Tác động của BĐKH đối với một số quốc gia và Việt Nam……...28 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.... Định nghĩa BĐKH Theo quan điểm của Tổ chức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-* - KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ VIỆC THỰC THI CÁC CAM KẾT
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-* - KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ VIỆC THỰC THI CÁC CAM KẾT
CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Năng
Hà Nội – năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 7
1.1 Khái niệm Khí hậu và Biến đổi khí hậu……… ………7
1.1.1 Khái niệm khí hậu… ……… … 7
1.1.2 Khái niệm BĐKH… ……… … 10
1.2 Nguyên nhân và một số biểu hiện của biến đổi khí hậu……… 12
1.2.1 Nguyên nhân của BĐKH……… …….……… 12
1.2.2 Một số biểu hiện của BĐKH……… 14
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đối với từng lĩnh vực 23
1.3.1 Tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu……… 23
1.3.2 Tác động của BĐKH đối với một số quốc gia và Việt Nam…… 28
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 39
2.1 Khái niệm pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu 39
2.1.1 Định nghĩa pháp luật quốc tế về chống BĐKH… 39
2.1.2 Quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về chống BĐKH… … ….41
2.1.3 Vai trò của pháp luật quốc tế về chống BĐKH 44
2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu 46
2.2.1 Nguyên tắc chống BĐKH là nghĩa vụ của từng quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế … …… 46
2.2.2 Nguyên tắc các quốc gia phát triển có trách nhiệm hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển nhằm chống BĐKH … 47
2.2.3 Nguyên tắc phát triển bền vững là cơ sở chống BĐKH ở từng quốc gia và trên toàn thế giới ……… … 47
Trang 42.2.4 Nguyên tắc ngăn ngừa và giảm thiểu tổn hại môi trường……… 48 2.3 Một số quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề chống biến đổi khí
hậu……… 49 2.3.1 Nhóm các quy phạm pháp luật quốc tế về bảo vệ tầng Ozone……… 50 2.3.2 Các quy phạm pháp luật quốc tế về BĐKH nói chung và cắt giảm khí thải
nhà kính 54 2.4 Các thiết chế hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về chống biến đổi khí hậu 68 2.4.1 Chương trình môi trường của LHQ (UNEP)……… 68 2.4.2 Tổ chức khí tượng Thế giới (WMO) 70 2.4.3 Uỷ ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) 72 2.5 Thực thi pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu tại một số quốc gia
trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt ……… 74 2.5.1 Thực thi pháp luật quốc tế về chống BĐKH ở một số quốc gia 74 2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 78
Chương 3: THỰC THI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA VIỆT NAM……… 81
3.1 Chính sách, pháp luật Việt Nam về chống biến đổi khí hậu……….81 3.1.1 Khái quát sự phát triển của chính sách, pháp luật Việt Nam về
chống BĐKH……… 81 3.1.2 Chính sách, pháp luật của Việt Nam trong việc thực thi các điều ước quốc tế
về chống BĐKH 84 3.1.3 Đối chiếu các quy định của chính sách, pháp luật về chống BĐKH hiện hành
của Việt Nam với các yêu cầu, quy định của các điều ước quốc tế tương ứng mà Việt Nam là thành viên 100 3.2 Thực tiễn triển khai các điều ước quốc tế về chống biến đổi khí hậu
ở Việt Nam 103
3.2.1 Thực tiễn triển khai Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone và
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone 103
Trang 53.2.2 Thực tiễn triển khai UNFCCC và KP 107
3.2.3 Đánh giá mức độ thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam thông qua thực tiễn triển khai các điều ước quốc tế về chống BĐKH 117
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu của Việt 120
3.3.1 Ở phương diện quốc tế 120
3.3.2 Ở phương diện quốc gia 121
KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….129 PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 BĐKH Biến đổi khí hậu
2 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
4 CDM Clean Development Mechanism - Cơ chế phát triển sạch
5 Công ước Vienna Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone
6 IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change
(Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu)
7 KNK Khí nhà kính
8 KP Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính
9 NĐT Montreal Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone
10 UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate
Change (Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu)
11 Viện KTTV Viện Khí tượng thủy văn
12 WB World Bank – Ngân hàng Thế giới
Trang 7CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU
BĐKH là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại
từng đối mặt từ trước đến nay Ngập lụt, hạn hán, nước biển dâng hay nhiệt độ Trái đất tăng cao…đều là những biểu hiện cực đoan của khí hậu, là “sự giận dữ” mà
thiên nhiên đang đáp trả vào con người – tác nhân chủ yếu gây ra BĐKH toàn cầu Với mục đích tìm hiểu những kiến thức có ý nghĩa tổng quan nhất về BĐKH, tác giả dành toàn bộ chương I để trình bày những vấn đề cơ bản về BĐKH và những tác động sâu sắc của BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể, từ đó thấy được nhu cầu cấp thiết của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chống BĐKH ở cả phương diện quốc tế và quốc gia
1.1 KHÁI NIỆM KHÍ HẬU VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1.1 Khái niệm khí hậu
a Định nghĩa khí hậu
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Khí hậu ở một nơi được đặc trưng bởi trạng thái trung bình nhiều năm của các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió v.v
Theo từ điển thuật ngữ của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (The
Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) thì: Khí hậu dùng để chỉ "thời tiết
trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi
về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm
Như vậy, khác với thời tiết, một trạng thái mang tính nhất thời của khí quyển
ở một địa điểm hay một vùng nhất định và có thể thay đổi trong khoảng thời gian ngắn, khí hậu là khái niệm mang tính ổn định và bền vững hơn Nó là kết quả tổng hợp của các quá trình vật lý và hóa học dưới tác động của bức xạ mặt trời lên bề mặt trái đất Bề mặt mặt trời (hay còn gọi là quang cầu) có nhiệt độ trung bình 6000K Mỗi một giây, từ 1cm2 bề mặt của mặt trời phát ra một năng lượng khoảng 6300Jun Song lượng bức xạ mặt trời đi tới được Trái đất chỉ bằng một phần rất nhỏ năng lượng phát ra từ mặt trời Căn cứ vào vĩ độ địa lý và lượng bức xạ mặt trời thu nhận được, khí hậu trên Trái đất được chia thành các đới khác nhau, như: xích đạo,
Trang 8nhiệt đới, ôn đới và cực đới Các đới khí hậu này lại được chia thành các dạng khí hậu lục địa hay khí hậu biển
b Các thành phần của khí hậu
Hệ thống khí hậu Trái đất có 5 thành phần, thường được gọi là các quyển bao
gồm: khí quyển, thủy quyển, băng quyển, thạch quyển và sinh quyển Trong đó:
Khí quyển: Là lớp khí bao quanh trái đất và được giữ lại bởi lực hấp dẫn
của trái đất Lớp khí quyển gần mặt đất có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc
sống con người, là dung môi cho sự sống sinh sôi và phát triển Ngoài ra, khí quyển còn là một trong các nhân tố quyết định việc cân bằng năng lượng trên trái đất, làm
cho Trái đất trở nên ôn hòa hơn Thành phần hóa học chủ yếu của khí quyển là khí Nitơ (chiếm 78,1%), Ôxy (chiếm 20,9%), một lượng nhỏ các khí agon
(0,9%), điôxít cacbon (0,035%)
Thủy quyển: Là thành phần nằm giữa khí quyển và địa quyển Bao gồm:
biển, hồ, sông, đầm,…(dưới dạng chất lỏng) và băng hà (dưới dạng chất rắn) Trong các thành phần của thủy quyển, biển và đại dương là bộ phận chủ yếu nhất Chiếm hơn 71% bề mặt trái đất, từ bao đời nay, biển và đại dương đã trở thành cái nôi cho
sự sống của toàn nhân loại Thật khó để đánh giá hết tầm quan trọng của biển
và đại dương đối với cuộc sống của con người Vì đại dương là ngôi nhà chung,
là cầu nối giữa các lục địa và giữa các nền văn minh của nhân loại, là tuyến đường giao thông thuỷ đặc biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các chế độ pháp lý khác nhau, trong đó, phần lớn là biển cả - vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo [40] Với tổng diện tích khoảng 361 triệu km2, khối lượng 1.340 triệu km3 và độ sâu trung bình là 3.711m Về mặt khí hậu, biển và đại dương được xem như một bình giữ nhiệt khổng
lồ của trái đất Dưới ánh nắng mặt trời, thủy quyển của Trái đất không ngừng vận
động tuần hoàn Nước ở trên mặt đất bốc hơi thành hơi nước trong khí quyển, sau
đó hơi nước trong khí quyển lại ngưng đọng thành nước mưa rơi xuống mặt đất và biển Nước trên mặt đất lại hội tụ thành suối, thành sông chảy ra hồ, ra biển hoặc thấm xuống đất, qua các khe nứt của các nham thạch trở thành nước ngầm, hoặc bốc hơi trở lại khí quyển Có thể nói, nhờ có tuần hoàn nước trên Trái đất với quy mô lớn, không ngừng nghỉ nên mặt đất mới biến đổi thường xuyên, vạn vật sinh sôi,
