1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình

152 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghiên cứu của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA được đúc kết trong Sách hướng dẫn xây dựng Luật hạt nhân thì tất cả các nước chưa có điện hạt nhân, các nước phát triển điện

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà Nội - 2010

Trang 3

1

môc lôc

Trang

Trang phô b×a

Lêi cam ®oan

Môc lôc

Ch-¬ng 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ

PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÌ MỤC ĐÍCH HOÀ BÌNH

Trang 4

Ch-¬ng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH

46

2.1 Các quy định của pháp luật quốc tế về năng lượng nguyên tử 46 2.1.1 Quy định điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử 46 2.1.1.1 Khái quát chung 46 2.1.1.2 Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) 47

2.1.1.3 Công ước An toàn hạt nhân 51

2.1.1.4 Hiệp định định bảo đảm Thanh sát (SA) (hay còn gọi là Hiệp định

Safeguards)

59

2.1.1.5 Nghị định Thư bổ sung cho Hiệp định Thanh sát (AP) hay gọi là

Hiệp định bảo đảm hạt nhân

63

2.1.1.6 Hiệp định Hợp tác và tài trợ kỹ thuật của IAEA đối với Việt Nam

(RSA)

65

2.1.1.7 Hiệp định Hợp tác hạt nhân vùng Châu Á (RCA) 66

2.1.1.8 Công ước thông báo nhanh sự cố hạt nhân (hay công ước về cảnh

báo sớm tai nạn hạt nhân)

66

2.1.1.9 Công ước trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc tai nạn

phóng xạ

69

2.1.1.10 Hiệp ước không vũ khí hạt nhân khu vực Đông Nam châu Á (Hiệp

ước Bangkok - SEANWFZ)

71

2.1.1.11 Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) 72 2.1.2 Quy định của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA 74 2.1.2.1 Luật mẫu của IAEA về xây dựng luật năng lượng nguyên tử 74 2.1.2.2 Sách hướng dẫn của IAEA về xây dựng luật năng lượng nguyên tử 78 2.1.2.2.1 Giới thiệu chung 78

Trang 5

3

2.1.2.2.2 Nội dung chính của Sách hướng dẫn 79 2.1.3 Hệ thống tiêu chuẩn của IAEA 81 2.1.3.1 Khái quát chung 81 2.1.3.2 Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA 82

a Tiêu chuẩn về hạ tầng pháp quy và quản lý nhà nước về an toàn hạt nhân, bức xạ, vận chuyển và chất thải phóng xạ (GS-R-1)

82

b Tiêu chuẩn về hướng dẫn xem xét và đánh giá cơ sở hạt nhân cho

cơ quan quản lý nhà nước (GS-G-1.2)

e Tiêu chuẩn về lựa chọn địa điểm cho cơ sở hạt nhân (NS-R-3) 84

f Tiêu chuẩn về hướng dẫn an toàn tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân

h Tiêu chuẩn về vận hành nhà máy điện hạt nhân (NS-R-2) 86

2.2 Các quy định của pháp luật nước ngoài về năng lượng nguyên tử 87 2.2.1 Quy định của một số nước chưa phát triển điện hạt nhân 87

a Luật về chính sách chung 94

b Luật về lò phản ứng hạt nhân 95

c Luật về các tiêu chuẩn để đánh giá thảm họa 96

Trang 6

4

d Luật về chất thải hạt nhân và nhiên liệu đã qua sử dụng 97

đ Luật về bồi thường thiệt hại hạt nhân 97

e Luật về an ninh hạt nhân 98

f Luật về công nghiệp điện 98

2.2.2.2 Luật Năng lượng nguyên tử của Hoa kỳ 102 2.2.2.2.1 Khái quát chung 102 2.2.2.2.2 Quy trình cấp phép theo hai bước (Phần 50 của 10 CFR) 103 2.2.2.2.3 Giấy phép kết hợp (Phần 52 của 10CFR) 106 2.2.2.2.4 Giấy phép địa điểm sớm 107 2.2.2.2.5 Chứng nhận thiết kế 108

2.2.2.3 Hệ thống pháp luật năng lượng nguyên tử của Pháp 109 2.2.2.3.1 Khái quát chung 109 2.2.2.3.2 Luật số 2006-686 về minh bạch và an ninh vật liệu hạt nhân (còn gọi

2.2.2.5 Hệ thống pháp luật năng lượng nguyên tử của Trung Quốc 117 2.2.2.5.1 Khái quát chung 117 2.2.2.5.2 Quy phạm về quản lý an toàn các cơ sở hạt nhân dân sự

(HAF0500)

118

2.2.2.6 Hệ thống pháp luật năng lượng nguyên tử Hàn Quốc 120 2.2.2.6.1 Khái quát chung 120 2.2.2.6.2 Hệ thống pháp luật năng lượng nguyên tử 121

a Luật Năng lượng nguyên tử Hàn Quốc 121

b Luật trách nhiệm pháp lý hạt nhân 124

c Luật bảo vệ thực thể hạt nhân và tình huống khẩn cấp về phóng xạ 124

Chương 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ - KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

125

3.1 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về hoàn thiện pháp luật

năng lượng nguyên tử

125

Trang 7

gia điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử

Trang 8

6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong vòng một thế kỷ qua, Khoa học và công nghệ hạt nhân trên thế giới đã có những bước phát triển to lớn ngày càng được ứng dụng rộng rãi vào mục đích hoà bình và mang lại nhiều lợi ích và hiệu quả to lớn cho sự phát triển và phồn vinh của xã hội loài người Khoa học và công nghệ hạt nhân không những giúp cho con người hiểu biết sâu hơn về cấu trúc hạt nhân

mà còn phát triển các công nghệ mới phục vụ cho các nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra các công cụ hiệu quả như máy gia tốc, lò phản ứng mang đến các khả năng to lớn cho con người trong nghiên cứu thế giới vật chất, nghiên cứu vũ trụ, có những kiến thức mới trong vật lý và các khoa học khác như khoa học sự sống, khoa học vật liệu, sinh học phân tử và tạo ra các nguyên tố và vật liệu mới

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, những nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của sử dụng năng lượng nguyên tử vào các mục đích phi hoà bình, bao gồm việc phổ biến vũ khí hạt nhân và khủng bố hạt nhân đang trở thành mối quan tâm lo ngại của cộng đồng quốc tế

Việc nghiên cứu xây dựng và thực thi pháp luật về năng lượng nguyên

tử ở các nước trên thế giới đang ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển nghiên cứu và ứng dụng năng lượng nguyên tử ở mỗi nước Theo nghiên cứu của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) được đúc kết trong Sách hướng dẫn xây dựng Luật hạt nhân thì tất cả các nước chưa có điện hạt nhân, các nước phát triển điện hạt nhân và các cường quốc có vũ khí hạt nhân đều có điểm chung trong xây dựng pháp luật là phải phù hợp với hiến pháp và hệ thống chính trị, pháp luật của mỗi quốc gia, có xem xét đến các điều ước quốc tế

Trang 9

7

Đối với Việt Nam, trong những năm qua, khoa học và kỹ thuật hạt nhân

đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, góp phần vào

sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước và chất lượng cuộc sống của nhân dân

Tuy nhiên, thực trạng yếu kém và thiếu thốn về hạ tầng kỹ thuật, tài chính, nguồn nhân lực và đặc biệt là cơ sở pháp lý trong nước và việc tham gia các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử chưa đầy đủ đã khiến cho việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng nguyên tử ở nước ta chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Các trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu, ứng dụng và giảng dạy còn rất lạc hậu; thiết

bị mới và nguồn phóng xạ phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu Ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành năng lượng nguyên tử còn quá hạn hẹp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đội ngũ cán bộ chuyên ngành hạt nhân bước đầu được hình thành nhưng tuổi trung bình cao và chưa đáp ứng yêu cầu

về số lượng, trình độ và cơ cấu ngành nghề

Để khắc phục các bất cập nêu trên và đáp ứng các yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng và phát triển năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế thì việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước và tham gia các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử là hết sức cần thiết

2 Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu

Vấn đề năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình ở Việt Nam là một vấn đề mới mẻ so với các nước trên thế giới Hiện nay ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về xây dựng và hoàn thiện

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực năng lượng nguyên tử,

Trang 10

8

chúng ta cũng chỉ có một số bài báo, bài viết đơn lẻ Chưa đặt vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử Vì vậy Đề tài này nhằm mục tiêu nghiên cứu đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về năng lượng nguyên tử là một vấn đề rộng, do đó đề tài chỉ tập trung các vấn đề về:

1 Nghiên cứu pháp luật quốc tế về năng lượng nguyên tử

2 Nghiên cứu các văn bản pháp luật của một số nước trên thế giới và các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử mà Việt Nam đã tham gia

3 Nghiên cứu chính sách pháp luật năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử

và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về năng lượng nguyên tử và đề xuất tham gia các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử mà việt nam chưa gia nhập

