượng các vụ tranh chấp đưa ra giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (HKIAC) là 240 vụ, năm 2003 là

287 vụ, năm 2008 là 602 vụ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu pháp luật trọng tài của một số nước trong khu vực Châu Á có hệ thống trọng tài phát triển trong khu vực gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Singapore

Pháp luật trọng tài của những quốc gia này và một số nước trên thế giới đều quy định phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất rộng, ngoại trừ những tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hình sự, hôn nhân gia đình, giám hộ, thuế, phá sản và một số lĩnh vực khác mà không thể giải quyết bằng

Trang 39

cơ quan tài phán tư Đa số các nước quy định trọng tài có thẩm quyền rất rộng, cho phép trọng tài có thể giải quyết tất cả các loại tranh chấp phát sinh từ những quan hệ được xác lập trên cơ sở bình đẳng và thoả thuận giữa các bên

Điều 1 Luật Trọng tài 1996 của Braxin quy định: Những người có khả năng ký kết hợp đồng có thể đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các quyền về tài sản mà họ có quyền quyết định

Điều 2 Luật Trọng tài 1994 của Trung Quốc quy định: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài

Điều 3 của Luật Trọng tài Trung Quốc quy định loại trừ những loại tranh chấp không thể đưa ra trọng tài, đó là: tranh chấp liên quan đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ, thừa kế; tranh chấp hành chính

Pháp luật Hồng Kông quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự, trừ những tranh chấp về hình sự, ly hôn, tranh chấp liên quan đến quan hệ giữa cha mẹ và con cái, các vụ kiện đối với vật chống lại tàu biển, các tranh chấp liên quan đến khả năng đăng ký của sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, tố tụng trọng tài được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 1030 Bộ luật Tố tụng dân sự 1998 của Đức quy định mọi yêu cầu liên quan đến lợi ích kinh tế đều có thể được các bên thoả thuận đưa ra trọng tài để giải quyết (gồm tranh chấp dân sự và tranh chấp thương mại) Theo quy định của pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về trọng tài, các loại tranh chấp sau có thể là đối tượng của Thỏa thuận trọng tài: các tranh chấp về tài sản; các tranh chấp không liên quan đến tài sản; Các tranh chấp liên quan đến khiếu nại và yêu cầu tuyên vô hiệu theo pháp luật về công

ty (Điều 1030 Bộ luật tố tụng dân sự Đức) Về nguyên tắc, các tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp không liên quan đến lợi ích kinh tế chỉ có thể là đối tượng của Thỏa thuận trọng tài nếu các bên có thể hoàn toàn tự mình giải quyết

Trang 40

tranh chấp Theo nguyên tắc đó, ví dụ chỉ có Tòa án liên bang về sở hữu trí tuệ mới có quyền tuyên vô hiệu đối với các bằng độc quyền về phát minh sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và giải pháp hữu ích Các khiếu nại liên quan đến Séc và Thương phiếu cũng có thể giải quyết bằng Trọng tài nếu có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng gốc Cho dù đã có Thỏa thuận trọng tài đối với các loại tranh chấp này, khi tranh chấp xảy ra, một bên vẫn

có quyền kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp (Quyển V Bộ luật TTDS Đức) Ngoài ra, các loại tranh chấp sau đây cũng không thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài như tranh chấp về bất động sản trong các quan hệ hợp đồng thuê nhà; và tranh chấp về tài sản có giá trị lớn của doanh nghiệp trong khi tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự đồng ý của Hội nghị chủ nợ

Bộ luật Tố tụng dân sự của Indonesia quy định các bên có thể thỏa thuận đưa ra trọng tài giải quyết mọi vấn đề mà họ quan tâm, trừ vấn đề liên quan đến tài sản tặng cho và thừa kế để cấp dưỡng, nuôi ăn, mặc, ở; liên quan đến ly hôn, ly thân hoặc định đoạt tài sản chung của vợ chồng; liên quan đến địa vị pháp lý của một người và một số vấn đề khác mà luật không cho phép giải quyết bằng trọng tài

Đối với Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về lĩnh vực luật trọng tài, Luật TTTM 2010 được ban hành đã

mở rộng hơn rất nhiều phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Theo đó, trọng tài không chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại mà còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại và tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài

Điều 2 Luật TTTM 2010 quy định:

Điều 2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài:

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thông Anh (2007), "Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không mặn mà với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài?", http://doanhnghiep.vn, ngày 23/7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không mặn mà với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Tác giả: Phan Thông Anh
Năm: 2007
2. Đào Ngọc Báu (2006), Những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và áp dụng xây dựng Luật Trọng tài ở Việt Nam, Học viện Hành chính - Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và áp dụng xây dựng Luật Trọng tài ở Việt Nam
Tác giả: Đào Ngọc Báu
Năm: 2006
3. Bộ Tư pháp (2009), Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Trọng tài Thương mại số 3148/BC-UBTP12 ngày 22/9/2009 của Ủy ban Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Trọng tài Thương mại số 3148/BC-UBTP12 ngày 22/9/2009 của Ủy ban Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2009
4. Chính phủ (1994), Nghị định 116-CP ngày 5/9 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 116-CP ngày 5/9 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
5. Chính phủ (1996), Quyết định số 114/TTg ngày 16/02 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 114/TTg ngày 16/02 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
6. Chính phủ (2003), Quyết định số 204/TTg ngày 28/4 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 204/TTg ngày 28/4 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
7. Chính phủ (2004), Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
8. Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Tư pháp Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp Quốc tế
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
9. Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
10. Nguyễn Hà (2009), "Mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài đến mức nào?", http://luathoc.cafeluat.vn, ngày 30/9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài đến mức nào
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2009
11. Hội Luật gia Việt Nam (2009), Tờ trình về dự án Luật Trọng tài Thương mại số 10/TTr-HLGVN ngày 01/9/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình về dự án Luật Trọng tài Thương mại số 10/TTr-HLGVN ngày 01/9/2009
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Lộc (2007), "Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam", http://luatviet.vn, ngày 23/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2007
15. Phạm Duy Nghĩa (2008), "Pháp luật trọng tài ở Việt Nam - Quá trình phát triển và các vấn đề đặt ra", http://luathoc.vn, ngày 21/5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật trọng tài ở Việt Nam - Quá trình phát triển và các vấn đề đặt ra
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Năm: 2008
20. Quốc hội (2006), Luật Hàng không dân dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hàng không dân dụng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
21. Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trọng tài thương mại
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
22. "Quy tắc tố tụng trọng tài năm của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2012", http://viac.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy tắc tố tụng trọng tài năm của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2012
23. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
24. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2007), Sổ tay trọng tài viên, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay trọng tài viên
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
26. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2008), Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2008
27. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2009), "Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn", http://viac.org.vn, ngày 22/5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: So sánh tính ưu việt của trọng tài so với tòa án - Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng 1.1 So sánh tính ưu việt của trọng tài so với tòa án (Trang 30)
Bảng 3.1: Tổng hợp số lượng vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài - Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng vụ tranh chấp giải quyết bằng trọng tài (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm