Qua nghiên cứu các chính sách về nhà ở mà Nhà nước ta đã ban hành trong thời gian vừa qua cho thấy, hiện nay pháp luật mới chỉ quy định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Hoàng Tám Phi
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Hoàng Tám Phi
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NGOÀI
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Minh Ngọc
Hà Nội – 2012
Trang 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và những đóng góp về khoa học của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI 7
1.1 Tổng quan về người nước ngoài 7
1.1.1 Khái niệm người nước ngoài 7
1.1.2 Đặc điểm 10
1.1.3 Bảo đảm quyền cho người nước ngoài 13
1.2 Tổng quan về người Việt Nam định cư ở nước ngoài 17
1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài 18
1.3.1 Một số khái niệm có liên quan 18
1.3.1.1 Khái niệm quyền tự do đi lại, cư trú 18
1.3.1.2 Khái niệm quyền có nhà ở 22
1.3.1.3 Chính sách nhà ở cho người nước ngoài 24
1.3.2 Nội dung quyền có nhà của người nước ngoài 27
1.3.3 Bảo vệ quyền của quyền có nhà ở của người nước ngoài 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI
Trang 42.1 Tình hình người nước ngoài tại Việt Nam và nhu cầu nhà ở của người nước ngoài
tại Việt Nam 33
2.2 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam 38
2.2.1 Chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam trước khi ban hành Nghị quyết số 19/2008/QH12 về thí điểm tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam 38
2.2.2 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài từ khi có Nghị quyết số 19/2008/QH12 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam đến nay 44
2.3 Những bất cập, hạn chế pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam 61
2.3.1 Thực trạng các giao dịch nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam 61
2.3.2 Những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam 63
2.4.Nhà ở cho người nước ngoài, kinh nghiệm của Trung Quốc……… 66
2.5 Nhà ở cho người nước ngoài, kinh nghiệm của Indonesia……… 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI 74
3.1 Cơ sở của việc đề xuất quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài 74
3.1.1 Sự mở rộng và mức độ ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nước ta 74
3.1.2 Bảo đảm sự phát triển cân đối, đa dạng hàng hóa cho thị trường bất động sản Việt Nam 79
3.1.3 Cụ thể hóa chính sách ưu đãi, thu hút kiều bào về làm ăn, sinh sống, học tập lâu dài ở trong nước, tạo cầu nối cho người Việt Nam ở nước ngoài cống hiến cho đất nước 80
3.1.4 Thu hút nguồn vốn đầu tư vào thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay 83
3.2 Một số quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam hiện nay 83
KẾT LUẬN CHUNG 93
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“An cư lạc nghiệp” đã trở thành nguyên lý cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người đã được ông cha đúc kết, lưu truyền qua nhiều thế hệ Nói như vậy có nghĩa là, nhà ở giữ vai trò quan trọng đối với sự sống của con người, nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn và mặc để giúp con người
có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội Do đó, nhu cầu có nhà ở để sinh sống và làm việc là đòi hỏi khách quan của mọi người không phân biệt dân tộc, thành phần xuất thân, quốc tịch, tôn giáo… Khi đến Việt Nam đầu tư làm ăn, học tập và sinh sống tại Việt Nam, vấn
đề nhà ở cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của người nước ngoài khi vào Việt Nam Sự tác động của tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc
và sinh sống ngày càng gia tăng bằng nhiều con đường khác nhau như làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sự quán), trong các tổ chức quốc tế của nước ngoài như UNDP, UNICEF, WHO, WB…, thông qua các dự án đầu tư, hợp tác khoa học, chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao nhất là, sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), số lượng người nước ngoài vào Việt Nam càng nhiều hơn thì việc giải quyết nhu cầu nhà ở cho người nước ngoài cũng cần phải được quan tâm giải quyết thoả đáng Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về nhà ở có liên quan đến người nước ngoài như Luật đất đai năm 2003, Luật nhà ở năm
2005, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006…Các chính sách này đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, từng bước tạo điều kiện để
Trang 8Qua nghiên cứu các chính sách về nhà ở mà Nhà nước ta đã ban hành trong thời gian vừa qua cho thấy, hiện nay pháp luật mới chỉ quy định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam đầu tư kinh doanh bất động sản theo các dự án, trong đó có đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, còn vấn đề sở hữu nhà ở của các cá nhân nước ngoài như: các nhà ngoại giao, các nhà khoa học, các chuyên gia, các kỹ sư nước ngoài có tay nghề cao được mời vào Việt Nam làm việc hoặc những người đang làm việc tại một số tổ chức quốc tế có nhiều đóng góp cho Việt Nam như UNDP, WHO, UNICEF và các tổ chức nước ngoài không có chức năng kinh doanh bất động sản thì chưa được đề cập Do vậy, chưa khuyến khích được nhiều người, đặc biệt là các chuyên gia giỏi, những người có tay nghề cao vào Việt Nam làm việc Chính
vì vậy, tác giả lựa chọn nội dung “Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền
có nhà ở của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài ”
làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ luật học của mình là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài sinh sống làm việc, học tập tại Việt Nam là vấn đề vừa mang tính xã hội, vừa mang tính “nhạy cảm”, nhất là trong điều kiện chính trị thế giới còn nhiều bất ổn Do đó, khi đề cập đến vấn đề quyền có nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của nhiều giới, nhiều ngành Dù còn nhiều e ngại khi quyết định cho người nước ngoài sinh sống làm việc, học tập tại Việt Nam, song khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất, Luật nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và đặc biệt là Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam đã tạo điều
Trang 9kiện thuận lợi cho người nước ngoài tham gia đầu tư, các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý giỏi có điều kiện sinh sống ổn định, yên tâm làm việc lâu dài tại Việt nam là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt nam có điều kiện tạo chỗ ở ổn định cho người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp đó (không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài), góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội đồng thời góp phần thúc đẩy thị trường nhà ở và bất động sản phát triển trên nguyên tắc bảo đảm ổn định, minh bạch và lành mạnh, góp phần tạo bộ mặt đô thị hiện đại, văn minh vừa làm tăng cung, vừa làm tăng cầu về bất động sản
Kể từ khi có khung pháp lý bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này như:
Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, TS
Nguyễn Quang Tuyến, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Số
10/2004; Những sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai năm 2003 về quyền và
nghĩa vụ của người nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, TS Nguyễn Quang
Tuyến, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Số
4/2005, tr 62 – 66; Các quy định của pháp luật về việc cho phép tổ chức, cá
nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Phạm Thị Mai Duyên, Người hướng dẫn:
TS Nguyễn Thị Nga, Trường Đại học Luật Hà Nội 2009, 62 tr cùng nhiều bài viết trên các trang thông tin điện tử của các báo điện tử, của các công ty bất động sản càng làm cho vấn đề bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam trở nên sôi động hơn bao giờ hết, nhất là xem xét quyền này trong mối tương quan với sự phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam
Trang 10Tuy nhiên, các nghiên cứu mang tính hệ thống, có tính chuyên sâu đối với lĩnh vực pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam lại chưa có nhiều Vì thế, tác giả hy vọng với sự đầu tư nghiên cứu thích đáng vào nội dung nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam, là tài liệu tham khảo có giá trị cả về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung làm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam có liên quan trực tiếp đến chính sách, pháp luật, so sánh đối chiếu với các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bất động sản, các cam kết thương mại song phương giữa Việt Nam và các đối tác thương mại, nhằm tìm ra hạn chế, bất cập của pháp luật, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam
Do vậy, khi nghiên cứu nội dung đề tài pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam, tác giả sẽ đề cập mối tương tác giữa chính sách, pháp luật của Việt Nam so với các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bất động sản cũng như các cam kết thương mại song phương giữa Việt Nam và các đối tác thương mại bao gồm những vấn đề sau:
- Khái quát những vấn đề pháp lý cơ bản về người nước ngoài, vai trò của người nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung, thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng;
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quyền sở hữu và quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam như cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc ghi nhận quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam, nội dung
Trang 11quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam, giới hạn quyền của có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam;
- Tác động của cam kết quốc tế và hiệp định song phương, đa phương
mà Việt Nam là thành viên đối với vấn đề ghi nhận quyền có nhà ở của người nước ngoài;
- Đánh giá quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam;
- Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hình thành phân khúc thị trường nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu như trên, đề tài tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng kết những vấn đề lý luận về người nước ngoài;
- Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam;
- Phân tích thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam;
- Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hình thành phân khúc thị trường nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn được thực hiện trên quan điểm, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về việc cho phép người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử thông qua các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp cũng như những thành tựu của khoa học luật tư pháp quốc tế
và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
Trang 126 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và những đóng góp về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền có nhà ở của người nước ngoài, các biện pháp bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài ở Việt Nam làm tiền đề cho việc phân tích, bình luận, đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật hiện hành trong việc bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Về phương diện khoa học, Luận văn đã hệ thống hóa một cách khoa học
về những khái niệm có liên quan đến pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài, phân tích, đánh giá một cách chân thực, khách quan hiện trạng pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam; những kiến giải và đề xuất giải pháp có tính khả thi cao Trong chừng mực nhất định, Luận văn sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm đến nội dung này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung về pháp luật bảo đảm quyền có nhà ở của
người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Chương 3 Quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo
đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trang 13Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN
CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƯ TẠI NƯỚC NGOÀI 1.1 Tổng quan về người nước ngoài
1.1.1 Khái niệm người nước ngoài
Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia Dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người
có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân Trong quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào, sự hiện diện của người nước ngoài là tất yếu và muốn hay không, các quốc gia sở tại cũng phải ban hành quy chế pháp lý để quản lý đối tượng này Việc ban hành quy chế quản lý người nước ngoài luôn
là vấn đề nhạy cảm vì nó có mối liên hệ trực tiếp với quan hệ ngoại giao với quốc gia mà họ mang quốc tịch, với các tổ chức nhân quyền quốc tế, bởi những yêu cầu về bảo đảm những quyền tối thiểu của con người
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, mỗi nước đều có thẩm quyền riêng biệt xác định địa vị pháp lý cho từng bộ phận dân cư nước mình mà các quốc gia khác không có quyền can thiệp Tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau với những đặc điểm kinh tế văn hóa xã hội, khi ghi nhận địa vị pháp lý của cư dân quốc gia mình phải tôn trọng pháp luật và tập quán quốc tế
Đối với mỗi quốc gia, người nước ngoài (là người không mang quốc tịch quốc gia sở tại) đến làm ăn, sinh sống đã tất yếu trở thành bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng dân cư của quốc gia đó Vì vậy, bên cạnh các quy định pháp luật bảo đảm quyền lợi của công dân, mỗi quốc gia dều phải đối diện với nghĩa vụ quốc tế là tạo cơ sở và điều kiện để người nước ngoài được hưởng
Trang 14chế độ pháp lý phù hợp với với sự tồn tại hợp pháp của họ trên lãnh thổ quốc gia đó
Một đặc thù quan trọng liên quan đến địa vị pháp lý của người nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia sở tại là người nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước này mà còn phải chịu sự điều chỉnh pháp luật của nước mà họ là công dân và Luật quốc tế Vì vậy, mỗi quốc gia không thể đơn phương áp dụng quy định đối với người nước ngoài nếu các quy định đó không phù hợp với thoả thuận quốc tế và ảnh hưởng đến lợi ích của công dân
Ở mức độ khái quát, có thể hiểu, người nước ngoài là người không có quốc tịch nước sở tại Quan niệm về người nước ngoài ở nước không đồng nhất với nhau, có nước hiểu người nước ngoài theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những thể nhân, có nước hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là thể nhân mà còn
cả các pháp nhân [14, tr.93]
Hiện nay, khái niệm người nước ngoài ở nước ta được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Theo quy định của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 2000
Trang 15Luật Quốc tịch năm 2008 không đưa ra định nghĩa người nước ngoài mà quy
định khái niệm “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam”, theo đó, Người nước
ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch
thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam Người không quốc tịch là người không
có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài Người gốc
Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt
Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài
Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, TS Nguyễn Hồng Bắc cho rằng, khái niệm người nước ngoài có thể định nghĩa là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch [13, tr 8]
Như vậy, cơ sở để xác định người nước ngoài dựa trên cơ sở quốc tịch
mà cá nhân đó đang mang Theo quan điểm của các nước, quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước mà họ mang quốc tịch, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và quyền, trách
nhiệm của Nhà nước đối với công dân Đối với mỗi quốc gia, “người nước
ngoài là người không có quốc tịch của nước đó Nếu hiểu theo nghĩa rộng, người nước ngoài gồm cả những người không quốc tịch Trong thành phần người nước ngoài có nhiều bộ phận khác nhau với những quy chế pháp lí khác nhau Có bộ phận được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, có bộ phận không được hưởng các quyền đó, Quy chế pháp lí của người nước ngoài được hình thành trên cơ sở các văn bản pháp luật trong nước và cả các điều ước quốc tế do quốc gia kí kết” [32]
Một cách tiếp cận khác cho rằng, người nước ngoài là “Người không
mang quốc tịch của nước mà họ đang cư trú Tùy theo nhiệm vụ, lí do có mặt, những người nước ngoài được nước chủ nhà có những quy chế pháp lí khác
Trang 16nhau… là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch” [33] Người nước ngoài có thể là cư
trú hoặc thường trú tại Việt Nam Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam “là
công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [33], người nước ngoài thường trú tại Việt Nam “là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam”
[33]
Từ đó, ta có thể định nghĩa: người nước ngoài là người có quốc tịch của
một quốc gia khác đang lao động, công tác, học tập hoặc đang sinh sống trên lãnh thổ tại quốc gia sở tại
Từ định nghĩa này, cho phép chúng ta rút ra những nhận định cơ bản sau đây:
- Người nước ngoài là người không mang quốc tịch ở quốc gia sở tại, họ
có thể mang quốc tịch một hoặc một vài nước khác hoặc không mang quốc tịch nước nào
- Người nước ngoài có thể cư trú hoặc không cư trú trên lãnh thổ của quốc gia sở tại Trong nội dung Luận văn này, khái niệm người nước ngoài được hiểu là người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, người nước ngoài là người không mang quốc tịch của quốc gia
sở tại đang làm ăn sinh sống, làm việc Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt người nước ngoài với công dân quốc gia sở tại
Chế định quốc tịch hình thành từ thời kì cách mạng tư sản ở phương Tây
và ngày nay được sử dụng ở tất cả các nước Khác với chế định thần dân phong kiến, chế định quốc tịch khẳng định người dân có cả quyền chính trị và dân sự, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, nội dung và hiệu lực thực tế của các quyền chính trị và dân sự của công dân tuỳ thuộc vào
Trang 17bản chất giai cấp của nhà nước, của chế độ kinh tế - xã hội Việc có và mất quốc tịch của nhà nước nào phải do pháp luật của nhà nước đó quy định Theo thực tiễn và pháp luật của các nước, một người có quốc tịch của một nhà nước
có thể do huyết thống, do nơi sinh, do xin vào quốc tịch, trở lại quốc tịch cũ,
do quy định của điều ước quốc tế, vv Quốc tịch thể hiện “mối liên hệ pháp lí
đặc biệt bền vững và ổn định giữa một cá nhân và một nhà nước nhất định Người mang quốc tích của nhà nước nào là công dân của nhà nước đó Công dân được hưởng các quyền chính trị, quyền tự do và các quyền dân sự, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng do pháp luật của nhà nước mình quy định Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình, kể cả trường hợp công dân đó thường trú hay tạm trú ở nước ngoài” [32]
Như vậy, nếu như công dân là người dân của một nước có chủ quyền thể hiện mối quan hệ pháp lí bền vững giữa nhà nước và cá nhân là người có quốc tịch của một quốc gia cụ thể, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Quyền và nghĩa vụ công dân thể hiện quan hệ lợi ích giữa nhà nước
và cá nhân được Nhà nước bảo hộ các quyền tham gia quản lí công việc của nhà nước và của xã hội, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền lao động, quyền học tập, nghỉ ngơi, quyền tự do ngôn luận, tự do hôn nhân, tự do tín ngưỡng,
có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo Còn đối với người nước ngoài, Nhà nước chỉ bảo hộ một số quyền và nghĩa vụ phù hợp với mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng như pháp luật và tập quán quốc tế
Thứ hai, so với công dân của quốc gia sở tại, nội dung quyền và nghĩa vụ
của người nước ngoài hẹp hơn nhiều Chẳng hạn, người nước ngoài không được hưởng quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước; trong
Trang 18một số trường hợp nhất định họ bị giới hạn phạm vi cư trú, đi lại, họ không phải gánh vác nghĩa vụ quân sự
Thứ ba, việc xác định chế độ pháp lý cho người nước ngoài của mỗi
quốc gia chịu sự chi phối khá lớn của Luật quốc tế Chế độ pháp lý của người nước ngoài được nước sở tại quy định phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, các quy phạm Jus cogens của Luật quốc tế và các điều nước quốc tế mà nước đó
là thành viên Cùng với các điều nước quốc tế đa phương như Công ước quốc
tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế - văn hóa – xã hội năm 1966, các thoả thuận trong khuôn khổ ASEAN, WTO
và các điều ước quốc tế song phương là cơ sở cho việc xác định tổng thể tất
cả các quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài được hưởng phù hợp với quy định của pháp luật nước sở tại
Thứ tư, người nước ngoài chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật mà
người đó mang quốc tịch, của quốc gia sở tại và luật quốc tế Với tính đặc thù này, khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, ngoài việc tuân thủ pháp luật của quốc gia sở tại, các bên tham gia quan hệ phải tích đến các quy định của quốc gia mà họ mang quốc tịch cũng như các cam kết quốc tế có liên quan Chẳng hạn, một công dân Hoa Kỳ khi đầu tư vào Việt Nam ngoài việc phải tuân thủ các quy định pháp luật đầu tư của Việt Nam còn phải chịu
sự điều chỉnh của Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ đã được Chính phủ hai nước ký kết năm 2001
Thứ năm, người nước ngoài rất đa dạng, họ đến từ nhiều quốc gia khác
nhau với mang theo nhiều nét truyền thống văn hóa của quốc gia mình Do vậy, việc xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài cần phải quan tâm đến việc tạo điều kiện cho họ lưu giữ và thực hành bản sắc văn hóa của họ trên cơ
sở tôn trọng pháp luật quốc gia sở tại Hiện nay, người nước ngoài bao gồm:
Trang 19i) Người nước ngoài làm việc trong các Cơ quan đại diện ngoại giao, các
Tổ chức quốc tế ở quốc gia sở tại
ii) Người nước ngoài tham gia đầu tư vào quốc gia sở tại theo quy định của pháp luật đầu tư
iii) Người nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế
1.1.3 Bảo đảm quyền cho người nước ngoài
Là bộ phận không thể thiếu của dân cư quốc gia, sự tồn tại của người nước ngoài vào các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội với công dân buộc Nhà nước phải ban hành các quy chế pháp lý để điều chỉnh các quan hệ này Về cơ bản, có thể nhận thấy, bảo đảm quyền cho người nước ngoài là tổng thể các quy định pháp luật của quốc gia sở tại dành cho người nước ngoài để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa người nước ngoài với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với công dân sở tại Phù hợp với mỗi dạng người nước ngoài khác nhau, Nhà nước sẽ dành những chế độ pháp lý đặc thù phù hợp với mỗi đối tượng Cụ thể [14, tr 97 – 103]:
Một là, chế độ pháp lý chủ yếu, được áp dụng đối với người nước ngoài
đến làm ăn sinh sống trên lãnh thổ quốc gia khác Những người này sẽ được hưởng các chế độ sau:
a Chế độ đãi ngộ quốc gia (NT – National treatment)
Chế độ đãi ngộ quốc gia thể hiện cam kết của một quốc gia về việc không phân biệt đối xử giữa công dân nước mình với người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ nước mình hay người nước ngoài thiết lập quan hệ với công dân, pháp nhân nước mình Theo chế độ này, người nước ngoài được hưởng những quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa cơ bản như công dân nước sở tại, ngoại trừ một số quyền do pháp luật quốc gia quy định hạn chế nhất định vì lợi ích và an ninh quốc gia của nước đó như không được làm một số nghề cụ
Trang 20thể, không được theo học các trường công an, an ninh, quân sự và cơ yếu… Các quy định hạn chế này là cần thiết và các quốc gia đều sử dụng trong việc xác định chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài tại nước mình Chế độ này thể hiện mối quan hệ giữa người nước ngoài với công dân sở tại Trong thực tế, chế độ đãi ngộ như công dân thường được áp dụng cho người nước ngoài cư trú, làm ăn và sinh sống trên lãnh thổ nước sở tại, các thời hạn lưu trú tương đối ổn định và lâu dài
b Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN – Most favoured nation)
Thuật ngữ “đãi ngộ Tối huệ quốc” được ra đời vào cuối thế kỷ 19 trong thực tiễn thương mại của Hoa Kỳ và được coi là một trong những quy chế pháp lý quan trọng trong thương mại mại quốc tế hiện đại Chế độ tối huệ quốc đòi hỏi một quốc gia phải bảo đảm dành cho tất cả các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau Cụ thể là trong các điều ước quốc tế về thương mại cũng như luật thương mại quốc gia, đãi ngộ tối
huệ quốc thường được thể hiện dưới dạng quy định cho các sản phẩm hàng
hoá dịch vụ có xuất xứ từ một quốc gia đối tác được hưởng chế độ thương mại “không kém ưu đãi hơn chế độ ưu đãi nhất” mà quốc gia sở tại dành cho các những sản phẩm hàng hoá dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác
Chế độ đối huệ quốc về bản chất không phải là việc ưu đã của một quốc gia chủ nhà với từng quốc gia được hưởng chế độ này mà nó chỉ về sự ưu đãi tương tự, giống nhau giữa các quốc gia trong mối liên hệ với quốc gia chủ nhà [34]
Chế độ này đã xác định cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài ở nước sở tại được hưởng các quyền lợi và ưu đãi các thể nhân và pháp nhân của bất kỳ một nước thứ ba nào đang và sẽ được hưởng trong tương lai Trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế, chế dộ đãi ngộ tối huệ quốc thường được các quốc gia áp dụng để điều chỉnh quan hệ thương mại và hàng hải, vì vậy, nội dung của
Trang 21nguyên tắc này được ghi nhận trong các hiệp định thương mại, hiệp định thương mại và hàng hải giữa các quốc gia với nhau Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc biểu hiện việc thừa nhận quyền được đối xử ngang bằng nhau giữa các quốc gia nước ngoài trong mối quan hệ của nước sở tại với các thể nhân và thể nhân của các nước khác nhau
Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay, việc nước sở tại thừa nhận và dành cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được hưởng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc có ý nghĩa to lớn trong việc tạo thuận lợi về thương mại và các hoạt động kinh tế khác mà không chỉ các quốc gia quan tâm, ngay cả thể nhân, pháp nhân các nước đều hướng tới chế độ đãi ngộ này khi quyết định đến hoạt động, làm ăn, buôn bán hoặc đầu tư ở nước ngoài Đối với người nước ngoài nói chung, chế độ đãi ngộ tối huệ quốc có sự phân biệt với chế độ đãi ngộ quốc gia ở chỗ, việc hưởng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc mà nước sở tại dành cho công dân, pháp nhân nước khác luôn luôn trên
cơ sở các thỏa thuận quốc tế giữa các nước hữu quan mà không có ý nghĩa là chế độ phổ cập đương nhiên mà nước sở tại dành cho thể nhân, pháp nhân nước khác
Hai là, chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho người nước ngoài Theo chế độ
này, người nước ngoài được hưởng các quyền và ưu đãi đặc biệt mà chính công dân nước sở tại cũng không được hưởng, đồng thời người nước ngoài không phải chịu trách nhiệm pháp lý mà công dân nước sở tại phải gánh chịu trách nhiệm trong các trường hợp tương tự
Tuy nhiên, người nước ngoài chỉ được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt này trên cơ sở pháp luật quốc gia của nước sở tại hoặc điều ước quốc tế mà nước này tham gia Trong thực tiễn, quan hệ quốc tế, chế độ đãi ngộ đặc biệt được áp dụng có tính truyền thống trong quan hệ ngoại giao – quan hệ lãnh sự
Trang 22giữa các quốc gia hoặc quan hệ quốc tế giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia…
Bên cạnh việc hưởng các quyền lợi và lợi ích được ghi nhận theo các chế
độ pháp lý nêu trên thì người nước ngoài phải có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật ước sở tại, phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của nước này Trong trường hợp có vi phạm pháp luật của nước sở tại,
họ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nước này hoặc theo các điều ước quốc tế hữu quan mà nước sở tại tham gia Trong thời gian sinh sống ở nước
sở tại, người nước ngoài vẫn tuân thủ pháp luật nước này nhưng họ vẫn không mất mối liên hệ pháp lý với nước mà họ mang quốc tịch Xuất phát từ cơ sở pháp lý của mối quan hệ này, các quốc gia có quyền bảo hộ ngoại giao đối với công dân của mìn sống ở nước ngoài, đồng thời người dân có quyền yêu cầu
cơ quan đại diện ngoại giao – lãnh sự của nước mình thực hiện bảo hộ ngoại giao đối với họ trong trường hợp họ bị xâm phạm tới quyền lợi và lợi ích ở nước ngoài
Ba là, cư trú chính trị Cư trú chính trị là việc một quốc gia cho phép
người nước ngoài đang bị truy nã tại quốc gia mà họ mang quốc tịch do những hoạt động và quan điểm về chính trị, khoa học và tôn giáo… được quyền nhập cảnh và cư trú trên lãnh thổ nước sở tại Tuyên bố của Liên hợp quốc về cư trú lãnh thổ được thông qua ngày 14/2/1967 đã khẳng định rõ
“Quyền cư trú chính trị cần được trao cho những người đấu tranh chống chủ
nghĩa thực dân Các nước cần phải giúp đỡ những ngời này để họ có thể nhập cảnh, không trục xuất, cưỡng bức họ trở về nước mà họ đang bị truy nã Các nước không được trao quyền cư trú cho những kẻ phạm tội ác quốc tế, trước hết là tội các chống hòa bình và tội ác chiến tranh Các nước phải bảo đảm
an ninh cho người cư trú chính trị trên lãnh thổ nước mình”
Trang 23Như vậy, trong quan hệ quốc tế, việc chấp nhận và cho phép một người nước ngoài được cư trú trên lãnh thổ nước mình là thẩm quyền riêng biệt của mỗi quốc gia, chủ yếu xuất phát từ lý do nhân đạo Người nước ngoài được quyền cư trú chính trị không bị buộc phải gia nhập quốc tịch của nước sở tại
Họ được hưởng những quyền ngang với người nước ngoài khác đang sinh sống ở nước sở tại Quốc gia cho phép cư trú chính trị phải có nghĩa vụ bảo đảm an ninh cho người được cư trú chính trị, bảo đảm họ không bị dẫn độ hoặc trục xuất theo yêu cầu của quốc gia mà họ là công dân Quyền cư trú chính trị không áp dụng với những đối tượng sau đây:
- Những cá nhân phạm tội ác quốc tế như tội các chiến tranh, tội ác diệt chủng…
- Những cá nhân phạm tội hình sự quốc tế, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất quốc tế như không tặc, buôn bán ma túy và các chất hướng thần…