3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền, các quan điểm về xây dựng và thực thi pháp luật, về đường lối đổi mới và chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đồng thời, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu khoa học nói chung, khoa học pháp lý nói riêng như: phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp

Trang 11

9

thống kê; phương pháp tổng hợp và các phương pháp khác, kết hợp lý luận và thực tiễn để giải quyết các vấn đề đặt ra

4 Ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp của đề tài

Khi nghiên cứu đề tài này, người viết không đặt ra quá nhiều tham vọng mà trước hết là trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân; đồng thời, góp một phần nhỏ bé của mình vào tiếng nói chung của giới luật học nhằm hoàn thiện pháp luật về năng lượng nguyên tử của Việt Nam

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương I Trình bày tổng quan về pháp luật Quốc tế và pháp luật nước

ngoài về năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình

Chương II Các quy định của Pháp luật Quốc tế và pháp luật nước

ngoài về năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình

Chương III Một số kiến nghị, đề xuất và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về hoàn thiện chính sách pháp luật năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

10

lượng nguyên tử” hay “Năng lượng hạt nhân” và ngay cả Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cũng chưa giải thích thống nhất về tên gọi cụ thể của thuật ngữ này

Trên cơ sở tham khảo một số đạo luật về năng lượng nguyên tử của một số quốc gia trên thế giới về tên gọi thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” thì mỗi quốc gia lại có một cách tiếp cận khác nhau về tên gọi của thuật ngữ này Chẳng hạn: Theo Luật năng lượng nguyên tử Hàn Quốc thì thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” được gọi là “Năng lượng hạt nhân” Còn theo quy định của Luật về lò phản ứng và vật liệu hạt nhân của Nhật Bản, đây là một đạo luật cơ bản nhất trong hệ thống pháp lý hạt nhân của Nhật Bản, thì thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” lại gọi là “Năng lượng nguyên tử”

Theo học giả người Nhật bản, ông IWAKOSHI YONESUKE, Chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử có khái niệm về năng lượng nguyên

tử như sau: “Năng lượng nguyên tử là năng lượng sinh ra khi có sự phân

hạch hạt nhân hoặc tổng hợp hạt nhân”[1]

Như vậy, các thuật ngữ chính xác về mặt khoa học được những người làm việc trong lĩnh vực nguyên tử sử dụng lại có thể khó hiểu đối với đại bộ phận dân chúng

Để hài hoà giữa các thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” chính xác cả

về khoa học và dễ hiểu đối với người dân thì theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử Việt Nam năm 2008, thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử”

được định nghĩa là: “Năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi

hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng

do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hoá vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc”

Trang 13

11

1.1.2 Lƣợc sử phát triển năng lƣợng nguyên tử trên thế giới

Việc phát minh ra năng lượng nguyên tử là một thành tựu vĩ đại của nhân loại trong thế kỷ XX Tuy nhiên, trước năm 1950 việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng nguyên tử chủ yếu phục vụ cho mục đích quân sự Từ sau năm 1950, sử dụng năng lượng nguyên tử để giải quyết nhu cầu năng lượng đã trở thành một xu thế mới trên thế giới Năm 1954, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới được đưa vào vận hành ở Liên Xô, đánh dấu giai đoạn mới trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình và đưa nền khoa học công nghệ Xô - Viết lên tầm cao mới

Lịch sử phát triển điện hạt nhân trên thế giới đã trải qua 3 giai đoạn đáng chú ý sau:

- Giai đoạn thập niên 1960-1970 Đây là giai đoạn khởi đầu khi công nghệ chưa được thương mại hoá, phát triển điện hạt nhân chủ yếu nhằm mục tiêu phát triển khoa học công nghệ và xây dựng tiềm lực hạt nhân bảo đảm an ninh quốc gia

- Giai đoạn thập niên 1970-1980, khi công nghệ đã được thương mại hoá cao và do khủng hoảng dầu mỏ, nên nhiều quốc gia đẩy nhanh tốc độ phát triển điện hạt nhân, đưa tỉ trọng điện hạt nhân toàn thế giới tăng gần 2 lần từ 9% lên 17%

- Giai đoạn thập niên 1980-1990, sau sự cố Chernobyl, sự chấp nhận của công chúng, các yếu tố chính trị và sự cạnh tranh yếu về kinh tế do việc tăng cao các yêu cầu về an toàn đã làm cho tốc độ xây dựng điện hạt nhân giảm mạn, một số nước còn có chủ trương loại bỏ điện hạt nhân như: Đức, Thuỵ Điển Tuy nhiên ngay từ đầu thế kỷ này khi mà yếu tố môi trường toàn cầu và an ninh năng lượng trở lên có ý nghĩa quyết định và công nghệ điện hạt nhân ngày càng được nâng cao thì xu hướng phát triển điện hạt nhân đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn một tương lai rất tốt đẹp trên phạm vi toàn

Trang 14

tố, trước hết là ý đồ chiến lược của mỗi quốc gia, sau đó là trình độ khoa học

và công nghệ và khả năng tham gia của công nghiệp nội địa Mặc dù số loại lò nhiều như vậy nhưng đa số hoặc đã bị loại bỏ khỏi xu hướng phát triển hoặc đang ở trạng thái thử nghiệm Cho đến nay thực chất mới chỉ có ba loại công nghệ nhà máy điện hạt nhân chủ yếu đựoc công nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là:

+ Công nghệ lò nước áp lực - PWR (chiếm 60 %)

+ Công nghệ lò nước sôi - BWR (chiếm 21 %)

+ Công nghệ lò nước nặng - PHWR (CANDU) (chiếm 8 %)

Phần còn lại là các loại lò khác

1.1.3 Vai trò năng lượng nguyên tử trên thế giới

Theo tổng kết của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế, đến ngày 31/12/2003, trên toàn thế giới có 441 lò phản ứng năng lượng hạt nhân đang hoạt động ở 32 nước Hiện nay, các nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) có tổng công suất 363.135 MW với sản lượng điện năm 2002 là 2.574 tỷ kWh, chiếm 16% tổng sản lượng điện toàn cầu Tỷ lệ này được giữ ổn định trong suốt 20 năm qua, điều đó có nghĩa là mức tăng trưởng của nguồn ĐHN có cùng nhịp

độ với mức tăng trưởng tổng các nguồn điện khác

Theo thống kê của Hiệp hội hạt nhân thế giới ((World Nuelear Association - WNA),tính đến ngày 1/9/2009 trên thế giới có 446 lò phản ứng hạt nhân với tổng công suất điện là 372.533 MW đang hoạt động tại 32 quốc gia và vùng lãnh thổ Năm 2008, các nhà máy điện hạt nhân đã sản xuất được

Trang 15

13

hơn 2.600 tỷ kWh điện, chiếm 15% sản lượng điện năng toàn cầu Năm nước đứng đầu thế giới về điện hạt nhân hiện nay theo thứ tự về sản lượng điện là Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Nga và Hàn Quốc

Phát triển ĐHN tập trung chủ yếu ở các nước phát triển Hơn 50% số lò tập trung ở Bắc Mỹ và Tây Âu, chỉ có chưa đầy 10% số lò tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà nhu cầu năng lượng sẽ gia tăng mạnh mẽ trong thế kỷ này Hiện có 5 quốc gia dẫn đầu về sản lượng ĐHN, đó là: Mỹ - 780

tỷ kWh; Pháp - 415 tỷ kWh; Nhật - 313 tỷ kWh; Đức - 162 tỷ kWh và Nga -

130 tỷ kWh, và một số quốc gia có tỷ trọng ĐHN đặc biệt cao như Lithunia - 80%; Pháp - 78%, Slovakia - 65% và Bỉ - 57% Tổng số lò -năm kinh nghiệm vận hành của thế giới tích luỹ được đến nay đạt trên 11.000 lò - năm

Cũng theo Hiệp hội hạt nhân thế giới (WNA), hiện nay trên thế giới có hơn 30 nước đang xem xét nghiêm túc việc phát triển điện hạt nhân, trong đó

có cả những nước dồi dào dầu mỏ như Cô-oét, Qatar, Tiểu vương quốc Ả-Rập thống nhất (UAE),… Cùng với khoảng 50 lò phản ứng đang được xây dựng, tính đến ngày 1/9/2009 đang có 137 lò phản ứng công suất đã được đặt hàng hoặc có kế hoạch xây dựng và 295 lò khác được dự kiến xây dựng Hiện tại, các nhà xuất khẩu công nghệ điện hạt nhân - đứng đầu là Pháp và Nga - đang rất bận rộn với những hợp đồng xây dựng, chuyển giao với các đối tác từ Hoa

Kỳ, qua châu Âu, Nam Á đến Trung Quốc

Xét về nhu cầu và nhịp độ xây dựng mới các nhà máy ĐHN thì có sự khác nhau ở các khu vực trên thế giới Nếu nhu cầu và nhịp độ đó bị ngưng lại

ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ thì nó lại tiến triển mạnh ở vực Đông Âu mà đặc biệt là khu vực Châu á - Thái Bình Dương