Trang 9nảy nở
Băng quyển: Bao gồm tất cả các vùng có băng và tuyết bao phủ trên Trái đất ở
các cực địa (Bắc cực, Nam cực), các đới vĩ độ cao (đảo Greenland, miền bắc Canađa, miền bắc Siberia) và phần lớn các núi cao trên thế giới, hay khắp các châu lục - những nơi có nhiệt độ dưới 0o
C quanh năm Băng quyển cũng giữ vai trò quan trọng trong việc
điều chỉnh hệ thống khí hậu toàn cầu Tuyết và băng có độ phản xạ lớn nên đã phản xạ
phần lớn bức xạ của mặt trời Một số nơi ở Nam cực phản xạ tới 90% lượng bức xạ mặt trời đi tới, cao hơn nhiều so với độ phản xạ trung bình của trái đất, chỉ vào khoảng 30%
Do đó, nếu băng quyển tan chảy, Trái đất sẽ nóng lên và làm cho khí hậu thay đổi
Thạch quyển: Là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá
Thạch quyển bao gồm đất liền, trầm tích, đất đá trên mặt đất, các đại lục và cả trong lòng đất Cơ cấu thạch quyển, đặc biệt là phân bố đất liền và đại dương có vai trò đặc biệt quan trọng trong phân bố khí hậu trên trái đất Đất liền phân bố không đều giữa hai bán cầu, trên từng bán cầu và theo vĩ độ Khu vực từ 30o vĩ về xích đạo của hai bán cầu, thường gọi là vùng nhiệt đới, chiếm một nửa diện tích trái đất, nhưng chỉ có 20% trong đó là đất liền Ở bán cầu Nam, chỉ có 19% diện tích là đất liền, còn 81% là biển Ngược lại, ở bán cầu Bắc, 40% diện tích là đất liền, 60% là biển Phần lớn diện tích đất liền (55%) ở bán cầu Bắc trải dài trên các vĩ độ và nằm ngoài vùng nhiệt đới; trong khi đó ở bán cầu Nam, 73% diện tích đất liền tập trung trong vùng nhiệt đới thuần túy Đất liền thường nóng lên nhanh hơn và nguội đi nhanh hơn so với đại dương Vì vậy, sự tương phản về mùa trên đất liền cũng lớn hơn so
với đại dương
Sinh quyển: Chính là lớp vỏ sống của trái đất, một hệ thống “động” vô cùng
phức tạp với số lượng lớn các yếu tố ngẫu nhiên và nhiều quá trình mang đặc điểm xác suất Sinh quyển chính là toàn bộ thế giới sinh vật (bao gồm các loài động vật, thực vật,vi khuẩn, nấm, từ sinh vật đơn bào nguyên thủy đến đa bào tiến hóa cao) cùng với các yếu tố của môi trường bao quanh chúng trên trái đất [70] Thành phần quan trọng nhất của sinh quyển đối với hệ thống khí hậu là rừng Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu của Trái đất và đời sống con
người Rừng có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước ở môi trường xung quanh và giữ
cân bằng nồng độ oxi trong khí quyển; Rừng lọc không khí, làm cho không khí trở nên trong lành và hấp thụ một lượng lớn khí CO2 trong khí quyển, làm giảm tác
Trang 10nhân gây ra hiệu ứng nhà kính Ngoài rừng, hàng triệu triệu loại vi khuẩn, vi trùng, phấn hoa và những hạt hữu cơ li ti khác nhau…cũng góp phần làm thay đổi cán cân
bức xạ mặt trời
1.1.2 Khái niệm BĐKH
a Định nghĩa BĐKH
Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động
bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của nó do các ngoại lực hoặc do hoạt động của con người [68]
Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH cũng ghi nhận, BĐKH “là
những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái
tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (Điều 1 Khoản 1)
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH của Việt Nam năm 2008
ghi nhận “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc
dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất”
Như vậy, BĐKH được hiểu chung là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc hơn BĐKH có thể là do sự biến đổi của các quá trình tự nhiên, hoặc do những tác động của con người
b Lịch sử BĐKH
Nhiều tài liệu khoa học địa chất cho thấy, trong lịch sử xa xưa của Trái đất đã xảy
ra những biến đổi sâu sắc trong khí hậu Những biến đổi này xảy ra vào những thời kỳ băng hà, khi con người chưa xuất hiện và sự sống trên Trái đất còn rất hạn chế Quá trình băng hà và không băng hà bắt đầu xảy ra từ khoảng hai triệu năm trước công nguyên Trong chu kỳ này, nhiệt độ bề mặt Trái đất thường biến động từ 5-7oC Tuy nhiên, có thể
Trang 11có những biến động tới 10-15oC ở các vùng vĩ độ trung bình và vĩ độ cao thuộc bán cầu Bắc
Từ khoảng giữa thế kỷ XIX, nhờ đo đạc chính xác bằng các dụng cụ, con người mới bắt đầu có được những số liệu định lượng chi tiết về BĐKH Kết quả đo đạc và nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng, nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ
XX đã tăng lên 0,74oC ( 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001) [52]
Hình 1.1: Chuẩn sai nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu thời kỳ 1880-2007 ( o C) [84]
Nhìn vào biểu đồ này có thể thấy, nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 - 1940, giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960
và lại tăng lên từ sau năm 1975 Sang những năm đầu thế kỷ XXI, nhiệt độ Trái đất tiếp tục tăng cao Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2003 tăng 0,46oC so với trung bình thời kỳ 1971 - 2000, là năm ấm thứ ba kể từ năm 1861 Hiện tượng mưa cũng
có những biến động đáng kể, tăng 5 - 10% trong thế kỷ XX trên lục địa bán cầu Bắc
và giảm ở một số nơi Tương ứng với sự tăng của nhiệt độ toàn cầu, mực nước trung bình của đại dương cũng tăng lên 10 - 25cm (trung bình 1 -2mm/năm trong thế kỷ XX) do băng tan và giãn nở nhiệt đại dương Thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, tố, lốc ) và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn v.v ) ngày càng gia tăng
1.2 NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.2.1 Nguyên nhân của BĐKH
Có nhiều nguyên nhân làm cho khí hậu của Trái đất bị biến đổi, trong đó có 2 nguyên nhân chính là: do quá trình vận động tự nhiên và do tác động của con người
Trang 12đó chủ yếu nhất là sự biến đổi trong quỹ đạo Trái đất và hoạt động của núi lửa
Sự thay đổi trong quỹ đạo của Trái đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi năng lượng mặt trời, bởi chỉ cần có sự thay đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái đất cũng dẫn tới những thay đổi trong sự phân phối của ánh sáng Mặt trời khi tiến tới bề mặt Trái đất Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật liệu từ dưới sâu lòng đất lên bề mặt, như là một phần của tiến trình Trái đất loại bỏ sự quá dư thừa về nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó Hoạt động phun trào của núi lửa cũng tạo ra nhiều các hoạt chất gây ô nhiễm, như các sol khí (hay còn gọi là các hạt bụi và hạt lơ lửng) Các hạt này làm giảm độ trong suốt của khí quyển và ảnh hưởng mạnh
mẽ tới thời tiết và khí hậu Dung nham nóng chảy tràn lên bề mặt đất, với lượng lớn, tốc độ nhanh, phủ trên diện rộng, có thể hủy diệt các vật thể sống và biến cải môi
trường sống của tiểu khu vực đó
Như vậy, bản thân thiên nhiên cũng là nhân tố tạo ra sự BĐKH trên toàn thế giới Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà khoa học, sự vận động của tự nhiên chỉ đóng góp 10% trong số các tác động tới BĐKH toàn cầu
b Về những tác động của con người
Môi trường tự nhiên có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và phát triển của con người Do đó, môi trường tự nhiên được xác định là một trong 3 trụ cột quan trọng của sự phát triển bền vững Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế vẫn đang diễn ra đó là: con người đang ngày càng lạm dụng tự nhiên, tác động mạnh mẽ đến tự nhiên và làm biến đổi tự nhiên theo chiều hướng ngày càng tiêu cực hơn Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC năm 2007, trong số các nguyên nhân gây ra BĐKH toàn cầu thì
có đến 90% là xuất phát từ các hoạt động của con người
Trang 13Để phục vụ cho hoạt động sản xuất và phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, con người đã “xả” vào bầu khí quyển một lượng lớn các khí thải độc hại, trong đó lượng CO2 do con người thải ra là một trong những thủ phạm chính làm Trái đất nóng lên, dẫn đến sự thay đổi về khí hậu Theo thông báo thường niên được Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) công bố ngày 24/11/2009, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính chủ yếu đã lên tới mức cao nhất chưa từng có kể từ giai đoạn tiền công nghiệp [82] Mức
độ tập trung bức xạ bắt nguồn từ khí thải đã tăng 27,5% trong giai đoạn năm 1990 –
2009 (riêng giai đoạn 2008 – 2009 tăng 1,0%)
Hình 1.2 Khí thải từ các khu công nghiệp và phương tiện giao thông (Nguồn
Internet) Tháng 12/2010, Công ty tư vấn quản lý rủi ro hàng đầu thế giới Maplecroft
(Anh) đã công bố bảng xếp hạng 10 quốc gia thải nhiều KNK nhất trên thế giới [69], trong đó 4 quốc gia dẫn đầu lần lượt là Trung Quốc, Mỹ, Nga và Ấn Độ Tính đến năm 2007, trung bình mỗi người Mỹ thải 19,8 tấn m2 CO2 /năm; còn mỗi người Trung Quốc phát thải 4,7 tấn m2 trong khi người Ấn Độ là 1,2 tấn m2 Mặc dù mức phát thải khí tính theo đầu người của Trung Quốc thấp hơn Mỹ năm 2007, nhưng các năm gần đây Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nước có tổng lượng khí
thải nhà kính lớn nhất trên thế giới (khoảng 6.018 triệu tấn/năm)