- Những kẻ phạm tội hình sự mà việc dẫn độ được quy định trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về dẫn độ
- Những cá nhân có hành vi trái với mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc
1.2 Tổng quan về người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật quốc tịch năm 2008: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”
Như vậy người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm 2 đối tượng: là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam) hoặc người có gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài
Vì vậy thực tế một người còn quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam) hay thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước khác (người gốc Việt Nam
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài) thì theo quy định trên họ vẫn được coi
là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Do vậy, việc mua, sở hữu nhà tại
Trang 24Việt Nam của người đó sẽ được áp dụng theo chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Cụ thể tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều 126 của Luật nhà ở và điều 121 Luật đất đai ngày 18/12/2009 quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:
“1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước
2 Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản
1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1.3.1 Một số khái niệm có liên quan
1.3.1.1 Khái niệm quyền tự do đi lại, cư trú
Quyền tự do đi lại, cư trú là quyền cơ bản của con người không chỉ được Nhà nước bảo đảm mà còn được Liên Hiệp quốc – với tư cách là cơ quan liên chính phủ lớn nhất bảo đảm thông qua các văn kiện đã công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị (ICCPR) xác định rõ: Bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một
quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi
Trang 25lãnh thổ quốc gia đó Mọi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào,
kể cả nước mình Không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được trở về nước mình Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng quyền tự do đi lại, cư trú đã đề cập đến bốn dạng tự do cụ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, bao gồm: Tự
do lựa chọn nơi sinh sống trên lãnh thổ quốc gia; Tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; Tự do đi khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; Tự do trở
về nước mình
Tuy nhiên, quyền tự do đi lại và cư trú không phải là một quyền tuyệt
đối (absolute right), mà có thể bị hạn chế nếu do luật định và là cần thiết để
bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được ICCPR công nhận Nghiên cứu các quy định quốc tế về quyền tự do đi
lại, cư trú của các công ước quốc tế, cho phép chúng ta rút ra những nhận định cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tự do đi lại là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển tự
do của cá nhân Thông qua quyền tự do đi lại, các quyền cơ bản của con người từng bước được cụ thể hóa, nó là phương tiện quan trọng để phẩm giá của con người được khẳng định
Thứ hai, các quốc gia có thể đặt ra những giới hạn nhất định về quyền tự
do đi lại, tuy nhiên, những giới hạn đặt ra không được làm vô hiệu nguyên tắc
tự do đi lại, và phải dựa trên những căn cứ quy định trong Khoản 3 Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và phải phù hợp với các quyền khác được ICCPR công nhận Những hạn chế này chỉ được thực hiện nhằm các mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay đạo đức xã hội và các quyền và
tự do của người khác và phải phù hợp với các quyền khác được ghi nhận trong Công ước, cũng như phải được quy định trong pháp luật
Trang 26Thứ ba, quyền tự do đi lại không chỉ được áp dụng với các công dân mà
còn với người nước ngoài đang cư trú hoặc hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ nước khác Việc cho phép nhập cảnh và tư cách “hợp pháp” của một người nước ngoài trên lãnh thổ của một nước phụ thuộc vào quy định pháp luật quốc gia và phù hợp với những nghĩa vụ quốc tế của nước đó Tuy nhiên, khi một người nước ngoài đã được phép nhập cảnh vào lãnh thổ một nước thành viên thì người đó phải được coi là hợp pháp trong phạm vi lãnh thổ của nước này
Thứ tư, quyền tự do đi lại được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của một
nước, kể cả những phần hợp thành trong trường hợp một quốc gia theo thể chế liên bang
Thứ năm, việc bảo đảm quyền đi lại và tự do lựa chọn nơi sinh sống
trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia không phụ thuộc vào mục đích hay lý do của việc đi lại hay của việc lựa chọn nơi cư trú Bất cứ sự hạn chế nào với quyền này phải căn cứ vào quy định trong Khoản 3 Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
Trong xu hướng liên kết khu vực hiện nay, các quốc gia thành viên cùng nhau cam kết dành cho công dân các thành viên quyền tự do đi lại, cư trú ở quốc gia mình mà không có sự giới hạn như trường hợp của Liên minh Châu
Âu, theo đó, công dân các quốc gia thành viên có quyền tự do đi lại giữa các quốc gia thành viên và hình thành khái niệm “công dân Châu Âu” bên cạnh khái niệm công dân Anh, công dân Đức, công dân Pháp…
Bên cạnh quyền tự do đi lại, cá nhân cũng có quyền tự do cư trú phù hợp với khả năng của mình Việc tạo lập chỗ ở, lựa chọn nơi cư trú của các cá nhân không giống nhau, nhất là những đối tượng gặp khó khăn trong việc tạo lập chỗ ở như người thu nhập thấp, cán bộ, công chức, sinh viên, công nhân tại các khu công nghiệp, những người lao động thường xuyên phải thay đổi chỗ ở cũng như những người di cư
Trang 27Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: được hưởng các quyền cơ bản của con người, không bị phân biệt đối xử; Ngoài ra, người lao động di cư và các thành viên gia đình họ còn được hưởng một số quyền đặc biệt: quyền đến
và rời khỏi một đất nước; quyền tự do hội họp và lập hội; quyền có công việc
và các điều kiện làm việc tương xứng; quyền được giáo dục và chăm sóc sức khỏe; quyền được có cuộc sống gia đình Quyền của người lao động di cư một lần nữa được đề cập một cách sâu sắc và trực tiếp hơn thông qua hai công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là Công ước số 97 (1949) và Công ước số
143 (1975) về lao động di cư Hai công ước này khẳng định người lao động di
cư được đối xử bình đẳng với người lao động bản địa, được hưởng các điều kiện lao động; các chế độ về an sinh xã hội, về giáo dục Tuy nhiên, phạm vi của hai công ước chỉ áp dụng đối với bản thân người lao động di cư hợp pháp Trong khi đó, như chúng ta đã biết, toàn cầu hóa làm cho biên giới của các quốc gia trở nên rộng hơn nhưng không phải người lao động di cư nào cũng đi qua biên giới ấy một cách hợp pháp Ngoài ra, mục đích chung của phần lớn người lao động di cư là vì lý do kinh tế, sự di cư của người lao động phần lớn liên quan đến kinh tế của bản thân và của gia đình Cùng với những biến động của quá trình di cư, gia đình người lao động di cư cũng sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng, các thành viên trong gia đình họ cũng cần được bảo vệ Công ước quốc tế về quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình năm 1990 (Công ước 1990) vì thế được ban hành như một tất yếu Một trong những quyền cơ bản của người lao động di cư, đó là quyền cư trú, theo đó, lao động di cư được hưởng quyền về nhà ở, kể cả nhà ở xã hội và được bảo vệ trong việc khai thác nhà để cho thuê; được hưởng các dịch vụ về xã hội và sức khỏe, với điều kiện phải tham gia vào các hệ thống tương ứng; các quốc gia thành viên cam kết thực hiện các biện pháp để đảm bảo việc tụ họp của gia đình người lao động di cư phù hợp với luật áp dụng
Trang 28Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật dân sự 2005 quy định, cá nhân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú Quyền tự do đi lại, tự do cư trú của cá nhân chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, đồng thời bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của cá nhân Theo đó, cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý, chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Theo Luật Nhà ở năm 2005, công dân có quyền có chỗ ở thông qua việc tạo lập nhà ở hợp pháp hoặc thông qua việc thuê, mượn, ở nhờ nhà ở theo quy định của pháp luật Người tạo lập nhà ở hợp pháp có quyền sở hữu đối với nhà ở đó Đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định cụ thể tại Chương VI Luật Nhà ở
Từ những phân tích trên cho thấy, việc bảo đảm quyền có chỗ ở cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là nội dung không thể thiếu trong chính sách phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của các quốc gia Việc bảo đảm và thực thi có hiệu quả quyền có chỗ ở ổn định lâu dài sẽ giúp cho quốc gia sở tại trở thành “điểm đến” đáng tin cậy của người nước ngoài, giúp họ yên tâm đầu tư, lao động, làm ăn tại quốc gia sở tại
1.2.1.2 Khái niệm quyền có nhà ở
Mác đã từng khẳng định, trước khi con người tham gia vào các hoạt động chính trị, tôn giáo, thực hiện các công việc của chính quyền, con người cần được ăn, ở, đi lại Nói cách khác, quyền cư trú, quyền có chỗ ở hợp pháp được coi là những quyền cơ bản của con người Dưới góc độ Luật quốc tế,
quyền cư trú, quyền có chỗ ở là một trong những quyền được hưởng và duy
Trang 29trì tiêu chuẩn sống thích đáng (right to gain and sustain an adequate standard of living) được đề cập trong Khoản 1 Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế
Nhân quyền (UDHR), trong đó nêu rằng, mọi người đều có quyền được
hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống
do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ Theo đó,
các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được có một mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình mình, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, nhà ở, và được không ngừng cải thiện điều kiện sống Các quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm việc thực hiện quyền này, và vì mục đích đó, thừa nhận tầm quan trọng thiết yếu của hợp tác quốc tế dựa trên sự tự do chấp thuận
Quyền có nhà ở thích đáng xuất phát từ quyền có mức sống thích đáng
và có tầm quan trọng đặc biệt với việc hưởng thụ tất cả các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, được áp dụng cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt về bất cứ yếu tố nào, kể cả về giới tính Quyền có nhà ở không được hiểu theo nghĩa hẹp là quyền có một nơi trú ngụ với một mái che trên đầu Thay vào đó, cần hiểu đó là quyền được sống ở một nơi an toàn, bình yên và xứng đáng với phẩm giá con người Để bảo đảm được quyền có nhà ở, các Nhà nước cần có những chính sách cụ thể để quyền này được thực hiện trên thực tế Thông qua các quy định của pháp luật, quốc gia sở tại xác lập các quyền với nhà ở có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như nhà thuê (của các chủ thể công cộng hay
tư nhân), nhà hợp tác, nhà thuộc sở hữu của mình, nhà tạm ở trong trường hợp khẩn cấp, nhà định cư không chính thức Trong mọi hình thức sở hữu, người
Trang 30ở đều có quyền được bảo đảm pháp lý về nơi ở và tài sản ở mức độ nhất định
để tránh khỏi bị quấy rối, tước đoạt hay các nguy cơ khác
Bên cạnh những quy định mang tính pháp lý nêu trên, quốc gia sở tại cũng phải bảo đảm các dịch vụ, vật chất, tiện nghi và cơ sở hạ tầng cần thiết/tối thiểu cho con người sinh sống Một nơi ở thích đáng cần có những bảo đảm cơ bản về y tế, an ninh, tiện nghi và sự nuôi dưỡng, mà từ đó có thể tiếp cận một cách bền vững với các nguồn lực tự nhiên và chung, với các điều kiện về nước sạch, chất đốt, ánh sáng, hệ thống sưởi ấm, vệ sinh, giặt giũ, phương tiện bảo quản thực phẩm, xử lý rác thải, thoát nước và các dịch vụ trong trường hợp khẩn cấp Nhà ở thích đáng cần được xây dựng ở những nơi cho phép người ở dễ dàng tiếp cận với nơi làm việc, cơ sở y tế, trường học, nhà trẻ và các dịch vụ xã hội khác Điều này cần áp dụng với cả khu vực thành thị và nông thôn Không nên xây nhà ở tại các khu vực ô nhiễm hay gần các nguồn ô nhiễm đe dọa sức khỏe của con người
Như vậy, quyền có nhà ở chính là sự bảo đảm cho việc có được nơi cư trú ổn định, lâu dài cho con người, trong đó có người nước ngoài Quyền có nhà ở là điều kiện quan trọng cho việc thu hút đông đảo lao động nước ngoài, các chuyên gia cũng như nhà đầu tư nước ngoài yên tâm sinh sống và làm việc tại Việt Nam
1.3.1.3 Chính sách nhà ở cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Chính sách (policy) là từ quen thuộc trong các hoạt động quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự, ngoại giao, môi trường Chính sách cũng có thể là của đảng hay của doanh nghiệp, thậm chí là của cá nhân, nhưng khi là của Nhà nước thì gọi là chính sách công, hoặc đơn giản là chính sách Chính sách gồm có các mục tiêu và kết quả mong muốn Chính sách xuất phát từ thể chế và gắn với thể chế - một từ mới trong tiếng Việt dùng để
Trang 31dịch từ tiếng Anh institution Thể chế, có người gọi là định chế, “là những
quy tắc, kể cả các chuẩn mực, về hành vi mà dựa vào đó các tác nhân tương tác với nhau Thể chế còn là các tổ chức để thực hiện các quy tắc và quy phạm đạo đức nhằm đạt được kết quả mong muốn Các chính sách ảnh hưởng tới việc thể chế nào sẽ thay đổi, còn thể chế ảnh hưởng tới việc chính sách nào sẽ được áp dụng.” [20] “Chính sách và thể chế kết nối mật thiết với nhau bằng nhiều cách Thứ nhất, khi xây dựng chính sách phải chú ý cẩn thận tới năng lực thể chế (institutional capacity) Khi các thể chế yếu kém hoặc mất chức năng, các chính sách đơn giản không đòi hỏi nhiều về mặt hành chính
và sự thông hiểu của công chúng thì có tác động tốt hơn Khi thể chế vững mạnh hơn, các chính sách đòi hỏi công chúng chủ động hơn sẽ đạt hiệu quả nhiều hơn Thứ hai, các chính sách không hình thành từ chân không mà là kết quả thương lượng giữa các nhóm cạnh tranh, dựa trên các “quy tắc cuộc chơi” về thể chế và chính trị Thứ ba, quan hệ nhân quả cũng vận hành đảo chiều: việc lựa chọn chính sách ảnh hưởng đáng kể đến cách thức phát triển thể chế Một quyết định giảm thuế hoặc chuyển nhiều mức thuế rất chênh lệch nhau thành mức thuế đồng hạng có thể nâng lên rất cao động lực và trách nhiệm trong ngành hải quan và thuế, làm cho các quan chức khó đánh đổi mức thuế thấp để lấy hối lộ Đó là một ví dụ chứng tỏ vì sao cải cách kinh
tế lại là trụ cột của chương trình chống tham nhũng” (WB.2000 Reforming
Public Institutions and Strenthening Governance)
Chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục
đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và vào tình hình thực tế mà
đề ra” [30, tr.180] Sách lược được hiểu là “Những hình thức hình thức tổ chức và đấu tranh để giành thắng lợi trong một cuộc vận động chính trị” [30,
tr 872] Kế hoạch được hiểu là “toàn bộ nói chung những điều được vạch ra
một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian
Trang 32nhất định, với cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành” [30, tr 509] GS
Nguyễn Lân giải thích: “Chính sách (chính: việc nước, sách: kế hoạch)
đường lối, chủ trương của một chính phủ hay một chính đảng” [19, tr 336]
Từ những cách tiếp cận trên có thể nhận thấy, chính sách là tổng thể những quan điểm, định hướng, kế hoạch của một chính đảng, một nhà nước, một địa phương để giải quyết một công việc/nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở đường lối của đảng chính trị hoặc của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định Mục đích của việc ban hành chính sách là để thể hiện, để định hướng, hướng dẫn, làm “kim chỉ nam” cho những đối tượng liên quan thực hiện để tránh đi chệch định hướng Để chính sách đạt hiệu quả mong muốn thì không những chính sách phải đúng đắn, phù hợp thực tiễn, có tính khả thi, mà công chúng còn phải có nhận thức (awareness ) rõ ràng về nó và công chức của bộ máy chính quyền phải có đủ năng lực thực thi
Bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng các chính sách khác nhau để giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nhà nước mong muốn Chẳng hạn, kể từ khi đất nước tiến hành đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách khác nhau để giải quyết những nhiệm vụ chiến lược nhất định như chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển các thể chế/bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… trong đó có chính sách phát triển thị trường bất động sản và chính sách nhà ở cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm chính sách nhà ở cho
người nước ngoài như sau: Chính sách nhà ở cho người nước ngoài là tổng
thể các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước qua các giai đoạn phát triển khác nhau nhằm xác lập các khâu, các bước để hình thành
Trang 33quỹ nhà ở cho người có thu nhập thấp nhằm giải quyết nhu cầu nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam
1.3.2 Nội dung quyền có nhà của người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài
Về nguyên tắc, như đã phân tích ở trên, người nước ngoài khi sinh sống, làm việc trên lãnh thổ của một quốc gia nào đó cũng cần có một chỗ ở ổn định, song quyền này cũng sẽ bị những hạn chế/giới hạn vì những mục đích khác nhau Mặc dù vậy, trong chính sách và pháp luật của mình, quốc gia sở tại cần xác định một cách cụ thể, rõ ràng chính sách về bảo đảm quyền có nhà
ở cho người nước ngoài phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh chính trị, chính sách mở cửa cũng như bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi của người nước ngoài với công dân của mình khi sinh sống và làm việc tại Việt Nam Về cơ bản, chính sách nhà ở cho người nước ngoài ở quốc gia sở tại bao gồm những nội dung sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu nhà ở cho người nước ngoài,
, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Thông qua những quy định về sở hữu nhà ở cho người nước ngoài, Nhà nước xác lập và bảo vệ bằng pháp luật quyền chiếm giữ nhà ở phù hợp với quy định của pháp luật đồng thời Nhà nước cũng tạo điều kiện pháp lý cần thiết bảo đảm cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khai thác tốt nhất nhà ở mà họ đang sở hữu Tuy vậy, việc xác lập và bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài
ở các quốc gia có sự khác nhau đáng kể, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của đất nước Chẳng hạn, trước khi Pháp lệnh Nhà ở có hiệu lực, người nước ngoài không được mua và sở hữu nhà ở Khi Luật Nhà ở của Việt Nam được ban hành mới chính thức thừa nhận quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài ở Việt Nam
Trang 34Thứ hai, bảo đảm quyền thuê nhà ở cho người nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài Người nước ngoài tham gia vào dòng chảy dân cư của quốc gia sở tại có nhiều mục đích khác nhau, có người cư trú lâu dài, có người chỉ ở mang tính tạm thời, thăm dò, nhất là các thương nhân nước ngoài vào quốc gia sở tại tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư, làm ăn Khác với quyền
sở hữu, quyền thuê nhà ở của người nước ngoài thường phải đáp ứng điều kiện về thời gian cư trú, nghĩa là, để thuê được nhà ở tại quốc gia sở tại, người nước ngoài phải được phép vào quốc gia sở tại một khoảng thời gian nhất định Mục đích của việc giới hạn này là để phân biệt việc thuê nhà ở lâu dài với việc thuê nhà ở cho mục đích tham quan, du lịch…
Thứ ba, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi về đất đai cho người nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tạo lập nhà ở cho riêng mình cũng như thực hiện các dự án đầu tư nhà ở cho người nước ngoài Với chính sách này, Nhà nước sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản, góp phần vào việc thúc đẩy thị trường nhà ở cao cấp, thị trường nhà ở cho thuê phù hợp với sở thích của người nước ngoài
Thứ tư, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào các giao dịch mua bán, thuê nhà
ở Đây là nội dung rất quan trọng đối với các quốc gia, bởi lẽ, hội nhập kinh tế quốc tế buộc các quốc gia phải mở cửa các loại thị trường, trong đó có thị trường bất động sản, theo đó, các quốc gia không được sử dụng pháp luật để hạn chế quyền tham gia vào các giao dịch về nhà ở
Thứ năm, trong chừng mực nhất định, với chính sách đại đoàn kết toàn
dân và từng bước thu hút dân cư nước mình đang sinh sống, làm việc tại nước ngoài về nước tham gia đầu tư, sinh sống, các Nhà nước có thể quy định chính sách “đặc thù” đối với những đối tượng này
Trang 351.3.3 Bảo vệ quyền có nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài
Như đã phân tích ở trên, so với địa vị pháp lý của công dân, người nước ngoài khi tham gia vào các giao dịch ở quốc gia sở tại thường bị “yếu thế”, do vậy họ thường bị thua thiệt trong các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến việc mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở hoặc bị “ép giá” thuê nhà… Do đó, bảo vệ quyền có nhà ở của người nước ngoài là nhiệm vụ của các nhà nước, góp phần tạo lập lòng tin của người nước ngoài vào chính sách, pháp luật của nhà nước cũng như thiện cảm của nhà đầu tư Nhìn chung, có những biện pháp bảo vệ quyền có nhà ở cho người nước ngoài như sau:
Thứ nhất, bảo vệ bằng con tố tụng tại tòa án nhân dân Đây là phương
thức bảo vệ hữu hiệu nhất và được sử dụng nhiều nhất Theo nguyên tắc xác định thẩm quyền của tòa án nhân dân, tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với bất động sản là tòa án nơi có bất động sản đó Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhà ở là bất động sản nên việc giải quyết các tranh chấp đối với các giao dịch về nhà ở thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân nơi có bất động sản Do vậy, trong các quy định về bảo vệ quyền của người tham gia… Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền của người nước ngoài khi tham gia các giao dịch về nhà ở tại quốc gia sở tại sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tiếp cận các dịch vụ pháp lý, mức độ hiểu biết pháp luật, phong tục tập quán…Do vậy, để nâng cao chất lượng bảo vệ quyền có nhà ở cho người nước ngoài tại các quốc gia sở tại cần nâng cao tính minh bạch trong hệ thống đăng kí bất động sản, cơ chế kiểm soát các giao dịch bất động sản nhằm ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi lừa đảo trên thị trường bất động sản
Thứ hai, bảo vệ bằng con đường ngoại giao thông qua việc các nhà nước
ký kết các hiệp định thương mại song phương, trong đó có việc thực hiện các
dự án liên quan đến bất động sản, nhà ở cũng như quy định các biện pháp bảo
Trang 36đảm đầu tư bằng việc tạo thuận lợi cho thương nhân nước ngoài đến cư trú, làm ăn, đầu tư lâu dài ở quốc gia mình Có thể khẳng định, việc các quốc gia
ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương là điều kiện thuận lợi nhất cho việc bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài ở mỗi quốc gia
Thứ ba, bảo vệ thông qua các tổ chức là đại diện của người nước ngoài ở
quốc gia sở tại Quá trình giao lưu mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã làm cho quá trình hợp tác giữa các tổ chức cá nhân nước ngoài với các tổ chức cá nhân trong nước thuận lợi và dễ dàng hơn Nhiều tổ chức hữu nghị giữa các quốc gia đã được thành lập với mục đích là bảo vệ quyền lợi cho người nước ngoài đến sinh sống, làm ăn tại quốc gia sở tại và nếu gặp khó khăn về nhà ở, các tổ chức hữu nghị này sẽ trợ giúp hoặc các tổ chức hữu nghị giữa các quốc gia sẽ trở thành chủ đầu tư xây dựng các khu đô thị, nhà ở dành riêng cho người của nước mình khi sang sinh sống, làm việc ở quốc gia khác và tổ chức này cũng sẽ trở thành địa chỉ tư vấn tích cực liên quan đến các thủ tục, giấy tờ liên quan đến nhà ở tại mỗi quốc gia nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại phát sinh khi người nước ngoài tham gia vào các giao dịch nhà ở
Thứ tư, bảo vệ bằng các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực lao
động Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã dẫn đến những luồng lao động nhập
cư có nhiều quốc tịch khác nhau và bằng nhiều con đường khác nhau Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh
tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá
Một trong những khó khăn của lao động nước ngoài khi đến làm việc ở quốc gia khác, đó chính là tìm kiếm chỗ ở ổn định để làm việc Không ít trường hợp, người lao động nhập cư không được bảo đảm về chỗ ở đã buộc
Trang 37họ phải ở trong điều kiện, môi trường tồi tàn ảnh hưởng đến năng lực làm việc, vị thế, uy tín của quốc gia sử dụng lao động Với tư cách là đại diện, bảo
vệ cho người lao động, Tổ chức lao động Liên Hợp quốc (ILO) sẽ buộc các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền có chỗ ở của lao động nước Với sự can thiệp này, các quốc gia sẽ buộc phải có những chính sách để tạo chỗ ở cho người lao động nước ngoài nhập cư
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nhà ở cho người nước ngoài là một chính sách lớn của bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế xã hội mở cửa và hội nhập quốc tế, là một thực tế chứng minh sự hiện diện của người nước ngoài là một quy luật tất yếu khách quan, là quy luật không thể cưỡng lại được của bất kỳ quốc gia nào Tùy thuộc vào điều kiện phát triển, các quốc gia sẽ cho phép người nước ngoài được mua, sở hữu, hoặc thuê nhà ở phục vụ cho mục đích sinh hoạt của mình khi cư trú tại quốc gia sở tại
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đang thực hiện quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế văn hóa, xã hội toàn cầu Sự hiện diện của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam phần nào chứng minh chính sách
mở cửa đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Hệ quả của chính sách mở cửa đã dẫn đến sự hiện diện của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam ngày càng đông hơn Thực tế này đòi hỏi Nhà nước trong quá trình phát triển phải bảo đảm quyền có chỗ ở, quyền cư trú hợp pháp cho họ để họ tiến hành các hoạt động đầu tư, nghiên cứu khoa học, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
Bảo đảm quyền có nhà ở cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài là sự thể hiện chính sách đối ngoại của các quốc gia trong quá trình phát triển, thể hiện mức độ phát triển của quan hệ ngoại giao của các quốc gia, là một trong những biểu hiện của việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người Những vấn đề lý luận được trình bày trong Chương này đã làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm tiền đề cho việc phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam ở Chương 2 và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật ở Chương 3
Trang 39Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, NGƯỜI VIỆT NAM
ĐỊNH CƯ TẠI NƯỚC NGOÀI
Các nghiên cứu về người nước ngoài đã chỉ rõ, trong lịch sử phát triển khách quan của các quốc gia, công dân của nước này, nước kia cùng chung sống trên lãnh thổ của một quốc gia là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể kể đến những nguyên nhân sau: i) Do chiến tranh dẫn đến việc di cư ồ ạt; ii) Do việc chia, tách lãnh thổ quốc gia; iii) Do hậu quả của tự nhiên như động đất, núi lửa; iv) Do thay đổi chế độ chính trị, kinh tế; v) Hệ quả của quá trình hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ, giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các nước… Do vậy, việc công dân của nước này cùng chung sống với công dân nước sở tại là một hiện tượng tất yếu khách quan Nhiệm vụ của các nhà nước
là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa người nước ngoài và công dân nước mình, nhất là bảo đảm quyền được cư trú, quyền có chỗ ở ổn định, phù hợp với nhu cầu của họ tại quốc gia mình Việt Nam cũng không nằm ngoài
quy luật này
2.1 Tình hình người nước ngoài tại Việt Nam và nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, với chính sách đa phương hoá, Nhà nước Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới thì Việt Nam đã là điểm đến của nhiều người nước ngoài, không chỉ là việc các nước mở Đại sứ quán, Lãnh sự quán để tăng cường hợp tác với Việt Nam, thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam mà còn hợp tác trong nhiều lĩnh vực như
y tế, giao dục, văn hoá, khoa học - kỹ thuật…Xu hướng này đã tạo thành bức tranh đa dạng, phong phú về tình hình người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam
Trang 40Theo thống kê từ năm 2004 đến hết năm 2007 đã có khoảng hơn 80.000 người vào Việt Nam làm ăn, học tập và sinh sống, trong đó có khoảng gần 25.000 người vào Việt Nam làm ăn theo con đường hợp tác đầu tư, khoảng 1.600 người vào Việt Nam làm việc cho các Cơ quan đại diện nước ngoài, các
Tổ chức quốc tế và hơn 54.000 người nước ngoài vào Việt Nam sinh sống và làm việc trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao, kinh tế
Tính đến hết năm 2007 đã có hơn 60 Đại sứ quán và hơn 30 Tổng Lãnh
sự quán có trụ sở tại Việt Nam, trong số khoảng 1.600 người nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực ngoại giao tại Việt Nam thì có khoảng gần 1.400 người làm việc cho các Đại sứ quán và hơn 200 người đang làm việc trong các Lãnh sự quán Ngoài số lượng nêu trên thì còn có khoảng hơn 30 người nước ngoài đang làm việc cho 16 Tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam (bao gồm Tổ chức của Liên Hiệp quốc như UNICEF, UNPA, UNDP…, các Tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng thế giới WB, Ngân hàng Châu á ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF…)
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tính từ năm 1988 đến hết năm 2007 cả nước có khoảng 9.500 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 98 tỷ đô la Mỹ, trong đó dự án 100% vốn nước ngoài chiếm lớn nhất, khoảng hơn 6.000 dự án, tiếp đến là dự án liên doanh khoảng hơn 2.000 dự
án, dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh khoảng hơn 200
dự án và còn lại là các dự án đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO, hình thức
cổ phần Các địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài là thành phố Hồ Chí Minh có hơn 2.000 dự án với khoảng gần 16 tỷ USD, tiếp đến là thành phố Hà Nội có khoảng 800 dự án với hơn 10 tỷ USD, Đồng Nai có khoảng
800 dự án với hơn 9 tỷ USD USD, Bình Dương có hơn 1200 dự án đầu tư với hơn 6 tỷ USD…