1.1.3.1 Khu vực Tây Âu

Hiện nay, Tây Âu đang vận hành và khai thác 140 lò năng lượng hạt nhân với tổng công suất 122.480 MW và sản lượng điện 855 tỷ kWh, chiếm

Trang 16

14

35% tổng nhu cầu điện năng ĐHN chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nguồn điện, tiếp theo là nhiệt điện than 29% và nhiệt điện khí 15%

Khu vực Tây Âu là một trong những khu vực phát triển nhất thế giới,

đã đạt đến độ chín muồi và hoàn thiện, do đó mức tăng trưởng nhu cầu điện năng hàng năm rất thấp, trong 25 năm tới là 1,3%/năm Để giải quyết vấn đề năng lượng, các nước Tây Âu hiện nay thực hiện chính sách mở cửa thị trường điện và đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió

Đến cuối năm 2000, Anh có 33 lò phản ứng hạt nhân với tổng công suất 13.000 MW Tỷ lệ phát điện năng lượng nguyên tử là 22%

Pháp hiện có 58 lò phản ứng (PWR) phát điện với tổng công suất thiết

bị là 63.000 MW, cung cấp 430 tỷ Kwh/năm tức là vào khoảng 78% trong tổng sản lượng điện của quốc gia chiếm vị trí thứ hai trên thế giới, sau Mỹ

Đức với tổng công suất thiết bị khoảng 22.000 MW của 19 lò phản ứng phát điện đang vận hành, cơ cấu nguồn điện năng năm 2000 của Đức là 33% điện hạt nhân

Nhiều nhà quan sát cho rằng, ĐHN sẽ lại nổi lên thành phương án cạnh tranh khi những lo ngại về thay đổi khí hậu và sự không chắc chắn của các nguồn cung cấp năng lượng ngày càng tăng và vấn đề chỉ còn là thời gian để mọi người nhận ra rằng, năng lượng tái tạo sẽ chẳng bao giờ thay thế được các nguồn điện công nghiệp lớn, loại mà đang thúc đẩy kinh tế châu Âu phát triển trong thời gian dài và có hiệu quả

1.1.3.2 Khu vực Đông Âu và Liên xô cũ

Những năm gần đây, nền kinh tế của khu vực này phục hồi trở lại và ĐHN vẫn được tiếp tục chú ý phát triển, đặc biệt tại Liên bang Nga, Ucraina, Hungari, Bungari và Séc

CHLB Nga kế thừa lịch sử phát triển tiên phong hàng đầu của Liên Bang Xô viết trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân

Trang 17

15

trên thế giới Nhà máy điện hạt nhân Obnhinscơ, khánh thành năm 1954 là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới Đến nay nước Nga đã có hơn 50 năm lịch sử phát triển điện hạt nhân với 43 tổ máy, trong đó có 30 tổ máy đang vận hành, 4 tổ máy đang trong quá trình xây dựng, 5 tổ máy đã lập kế hoạch xây mới và 4 tổ máy đã đóng cửa Theo Kỷ yếu quốc gia về điện hạt nhân do IAEA xuất bản năm 2003, sản lượng điện hạt nhân của Nga là 150 tỉ

KWh, công suất 22,2 GW(e), chiếm 16,4% tổng công suất điện quốc gia

Tại thời điểm cuối năm 2000, Nga có 29 lò phản ứng phát điện đang vận hành với tổng công suất thiết bị là 21.000 MW, đứng vị trí thứ 5 trên thế giới, dự kiến, công suất này sẽ tăng lên tới 25.000 MW vào năm 2010 và 32.000 MW vào năm 2020 Để nâng cao độ an toàn và hiệu quả kinh tế, chủ yếu Nga sẽ dùng các tổ máy hạt nhân thế hệ thứ ba Ucraina sẽ tiếp tục hoàn thành 2 lò đang xây dựng dở dang, không cần đến sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu Hungari sẽ kéo dài sử dụng 4 tổ máy hiện tại lên 40 năm thay vì 30 năm dự kiến ban đầu Bungari sẽ sẽ xây dựng thêm 2 lò mới loại 1.000 MW để bù lại các lò cũ phải đóng cửa

CHLB Nga có Bộ Năng lượng nguyên tử (MINATOM) trước đây và nay là Cơ quan năng lượng nguyên tử ROSATOM) là cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về NLNT Cơ quan này quản lý các nhà máy điện hạt nhân, các cơ sở sản xuất nhiên liệu, tái chế, xử lý thải phóng xạ và chế tạo vũ khí hạt nhân và tàu nguyên tử Cơ quan Liên bang về An toàn hạt nhân và bức xạ (Gosatomnadzor) đặt trụ sở tại Matxcơva và có 7 văn phòng khu vực trong toàn quốc

1.1.3.3 Khu vực Bắc Mỹ

Cũng như Tây Âu, Bắc Mỹ là khu vực phát triển đỉnh cao Trong 25 năm tới, mức tăng trưởng nhu cầu điện năng trung bình hàng năm của Mỹ trong 25 năm tới là 1,8%/năm và Canada là 1,6 %/năm

Trang 18

16

Chính sách của Mỹ là tiếp tục ủng hộ mở rộng năng lượng hạt nhân Các nhà máy điện hạt nhân của Mỹ có 103 lò phản ứng với tổng công suất thiết bị là 101.000 MW, chiếm vị trí thứ nhất trên thế giới Trong 5 năm qua,

19 lò đã được cấp phép kéo dài thời gian sử dụng thêm 20 năm nữa Dự báo, công suất ĐHN của Mỹ vào năm 2025 là 102.600 MW

Chính sách của Canada là tiếp tục mở rộng công suất ĐHN của mình, trước hết là tái khởi động lại các nhà máy tạm thời bị đóng cửa Hiện tại, Canada có 17 lò đang hoạt động và đã lên kế hoạch đến 2007 sẽ đưa thêm 4 lò nữa có công suất 2.060 MW vào khai thác Dự báo, công suất ĐHN của Canada vào năm 2025 là 12.350 MW

1.1.3.4 Khu vực Châu á

Châu á là khu vực có nền kinh tế năng động, tốc độ tăng trưởng rất cao, bình quân 5-7%/năm, riêng Trung Quốc đạt gần 10%/năm, do đó, nhu cầu về năng lượng rất lớn Hơn nữa, hai nước Trung Quốc và ấn Độ phải đối mặt với hai phần năm dân số thế giới, còn hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc đều thiếu tài nguyên năng lượng Để đảm bảo an ninh năng lượng, các nước này đều đã lựa chọn giải pháp phát triển ĐHN Hai nước có sản lượng ĐHN lớn nhất khu vực là Nhật Bản và Hàn Quốc

Nhật Bản đang vận hành 54 tổ máy và đang xây dựng thêm 3 tổ máy

Mặc dù gần đây, có một số vấn đề trong ngành công nghiệp hạt nhân, nhưng Nhật Bản vẫn lên kế hoạch xây thêm 13 tổ máy mới tổng công suất 13.000

MW trước năm 2010 Tổng công suất ĐHN của Nhật sẽ tăng lên tới 56.880

MW vào năm 2020 và sẽ giảm xuống còn 54.280 vào năm 2025 do một số tổ máy cũ hết hạn sử dụng

Hàn Quốc là một quốc gia có bề dày trong phát triển điện hạt nhân và

được IAEA đánh giá cao trong việc bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân

Trang 19

17

So với Nhật Bản thì Hàn Quốc cũng là một trong số các quốc gia Châu

á có công nghiệp điện hạt nhân phát triển Từ nước phải nhập khẩu đến 97% nhu cầu năng lượng điện, đến khi bắt đầu vận hành thương mại tổ máy điện hạt nhân đầu tiên của mình (tổ máy Kori 1) vào tháng 4 năm 1978, đến nay 20

lò phản ứng với tổng công suất gần 18 GW đang cung cấp 40% sản lượng điện của Hàn Quốc Giá điện hạt nhân của Hàn Quốc khá rẻ: 39 won/kWh (khoảng 3 xu Mỹ) và đến năm 2015 có thêm 6 tổ máy mới Hàn Quốc đang phát triển thế hệ lò mới công suất lên tới 1400 MW mang tên APR -1400 trên

cơ sở thế hệ lò hạt nhân tiêu chuẩn Hàn Quốc hiện nay Theo dự kiến, những

lò APR đầu tiên sẽ vận hành thương mại vào khoảng đầu những năm 2010

Năng lượng hạt nhân được ưu tiên trong chiến lược phát triển năng lượng của Hàn Quốc với mục tiêu đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân sẽ đạt 27,3 GW và tỷ trọng điện hạt nhân sẽ tăng lên 56% Hàn Quốc đang nỗ lực trở thành nước xuất khẩu công nghệ hạt nhân Công ty Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) vừa ký thỏa thuận giúp Công ty Điện lực Indonesia (PNL) làm đề án nghiên cứu khả thi cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước này ở đảo Java; dự kiến sử dụng 4 lò OPR-1000 công suất mỗi lò 1.000

MW do Hàn Quốc tự thiết kế và chế tạo

Hàn Quốc có chính sách năng lượng hạt nhân đúng hướng, nhất quán,

và đó là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chương trình hạt nhân của quốc gia này

Tại cuộc họp mới đây của các Bộ trưởng Năng lượng ASEAN+3 tại Myanmar, Hàn Quốc đã đề nghị hỗ trợ ASEAN đào tạo nhân lực trong lĩnh vực hạt nhân, sẵn sàng cung cấp những kiến thức kỹ thuật về nhà máy điện hạt nhân nhằm giúp các nước ASEAN giảm việc sử dụng năng lượng hóa thạch, giúp bảo vệ môi trường Theo chương trình đào tạo kéo dài 3 năm từ

Trang 20

18

2009-2011, Hàn Quốc sẽ đào tạo tổng cộng 150 kỹ thuật viên và quan chức cấp cao cho các nước thành viên ASEAN

Trung Quốc, tháng 11 năm 1981 dự án nhà máy ĐHN đầu tiên được

đề xuất và bắt đầu khởi công xây dựng vào tháng 6 năm 1983 Tháng 11 năm

1991 nhà máy điện hạt nhân nước nhẹ Qinshan với công suất 310MW, nhà máy ĐHN đầu tiên mở ra kỉ nguyên ĐHN tại Trung Quốc bắt đầu hoà vào lưới điện Tới năm 2002 có 5 nhà máy ĐHN với 7 tổ máy đang hoạt động với tổng công suất 4,5 GW, đạt sản lượng 26 tỉ KWh điện và chiếm 1,6% tổng sản lượng điện năng Thực tế tới thời điểm hiện nay, 4 tổ máy mới đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng là Qinshan -2B (2003 – 650MW), Qinshan-3B (2003 -728MW), Tianwan-1 (2004 – 1060MW) và Tianwan -2 (2005 – 1060MW)

Mặc dù đi sau, nhưng hiện nay Trung Quốc đã trở thành một quốc gia

có công nghiệp điện hạt nhân phát triển nhanh và mạnh trong khuôn khổ một chiến lược quốc gia dài hạn, có tầm nhìn xa và đầy tham vọng Trung Quốc hiện có 11 lò phản ứng với tổng công suất hơn 8,5 GW đang hoạt động, 12 lò đang xây dựng và trong năm 2009 sẽ khởi công xây dựng ít nhất 12 lò khác Trung Quốc đặt kế hoạch sẽ nâng tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân lên 50-60 GW và năm 2020 và 120-160 GW vào năm 2030 Không chỉ nhập khẩu công nghệ lò phản ứng của Pháp, Nga, Hoa Kỳ (gần đây nhất là hợp đồng nhập 4 lò phản ứng AP-1000), Trung Quốc còn đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển công nghệ, hướng tới mục tiêu độc lập tự chủ trong toàn bộ các khâu của chu trình điện hạt nhân, từ chế tạo thanh nhiên liệu đến công nghệ lò phản ứng Các lò CPR-1000 công suất 1.000 MW do Trung Quốc tự thiết kế, chế tạo đang được xây dựng tại các nhà máy điện hạt nhân ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến và Liêu Ninh Trung Quốc cũng đang xây dựng nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn (Quảng Đông), sử dụng hai lò phản ứng EPR thế

Trang 21

19

hệ III, nhập công nghệ châu Âu, mỗi lò có công suất 1.700 MW Để thỏa mãn nhu cầu nhiên liệu tăng nhanh, Trung Quốc cũng đang ráo riết thu mua và tích trữ quặng urani từ khắp nơi trên thế giới (Trung Á, châu Phi, Australia, )

Đài loan phát triển ĐHN thành công một cách lặng lẽ Đài loan chủ

yếu nhập lò về dùng sản xuất điện Hiện có 6 lò đang hoạt động với tổng công suất 4.884 MWW và sản lượng điện năm 2002 đat 33, 9 tỷ kWh, chiếm 21% sản lượng điện trong nước Đài loan đang xây dựng 2 lò loại ABWR -1350

Ấn Độ đang vận hành 17 lò phản ứng, chủ yếu tự thiết kế, chế tạo và

xây lắp với tổng công suất điện 3.797 MW, đang xâu dựng thêm 06 lò phản ứng, đã có kế hoạch 23 lò và dự kiến 15 lò khác và đạt mục tiêu tăng công suất điện hạt nhân lên 20.000 MW vào năm 2020 Ấn Độ đã ký các thỏa thuận chuyển giao công nghệ lò phản ứng với Nga và Hoa Kỳ

Pakistan hiện có 2 lò phản ứng trong đó 1 lò có công suất 100 MW

nhập công nghệ Canada và 1 lò công suất 300 MW do Trung Quốc chế tạo

Iran đang chuẩn bị tham gia vào hàng ngũ các nước có điện hạt nhân

Với sự giúp đỡ tích cực của Nga, lò phản ứng đầu tiên của nhà máy điện hạt nhân Busher với công suất 915 MW sắp được vận hành Iran đã có kế hoạch xây dựng hai lò phản ứng khác với công suất mỗi lò 950 MW (công nghệ Nga) và một lò công suất 300 MW (công nghệ Trung Quốc)

1.1.3.5 Khu vực Đông Nam Á

Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam là các nước Đông Nam Á đang tích cực chuẩn bị dự án điện hạt nhân Cuối tháng 6 năm 2010, tại Diễn đàn ASEAN+3 về an toàn hạt nhân tổ chức tại Thẩm Quyến, Trung Quốc Đoàn Thái Lan có tới hơn 10 người, do Bộ trưởng Năng lượng dẫn đầu, có sự tham gia của quan chức Bộ Ngoại giao Tại Diễn đàn, cả Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều tỏ ra sẵn sàng giúp các nước Đông Nam Á phát triển

Trang 22

Philippin tiến hành chương trình hạt nhân khá sớm từ 1970 và bắt đầu

xây nhà máy ĐHN từ 1976 Năm 1986, sau khi đã hoàn thành khoảng 90% công việc thì dừng lại Nguyên nhân là do có sự tham nhũng, hối lộ làm cho chất lượng công trình không đảm bảo Nhà máy bị đóng cửa, không được phép hoạt động

Indonesia có tiềm năng lớn về dầu khí, than và thuỷ điện Trước khủng

hoảng 1997, nhu cầu năng lượng nói chung và điện năng nói riêng tăng rất nhanh đặc biệt ở vùng Java - Bali, mỗi năm tăng tới 15% Để đảm bảo cung cấp năng lượng cho vùng này, Quốc hội đã nhất trí cho phép bắt đầu thực hiện chương trình hạt nhân Nghiên cứu khả thi cho xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên hầu như đã hoàn thành Theo kế hoạch hiện nay, nhà máy ĐHN đầu tiên

sẽ được đưa vào vận hành vào năm 2016 Xét về các khía cạnh hạ tầng kỹ thuật, hệ thống luật pháp hạt nhân và đội ngũ chuyên gia cho chương trình điện hạt nhân thì Indonesia là nước phát triển nhất trong khu vực

Thái Lan năm 1996 chính phủ đã thành lập Hội đồng nghiên cứu khả

thi và các phân hội đồng nghiên cứu các vấn đề cụ thể Tháng 01 năm 1997 Hội đồng đã có báo cáo đề nghị xây dựng ĐHN ở Thái Lan Nhưng do khủng hoảng kinh tế tài chính, chương trình hạt nhân bị chững lại

Tóm lại, dù đang phải đối mặt với nhiều thách thức, nhưng công nghệ điện hạt nhân vẫn là một lựa chọn quan trọng của các quốc gia trên thế giới trong thế kỷ 21

Trang 23

21

Với tầm nhìn 2050, công suất ĐHN sẽ tăng tơ 363.000 MW hiện nay lên 1.000.000 MW, sản lượng ĐHN sẽ chiếm 19% tổng sản lượng điện toàn cầu Tỷ lệ ĐHN tương ứng ở một số nước sẽ là: Mỹ - 50%; Pháp - 85%; Nhật Bản - 60%; Hàn Quốc - 70%; Trung Quốc - 30%; Inđônesia - 40% và Thái Lan, Philipines, Malaysia - 20%

Việc cung cấp năng lượng, đặc biệt là điện năng, một cách đầy đủ và tin cậy không chỉ cần thiết cho sự phát triển kinh tế mà như ngày càng được thấy rõ, còn cần thiết cho sự ổn định chính trị và xã hội Sự thiếu hụt năng lượng trầm trọng, cả hiện tại lẫn trong tương lai, thường dẫn tới những bất ổn

và mâu thuẫn tiềm tàng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia

Với tổng thời gian vận hành của tất cả các lò năng lượng trên thế giới khoảng 10.000 năm, ngành công nghiệp điện hạt nhân đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá Việc nghiên cứu phát triển công nghệ nhà máy điện hạt nhân được đầu tư trung bình toàn thế giới khoảng 2 tỷ USD/năm và tập trung theo 4 hướng sau:

- Hoàn thiện công nghệ các nhà máy điện hạt nhân hiện hành Các lò nước nhẹ công suất lớn đang được thiết kế nâng cấp thành nước lò cải tiến vói công suất lớn hơn và từng bước ấp dụng nguyên lý an toàn thụ động

- Nghiên cứu phát triển các lò có công suất nhỏ và trung bình

- Phát triển các thiết kế mới kiểu ghép nối các mô – đun độc lập theo hướng sử dụng chất tải nhiệt là khí nhiệt độ cao và dùng hơi quá nhiệt để quay tuốc - bin, sap dụng triệt để nguyên lý an toàn thụ động

- Phát triển những loại lò thế hệ mới có nhiều ưu điểm vượt trội để đáp ứng các mục tiêu: an toàn hơn, kinh tế hơn, ít chất thải phóng xạ hơn và giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân

Trang 24

22

1.1.4 Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử ở Việt Nam

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, mặc dù cuộc kháng chiến đang trong giai đoạn ác liệt, nhưng đảng, nhà nước và Hồ Chủ tịch đã rất quan tâm đến việc phát triển khoa học kỹ thuật hạt nhân và chuẩn bị tiềm lực cho việc xây dựng và phát triển năng lượng nguyên tử ở Việt Nam Trong thời gian này, một số cán bộ ưu tú được cử đi đào tạo tại Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu về khoa học kỹ thuật hạt nhân Nhiều cán bộ khoa học Việt Nam đã tham gia nghiên cứu tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna (Liên Xô)

Trong nước, các tổ bộ môn vật lý hạt nhân và hoá phóng xạ tại một số trường đại học và các cơ sở nghiên cứu ứng dụng đã được thành lập trong những năm 1960 -1970 như Phòng Phóng xạ thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Trung tâm bức xạ thuộc Viện Vật lý, các liên đoàn địa chất, v.v

Ở miền Nam, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt có công suất 250 KW đã được xây dựng và chính thức hoạt động từ tháng 3 năm 1963 Tháng 4 năm

1975, trước khi tháo chạy khỏi Việt Nam, Mỹ đã cử chuyên gia sang tháo hết

hệ điều khiển và toàn bộ thanh nhiên liệu của lò phản ứng Vì vậy, khi ta tiếp quản thì lò phản ứng hoàn toàn tê liệt, không hoạt động được Bộ Quốc phòng tiếp quản lò phản ứng và thành lập đoàn A1 để quản lý cơ sở này

Ngày 26/4/1976, Chính phủ đã quyết định thành lập Viện nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) trực thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Năm

1978, Việt Nam tham gia trở lại IAEA, trên cơ sở tiếp quản ghế thành viên của Chính quyền cũ ở Miền Nam

Ngày 23/02/1979 Chính phủ ban hành Nghị định số 59-CP đã nâng cấp Viện Nghiên cứu hạt nhân lên tầm của Viện quốc gia để quản lý các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử trong cả nước

Trang 25

750 người

Ngày 13/9/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 59-CP chuyên Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia về trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và đổi tên thành Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và cơ quan quản lý an toàn với tên là Ban An toàn bức xạ và hạt nhân tách khỏi Viện trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trườngđể giúp Lãnh đạo Bộ quản lý nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ

Ngày 19/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2003/NĐ-CP trong đó khẳng định Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước

về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân Theo Nghị định này thì trong Bộ Khoa học và Công nghệ có Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ, hạt nhân để giúp lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân

Theo thống kê năm 2000, tại 36 tỉnh, thành phố trên cả nước cơ 714 cơ

sở bức xạ với 2.306 nhân viên bức xạ, 1.189 máy phát tia X, 799 nguồn phóng xạ, 8 cơ sở xạ trị, 13 máy xạ trị từ xa dùng nguồn Co-60, 09 máy xạ trị

áp sát và 01 máy LINAC Mạng lưới quản lý nhà nướcvề an toàn bức xạ đã hình thành đến các địa phương và các bộ, ngành Các Bộ Y tế, Quốc phòng, Công nghiệp đã có những bộ phậnchuyên tráchvề quản lý an toàn bức xạ Các hội nghề nghiệp trọng lĩnh vực năng lượng nguyên tử như Hội Kiểm tra

Trang 26

24

không phá huỷ (NDT), Hội X-Quang, Hội Ung thư, Hội Y học hạt nhân, v.v với hàng ngàn hội viên đã được hình thành và hoạt động có hiệu quả

1.1.5 Vai trò năng lượng nguyên tử ở Việt Nam

Năng lượng nguyên tử đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chăm sóc sức khoẻ con người, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và công nghiệp, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, bảo

vệ môi trường

Ở Việt Nam hiện nay, nguồn điện năng chính là nhiệt điện than, nhiệt điện khí và thuỷ điện Năng lượng mới và tái tạo như gió, mặt trời, thủy triều, địa nhiệt do giá thành sản xuất điện cao, tính phân tán và không ổn định, chỉ

có thể tạo ra những nguồn năng lượng nhỏ, chưa thể chiếm tỷ trọng đáng kể trong cân bằng năng lượng Các nguồn tài nguyên năng lượng của nước ta đa dạng nhưng không phải dồi dào Do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên năng lượng, gìn giữ cho các thế hệ mai sau là một trong những phương hướng quan trọng của chính sách năng lượng quốc gia trong thời gian tới

Theo dự báo, nhu cầu điện sản xuất theo phương án cơ sở (phương án giả thiết tốc độ tăng trưởng GDP là 7,1 - 7,2%/năm cho giai đọan 2001 - 2020) là 201 tỷ kWh vào năm 2020 và 327 tỷ kWh vào năm 2030 Trong khi

đó, khả năng huy động tối đa các nguồn năng lượng nội địa của nước ta tương ứng là 165 tỷ kWh vào năm 2020 và 208 tỷ kWh vào năm 2030 Như vậy, đến năm 2020, theo phương án cơ sở, nước ta sẽ thiếu tới 36 tỷ kWh và đến năm

2030 thiếu gần 119 tỷ kWh Xu hướng gia tăng sự thiếu hụt nguồn điện trong nước sẽ ngày càng gay gắt hơn và tiếp tục kéo dài trong những giai đoạn sau

Để giải quyết cán cân cung cầu này, trong Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến năm 2020, một trong các phương án cung ứng điện năng mà Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công

Trang 27

25

thương) đã đề xuất là xây dựng nhà máy ĐHN Với những ưu điểm về công nghệ cao, vận hành an toàn, ổn định, chi phí và khối lượng dự trữ nhiên liệu nhỏ, ít phát thải ô nhiễm môi trường và giá thành cạnh tranh với các loại nhiệt điện khác, ĐHN là một lựa chọn khả thi đã được xem xét trong cân đối nhu cầu điện của nước ta vào năm 2020 Theo phương án đó, nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ được xây dựng với quy mô công suất từ 2.000 MW - 4.000 MW chiếm 5% - 9% tổng công suất phát điện của quốc gia

Việc ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam bao gồm: ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ và phát triển điện hạt nhân

Ở Việt Nam, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ đã phát triển rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực công nghiệp, bức xạ và đồng vị phóng xạ được áp dụng trong điều khiển tự động quá trình sản xuất tại các nhà máy xi măng, nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy bia ; kiểm tra không phá huỷ tại các nhà máy đóng tàu, các công trình xây dựng; thăm dò khai thác dầu khí, khoáng sản và chiếu xạ công nghiệp đã góp phần nâng cao chất lượng, năng suất, hiệu quả kinh tế

Trong lĩnh vực nông nghiệp, bức xạ và đồng vị phóng xạ đã được Nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả để tạo giống cây trồng, chế tạo các chế phẩm kích thích tăng trưởng và bảo vệ thực vật, sản xuất phân vi sinh, phân bón, quản lý đất, nước và nghiên cứu bệnh học gia súc Một số giống cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được tạo ra do đột biến gien khi sử dụng bức xạ

từ nguồn phóng xạ và máy gia tốc, đặc biệt các giống lúa năng suất, chất lượng cao, thích ứng với các môi trường sinh thái khác nhau

Trong lĩnh vực y tế, ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ (X- quang, xạ trị,

y học hạt nhân) được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị bệnh, góp phần tích cực trong việc chăm lo sức khoẻ cộng đồng Đây là một trong những

Trang 28

Hiện nay ở Việt Nam có một lò phản ứng hạt nhân với công suất 500kW, sử dụng cho mục đích nghiên cứu, đào tạo, sản xuất đồng vị phóng

xạ, đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng dược chất phóng xạ trong nước Tuy nhiên, lò này đã cũ và dự kiến chấm dứt hoạt động vào năm 2014

Việc phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam đã bắt đầu được quan tâm Một số nghiên cứu về khả năng đưa điện hạt nhân vào Việt Nam đã được tiến hành từ năm 1980 Các kết quả nghiên cứu gần đây khẳng định Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị các điều kiện để xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 3/1/2006 về việc phê duyệt Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020 đã xác định mục tiêu “xây dựng và đưa nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào vận hành an toàn, khai thác hiệu quả”