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hoạt động phát thải này của con người, ngoài hoạt động sản xuất công nghiệp, còn do các hoạt động khác như:
- Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã phát thải 70 - 90% lượng CO2 vào khí quyển (đóng góp 46% vào tiềm năng nóng lên toàn cầu) Ngoài ra, lượng CO2 còn
do hoạt động nông nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng), khai hoang và công nghiệp
- Sự xuất hiện ngày càng nhiều các phương tiện giao thông ở các thành phố lớn trên thế giới Khoảng 10 năm trở lại đây, số lượng các phương tiện giao thông gia
Trang 14tăng nhanh chóng (nhất là ô tô, xe máy) và phần lớn đều sử dụng động cơ đốt trong
là xăng hay dầu điezen Khí thải của những động cơ này đều là các chất gây ô nhiễm khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và là nguyên nhân dẫn đến BĐKH
- Dân số tăng nhanh cũng là nguyên nhân dẫn đến BĐKH Hiện trên Trái đất có gần 7 tỷ người sinh sống; dự đoán tới năm 2050 sẽ tăng lên hơn 9 tỷ người Dân số đông, không gian sinh sống chật hẹp sẽ kéo théo đó là sự gia tăng của hàng loạt các nhu cầu sinh hoạt đang đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống của con người
1.2.2 Một số biểu hiện của BĐKH
1.2.2.1 Hiệu ứng nhà kính
a Định nghĩa
Hiệu ứng nhà kính là sự nóng lên của Trái đất do sự có mặt của các KNK Là kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa Trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất
b Nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính
Nguyên nhân chủ yếu là sự mất cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống Trái đất và lượng bức xạ nhiệt trở lại của mặt đất vào vũ trụ Bức xạ nhiệt của mặt trời là bức xạ sóng ngắn nên dễ dàng xuyên qua tầng ozone và lớp khí CO2
để đi tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ Trái đất vào vũ trụ là bức sóng dài, không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị khí CO2 + hơi nước trong khí quyển hấp thụ Lớp khí CO2 này có tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng phát ngược vào vũ trụ của Trái đất trên quy mô toàn cầu Hiện tượng này làm cho khí quyển và bề mặt Trái đất ấm lên, và được gọi là hiệu ứng nhà kính
Hình 1.3 hiệu ứng nhà kính (Nguồn Internet)
Trang 15Hiệu ứng nhà kính có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh khí hậu trái đất, làm cho Trái đất trở nên ấm áp hơn và giúp duy trì sự sống của con người Theo tính toán của các nhà khoa học, nhờ có hiệu ứng nhà kính, Trái đất mới có nhiệt độ trung bình đạt 15oC, thay vì -18oC trong trường hợp không có hiệu ứng nhà kính Tuy nhiên, nếu hàm lượng cacbon đioxit càng tăng thì khả năng bắt giữ nhiệt của Trái đất càng cao, điều này giải thích tại sao Trái đất lại ấm dần lên Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự CO2 => CFCS => CH4 => O3 =>NO2
c Các khí nhà kính
Khí cacbonic (CO 2 ): Là một trong những sản phẩm của quá trình hô hấp và
đóng vai trò quan trọng trong qúa trình quang hợp của các mô thực vật Cacbonic là loại khí chiếm 1/2 khối lượng các KNK và đóng góp 60% trong việc làm tăng nhiệt
độ khí quyển Nồng độ khí cacbonic tăng chủ yếu do các hoạt động như: việc đốt các loại nhiên liệu hóa thạch như than, dầu khí; phá rừng, phát hoang để canh tác,
Khí mêtan (CH 4 ): Nguồn khí mêtan được sản sinh chủ yếu từ sự phân giải
yếm khí của cây cỏ trong các đầm lầy, ruộng lúa, phân súc vật, các bãi rác thải v.v Khí mêtan cũng thoát ra từ các mỏ than, các giếng khoan dầu hoặc do rò rỉ các ống dẫn khí Mêtan (CH4) là chất khí gây hiệu ứng nhà kính với mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiều lần so với khí cácbon đioxit (CO2), và quyết định khoảng 1/5 mức độ gia tăng của hiệu ứng nhà kính dẫn đến BĐKH toàn cầu
Ozone trong tầng đối lưu (O 3 ): Ozone là phân tử chứa 3 nguyên tố Oxi (O3),
được tập trung nhiều nhất trong khí quyển ở các độ cao từ 15 – 40 km Tầng ozone
che chở cho Trái đất chống lại sự xâm nhập của các tia tử ngoại Chính vì thế, nếu tầng ozone bị phá hủy sẽ gây tác hại rất lớn đối với các sinh vật trên trái đất [89]
Hình 1.4: Vị trí tầng ozone trong khí quyển (Nguồn Internet)
Ôxit nitơ (N 2 O): Ôxit nitơ (N2O) cũng là một loại KNK Từ những mẫu bọt khí lấy được trong băng, người ta thấy rằng nồng độ N2O trong khí quyển đã tăng
Trang 16khoảng 8% từ đầu thế kỷ đến nay và hiện đang tiếp tục tăng cao Nguồn N2O chủ yếu hiện nay là do đốt các loại nhiên liệu, sử dụng phân hóa học, sản xuất các chất
hóa học như các nhà máy làm nilông
Chlorofluorocarbons (CFCs): Khác với các KNK tự nhiên khác, chất CFCs
hoàn toàn là sản phẩm do con người tạo ra CFCs được sản xuất từ những năm 1930
và được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật làm lạnh như: tủ lạnh, điều hòa không khí, các loại máy lạnh, các bình xịt mỹ phẩm, làm chất tẩy rửa linh kiện điện tử v.v Từ những năm 70 các nhà khoa học đã phát hiện ra nguyên nhân chính gây nên sự suy giảm ozone là những hóa chất nhân tạo trong phân tử có chứa clo, điển hình là cloflocacbon (CFC), chiếm tới 70% các hóa chất nhân tạo phá hủy tầng ozone do con người tạo ra phát thải vào khí quyển Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, clo phản ứng rất nhanh với ozone để tạo thành clorine ôxit (ClO), sau đó ClO lại phân ly thành Cl nguyên tử và ôxy, Cl lại tiếp tục phản ứng với ozone,…Quá trình này tạo thành một chuỗi phản ứng, trong đó mỗi nguyên tử Cl có thể phá hủy hàng nghìn phân tử ozone Lượng ozone bị phá hủy nhiều tới mức đã xuất hiện lỗ thủng ở tầng ozone, các tia cực tím khi đó có cơ hội đi tới bề mặt Trái đất và gây các tác dụng xấu Chính vì đặc tính nguy hiểm này, nên CFCs được xếp vào danh
mục các chất bị cấm trong các hiệp ước về bảo vệ tầng ozone
Hơi nước (H 2 O): Hơi nước cũng có vai trò điều chỉnh nhiệt độ Trái đất thông
qua việc tạo thành mây Những đám mây do hơi nước tạo ra có thể ngăn cản bức xạ Trái đất thoát ra ngoài không trung và làm tăng nhiệt độ trái đất Tuy nhiên, không như các khí khác tồn tại lâu dài trong khí quyển, hơi nước hình thành và mất đi nhanh chóng khi tạo thành mây và mưa Hơn nữa, lượng hơi nước trong tự nhiên đã khá ổn định, nên vai trò của chúng trong việc làm tăng nhiệt độ toàn cầu không như các khí
khác
1.2.2.2 Nước biển dâng
Đây là hiện tượng mực nước của đại dương trên toàn cầu tăng cao (trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão…) [14] Nước biển dâng cao là biểu hiện rõ nhất của việc nóng lên toàn cầu Các yếu tố góp phần khiến mực nước biển dâng cao bao gồm: sự dãn nở nhiệt do lớp bề mặt đại dương nóng lên; sự bổ sung nước cho các đại dương do các vùng có băng tuyết tan chảy, như ở Hymalaya, Alaska, Patagogia…và các mũ băng ở vùng cực, như Nam Cực và Greenland; sự trao đổi
Trang 17nước với các nguồn trên lục địa như nước ngầm, các đập nước, hồ chứa…Số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON trong giai đoạn 1993-2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu là 3,1± 0,7mm/năm, nhanh hơn đáng kể so với thời kỳ 1961 – 2003 [34] Trong thế kỷ XX, mực nước biển tại Châu Á dâng lên trung bình 2,4 mm/năm, riêng thập niên vừa qua là 3,1 mm/năm, dự báo sẽ tiếp tục dâng cao hơn trong thế kỷ XXI khoảng 2,8mm - 4,3 mm/năm
Hình 1.5: Hệ quả của băng tan và nước biển dâng (Nguồn Internet)
Nước biển dâng cao đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho các quốc đảo nhỏ và tất
cả các vùng trũng trên thế giới Theo dự đoán, trong số 33 thành phố có quy mô dân
số 8 triệu người (vào năm 2015) sẽ có ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần, khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển
và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt, một số loài động vật ăn thịt (gấu bắc cực )
sẽ không còn nơi trú ẩn Ngoài ra, nước biển dâng cao còn kèm theo hiện tượng xâm thực mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, đe dọa nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt của các quốc gia Cũng theo
dự đoán trên, danh sách các quốc gia có nguy cơ bị thu hẹp lãnh do nước biển dâng bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam, Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan
1.2.2.3 Mưa acid
Mưa axit là hiện tượng nước mưa có độ pH dưới < 5.6 (Khi độ pH nhỏ hơn 5.6, nước có tính axit, ăn mòn các vật dụng bằng kim loại, ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, gây đau bụng, ói mửa)
Trang 18
Hình 1.6: Chu trình hình thành và hệ quả của mƣa acid (Nguồn Internet)
Nguyên nhân của hiện tượng mưa axit là sự gia tăng năng lượng axit của lưu huỳnh và nitơ ở trong khí quyển do hoạt động của con người gây nên Ước tính khoảng 80% oxit sulfur là do hoạt động của các thiết bị tạo năng lượng, 15% do hoạt động đốt cháy của các ngành công nghiệp khác nhau và 5% từ các nguồn khác Còn đối với oxit nitơ, 1/3 là do hoạt động của các máy năng lượng, 1/3 khác là do hoạt động của đốt nhiên liệu để chuyển hóa thành năng lượng và phần còn lại cũng do các nguồn khác nhau Mưa axit ảnh hưởng xấu tới nguồn nước trong các sông, ao, hồ; gây ra tác động nghiêm trọng tới đất trồng; làm giảm tuổi thọ của các công trình xây dựng và làm lở loét bề mặt bằng