Các vấn đề quan trọng liên quan đến phát triển ĐHN như sự cần thiết, công nghệ, nhiên liệu, an toàn, địa điểm, nhân lực, quản lý chất thải phóng xạ, kinh tế, đầu tư, đã được tổ chức nghiên cứu một cách hệ thống trong nhiều năm Thông qua hoạt động nghiên cứu triển khai về năng lượng nguyên tử trong gần 30 năm, Việt Nam đã có được những cán bộ có khả năng đảm nhận một số nhiệm vụ trong chương trình phát triển ĐHN Công tác điều tra, thăm

dò, khảo sát đã khẳng định Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên urani với

Trang 29

1.1.6 Hợp tác quốc tế

Việt Nam là thành viên chính thức của một số tổ chức quốc tế và khu vực về năng lượng nguyên tử như: IAEA, RCA, FNCA Nước ta đã ký 05 hiệp định hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, và Ac-hen-ti-na, đã thiết lập quan hệ hợp tác với các tổ chức hạt nhân của một số nước như Nhật Bản, Pháp, Canađa và đang xúc tiến quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ

Từ năm 1996, sau khi Chính phủ cho phép tiến hành các nghiên cứu khả năng phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam, quan hệ quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được tăng cường và mở rộng

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện này, cần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tranh thủ các cơ hội tiếp cận những thành tựu khoa học

và công nghệ hạt nhân tiên tiến trên thế giới để góp phần thực hiện thành công chương trình phát triển điện hạt nhân

1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ NGUYÊN TỦ VÌ MỤC ĐÍCH HOÀ BÌNH

1.2.1 Quá trình hình thành pháp luật quốc tế về năng lƣợng nguyên tử

Sự kiện Hiroshima và Nagasaki đã làm thế giới kinh hoàng nhận ra

tiềm năng khủng khiếp của vũ khí hạt nhân Các sự kiện này đặt ra nhu cầu khẩn cấp phải đưa năng lượng hạt nhân dưới sự kiểm soát có hiệu quả của

Trang 30

Mỹ Aisenhower đã trở thành cơ sở để xây dựng Quy chế của cơ quan năng lượng nguyên tử Quốc tế IAEA có hiệu lực kể từ ngày 29 tháng 7 năm 1957

Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (International Atomic Energy Agency; viết tắt là IAEA) là tổ chức quốc tế thành lập ngày 29/7/1957 với mục tiêu kiểm soát và phát triển việc sử dụng năng lượng nguyên tử đúng hướng nhằm mục đích đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình và ngăn chặn việc sử dụng năng lượng nguyên tử trong quân sự

Cơ quan này có trụ sở chính đặt tại Vienna với các ngôn ngữ chính thức

là các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc, Ả rập và Tây Ban Nha Việt Nam là một trong 55 nước tham gia đầu tiên, được xem là sáng lập viên của

tổ chức quốc tế IAEA và là một trong những quốc gia sớm phê chuẩn Điều lệ

tổ chức và hoạt động của IAEA

IAEA là một tổ chức quốc tế hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận Hàng năm 144 quốc gia thành viên cử đại biểu phiên họp Đại hội đồng thường niên để cử ra 35 thành viên vào Ban thống đốc Ban thống đốc họp 5 lần trong năm để chuẩn bị những nghị quyết cho Đại hội đồng Các kỳ họp của Đại Hội đồng được tổ chức tại Australia Center Vienna, cách trụ sở IAEA một khu phố

IAEA là diễn đàn liên chính phủ về hợp tác khoa học và kỹ thuật trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình nhằm thiết lập

hệ thống giám sát quốc tế hỗ trợ các nước thành viên áp dụng các biện pháp

Trang 31

29

an toàn nhằm bảo đảm công nghệ bức xạ, hạt nhân được ứng dụng một cách

có hiệu quả và ngăn chặn việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích phi hoà bình

Hiện nay, IAEA có 144 quốc gia thành viên tham gia Việc sử dụng năng lượng nguyên tử an toàn và vì mục đích hoà bình chỉ có thể đạt được khi từng quốc gia thành viên xây dựng được cho mình một cơ sở hạ tầng tốt bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và đảm bảo nguồn lực đầy đủ để thực thi pháp luật một cách có hiệu quả

Với mục đích giúp đỡ các nước thành viên thúc đẩy ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình, tăng cường kiểm soát an toàn và an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân, IAEA đã soạn thảo và ban hành 90 tiêu chuẩn, 01 bộ sách hướng dẫn về xây dựng luật hạt nhân nhân và 01 luật mẫu Hệ thống các văn bản hướng dẫn này là các tài liệu tham khảo cơ bản để các quốc gia xây dựng hệ thống văn bản pháp luật của quốc gia mình Đặc biệt là Sách hướng dẫn xây dựng luật hạt nhân và Luật mẫu Hai văn bản này được coi là cẩm nang pháp lý, đưa ra những hướng dẫn tương đối toàn diện và đầy đủ về các vấn đề cần quy định trong luật năng lượng nguyên tử của mỗi quốc gia

1.2.1.1 Pháp luật quốc tế về năng lƣợng nguyên tử

1.2.1.1.1 Các nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc về năng lượng nguyên tử

- Nghị quyết số 1373 ngày 28 tháng 9 năm 2001 của Hội đồng Bảo an

Liên Hợp quốc về chiến lược chống khủng bố sau cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001 Nghị Quyết này kêu gọi tất cả các quốc gia nhanh chóng trở thành thành viên của các công ước và nghị định thư quốc tế liên quan đến chống khủng bố mà một trong các công ước này là Công ước bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân Nghị quyết cũng nhấn mạnh nhu cầu tăng cường

Trang 32

30

ứng phó toàn cầu đối với thách thức về việc vận chuyển bất hợp pháp vật liệu hạt nhân, với hàm ý rằng các quốc gia cần xây dựng hạ tầng cơ sở quốc gia để chống lại buôn bán hạt nhân trái phép

- Nghị quyết số 1540 ngày 28 tháng 4 năm 2004 của Hội đồng Bảo an

Liên Hợp quốc đề cập đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bao gồm vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và vũ khí sinh học và các chủ thể phi nhà nước Nghị quyết này buộc các quốc gia phải chấp nhận và thực thi một cách có hiệu quả pháp luật nhằm ngăn cấm các chủ thể phi nhà nước chế tạo, thu nhận, sở hữu, phát triển hay sử dụng vũ khí hạt nhân, đặc biệt cho mục đích khủng bố Các nước cũng phải thiết lập kiểm soát quốc gia để ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, bao gồm cả thiết lập các hệ thống các vật liệu liên quan Để làm được điều này, các quốc gia buộc phải thực hiện nhiều biện pháp kế toán và kiểm soát khác nhau; các biện pháp bảo vệ thực thể; kiểm soát biên giới; các biện pháp phát hiện, trì hoãn, ngăn chặn và chống lại buôn bán bất hợp pháp và các biện pháp xuất khẩu, nhập khẩu Các biện pháp này như bức tranh phản chiếu lại cơ cấu và hoạt động của kế hoạch an ninh của IAEA Nghị quyết đặc biệt tập trung vào việc ngăn chặn, phát hiện của hệ thống an ninh hạt nhân

- Bộ Quy tắc ứng xử về an toàn và an ninh các nguồn phóng xạ Bộ

Quy tắc ứng xử này là một văn bản quốc tế không mang tính pháp lý mà chỉ đưa ra hướng dẫn về việc xây dựng và phát triển hài hoà chính sách, luật pháp

và các quy chế của các quốc gia trong lĩnh vực an toàn và an ninh nguồn phóng xạ Hỗ trợ việc thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử, đặc biệt đưa ra các hướng dẫn cụ thể để bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ là một chức năng quan trọng của Kế hoạch an ninh hạt nhân của IAEA Vì thế, tháng 9 năm 2004, Hội đồng thống đốc IAEA đã chấp thuận và theo đó Đại hội đồng IAEA đã phê chuẩn Hướng dẫn GOV/2004/62-GC(48)/13 bổ sung cho Bộ Quy tắc ứng

xử GOV/2003/49-GC(47)/9 về việc xuất khẩu và nhập khẩu các nguồn phóng

Trang 33

31

xạ loại 1 và loại 2 Hiện nay đã hơn 70 quốc gia đã cam kết chính trị đối với

Bộ Quy tắc ứng xử về an toàn và an ninh các nguồn phóng xạ

- Các sáng kiến khác Ngoài các mang tính chất pháp lý và hướng dẫn

của IAEA đã nêu thì còn có nhiều sáng kiến trong khu vực và quốc tế liên quan trực tiếp đến an ninh hạt nhân Các sáng kiến này cho phép IAEA điều phối các chương trình, thiết lập các ưu tiên và trên hết là có được sự hỗ trợ để thực hiện mục tiêu nâng cao an ninh hạt nhân trên toàn thế giới Các sáng kiến này bao gồm:

+ Chương trình đối tác toàn cầu của các nước G8;