đá của các công trình
1.2.2.4 Cháy rừng
Nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng cao là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hàng loạt các vụ cháy rừng trên diện rộng trong suốt mấy thập kỷ qua Các đám cháy rừng và than bùn giải phóng carbon dioxide vào khí quyển và thúc đẩy quá trình ấm lên của khí hậu và làm gia tăng các vụ cháy rừng
Hình 1.7 Cháy rừng (Nguồn Internet)
Trong giai đoạn 2008-2010, trên thế giới đã xảy ra rất nhiều vụ cháy rừng nghiêm trọng, gây hậu quả nặng nề cho môi trường và nền kinh tế của các quốc gia Nằm trong danh sách các quốc gia bị cháy rừng nghiêm trọng có Nga, Canada và
Úc Tại Nga, cháy rừng và than bùn bắt đầu bùng phát cao điểm vào cuối tháng
Trang 197/2010, sau hơn một tháng nước Nga phải chịu cảnh hạn hán và nắng nóng lên đến mức kỷ lục trong vòng 130 năm trở lại đây Tại khu vực thủ đô Matxcơva, các đám cháy rừng và than bùn cũng xuất hiện ở khắp nơi, khói bụi từ các đám cháy tràn vào thành phố khiến mức độ ô nhiễm ở thành phố này cao gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn
an toàn Những đám cháy rừng này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản trên toàn bộ lãnh thổ nước Nga Tổng thiệt hại mà nước Nga phải chịu ước tính
lên đến 15 tỷ USD
Như vậy BĐKH và cháy rừng có mối quan hệ mật thiết với nhau: theo một cảnh báo của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), nếu như BĐKH là nguyên nhân sâu xa gây nên những trận cháy rừng thì đáng sợ hơn, chính những đám cháy trên quy mô rộng lại trở thành chất xúc tác đẩy nhanh hơn quá trình BĐKH trên toàn thế giới
1.2.2.5 Bão, lũ lụt và hạn hán
a Bão
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cực trị Là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp khơi sâu
Hình 1.8: Bão, lũ lụt và hạn hán (Nguồn Internet)
Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng dồi dào hơi nước: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đẩy lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp được hình thành Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh
ở các vĩ độ cao, bão mất nguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnh hưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi
Trong những năm vừa qua, do ảnh hưởng của BĐKH, hàng loạt các trận bão lớn đã xảy ra trên khắp thế giới, gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và của Năm
2010, một số quốc gia đã phải đối mặt với các trận bão lớn với sức phá hủy nghiêm
Trang 20trọng như: bão chanchu, Nargis mới xảy ra tại Myanmar, siêu bão Megi tại Philipines, Việt Nam…Ngoài ra, năm 2010 cũng là năm đánh dấu sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn của các cơn bão mặt trời Bão mặt trời hay gió mặt trời là một luồng hạt điện tích giải phóng từ vùng thượng quyển của các ngôi sao Bão mặt trời với các biểu hiện của nó như: bão từ, hiện tượng cực quang…có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe con người Khi bão từ hoạt động mạnh, tác động lên hệ thống thần kinh thực vật, ảnh hưởng đến dịch thể trong cơ thể (vì 70% cơ thể là nước) sẽ dẫn tới ảnh hưởng tới hệ tim mạch, tới nhịp tim, gây đau đầu, tăng huyết áp…
Hình 1.9: Bão mặt trời (Nguồn Internet)
Viện vật lý địa cầu nhận định, đến năm 2012, hoặc 2013, cường độ của các trận bão mặt trời đạt mức lớn nhất từ trước đến nay với 700 nT Trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 40 đến 50 trận bão từ Một số nhà khoa học Mỹ còn cho rằng, toàn bộ cư dân trên Trái đất sẽ không có ai tránh được những ảnh hưởng xấu của cơn bão này Daniel Becker, chuyên gia khí hậu vũ trụ của Đại học Colorado cho
rằng: "Hiện tại, chúng ta đang ngày càng tiến đến gần hơn khả năng xảy ra các loại
tai nạn này Nếu như con người không có sự chuẩn bị đầy đủ để đối phó với những cơn bão Mặt trời có khả năng sẽ phát sinh trong tương lai, thì loại bão vũ trụ này
có thể cắt đứt sự cung ứng điện, sóng điện thoại, thậm chí cả hệ thống cung cấp nước cho xã hội loài người"
Trang 21Nam Á này, với thiệt hại kinh tế ước tính lên tới hơn 40 tỉ đôla Lũ lụt cũng xảy ra tại châu Âu trong khoảng 10 năm trở lại đây đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng Không chỉ riêng Pakistan, nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Mexico, Venezuelia, Việt Nam… cũng phải gánh chịu những trận lụt gây thiệt hại lớn về người và của
c Hạn hán
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái
gây đói nghèo dịch bệnh Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn hán:
- Về khách quan: Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường
xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt Mưa ít, lượng mưa không đáng kể trong một
thời gian dài dẫn đến tình trạng khô hạn và bán khô hạn
- Về chủ quan: Nguyên nhân chủ yếu là xuất phát từ các hoạt động của con
người gây ra: tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm; việc trồng cây không phù hợp; công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng; chất lượng thiết kế, thi
công công trình chưa được hiện đại hóa
Nhà khoa học Aiguo Dai thuộc Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia
Mỹ vừa công bố báo cáo nghiên cứu của mình, theo đó, Mỹ và nhiều nước đông dân khác trên thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ hạn hán nghiêm trọng và dai dẳng trong những thập kỷ tới Những phân tích chi tiết của nhà khoa học này cho hay nhiệt độ ấm dần lên cùng với BĐKH sẽ tạo ra tình trạng khô hạn ngày càng tăng tại nhiều nơi trên toàn cầu trong 30 năm tới và đến cuối thế kỷ này, với một số khu vực
có thể khô hạn ở mức chưa từng có trong lịch sử đương đại
Trang 22mạc Xa-hara, nơi đại bộ phận dân chúng đều sống trong cảnh nghèo khổ và phải đối mặt với tình trạng xâm thực không thể cưỡng lại của cát bụi Các nước Trung Á như Kazakhstan, Mông Cổ, Trung Hoa, Tajikistan, Afghanistan cũng bị ảnh hưởng nặng của hiện tượng sa mạc hóa
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI TỪNG LĨNH VỰC
1.3.1 Tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu
BĐKH có tác động trực tiếp đến tự nhiên và con người Trong khoảng một thế kỷ trở lại đây, nhiệt độ Trái đất đã tăng 0,74oC, cùng với đó là một loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan đang diễn biến ngày càng phức tạp và gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với các quốc gia trên thế giới Có thể nói, năm 2009-2010 đi qua để lại rất nhiều
“điểm đen” về thiên tai và những biến động của khí hậu đối với trái đất Ngay từ đầu năm là trận động đất kinh hoàng ở Haiti, tiếp theo là các cơn địa chấn dữ dội ở Chile,
Trung Quốc, lũ lụt ở Pakistan và sự phun trào của núi lửa Merapi (Indonesia) năm
2010 cũng là năm thế giới xác lập nhiều kỷ lục về mức độ nắng nóng kinh hoàng ở các
quốc gia Mặc dù BĐKH là hiện tượng toàn cầu, nhưng hậu quả của nó sẽ không đựợc phân bổ đều giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới BĐKH sẽ tác động mạnh mẽ lên hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Cụ thể:
a Tác động của BĐKH đối với hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học
Các loài động, thực vật qua quá trình tiến hoá trên Trái đất hàng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên Trái Đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất và làm tăng độ phì nhiêu đất
Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người và là nguồn gen phong phú để tạo
ra các giống loài mới
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học gần đây đã chỉ ra rằng BĐKH đang làm thay đổi cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái và làm suy giảm đa dạng sinh học Theo tính toán, trên thế giới có 492 chủng quần thực vật có tính chất di truyền độc đáo đang
bị đe doạ tuyệt chủng Sự đe doạ không chỉ riêng đối với động và thực vật hoang dại
mà trong nhiều thập kỷ gần đây với cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, công nghiệp hoá đã làm biến mất nhiều giống loài địa phương quý hiếm, 1.500 giống lúa địa phương đã bị tuyệt chủng trong 20 năm qua ở Inđônêxia Số liệu thống kê của Hiệp hội
Trang 23bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) ghi nhận: có17.291 trong tổng số 47.677 loài trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng Trong đó gồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xương sống và 70% loài thực vật Nguyên nhân của sự tuyệt chủng và suy giảm nghiêm trọng về loài là do tác động của BĐKH, ô nhiễm và sự lây lan của các loài ngoại lai Các nhà khoa học cũng cho rằng, sau năm 2100, khả năng thích ứng của các loài sẽ không còn nữa trước những biến đổi và tác động sâu sắc của BĐKH Các hệ sinh thái sẽ phải đối mặt với nồng độ khí CO2 rất cao kể từ 650.000 năm trở lại đây và nhiệt độ trung bình lớn nhất trong 740.000 năm qua Nếu nhiệt độ tăng từ 1,50C đến 2,50C thì sẽ có khoảng 20-30% loài động thực vật sẽ bị tuyệt chủng
b Tác động của BĐKH đến nông, lâm, ngư nghiệp
* Đối với nông nghiệp: Nông nghiệp là đối tượng chịu tác động trực tiếp của khí
hậu Nổi trội lên là vai trò của bức xạ mặt trời Thông qua quá trình quang hợp, bức
xạ mặt trời quyết định quá trình phát triển và hình thành năng suất cây trồng Những thiên tai khí tượng như bão, lốc tố, mưa lớn gây ngập úng, hạn hán tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, song lại có thể gây thảm họa đối với không chỉ sinh trưởng, năng suất cây trồng mà cả sản phẩm sau thu hoạch.…
* Đối với lâm nghiệp: Thảm thực vật rừng là sản phẩm của sự tương tác và tiến
hóa lâu dài giữa các các yếu tố tự nhiên, trong đó khí hậu đóng vai trò chủ đạo BĐKH với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến thảm thực vật
rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau như: Phân bố ranh giới
các kiểu rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể bị dịch chuyển; nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào sẽ thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hóa của cây xanh Đặc biệt, hàm lượng CO2 tăng sẽ góp phần làm tăng sự phát triển hệ sinh thái rừng Tuy vậy, do độ bốc thoát hơi tăng lên nên độ ẩm đất sẽ giảm, kết quả là chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thể sẽ giảm đi; nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như: trầm hương, hoàng đàn, pơmu, gõ đỏ, lát hoa, có thể bị suy kiệt; cháy rừng, sâu bệnh
phá hoại cây rừng phát triển…
* Đối với thủy sản: BĐKH sẽ làm cho nước mặn lấn sâu vào lục địa, làm mất
nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt; khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm
Trang 24quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy Chất lượng môi trường sống của nhiều loại thủy sản bị xấu đi Do nhiệt độ tăng, một số loài sẽ di chuyển đi nơi khác hoặc xuống sâu hơn, làm thay đổi cơ cấu phân bố thủy sinh vật theo chiều sâu Thêm vào đó, cường độ mưa lớn, nồng độ muối giảm đi 10 - 20% trong một thời gian dài (có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần) làm cho sinh vật hệ sinh thái nước
lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò, trai ), bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi Bên cạnh đó, nước biển dâng cao cũng ảnh hưởng xấu đến việc nuôi trồng thủy sản và quy hoạch đô thị ven biển Khoảng 2/3 các loài cá được con người đánh bắt và dùng làm thực phẩm phụ thuộc vào các hệ sinh thái ven bờ Các đầm phá nuôi trồng thủy sản và các cảng biển sẽ bị ngập nặng
c Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước
BĐKH có những ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến tài nguyên nước Trong mối quan hệ với nhu cầu sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt xã hội và phát triển kinh tế, BĐKH như một “chất xúc tác” làm cho các vấn đề an ninh nguồn nước trở nên nghiêm trọng hơn
- BĐKH làm thay đổi lượng mưa và phân bố mưa ở các vùng khác nhau
- Những thay đổi về mưa dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các sông Dòng chảy sông tăng từ 10-40% vào giữa thế kỷ ở các vùng có vĩ độ cao và nhiệt đới ẩm ướt (Đông Á, Đông Nam Á) và giảm 10-30% ở những khu vực khô ráo
- BĐKH làm tăng các thiên tai liên quan đến nước và khuếch đại nguy cơ thiếu nước do sự tăng dân số, chuyển đổi kinh tế và sử dụng đất (bao gồm cả đô thị hóa) Ở nhiều nước trên thế giới, từ nay đến năm 2080 được dự đoán sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước trầm trọng do BĐKH Hiện nay có khoảng trên 1,7 tỷ người, tức là gần 1/3 dân số thế giới sống ở các quốc gia thường xuyên căng thẳng về nước BĐKH cùng với sự gia tăng dân số có thể làm cho con số trên đây tăng lên đến 5 tỷ người Như vậy, sự cạn kiệt tài nguyên nước do tác động của BĐKH sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy khác nhau Nhưng có lẽ, hệ lụy đáng lo ngại nhất đó là nguy cơ sẽ xảy
ra các cuộc xung đột giữa các quốc gia có sông, hồ hay các vùng nước biên giới với nhau
d Tác động của BĐKH đến con người
Tác động của BĐKH đến sức khỏe con người diễn ra tương đối phức tạp Có
Trang 25những tác động trực tiếp (thông qua các quá trình trao đổi trực tiếp giữa môi trường xung quanh với cơ thể) và những tác động gián tiếp (như: thực phẩm, nhà ở, côn trùng…)
Tăng phát thải các KNK, đặc biệt là tăng các chất CFCs dẫn đến những thay đổi của ozone trong khí quyển Theo Tổ chức Y tế thế giới - WHO (1990), thay đổi này
sẽ tác động tới sức khỏe con người ở ba dạng: sinh học, hóa học và BĐKH Giảm tầng ozone bình lưu sẽ làm tăng bức xạ tử ngoại ở bước sóng 290-325nm, có quan
hệ đến sức khỏe, làm tăng ung thư da cả 2 thể: không hắc tố (non-melanoma skin cancer (NMSC)) và hắc tố ác tính (malignant melanoma (MM)); tăng các bệnh về mắt trước hết là đục thủy tinh thể và có thể làm thay đổi phản ứng miễn dịch BĐKH cũng là nguyên nhân gây ra nhiều thiệt hại thương vong cho con người Năm 2010 là năm xảy ra nhiều trận động đất nhất trong nhiều thập kỷ trở lại đây với 20 trận động đất xảy ra từ đầu năm đến cuối năm Các trận động đất đều ở mức cao từ 7 độ richter trở lên, đơn cử như động đất ở Chilê ngày 27/2/2010 (8,8 độ richter), Nhật Bản ngày 11/3/2011 (9 độ richter) làm thiệt mạng hàng trăm nghìn người, thiệt hại về kinh tế ước tính lên đến hàng tỷ USD
Hình 1.10: Động đất ở Chilê và sóng thần ở Nhật Bản (Nguồn Internet)
Ngoài ra, BĐKH cũng tác động sâu sắc lên tình trạng di cư và mất chỗ ở của con người, làm xuất hiện nhiều hơn những người tị nạn vì môi trường, đe dọa đến
an ninh con người trên toàn thế giới Ước tính đến năm 2050, khi dân số thế giới đạt đến đỉnh, sẽ có khoảng 9 tỷ người sống trên Trái đất, trong đó phần lớn dân số sẽ sống ở các khu đô thị với những dấu chân môi trường tan hoang Trong những thập
kỷ tới đây, BĐKH sẽ khiến hoặc buộc hàng triệu người phải rời bỏ nhà cửa để tìm kiếm sự an toàn và nguồn sinh kế giúp họ tồn tại trong những khu vực khác nhau trên thế giới Đứng trước nguy cơ này, ngày 13/4/2011 LHQ đã giới thiệu Báo cáo toàn cầu về định cư con người 2011 của Chương trình định cư con người Liên hợp
Trang 26quốc với tên gọi “Thành phố và BĐKH” tại Hà Nội Báo cáo đã xem xét mối quan
hệ giữa đô thị hóa và vấn đề BĐKH, những ảnh hưởng của nó tới cư dân đô thị và những chính sách để ứng phó với BĐKH ở khu vực đô thị Số liệu báo cáo này cũng cho thấy, đến năm 2050 sẽ có đến 200 triệu người trên thế giới phải di dời do BĐKH và ước tính đến năm 2070, hầu hết các thành phố nằm trong Top 10 có nguy
cơ ngập lụt đều thuộc các quốc gia đang phát triển (đặc biệt ở Trung Quốc, Ấn Độ
và Thái Lan)
1.3.2 Tác động của BĐKH đối với một số quốc gia và Việt Nam
BĐKH tác động đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng do vị trí địa lý và cấu trúc địa hình khác nhau nên mức độ tác động của BĐKH đối với mỗi nước là khác nhau Cùng được xếp vào nhóm các quốc gia đang phát triển, và là những nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH toàn cầu với Việt Nam, trong những năm qua Trung Quốc, Bangladet và Philippines là những quốc gia trong khu vực châu Á phải đối mặt với những hậu quả nặng nề nhất từ BĐKH Những tác động cực đoan của BĐKH đối với các quốc gia này đã góp phần vẽ lên một bức tranh thực sự sống động và tồi tệ nhất của thảm họa BĐKH đối với loài người
1.3.2.1 Trung Quốc
Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc nổi lên như một công xưởng của thế giới Tăng trưởng kinh tế nhanh song hành với đói nghèo giảm mạnh, làm chỉ số phát triển con người cao hơn Tuy nhiên, Trung Quốc cũng là quốc gia rất dễ bị tổn thương do các biến đối của khí hậu
Tác động đối với nguồn nước: Là quốc gia đông dân nhất thế giới với hơn 1,3 tỷ
người, có thể nói hạn hán và khan hiếm nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt đang trở thành một gánh nặng thực sự đặt lên vai Chính phủ Trung Quốc Theo Chương trình BĐKH quốc gia của Trung Quốc, tình hình khan hiếm nước có xu hướng tiếp tục gia tăng ở phía bắc Trung Quốc (đặc biệt là ở khu tự trị Ninh Hạ), nơi mà tài nguyên nước bình quân đầu người có thể sẽ giảm xuống trong tương lai [88,89] Ngoài ra, do sự nóng lên của bề mặt trái đất, nền nhiệt độ tại Trung Quốc trong những năm vừa qua đã đạt ở mức kỷ lục Tháng 6/2010 Trung tâm khí tượng quốc gia Trung Quốc (NMC) thông báo, nhiệt độ tại thủ đô Bắc Kinh, Trùng Khánh và các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn
Trang 27Tây,…đều ở mức trung bình từ 35-39°C, có nơi 40-45°C Nhiều nơi nước hồ và sông
biến thành màu xanh và đỏ do tảo phát triển mạnh trong thời tiết nắng nóng
Tác động đối với kinh tế ven biển: Trong 50 năm qua, tốc độ nước biển dâng ở
Trung Quốc là 2,5mm/năm; Khu vực sông băng ở Tây Bắc Trung Quốc bị thu hẹp 21% và độ dày của đất đóng băng ở cao nguyên Thanh Hải – Tây Tạng giảm tối
đa từ 45m trong 50 năm gần đây [83,89] Mực nước của một số cao nguyên cao, hồ nội
địa đã tăng; sản xuất đồng cỏ ở Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc và các tỉnh phía
Nam đã giảm đáng kể [83] Kể từ năm 2004, tình trạng hạn hán ở lưu vực sông Châu
Giang trở nên nghiêm trọng hơn; Mực nước sông ngòi phổ biển ở mức thấp; Xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ đe doạ an ninh nguồn nước cấp cho các thành phố Ma Cao, Trung
Sơn và Quảng Châu
Bảng 1.11 Ước tính thiệt hại do nước biển dâng tại các vùng châu thổ của Trung Quốc
[89]
Khu vực Thiệt hại ước tính
năm 2000
Thiệt hại ước tính năm 2030
Thiệt hại ước tính năm 2000
Thiệt hại ước tính năm 2030
(nước biển dâng 30 cm) (nước biển dâng 1m)
Châu thổ sông Châu Giang 22,6 tỷ
NDT 56 tỷ NDT 104,4 tỷ
NDT
262,5 tỷ NDT Châu thổ sông Trường
Giang với bờ biển Giang Tô
và phía bắc bờ biển Chiết
Giang
3,8 tỷ NDT 9,6 tỷ NDT 655,6 tỷ
NDT
1599,5 tỷ NDT
Châu thổ sông Hoàng Hà và
bờ biển Laizhou và Bột Hải
109,4 tỷ NDT 274,6 tỷ NDT 118,1 tỷ
NDT 296,5 NDT
Tác động đối với nông nghiệp và chăn nuôi [80]: BĐKH đã có những tác động
bất lợi đối với nông nghiệp và ngành chăn nuôi của Trung Quốc Hạn hán và nhiệt độ cao tại một số khu vực đã làm suy giảm sản lượng và chất lượng của các sản phẩm nông sản Dự báo trong tương lai, các tác động của BĐKH sẽ làm suy giảm trực tiếp năng suất của ba loại cây trồng chính đó là: lúa mì, lúa và ngô; làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp; tăng tốc phân hủy của các thành phần hữu cơ trong đất; mở rộng phạm vi các loại bệnh dịch và sâu hại đối với cây trồng; đẩy mạnh sa mạc hóa các đồng cỏ
Tác động đối với lâm nghiệp và hệ sinh thái tự nhiên: BĐKH đe dọa trực
tiếp đến hệ sinh thái tự nhiên ở Trung Quốc, như: sự phân bố địa lý của các loại
Trang 28rừng lớn sẽ chuyển dịch về phía bắc; khu vực trồng các loài cây gỗ lớn và một số loài cây quý hiếm có khả năng bị thu hẹp; diện tích của các sông băng và đất đóng băng dự kiến sẽ giảm nhanh hơn Ước tính sông băng ở phía tây Trung Quốc sẽ giảm 27,7% vào năm 2050; mở rộng phạm vi phát sinh ổ dịch bệnh và sâu hại rừng, tần suất các vụ cháy rừng và các khu vực dễ bị tổn thương do nhiệt độ tăng cao sẽ xuất hiện nhiều hơn
Tác động đối với các lĩnh vực khác: BĐKH cũng sẽ tác động sâu rộng đến nền
kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác của Trung Quốc BĐKH có khả năng kích thích sự xuất hiện và lây lan của một số bệnh như tim mạch, sốt rét, sốt xuất huyết, và say nóng, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người BĐKH cũng đe dọa nghiêm trọng đến cơ
sở hạ tầng, giao thông của Trung Quốc Theo bản “Báo cáo Năng lượng 2008” của các
chuyên gia cố vấn Trung Quốc, đến năm 2020, việc tiêu thụ năng lượng hóa thạch hàng năm ở Trung Quốc sẽ thải ra một lượng CO2 tương đương với khoảng 2,5 tỉ tấn khí cacbon nguyên chất và có thể lên đến 2,9 tỉ tấn, tùy thuộc vào điều kiện phát triển và công nghệ trong tương lai Tới năm 2030, lượng khí thải hằng năm có thể sẽ đạt tới 3,1 tỉ tấn và thậm chí lên đến 4 tỉ tấn So với lượng khí thải cacbon toàn cầu năm 2007 là khoảng 8,5 tỉ tấn thì
đó là một con số đáng lo ngại [65]
1.3.2.2 Bangladesh
Bangladesh là một trong những vùng châu thổ lớn trên thế giới với 230 hệ thống sông ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước Trong đó lớn nhất là hệ thống sông Hằng, Brahmaputra và Meghna Nuôi trồng thuỷ sản, nông nghiệp, nuôi tôm, sản xuất muối và du lịch là các hoạt động kinh tế chính ở vùng ven biển Bangladesh Bangladesh là nước tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thiếu vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng cần thiết, thiếu năng lực thể chế, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Những đặc điểm này khiến cho Bangladesh rất dễ tổn thương trước các ảnh hưởng của BĐKH
Tác động của BĐKH đối với con người: Theo đánh giá của Chương trình
Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 2007, mực nước biển dâng 1m sẽ nhấn chìm 18% diện tích đất, trực tiếp đe doạ 11% dân số Tác động của mực nước sông do mực nước biển dâng cao có thể ảnh hưởng đến 70 triệu người Nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng tới diện tích rộng lớn vùng ven biển và vùng đồng bằng ngập lũ Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ, gây ra
Trang 29dòng người tị nạn môi trường ngày càng nhiều hơn, bệnh dịch, nghèo đói sẽ phát sinh nhiều hơn [4,82]
Tác động của BĐKH đối với nông, lâm, ngư nghiệp: Nước biển dâng cao làm
thay đổi vị trí của các cửa sông, gây ra sự thay đổi lớn đối với các nơi cư trú và bãi đẻ của các loài sinh vật biển BĐKH còn đe dọa đến đa dạng sinh học của rừng ngập mặn Sundarbans, trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng trong Sách Đỏ của IUCN và là nơi cư trú cuối cùng còn sót lại của loài hổ Bengal [4,82] Theo đánh giá năm 2000 của
WB, Sundarbans sẽ bị nhấn chìm 15% khi nước biển dâng 10 cm, 40% khi nước biển dâng cao 25 cm và bị nhấn chìm hoàn toàn khi mực nước biển dâng 1m Mất Sundarbans đồng nghĩa với việc mất di sản, mất đi nguồn lợi thuỷ sản và sau cùng là mất đi hệ sinh
thái có năng suất cao
Bảng 1.12: Nước biển dâng và những ảnh hưởng tiềm tàng ở Bangladesh [4]
4 % diện tích đất (6.300 km2)
17,5 % diện tích đất (25,000 km2) Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm Patuakhali, Khulna và Barisal
Bão 1991 trận bão, lốc diễn
ra, với mức tăng 10% về cường độ, tốc độ gió tăng từ 225 đến 248 km/h;
Bão làm nước dâng 9,1m và làm mực nước biển dâng cao 1 m
7,4-Ngập lụt Ngập lụt tăng
20%
Tăng ngập lụt ở sông đồng bằng ngập lũ sông Meghna và sông Hằng
Ngập trong mùa mưa làm tăng thiệt hại mùa màng
Tăng diện tích bị ngập mức độ lũ lụt
Nông nghiệp Nước biển dâng
làm giảm 0,2%
sản lượng do ngập Giảm 1%
sản lượng so với mức hiện nay
Mực biển dâng cao 0,3m làm giảm 0,5% sản lượng do ngập Giảm 2% so với mức hiện nay
Lũ tàn phá làm thiệt hại trong nhiều năm
Trang 30ngập nước ven biển làm giảm diện tích các bãi
đẻ của nhiều loài cá, làm giảm số lượng quần thể
1.3.2.3 Philippines
Philippines – quốc gia vạn đảo với dân số hơn 90 triệu người - giờ đang phải đối mặt với hiểm họa từ sự gia tăng của các áp thấp nhiệt đới, thay đổi đột biến trong lượng mưa, nước biển dâng, và nhiệt độ tăng cao Hệ quả là, an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khỏe, cơ sở hạ tầng, năng lượng và đời sống xã hội của Philippines đều bị ảnh hưởng nặng nề
Tác động đến hệ sinh thái: Hai trong số các lĩnh vực chịu rủi ro nhất của
Philippines do BĐKH gây ra là mật độ che phủ rừng và giảm sút các nguồn tài nguyên biển và ven biển So với con số 27.5 triệu héc-ta rừng vào cuối thế kỷ XVI, diện tích rừng của Philippines hiện nay chỉ còn 7.2 triệu héc-ta, chiếm 24.27/% tổng diện tích đất của cả nước Ngoài ra, BĐKH cũng đe dọa nghiêm trọng đến các rặng san hô của Philippines - rặng san hô lớn thứ hai ở Đông Nam Á, ước tính trải dài trên một diện tích 26,000 ki-lô-mét vuông và là nơi sinh sống của 2,177 loài cá Hoạt động thủy sản từ các rặng san hô này đóng góp khoảng 4% vào GNP của cả nước và là lĩnh vực thu hút được một triệu lao động, chiếm 26% trong các hoạt động thủy canh, 6% tỉ trọng ngành thủy sản thương mại và 68% trong ngành thủy sản nội địa nói chung [3]
Tác động đến nông nghiệp: Nông nghiệp chiếm 1/5 trong toàn nền kinh tế
(18% GDP) và tạo ra 1/3 số lượng việc làm cho cả nước và cung cấp thức ăn và sự sống cho người dân BĐKH sẽ làm cho năng suất các cây trông của Philippines giảm sút nghiêm trọng, hạn hán kéo dài cũng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nông nghiệp
Tác động đến đa dạng sinh học: Các mối đe dọa do con người gây ra đối với
đa dạng sinh học bao gồm những tác động bất lợi của BĐKH tới các quần thể động vật và thực vật cả ở trên cạn cũng như dưới nước Ngay cả khi nhiệt độ chỉ gia tăng nhẹ thì cũng ảnh hưởng tới sự sống còn của các loài thực vật và động vật có sức chống chịu đựng với dải thay đổi nhiệt độ hẹp Nếu nhiệt độ tăng trong phạm vi từ
Trang 3130-400C rất có thể gây ra sự dịch chuyển nơi cư trú của các loài thực vật và động vật có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhiệt độ hẹp hơn đối với các loài khác mà
có khoảng thích nghi rộng hơn Ngoài ra sự tăng nhiệt độ từ 50-600C rất có thể còn
làm cho một số loài động vật và thực vật chết đi [3]
Tác động đến cơ sở hạ tầng: BĐKH đang đe dọa hệ thống cơ sở hạ tầng bởi
vì cơ sở hạ tầng thường xuyên tiếp xúc dài hạn với thời tiết và thường xuyên chịu đựng mưa, gió mạnh, sóng lớn; sự biến thiên nhiệt độ - điều có thể dẫn đến giảm nhanh sức chịu đựng của kim loại trong các kiến trúc và làm hỏng vật liệu xây dựng Các tác động xảy ra có thể sẽ rất xấu ở những khu vực mà hạ tầng cơ sở
không được thiết kế để thích ứng với ảnh hưởng của BĐKH [3]
Tác động đên dân số, sức khỏe và nhân khẩu: Theo tính toán của Cục thống
kê quốc gia Philippines (National Statistics Office-NSO) năm 2007, dân số của
Philippines là 88,574,614 người Trong đó, 62.7% số dân sống ở thành thị với tốc độ
phát triển đô thị là 3.45%, cao hơn nhiều so với tỉ lệ gia tăng dân số hàng năm là 2.28% Phân bố độ tuổi và tình trạng kinh tế cũng tác động xấu đến con người Nghèo đói, bệnh tật dẫn đến các luồng di cư ồ ạt của những người di cư vì môi trường Lĩnh vực y tế cũng chịu những gánh nặng do BĐKH gây ra, đó là những mối nguy hiểm liên quan đến thời tiết Sự bùng phát các loại bệnh dịch, tình trạng ốm yếu và tử vong (đặc biệt là tử vong do bệnh tiêu chảy), và sự tăng lên của các độc tố từ những loài tảo do sự gia tăng nhiệt độ nước biển…đang là mối nguy hại thực sự đối với người
dân Philippines
1.3.2.4 Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng
nề của BĐKH, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh) Với một quốc gia có đường bờ biển dài 3260km và hai đồng bằng châu thổ lớn như Việt Nam thì mối đe dọa do BĐKH
và nước biển dâng cao là vô cùng nghiêm trọng
a Một số biểu hiện của BĐKH tại Việt Nam:
- Về nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm (1958-2007), nhiệt độ trung bình năm của
Việt Nam đã tăng lên khoảng từ 0,5- 0,70C Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình
Trang 32của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8;0,4 và 0.600C Năm 2010, nhiệt độ tại thủ đô
Hà Nội đã đạt mức nắng nóng kỷ lục Nhiệt độ trung bình đo được vào tháng 6, 7 và
8 là 39,60C, chỉ đứng sau nhiệt độ đỉnh điểm ghi nhận được năm 1983 tại Hà Nội (40,40C) [15]
- Nước biển dâng: Năm 2003, Bộ TN&MT đã ước tính, mực nước biển ở Việt
Nam có thể dâng thêm 33,3cm vào năm 2050 và 45cm vào năm 2070 Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), đồng bằng Sông Cửu Long là nơi sẽ bị ngập chìm nặng nhất tại Việt Nam, theo đó: nếu mực nước biển dâng thêm 1m, sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% GDP, nếu nước biển dâng 3m sẽ
có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25% [15]
Bảng 1.13: Thống kê 10 tỉnh bị ngập nước nặng nhất theo kịch bản nước biển dâng
1m
Tỉnh Tổng diện tích
(km 2 )
Diện tích bị ngập (km 2 ) % bị ngập
- Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ
rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Đáng chú ý là, trong thời gian gần đây các đợt không khí lạnh tràn vào Việt nam có dấu hiệu rét đậm và rét hại hơn trước [15]
Trang 33- Lượng mưa: Theo dự đoán, lượng mưa mùa mưa ở các khu vực (trừ Trung
Bộ) đều tăng 0-5% vào năm 2050, riêng Trung Bộ là 0-10% Lượng mưa mùa khô ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có thể tăng hay giảm 5%, riêng Bắc và Trung Bộ tăng 0-5%
b Tác động của BĐKH đối với một số lĩnh vực cụ thể tại Việt Nam
Tác động đối với tài nguyên nước: Việt Nam nằm ở hạ lưu hai sông quốc tế
lớn là Sông Hồng và Sông Mê Kông Sông Hồng có diện tích lưu vực là 169.000km2, hàng năm chuyển ra biển lượng dòng ch 138 tỷ m3, sông Mê Kông có diện tích lưu vực là 795.000km2, hàng năm có lượng dòng chảy đổ vào Biển Đông
là 505 tỷ m3 Với tác động của BĐKH, dòng chảy năm của sông Hồng và sông Cửu Long sẽ giảm đi Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn Bên cạnh đó, hiện tượng nước biển dâng cũng làm nghiêm trọng hơn tình trạng nước mặn xâm thực, đặc biệt với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Năm 2010, tình hình xâm nhập mặn tiếp tục diễn ra tại nhiều khu vực khác nhau Tại Sóc Trăng và Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền khoảng từ 40-45km Trong khi đó toàn tỉnh Hậu Giang đã bị nhiễm mặn với
độ mặn từ 5-7% Mặc khác, tại một số khu vực hiện tượng triều cường có dấu hiệu dâng cao Từ năm 1990 đến nay, chỉ số mực nước triều tại Tp.Hồ Chí Minh liên tục tăng lên Năm 2010 tại trạm Phú An là 1,56 m; trạm Nhà Bè là 1,55m…triều cường làm nhiều tuyến đê bị vỡ, thiệt hại hàng chục ha diện tích mặt nước thả cá, nuôi tôm
sú và hàng trăm ha cây cảnh, tuyến đường… bị ngập sâu
Tác động đối với hệ sinh thái: Được đánh giá là một trong 12 trung tâm
nguồn gốc giống cây trồng và thuần hóa vật nuôi nổi tiếng trên thế giới Việt Nam
là quốc gia có sự đa dạng về hệ sinh thái với: hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển và
hệ sinh thái đất ngập nước Tuy nhiên, BĐKH có thể sẽ phá vỡ cấu trúc đa dạng sinh học, đồng thời trực tiếp tác động tới môi trường và hệ sinh thái của nước ta Cụ thể:
- Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, văn hóa
và khoa học sẽ không còn đa dạng, phong phú như trước, cùng với đó là sự biến mất của một số loài đặc hữu Từ lâu, Đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành và phát
triển các hệ sinh thái tự nhiên rừng Tràm U Minh, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven
biển, hệ sinh thái nông nghiệp Ngoài vai trò sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, các
Trang 34vùng đất ngập nước còn đóng vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc nước thải, điều hoà dòng chảy, điều hoà khí hậu địa phương, chống xói lở
bờ biển, ổn định mức nước ngầm…Theo đánh giá của WB đối với các sinh cảnh tự nhiên quan trọng ở Việt Nam, cứ 1m nước biển dâng lên có thể ảnh hưởng tới 78 (27%) sinh cảnh tự nhiên ở những mức độ nhất định, bao gồm 46 (33%) khu bảo tồn, 9 (23%) các vùng có đa dạng sinh học chủ chốt và 23 (21%) khu vực cả bảo tồn
và sinh cảnh chủ chốt
- Sự xâm nhập của các loài ngoại lai: do môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các loài động, thực vật xâm nhập Làm thay đổi cấu trúc gen, lấn áp, ức chế hoặc tiêu diệt các loài sinh vật bản địa, đưa đến phá vỡ cân bằng sinh thái
- Các vụ cháy rừng sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của các loài Theo thống kê của Cục kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2010, cả nước đã xảy ra 880 vụ cháy rừng, tăng 552 vụ, gấp gần 3 lần so với năm 2009, gây thiệt hại 5.618 ha rừng [15,18,49]
Tác động đối với thủy sản: Với 58% dân cư vùng ven biển có sinh kế chủ yếu
dựa vào nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản, có thể nói nuôi trồng thuỷ sản được coi là ngành đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm và cải thiện sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống ở các vùng nông thôn ven biển và hải đảo, nhưng đây cũng là ngành sẽ chịu nhiều thiệt hại nhất do BĐKH Do ảnh hưởng của thời tiết, mưa nhiều khiến cho dịch bệnh phát triển, nguồn nước thay đổi nhanh khiến cho các đối tượng nuôi khác như tôm hùm, rong sụn tại Khánh Hoà, Phú Yên bị chết, gây thiệt hại nặng nề cho người dân
Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp và an ninh lương thực: BĐKH có
tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy
cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng BĐKH ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm Bên cạnh đó, BĐKH còn gây ra nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp do bị ngập mặn, làm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa như: giảm sức nảy mầm của lúa, giảm chiều cao và khả năng đẻ nhánh, hệ rễ phát triển kém, giảm
sự cố định đạm sinh học và quá trình khoáng hoá đạm trong đất Trung bình năng suất lúa có thể giảm tới 20-25%, thậm chí tới 50% Ngoài ra, hạn hán kéo dài do
Trang 35mực nước sông Hồng liên tục xuống thấp kỷ lục cũng gây thiệt hại nặng nề đối với sản xuất nông, lâm nghiệp [15]
Tác động của BĐKH đối với sức khỏe con người: Nắng nóng, độ ẩm cao làm
gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em BĐKH dẫn đến gia tăng một số bệnh tật, nhất là các bệnh nhiệt đới, bệnh tim mạch, bệnh thần kinh và các bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và các vật chủ mạng bệnh Thiên tai như bão, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người Theo thống kê của Cơ quan đối tác giảm nhẹ thiên tai, từ năm 1989 đến 2008, số người chết và mất tích do thiên tai khí tượng ở Việt Nam lên đến 13.097 người, bình quân hàng năm có 655 người chết và mất tích, tương đương 8,7 người/triệu dân Tổng thiệt hại về tài sản trong giai đoạn trên lên đến 4.858 triệu USD, trung bình hàng năm là 240 triệu USD [33,36] Năm 2009, cả nước có 72.155 người bị sốt xuất huyết (trong đó có 58 trường hợp tử vong), số ca mắc tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2008, riêng Miền Bắc, số ca mắc tăng 4,6 lần so với cùng kỳ năm 2008 Bên cạnh đó, sẽ có sự dịch chuyển dòng di cư của nông dân ở các vùng ven biển bị tác động nặng nề do BĐKH
và nước biển dâng, làm cho các kế hoạch quy hoạch đô thị bị phá vỡ, trật tự xã hội
và môi trường đô thị sẽ bị xấu đi do sự gia tăng cơ học về dân số
Tác động của BĐKH tới một số lĩnh vực khác: Hiện tượng nóng lên toàn cầu
và nước biển dâng còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực khác như: giao
thông vận tải, xây dựng, du lịch, năng lượng…
Những phân tích trên đây chỉ ra rằng, BĐKH đã và đang gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Việc khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; nạn chặt, phá rừng bừa bãi; việc xả các khí thải độc hại không thương tiếc vào bầu khí quyển…đang làm xuất hiện những tổn thương tiêu cực đến môi trường khí hậu
và đe dọa trực tiếp sự tồn vong của loài người Điều này đặt ra nhiệm vụ thực sự quan trọng và cấp thiết đối với cộng đồng quốc tế, làm sao để giảm thiểu các tác động của BĐKH đang đổ dồn lên chúng ta?
Trang 36CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
“Chúng ta đã mất 30 năm để tranh cãi xem có đúng là Trái đất đang ấm lên hay không Giá như khi ấy chúng ta hành động ngay thì cái giá của cuộc tranh cãi kéo dài tới 30 năm ấy
đã không quá cao như hiện nay Bây giờ thì chúng ta không còn thời gian để tranh cãi nữa Chúng ta không thể thiếu trách nhiệm chuyển vấn đề này cho thế hệ sau quyết định” (Achim
Steiner - Giám đốc UNEP)
2.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
BĐKH đã gây ra những thiệt hại lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phồn thịnh của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và tiềm lực kinh tế khác nhau, dẫn đến việc đầu tư cho công tác ứng phó với BĐKH của mỗi nước là khác nhau Điều này sẽ không mang lại hiệu quả cho công tác chống BĐKH, bởi vì: khác với một số lĩnh vực hợp tác khác, khí hậu là một không gian mở, trải đều trên toàn bộ bề mặt của trái đất, không thể bị chia cắt và tách rời bởi sự phân chia biên giới giữa các quốc gia hay các khu vực khác nhau trên thế giới Các tác động xấu tới môi trường ở quốc gia hay khu vực này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các quốc gia hay khu vực còn lại của trái đất Chính vì lẽ đó, xuất phát từ lợi ích của các quốc gia, việc hợp tác xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế về chống BĐKH là một nhu cầu tất yếu khách quan, dựa trên quan điểm cùng chia sẻ, không phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế-xã hội
2.1.1 Định nghĩa pháp luật quốc tế về chống BĐKH
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, pháp luật quốc tế về chống BĐKH không phải là một ngành luật độc lập mà chỉ là một chế định của ngành Luật môi trường quốc tế Nếu như pháp luật môi trường quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể pháp luật quốc tế với nhau trong vấn đề bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vì lợi ích của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế [67], thì phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc tế về chống BĐKH chỉ
Trang 37bao gồm những quan hệ phát sinh giữa các chủ thể pháp luật quốc tế trong qúa trình thực thi các cam kết quốc tế về chống BĐKH
Như vậy, có thể hiểu pháp luật quốc tế về chống BĐKH là một chế định của
pháp luật môi trường quốc tế, bao gồm hệ thống các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc
tế trong qúa trình hợp tác trong lĩnh vực chống BĐKH
Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc trưng sau của chế định pháp luật quốc tế về chống BĐKH:
- Về chủ thể hợp tác: Chủ thể tham gia quá trình hợp tác trong lĩnh vực chống
BĐKH là chủ thể của pháp luật quốc tế, trong đó chủ yếu là các quốc gia
- Về nội dung hợp tác: Bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến vấn đề
chống BĐKH, như: xây dựng pháp luật về chống BĐKH, thực thi các cam kết quốc
tế về chống BĐKH, giải quyết các tranh chấp liên quan…
- Về pháp luật điều chỉnh quá trình hợp tác: Pháp luật điều chỉnh quá trình
hợp tác giữa các chủ thể trong việc xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế về chống BĐKH là pháp luật quốc tế
- Về quá trình thực thi và các biện pháp cưỡng chế: Dựa trên cơ chế chung
của pháp luật quốc tế, đó là sự tự nguyện, bình đẳng và cơ chế tự cưỡng chế
Cùng với quá trình phát triển của pháp luật môi trường quốc tế, nhiều điều ước quốc tế về BĐKH cũng đã được cộng đồng quốc tế xây dựng như: Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone (1985), Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng Ozone (được bổ sung vào năm 1990), Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH 1992…đây được coi là loại nguồn chủ yếu điều chỉnh lĩnh vực này
Ngoài nguồn cơ bản kể trên, không thể không nhắc tới vai trò của các nghị quyết, các tuyên bố của Liên hợp quốc về BĐKH Mặc dù không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế và chỉ mang tính chất khuyến nghị, nhưng những văn bản này cũng có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế về lĩnh vực môi trường nói chung và vấn đề BĐKH nói riêng như: Tuyên bố Stockholm năm 1972 về môi trường và con người; Tuyên bố Rio Dejanero năm 1992 về môi trường và phát triển; Nghị quyết 44/228 của Ðại hội đồng LHQ ngày 22/12/1989 về Hội nghị LHQ về môi trường và phát triển…
Trang 382.1.2 Quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về chống BĐKH
Pháp luật quốc tế về chống BĐKH là một chế định nằm trong ngành Luật môi trường quốc tế, do đó sự phát triển của chế định này gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật môi trường quốc tế
Luật môi trường quốc tế là một ngành luật tương đối mới của hệ thống pháp luật quốc tế Đặc biệt từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, cùng với việc các quốc gia tăng cường hợp tác trong lĩnh vực môi trường thì ngành luật này đã có bước phát triển mạnh mẽ Điều này không chỉ thể hiện qua số lượng các điều ước quốc tế
về môi trường hay số lượng các quốc gia thành viên mà còn thể hiện qua các quy định ngày càng chi tiết và có tính hệ thống của các điều ước quốc tế về môi trường Mặc dù không có sự thống nhất hoàn toàn trong cách phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau của pháp luật môi trường quốc tế, nhưng tựu chung lại, quá trình phát triển của pháp luật môi trường quốc tế phản ánh khách quan sự thay đổi trong tư duy nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về các vấn đề môi trường nói chung và có thể chia thành các thời kỳ sau:
Thời kỳ môi trường riêng biệt: Đặc thù của thời kỳ này là tính tự phát, cục bộ
và biệt lập trong khai thác và sư dụng môi trường tự nhiên dẫn đến hệ quả là suy giảm môi trường toàn cầu Trong giai đoạn này, pháp luật quốc tế chưa có đủ khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu, sử dụng
và khai thác môi trường
Thời kỳ môi trường và con người: Với đặc thù là sự thay đổi nhận thức của
nhân loại về các mối đe dọa đến sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cộng đồng quốc tế từ hiện tượng suy giảm môi trường toàn cầu Trong giai đoạn này, khung pháp pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường đã hình thành, qua đó tác động tích cực đến mối quan hệ giữa môi trường và con người
Thời kỳ môi trường và phát triển bền vững: Có thể nói, đây là thời kỳ phát
triển rực rỡ nhất của pháp luật môi trường quốc tế, bằng chứng là sự ra đời của nhiều điều ước quốc tế đa phương về bảo vệ và phát triển bền vững môi trường, về các cơ chế hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, phản ánh nhận thức của nhân loại vào sự phụ thuộc của con người vào việc bảo vệ và phát triển bền vững môi trường
Trang 39Trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của pháp luật môi trường quốc tế, không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của các hội nghị quốc tế về môi trường và sự hiện diện của các tổ chức quốc tế khác nhau trên thế giới
- Hội nghị toàn cầu đầu tiên về bảo vệ môi trường là Hội nghị của LHQ về con người và môi trường tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) từ ngày 5-6/6/1972 Hội nghị Stockholm được đánh giá là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc toàn cầu hóa các vấn đề về môi trường Thành quả lớn nhất của hội nghị này là sự ra
đời của Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người Ngoài ra, cũng tại hội nghị này, các thành viên tham dự đã nhất trí thành lập Chương trình LHQ về môi
trường (UNEP) với chức năng chính là điều phối các hoạt động bảo vệ môi trường,
theo dõi tình trạng môi trường, phát triển và pháp điển hóa pháp luật môi trường quốc tế Cũng tại hội nghị này, LHQ đã quyết định lấy ngày 5/6 hàng năm là ngày Môi trường thế giới Về chế định BĐKH, tại hội nghị này các vấn đề liên quan đến BĐKH vẫn chưa được chú ý thực sự Hội nghị tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: ô nhiễm hóa học, thử nghiệm bom nguyên tử và việc đánh bắt cá voi Tuy nhiên, đến cuối năm 1970, đã có một số điều ước quốc tế quan trọng ra đời điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia nhằm chống lại các tác động của BĐKH, như:
Công ước chống gây ô nhiễm không khí qua biên giới tầm xa đã được các nước
Châu Âu ký kết năm 1979 Sau đó là Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone (1985), NĐT Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tang Ozone (được bổ sung vào năm 1990) Đến năm 1988, Đại Hội đồng LHQ tiếp tục thông qua Nghị Quyết số
43/53, thừa nhận BĐKH là một vấn đề cần sự quan tâm của cả nhân loại Cũng trong
năm đó, Chương trình Môi trường của LHQ (UNEP) và Tổ chức khí tượng thế giới
(WMO) đã thành lập nhóm chuyên gia Liên chính phủ (IPCC) để nghiên cứu, đánh
giá mức độ ảnh hưởng có thể có của BĐKH đối với toàn cầu và đề ra chiến lược để đối phó với hiện tượng này Tuy nhiên, các văn bản này chủ yếu vẫn chỉ mang tính khuyến nghị, chưa đưa ra được những nghĩa vụ có tính chất ràng buộc đối với các quốc gia Chính vì vậy, việc cho ra đời một điều ước quốc tế riêng điều chỉnh những vấn đề mang tính tổng thể về BĐKH là nhu cầu cấp bách và rất cần thiết đối với cộng đồng quốc tế
- Hội nghị thứ hai là Hội nghị thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường diễn
ra từ ngày 3 - 14/6/1992 tại Rio – De Janeiro (Braxin) Hội nghị đã đưa ra 27
Trang 40nguyên tắc cơ bản nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên toàn cầu, trong đó đặc biệt
lưu ý đến vai trò của con người, coi con người“…là trung tâm của mọi mối quan hệ
về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên” Hội nghị cũng đã tiến hành nghiên cứu các
vấn đề liên quan giữa phát triển kinh tế bền vững và môi trường Cũng tại hội nghị
này, Tuyên bố về môi trường và phát triển nhằm mở rộng và tìm cách phát huy
Tuyên bố Stockholm năm 1972 đã được thông qua Tiếp đó, ngày 9/5/1992, sau một
quá trình soạn thảo (từ tháng 02/1991-tháng 5/1992), Công ước Khung của LHQ về
BĐKH- UNFCCC đã được thông qua Việc cho ra đời UNFCCC có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, không những tạo ra khung pháp lý cho việc hợp tác mà còn khẳng định
sự thay đổi về “chất” trong nhận thức của cộng đồng quốc tế về tầm quan trọng của hoạt động chống BĐKH
Như vậy, so với hội nghị lần đầu tiên diễn ra vào năm 1972, hội nghị lần này
đã có những bước tiến xa hơn cả về hình thức và nội dung hợp tác Ngoài ra, để triển khai thực hiện công ước này, tại Hội nghị các bên lần thứ 3 (COP3) tổ chức
vào tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải nhà kính đã được đưa
ra Tuy nhiên, vào thời điểm bấy giờ, những cam kết đưa ra trong nghị định thư Kyoto không có cơ hội được thực hiện trong thế kỷ XX do bốn nước là Hoa kỳ, Australia, Lichtensten và Monaco không tham gia Nghị định thư bất chấp sự lên án của dư luận quốc tế Mặc dù vậy, với những nỗ lực của cộng đồng quốc tế, đến ngày 16/2/2005, Nghị định thư Kyoto cũng đã phát sinh hiệu lực sau khi được Liên bang Nga phê chuẩn Sau đó, nhằm xây dựng một điều ước quốc tế mới thay thế nghị định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012, một loạt các hội nghị các Bên tham gia UNFCCC đã được tổ chức nhưng tất cả đều không có bất kỳ sự đột phá nào trong việc thông qua được một văn bản thay thế Nghị định thư Kyoto, mặc dù thời hạn năm 2012 sắp chấm dứt
Sau hội nghị Rio, cũng đã có nhiều Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức vào các năm tiếp theo, đặc biệt Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững – Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 đã tiếp tục khẳng định tinh thần và ước nguyện của các quốc gia nhằm quyết tâm hợp tác cùng nhau gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái trái đất, bảo vệ môi trường tự