+ Chiến lược chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt của Cộng đồng chung Châu Âu;

+ Sáng kiến giảm thiểu nguy cơ toàn cầu của Hoa Kỳ nhằm giảm thiểu nguy hiểm do các vật liệu hạt nhân và vật liệu phóng xạ gây ra

+ Dự án Khu vực của Úc về an ninh các nguồn phóng xạ, nhằm nâng cao an ninh nguồn phóng xạ tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương

1.2.1.1.2 Các điều ước quốc tế về năng lượng nguyên tử

Trên thế giới có nhiều điều ước quốc tế, kể cả điều ước quốc tế đa phương và điều ước song phương về năng lượng nguyên tử Hiện nay Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu tham gia 1 số điều ước quốc tế và có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện các điều ước quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử Bao gồm:

- Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (Treaty on the Proliferation of Nuclear Weapons; Gọi tắt là NPT) được thông qua và mở ký

Non-từ ngày 12/6/1968 và bắt đầu có hiệu lực Non-từ 5/3/1970 Đến nay đã có khoảng

190 nước tham gia NPT, trong đó Việt Nam tham gia từ ngày 14/6/1982 Đây

là tôn chỉ cơ bản định hướng hoạt động của IAEA với mục đích không phổ

Trang 34

- Nghị định thư bổ sung cho Hiệp định Bảo đảm (Additional AP) Việt Nam đã chính thức ký kết Nghị định thư bổ sung ngày 10/8/2007 Đến 3/2007 đã có 121 nước và tổ chức quốc tế ký Nghị định thư, và đã có hiệu lực tại 79 nước và tổ chức quốc tế Hiệp định này nhằm mục đích tăng cường thêm tính hiệu quả của hệ thống Thanh sát hạt nhân đặc biệt sau khi phát hiện những kẽ hở trong hệ thống thanh sát hạt nhân trước đây, thể hiện qua các bài học của I -rắc, Bắc Triều Tiên, Nam Phi Nghị định thư đã bổ sung thêm các đối tượng chịu thanh sát cũng như tăng cường thêm một số biện pháp và quyền hạn cho thanh tra viên

Protocol Hiệp định hợp tác và tài trợ kỹ thuật của IAEA đối với Việt Nam (RSA) Việt nam ký ngày 01/5/1983 Đến nay có gần 100 quốc gia thành viên

đã ký Hiệp định RSA với IAEA

- Hiệp định Hợp tác hạt nhân vùng Châu á (RCA) Hiệp định gồm 17 nước thành viên, Hiệp định được ký lại theo mỗi chu kỳ 2 năm

- Công ước thông báo sớm sự cố hạt nhân (Convention on Early Notification of a Nuclear Accident) Công ước có hiệu lực từ ngày 7/10/1986, đến nay đã có 100 nước và tổ chức quốc tế thành viên tham gia (3/2007) Việt Nam tham gia Công ước từ ngày 30/10/1987 Công ước nhằm mục tiêu vạch

ra khuôn khổ hợp tác quốc tế nhằm cung cấp thông tin về sự cố bức xạ và tai nạn hạt nhân giữa các quốc gia thành viên một cách sớm nhất để hạn chế những hậu quả phóng xạ vượt qua biên giới của quốc gia xảy ra sự cố đó

Trang 35

33

- Công ước trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc tai nạn phóng xạ (Convention on Assistance in the Case of a Nuclear Accident or Radiological Emergency) Công ước có hiệu lực ngày 26/2/1987 Đến tháng 3/2007 đã có 98 thành viên tham gia Việt Nam tham gia ký kết ngày 30/10/1987 đồng thời với Công ước Thông báo nhanh và cùng bảo lưu 1 điều khoản tương tự nhau ở cả 2 Công ước về giải quyết tranh chấp tại Toà án quốc tế

- Hiệp ước phi vũ khí hạt nhân khu vực Đông Nam Châu á - SEANWFZ (hay gọi là Hiệp ước Băngkok) Hiệp ước này được ký ngày 15/12/1995 và có hiệu lực ngày 27/3/1997 với sự tham gia đầy đủ các nguyên thủ quốc gia của 10 nước trong khu vực Đông Nam Á đó là: Brunei, Campuchia, Indonexia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapo, Thái Lan và Việt Nam Đến nay Hiệp ước này chưa có hiệu lực thực sự vì không đạt được sự phê chuẩn của các quốc gia hạt nhân đối với Nghị định thư của Hiệp ước Việc tổ chức thực hiện Hiệp ước hiện này còn mang tính hình thức và theo nguyên tắc hoạt động chung của ASEAN trong vai trò Chủ tịch luân phiên

- Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (Comprehensive Ban Treaty; gọi tắt là CTBT) là một Hiệp ước quan trọng với cố gắng đẩy lên một bước mục tiêu giải trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân Trên cơ sở CTBT, một

Nuclear-Test-tổ chức Liên hợp quốc mới được hình thành tách ra từ IAEA gọi là CTBTO Tới nay đã có 177 quốc gia ký CTBT với 138 quốc gia phê chuẩn Tuy nhiên Hiệp ước vẫn chưa có hiệu lực bởi vì chưa đạt được đầy đủ danh sách 44 nước tại Phụ lục II của Hiệp ước bắt buộc phải ký và phê chuẩn Hiệp ước Căn cứ danh sách các nước trong phụ lục, tới nay mới có 41/44 nước ký và 34/44 nước phê chuẩn Việt Nam là một trong các quốc gia khởi xướng của Hiệp ước và là một trong số 71 nước đã ký từ ngày đầu mở ký tại New York

và đã phê chuẩn Hiệp ước này tháng 2/2006

Trang 36

34

- Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân (Convention on the

Physical Protection of Nuclear Materials) Công ước được mở ký 10/1979 và

có hiệu lực từ 8/2/1987 và đã được sửa đổi tháng 7 năm 2005 Công ước Bảo

vệ thực thể vật liệu hạt nhân sửa đổi một khi đã có hiệu lực sẽ trở thành văn bản có tính pháp lý bắt buộc các quốc gia thành viên phải bảo vệ vật liệu hạt nhân và các cơ sở hạt nhân được sử dụng, lưu giữ cho các hoạt động hoà bình tại quốc gia mình, cũng như trong quá trình vận chuyển Công ước sửa đổi cũng cho phép mở rộng phạm vi hợp tác giữa các quốc gia trong việc áp dụng các biện pháp để nhanh chóng xác định vị trí và thu hồi vật liệu hạt nhân bị lấy cắp, giảm thiểu các hậu quả phóng xạ do các hành động phá hoại, cũng như để ngăn chặn và chống lại các hành vi vi phạm Các quy định mới sẽ có hiệu lực Công ước sửa đổi được 2/3 quốc gia thành viên (112 quốc gia) của Công ước bảo vệ thực thể năm 1979 phê chuẩn

Tới 11/2002 Công ước được 45 nước ký và có 81 quốc gia thành viên Công ước nhấn mạnh tới yếu tố bảo đảm an ninh, chống khủng bố, đột nhập, lấy cắp tại cơ sở hạt nhân cũng như trong quá trình vận chuyển Từ đầu những năm 90, các cơ quan hữu quan của Việt nam đã xem xét việc tham gia Công ước, tuy nhiên đến nay Việt nam vẫn chưa tham gia Trong bối cảnh quốc tế với những thách thức của chủ nghĩa khủng bố trong đó có những mối quản ngại về khủng bố hạt nhân và khủng bố phóng xạ (bom bẩn), việc sớm tham gia Công ước sẽ càng khẳng định chính sách quyết tâm của nhà nước ta về chống khủng bố, cũng như góp phần bảo đảm an ninh chính trị, xã hội Liên quan tới Công ước này, IAEA cùng tổ chức trong hệ thống Thanh sát một hệ thống cơ sở dữ liệu về việc buôn bán trái phép vật liệu hạt nhân, gọi là Illicit Trafficking of Nuclear Materials Data Base Việt Nam sau khi có báo cáo kết thúc của tổ công tác đặc biệt U5 về thu gom uran nghèo buôn bán trái phép,

đã được mời tham gia và đã cử đầu mối liên lạc với IAEA

Trang 37

35

- Công ước An toàn hạt nhân (Convention on Nuclear Safety) Công ước được ký ngày 17/6/1994 và có hiệu lực từ 24/10/1996 Hiện nay có 65 nước tham gia ký kết công ước và đến tháng 4 năm 2002 có 54 nước thành viên Việc ra đời Công ước đánh dấu một bước tiến lớn trong việc tăng cường

và củng cố hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn hạt nhân Công ước là văn bản pháp luật quốc tế đầu tiên và cơ bản nhất về an toàn nhà máy điện hạt nhân trên toàn thế giới

- Công ước về trách nhiệm dân sự trong trường hợp tổn thất hạt nhân (Vienna Convention on Civil Liabilitiy for Nuclear Damage) Thường gọi là Công ước Viên, mở ký từ 21/5/1963 và có hiệu lực từ 12/11/1977 Công ước hiện được 14 nước tham gia ký kết và 33 nước thành viên chấp thuận

- Công ước về trách nhiệm của phía thứ ba trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử (Paris Convention on the Third party of Liability in the field of Nuclear Energy Thường gọi là Công ước Pari chủ yếu áp dụng đối với các nước Cộng đồng Châu Âu

- Nghị định thư chung liên quan tới việc áp dụng Công ước Viên và Công ước Pari (Joint Protocol relating to the Application of the Vienna Convention and the Paris Convention) Thường gọi là Nghị định thư Brussell, được mở ký từ 1988 và có hiệu lực từ 27/4/1992 tức là 3 tháng sau khi được chấp thuận bởi tối thiểu 5 quốc gia thành viên Công ước Viên và 5 quốc gia thành viên Công ước Pari Hiện nay có 22 nước tham gia ký Nghị định thư và

20 thành viên tham gia

- Công ước về sự đền bù bổ sung trong trường hợp tổn thất hạt nhân (Convention on Supplementary Compensation for Nuclear Damage Công ước được mở ký ngày 29/9/1997, có 13 nước tham gia

- Công ước chung về Bảo đảm An toàn đối với Nhiên liệu thải và Quản lý Chất thải Phóng xạ (Joint Convention on the Safety of Spent fuel

Trang 38

36

Management and on the Safety of Radioactive Waste Management) Công ước ước được mở ký 9/1997 trong phiên họp Đại Hội Đồng IAEA thường niên thứ 41 tại Viên, có hiệu lực từ 18/6/2001 Hiện có 42 nước đã ký trong

đó 29 nước đã phê chuẩn

- Công ước về triệt tiêu các hành động khủng bố hạt nhân Được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng 4 năm 2005 và được mở để ký ngày 14/9/2005 Công ước chi tiết hoá các hành vi vi phạm liên quan đến việc

sử dụng hay phá hoại các cơ sở hạt nhân Các quốc gia thành viên của Công ước sẽ phải phê chuẩn các biện pháp cần thiết để hình sự hoá các hành vi vi phạm này Công ước cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải hết sức nỗ lực để đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm việc bảo vệ vật liệu phóng xạ có tính đến khuyến nghị của IAEA

- Hiệp ước Tlatelolco là Hiệp ước về cấm vũ khí hạt nhân trong khu vực Châu Mỹ La Tinh ngày 14/2/1967 tại Tlatelolco, Mê-hi-cô do các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh cùng ký kết Hiệp ước đã có hiệu lực ở tất cả các quốc gia trong khu vực, trừ một số nước Hiệp ước Tlatelolco có 02 nghị định thư

bổ sung là Nghị định thư I và Nghị định thư II

- Hiệp ước Rarotonga là Hiệp ước không hạt nhân ở Nam Thái bình dương được ký năm 1985 và có hiệu lực kể từ ngày 11/12/1986 Hiệp ước này

có 03 nghị định thư là Nghị định thư I, Nghị định thư II và Nghị định thư III

- Hiệp ước Pelindaba là Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân ở khu vực Châu Phi được ký tại Cai-Rô, Ai Cập vào ngày 11/4/1996 Hiệp ước này có

03 nghị định thư là Nghị định thư I, Nghị định thư II và Nghị định thư III

- Thoả thuận giữa Achentina và Braxin Chính phủ các ước Achentina

và Braxin đã ký thoả thuận vào năm 1990 cho việc thiết lập một cơ quan thanh sát song phương (ABACC- Cơ quan kế toán và kiểm soát vật liệu hạt nhân Braxin -Achentina) và ký kết thỏa thuậ thanh sát toàn diện với IAEA về

Trang 39

Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang (C.F.R): Các quy định pháp luật hiện hành được pháp điển hóa, sắp xếp theo chủ đề gồm 50 chủ đề Mỗi quyển của Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được chia thành chương và phần Các chương thường mang tên của cơ quan ban hành Số lượng tập của mỗi quyển - lĩnh vực khác nhau tùy theo khối lượng quy phạm Tổng cộng hiện nay ứng với 50 chủ đề đã có tới 216 tập/cuốn và số lượng này sẽ còn tăng lên

Theo Bộ luật Liên bang Hoa Kỳ (10/CFR) về năng lượng trong đó quy định Cơ quan Quản lý hạt nhân (NRC) chịu trách nhiệm cấp phép và quản lý vận hành các nhà máy điện hạt nhân thương mại ở Hoa Kỳ Các nhà máy điện hạt nhân hiện đang hoạt động được cấp phép theo một quy trình gồm hai bước, căn cứ theo Phần 50 Quyển 10 của Bộ luật Liên bang (10/CFR) về năng lượng Quy trình này yêu cầu cả giấy phép xây dựng (construction permit) và giấy phép vận hành (operating license) [2]

1.2.1.2.2 Pháp

Pháp có nhiều văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc có liên quan đến an toàn hạt nhân

Trang 40

38

Trước hết phải kể đến các bộ luật như Bộ luật Môi trường, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Y tế công cộng, Bộ luật Lao động, Bộ luật Đô thị hóa Về các luật có thể kể đến:

- Luật về quyền công dân trong quan hệ với các cơ quan hành chính (Luật số 2000-321 ngày 12/4/2000);

- Luật về hiện đại hóa an ninh dân sự (Luật số 2004-811 ngày 13/8/2004);

- Luật về minh bạch và an ninh vật liệu hạt nhân (Luật số 2006-686 ngày 13/6/2006);

- Luật về quản lý bền vững vật liệu và chất thải phóng xạ (Luật số 2006-739)

- Nghị định số 2007-1557 (Décret o2007-1557) ngày 02/11/2007 của Thủ tướng về các cơ sở hạt nhân cơ bản và về việc kiểm soát về an toàn hạt

nhân, vận chuyển chất phóng xạ Nghị định gồm 77 điều chia làm 11 phần

1.2.1.2.3 Nhật Bản

Nhật Bản là nước phát triển Điện hạt nhân sớm nhật tại Châu á Năm

1966 khởi động tổ máy phát điện thương mại đầu tiên Hệ thống luật hạt nhân gồm ba mảng chính là: Nghiên cứu phát triển; Lựa chọn địa điểm và bảo đảm

an toàn

Mảng nghiên cứu phát triển gồm có:

- Luật khoa học công nghệ cơ bản

- Luật năng lượng nguyên tử cơ bản Số 186 ban hành ngày 19 tháng 12

năm 1955 Luật này được xây dựng với mục đích nghiên cứu, phát triển và sử

dụng năng lượng nguyên tử Tuân theo 3 nguyên tắc: 1 Dưới sự Quản lý dân chủ, 2 Độc lập, và 3 Minh ba ̣ch, luâ ̣t này kết hợp với sự khuyến khí ch sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình Các luật và quy định khác liên quan đến ha ̣t nhân được ban hành đựa trên tinh thần của luâ ̣t này

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. GS.TS Đinh Ngọc Lân (2004), Năng lượng nguyên tử và đời sống, NXB văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lượng nguyên tử và đời sống
Tác giả: GS.TS Đinh Ngọc Lân
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin
Năm: 2004
26. Tác giả IWAKOSHI YONESUKE (2004), Hỏi đáp về năng lượng nguyên tử, Công ty in công đoàn Việt Nam, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về năng lượng nguyên tử
Tác giả: Tác giả IWAKOSHI YONESUKE
Năm: 2004
1. Luật Năng lượng nguyên tử. NXB Chính trị quốc gia 2008 2. Đánh giá địa điểm cho các công trình hạt nhân, NS-R-3, IAEA Khác
3. Luật năng l-ợng nguyên tử Hàn Quốc, Viện an toàn hạt nhân, Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, 2004 Khác
4. Luật về năng l-ợng hạt nhân Indonesia, 1997 Khác
5. Sách hướng dẫn của IAEA về xây dựng luật năng lượng nguyên tử Khác
6. Luật mẫu của IAEA về xây dựng luật năng lượng nguyên tử Khác
7. Hiệp ước không phổ biên vũ khí hạt nhân và hệ thống thanh sát Khác
8. Công ước thông báo sớm tai nạn hạt nhân Khác
9. Công ước trợ giúp trong trường hợp tai nạn hạt nhân hay sự cố bức xạ Khác
10. Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân Khác
12. Công ước về trách nhiệm dân sự trong trường hợp tổn thất hạt nhân Khác
13. Công ước về trách nhiệm của phía thứ ba trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử Khác
14. Công ước về sự đền bù bổ sung trong trường hợp tổn thất hạt nhân Khác
15. Công ước chung về Bảo đảm an toàn đối với nhiên liệu thải và quản lý chất thải phóng xạ Khác
16. Công ước quốc tế về trừng trị các hành động khủng bố hạt nhân Khác
17. Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân Khác
19. Hiệp định Hợp tác và tài trợ kỹ thuật của IAEA đối với Việt Nam 20. Hiệp định Hợp tác hạt nhân vùng Châu Á Khác
21. Công ước thông báo nhanh sự cố hạt nhân Khác
22. Công ước trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc tai nạn phóng xạ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm