Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động của TTCK Việt Nam nói chung v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nông Quốc Bình
HÀ NỘI - 2010
Trang 31.1.1 Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán 8 1.1.2 Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng 18 1.2 Vai trò và đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán
1.2.2.5 Các hình thức chào bán chứng khoán 31 1.3 Tæ chøc quèc tÕ c¸c ñy ban chøng kho¸n (iosco) 32 1.3.1 Sự hình thành, phát triển của IOSCO 32
Trang 41.3.2 Các nguyên tắc của IOSCO 33 1.3.3 Các nguyên tắc của IOSCO đối với hoạt động chào bán
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHÀO BÁN CHỨNG
KHOÁN RA CÔNG CHÚNG TRONG TƯƠNG QUAN
SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT
2.1.1 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng của một số nước
2.1.2 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng của Việt Nam
47
2.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật về chào bán chứng
khoán ra công chúng của Việt Nam và một số nước
Trang 52.2.3.1 Cơ chế quản lý nhà n-ớc đối với hoạt động chào bán chứng
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CHÀO
BÁN CHỨNG KHOÁN RA CễNG CHÚNG TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CễNG CHÚNG
82
3.1 Thực trạng thực thi phỏp luật về chào bỏn chứng khoỏn ra
cụng chỳng tại Việt Nam
82
3.2 Một số đề xuất hoàn thiện quy định phỏp luật Việt Nam về
chào bỏn chứng khoỏn ra cụng chỳng để phự hợp với luật
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán TTCK : Thị trường chứng khoán UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Trang 7Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
2.1 So sánh về đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
31
2.2 Bảng so sánh các cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt
động chào bán chứng khoán ra công chúng
65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) đang ngày càng đóng vai trò là kênh dẫn vốn, huy động vốn quan trọng trong phát triển kinh tế Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đặt ra mục tiêu tổng quát, đó là phải:
Phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo; từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu
tư phát triển và cải cách nền kinh tế; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế [10]
Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006
đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng khung pháp
lý cho hoạt động của TTCK Việt Nam nói chung và hoạt động phát hành, chào bán chứng khoán huy động vốn của các loại hình doanh nghiệp nói riêng Với phạm vi điều chỉnh rộng, Luật Chứng khoán quy định hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng của các đối tượng là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần tạo ra sự thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Lần đầu tiên tại Luật Chứng khoán đã quy định cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được chào bán chứng khoán huy động vốn trên TTCK quốc
tế Với quy định này, một mặt mở ra kênh huy động vốn vô cùng quan trọng cho doanh nghiệp Việt Nam; mặt khác, cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài được tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong hội nhập thị trường vốn quốc tế
Trang 9Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật về chứng khoán và TTCK trong thời gian qua cho thấy pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, vướng mắc, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình chào bán chứng khoán huy động vốn, cụ thể như: Luật Chứng khoán mới chỉ giới hạn điều chỉnh về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, chưa quy định thế nào là hoạt động phát hành riêng lẻ Các quy định về khái niệm, về điều kiện, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng hiện nay chưa rõ ràng và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Mặc dù pháp luật
đã bước đầu điều chỉnh về hoạt động chào bán chứng khoán ra nước ngoài song mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc đòi hỏi phải có những quy định hướng dẫn cụ thể về điều kiện, về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và ngay cả việc giải quyết xung đột pháp luật khi doanh nghiệp Việt Nam tiến hành chào bán chứng khoán ra nước ngoài hay doanh nghiệp nước ngoài chào bán chứng khoán tại Việt Nam
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng phải được tiến hành trên cơ sở tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động của TTCK Việt Nam và dựa trên cơ sở ứng dụng một cách khoa học của quá trình nghiên cứu kinh nghiệm về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn của thế giới vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trước những yêu cầu của lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên
cứu luận văn với đề tài "Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước" là một đòi
hỏi mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam và ý nghĩa lý luận của đề tài
Mặc dù trong quá trình xây dựng Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK là
Bộ Tài chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)) đã có một số
Trang 10nghiên cứu riêng lẻ liên quan đến việc chào bán chứng khoán ra công chúng song những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ các vấn đề mang tính nguyên tắc Hiện nay, cũng chưa có một đề tài nào nghiên cứu toàn diện về nội dung này, đặc biệt là dưới góc độ so sánh với quy định pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của một số nước để rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam Các văn bản, tài liệu về kinh nghiệm của nước ngoài trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng hầu hết đều chưa được dịch ra
tiếng Việt Do vậy, việc nghiên cứu luận văn với đề tài "Một số vấn đề pháp
lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước" là thực sự cần thiết, góp phần xây dựng và hoàn thiện
các quy định pháp luật của Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài luận văn hướng đến các mục tiêu sau:
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng;
- Nghiên cứu pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của một số nước nhằm rút ra cơ sở lý luận và bài học cho việc quy định vấn đề này tại Việt Nam;
- Đánh giá, phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam; phân tích những mặt bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm khuyến khích phát triển hoạt động này trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được giới hạn trong khuôn khổ nghiên cứu, so sánh một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… về hoạt động chào bán chứng khoán ra
Trang 11công chúng (về phương thức quản lý đối với hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng, về điều kiện, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng); đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước nêu trên và với các nguyên tắc của Tổ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng; tìm hiểu và phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng
5 Cơ sở pháp lý và thực tiễn của đề tài
* Cơ sở pháp lý
- Tổng thể các quy phạm pháp luật của Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng: Luật Chứng khoán năm 2006 và Nghị định số 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán đặt trong mối quan hệ hài hòa tổng thể với hệ thống pháp luật có liên quan của Việt Nam, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
- Pháp luật về chứng khoán và TTCK của một nước trên thế giới gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…
- Các nguyên tắc của IOSCO trong hoạt động chào bán chứng khoán
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình xây dựng luận văn này, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để xử lý các vấn đề đặt ra, cụ thể đó là:
Trang 12- Phương pháp đọc tài liệu, trích lọc và tổng hợp: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo và được sử dụng xuyên suốt quá trình xây dựng luận văn này Phương pháp này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra tại Chương 1 của luận văn Trên cơ sở đọc, nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước, tác giả đã khái quát hóa một số vấn đề có tính lý luận chung về chứng khoán và TTCK, về chào bán chứng khoán ra công chúng, về các nguyên tắc của IOSCO về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, góp phần hướng tới mục tiêu làm sáng tỏ cơ
sở lý luận của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng
- Cũng giống với phương pháp đọc tài liệu, trích lọc và tổng hợp, phương pháp so sánh và phân tích cũng được tác giả sử dụng một cách triệt để tại luận văn này Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này mang lại hiệu quả cao nhất khi xử lý các vấn đề đặt ra tại Chương 2 của luận văn Thông qua so sánh một số nội dung cơ bản của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…, luận văn đã làm rõ những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước
để từ đó phân tích, đánh giá, rút ra các nhận xét về hệ thống pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam
- Nếu như ở tại Chương 1 và Chương 2 của luận văn chỉ sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu nhất định thì tại Chương 3 của luận văn lại là sự kết hợp nhuần nhuyễn của tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm rà soát thống kê, trích lọc, so sánh, phân tích và tổng hợp Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu này tại Chương 3I, một chương có thể nói là quan trọng nhất của luận văn này, đã đem lại một số kết quả chính cho luận văn này
đó là: đánh giá được thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam, nêu bật những điểm vướng mắc, hạn chế của hệ thống pháp luật này tại Việt Nam, từ đó luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam
Trang 137 Những đóng góp mới của luận văn
Với việc tập trung nghiên cứu một lĩnh vực mới, chưa được nghiên cứu sâu tại Việt Nam, đó là một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán
ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, luận văn đã
có một số đóng góp nhất định, cụ thể như sau:
Thứ nhất, từ việc phân tích về các khái niệm, định nghĩa về chứng khoán
và TTCK cũng như các đặc điểm cơ bản của TTCK, tác giả đã chỉ rõ một số điểm khác biệt giữa TTCK thời kỳ sơ khai và TTCK trong nền kinh tế hiện đại, đồng thời đưa ra định nghĩa về chứng khoán và TTCK xuất phát từ bản chất và các đặc điểm của TTCK
Thứ hai, luận văn đã khái quát hóa một số vấn đề lý luận về chào bán
chứng khoán ra công chúng, phân tích, làm rõ các đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng thông qua việc so sánh những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu đúc kết được một số đặc điểm cơ bản
của khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam và một số nước trên thế giới; chỉ rõ những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa quy định pháp luật của Việt Nam và của một số nước về chào bán chứng khoán ra công chúng để từ đó, đánh giá tính tương thích, sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước cũng như với thông
lệ quốc tế về chào bán chứng khoán ra công chúng
Thứ tư, luận văn đi sâu phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào
bán chứng khoán ra công chúng tại Việt Nam trong thực tiễn, chỉ rõ những điểm vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng
Thứ năm, luận văn đưa ra một số đề xuất hoàn thiện các văn bản pháp
luật chung về chứng khoán và TTCK và các văn bản pháp luật chuyên ngành
Trang 14về chứng khoán và TTCK, đặc biệt là Luật Chứng khoán Các đề xuất này vừa có tính thời sự, vừa có tính ứng dụng cao trong thực tiễn do hiện nay Quốc hội đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán nhằm khắc phục các vướng mắc, hạn chế trong quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu đặc thù và thực tế của hoạt động chứng khoán và TTCK cũng như xu thế hội nhập với TTCK các nước và khu vực
Với các đóng góp có tính mới nêu trên, tác giả cho rằng luận văn vừa mang giá trị thời sự, có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu cho các cán bộ trong ngành chứng khoán trong hành trang tri thức hội nhập kinh tế quốc tế, vừa có giá trị ứng dụng trong thực tiễn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chào bán chứng khoán ra công chúng
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng
trong tương quan so sánh với quy định pháp luật của một số nước
Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật về chào bán chứng khoán ra
công chúng tại Việt Nam và một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1 Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Hiện nay có rất nhiều cuốn sách cũng như công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TTCK ra đời từ thế kỷ 17 và vai trò của nó ngày càng được nâng cao cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản [44] Tuy nhiên, có nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng, TTCK ban đầu xuất hiện vào giữa thế kỷ 15 ở Phương Tây một cách rất tự phát và sơ khai Lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ các thương gia thường tụ tập lại tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm hàng hóa, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ
15, khu chợ trở thành "thị trường" và hình thành nên các quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia "thị trường" Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra năm 1453 tại gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) để trao đổi, mua bán kỳ phiếu nước ngoài hay các loại giấy tờ có giá khác Tại đây, người
ta treo một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là "Bourse", có nghĩa là "Mậu dịch thị trường" hay "Sở giao dịch" [15, tr 25]
Thị trường thời kỳ sơ khai này có một số đặc điểm cơ bản đó là:
- Thị trường được hình thành một cách tự phát với sự tham gia của các nhà đầu cơ, chưa có sự tham gia của công chúng đầu tư
- Hoạt động của thị trường chưa có sự quản lý bởi cơ quan nhà nước cũng như chưa có sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp lý nào Trong quá trình giao dịch mua bán, các thành viên thống nhất với nhau các quy ước và dần dần những quy ước này trở thành những nguyên tắc chung có tính bắt buộc đối với các thành viên tham gia thị trường
Trang 16- Các giao dịch được diễn ra ở ngoài trời; phương thức giao dịch rất đơn giản với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng
- Hàng hóa giao dịch trên thị trường đơn giản và ít chủng loại, chỉ bao gồm kỳ phiếu nước ngoài, khế ước nợ và trái phiếu Chính phủ, được gọi chung là chứng khoán
Chứng khoán thời kỳ này được hiểu đơn giản là loại tài sản mang lại thu nhập cho người sở hữu và khi cần người sở hữu có thể bán để thu tiền về Chứng khoán có đầy đủ các đặc trưng của tài sản, đó là các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Tuy nhiên, biểu hiện của các quyền năng trên rất khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của người sở hữu chứng khoán và loại chứng khoán
Thị trường chứng khoán càng ngày càng phát triển đến mức không thể thiếu trong nền kinh tế của các nước theo cơ chế thị trường Ở các nước có nền kinh tế phát triển, mỗi TTCK lại có nhiều Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) khác nhau Ví dụ như ở Mỹ, TTCK Mỹ xuất hiện từ năm 1792 nhưng đến năm 1800, SGDCK đầu tiên mới được thành lập và sau đó hàng loạt các SGDCK được thành lập trên khắp nước Mỹ Hai SGDCK lâu đời nhất và nổi tiếng nhất Mỹ là SGDCK NewYork (NYSE) (nay đổi tên là NYSE Euronext) và SGDCK NASDAQ Tại Nhật có 8 SGDCK trong đó lớn nhất là các SGDCK Tokyo, Osaka, Nagoya, Kyoto…[15, tr 28-30]
TTCK ngày nay cũng có nhiều tên gọi khác nhau phụ thuộc vào từng loại hình TTCK và từng quốc gia như: Security Market, Stock Market, Stock Exchange…
Vậy TTCK là gì? TTCK trong nền kinh tế hiện đại có gì khác so với thị trường chứng khoán thời kỳ sơ khai trước đây?
Có nhiều khái niệm về TTCK Giáo trình TTCK - Trường Đại học
Ngoại thương đưa ra định nghĩa về TTCK đó là "một thị trường mà ở nơi đó
người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời" [26] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia lại đưa ra khái niệm "Thị
Trang 17trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp, do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi" [45] Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và TTCK do
Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán - UBCKNN biên soạn mặc dù qua nhiều lần chỉnh sửa nhưng TTCK vẫn được định nghĩa là
"nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng
khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán" [15, tr 33]
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học, các phương thức giao dịch trên TTCK đã được cải tiến ngày càng hiện đại, chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử Do vậy, TTCK không còn chỉ là một nơi, một địa điểm nhất định mà tại đó chứng khoán được giao dịch, mua đi bán lại từ người này sang người khác TTCK còn có thể là bất cứ hình thức nào tập hợp người mua
và người bán chứng khoán và chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, khái niệm về TTCK đã được
mở rộng, theo đó,"thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình
thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán" [20, khoản 18 Điều 6]
Mặc dù vậy, các định nghĩa mới chỉ ra được mặt hình thức của TTCK
mà chưa chỉ ra được bản chất của TTCK Xét về mặt bản chất, TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm Để huy động vốn cho đầu tư, những người thiếu vốn phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu Những người có vốn nhàn rỗi thay vì đầu tư vào máy móc thiết bị, nhà xưởng để sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ thì sẽ đầu tư vào các chứng khoán được phát hành bởi những người cần huy động vốn Như vậy, thông qua TTCK, nguồn vốn được dẫn trực tiếp từ người cung vốn sang người cầu vốn mà không phải qua bất kỳ tổ chức trung gian nào Thông qua TTCK, những người có chứng khoán có thể mua đi, bán lại các chứng khoán đã được
Trang 18phát hành theo giá cả thị trường sau một thời gian nhất định nhằm mục đích
kiếm lời Tuy nhiên, việc mua bán, trao đổi các chứng khoán thực chất chỉ là sự
thay đổi các chủ sở hữu nắm giữ các chứng khoán đó, còn giá trị thực của chứng khoán lại được biểu hiện dưới dạng các nguồn vốn như tiền mặt, tư liệu sản xuất, sản phẩm, bán thành phẩm… tồn tại trong tổ chức phát hành chứng khoán đó và giá trị này có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc hiệu quả của hoạt động kinh doanh, sản xuất của tổ chức phát hành Vì vậy, Các Mác còn gọi "chứng khoán" mua bán trên thị trường là "tư bản giả" [25, tr 11-12] Do đó, bản chất của TTCK không chỉ phản ánh các quan hệ mua, bán chứng khoán mà còn biểu hiện quyền sở hữu và quyền sử dụng các nguồn vốn trong các tổ chức phát hành dưới dạng tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền Như vậy, TTCK là nơi mua, bán các quyền sở hữu vốn dưới dạng các chứng khoán [25, tr 12]
Về bản chất, TTCK ngày nay không có gì khác so với thời kỳ sơ khai trước đây nhưng lại có nhiều đặc điểm riêng biệt thể hiện sự phát triển ngày càng cao của TTCK
Trước đây, nói đến thị trường nói chung hay TTCK nói riêng, người ta thường hình dung đến một địa điểm hay một không gian nhất định và tại đấy người ta có thể mua hay bán các loại hàng hóa, các loại chứng khoán nhất định Ngày nay, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và thương mại điện tử, việc mua, bán chứng khoán được thực hiện thông qua nhiều phương tiện hiện đại như điện thoại, fax, internet…mà không cần một địa điểm cụ thể nào cả
Ở giai đoạn đầu, TTCK có tổ chức đơn giản, không có sự quản lý của
cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động của TTCK chỉ được điều chỉnh bởi các quy tắc do thành viên thị trường đặt ra mà không phải là các quy định pháp lý
do nhà nước ban hành Ngày nay, TTCK có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phức tạp,
có cơ quan quản lý điều hành Hoạt động của TTCK phải tuân theo những quy tắc nhất định do pháp luật từng nước quy định và phải phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường cũng như thông lệ quốc tế
Trang 19Về khái niệm "chứng khoán", cùng với sự phát triển của TTCK, khái niệm "chứng khoán" cũng ngày càng mở rộng Trước đây, Luật Chứng khoán của nhiều nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật lục địa/luật La mã, đưa ra khái niệm "chứng khoán" theo nghĩa hẹp với một danh mục cụ thể các công cụ Những danh mục này giới hạn một cách rõ ràng quy mô của Luật, nhưng cũng tạo ra khả năng linh hoạt nhất định để đáp ứng sự phát triển, thay đổi của thị trường tài chính Theo đó, một loạt các công cụ tài chính, bao gồm
cả các công cụ có độ rủi ro cao, không được điều chỉnh
Mức độ và tốc độ thay đổi của thị trường tài chính trong vòng hai thập
kỷ qua đã gia tăng đáng kể yêu cầu phải có một định nghĩa linh hoạt hơn về chứng khoán Điều này được thể hiện trong công cuộc cải cách thị trường tài chính ở nhiều quốc gia trong 10 năm vừa qua Công cụ chứng khoán luôn được thay đổi và có xu hướng ngày càng phát triển, đa dạng các loại sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh Do vậy, pháp luật của nhiều nước, ngoài việc quy định các chứng khoán mang tính phổ biến, dễ xác định (như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…) còn quy định các nguyên tắc, bản chất của chứng khoán để trên cơ sở đó cơ quan quản lý có căn cứ điều chỉnh linh hoạt đối với các loại sản phẩm mới
Ví dụ như tại Đạo Luật chứng khoán năm 1933 của Hoa Kỳ, tại phần 2(a) đưa ra khái niệm về chứng khoán theo cách thức liệt kê, theo đó
"Thuật ngữ "chứng khoán" có nghĩa là bất cứ giấy tờ, cổ phiếu, cổ phiếu quỹ, công cụ chứng khoán tương lai, trái phiếu, giấy nợ, bằng chứng về công nợ, chứng nhận về lợi ích hay tham gia bất cứ thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận nào, chứng chỉ tín thác - cầm cố, chứng nhận hay đăng ký tham gia thành lập tổ chức, cổ phiếu chuyển đổi, hợp đồng đầu tư, chứng nhận bỏ phiếu, chứng nhận đặt cọc về chứng khoán, lợi ích không thể phân chia liên quan đến dầu, khí hay bất cứ quyền gì về khoáng sản, bất cứ quyền mua, bán, hợp đồng chứng khoán hai chiều, quyền mua hay đặc quyền đối với chứng khoán, chứng nhận tiền gửi, hay nhóm các chỉ số hoặc chỉ số chứng khoán (bao gồm
Trang 20bất cứ lợi ích liên quan hay trên cơ sở các giá trị đó), hoặc bất cứ quyền mua, bán, hợp đồng chứng khoán hai chiều, quyền mua hay đặc quyền về chứng khoán quốc gia liên quan đến ngoại tệ, hoặc nói chung là bất cứ lợi ích hay công cụ nào được hiểu là "chứng khoán", hoặc bất cứ chứng chỉ lợi ích hay sự tham gia, kể cả tạm thời, dưới dạng giấy biên nhận, giấy bảo lãnh, hay chứng quyền, quyền mua hay quyền đặt mua những công cụ nói trên
Tại Nhật Bản, Luật công cụ tài chính và Sở giao dịch (FIEL) thay thế cho Luật Chứng khoán và Sở giao dịch năm 2007, kế thừa phiên bản trước, Điều 2 (Định nghĩa thuật ngữ) FIEL cũng đưa ra một danh mục các sản phẩm điều chỉnh - chứng khoán và công cụ phái sinh - tuy nhiên đã mở rộng phạm
vi điều chỉnh ra đối với hơn 20 chứng khoán bao gồm trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công ty, chứng chỉ cổ phiếu, chứng chỉ quyền lợi/lợi ích đối với quỹ tín thác Ngoài những công cụ được liệt kê trong danh mục, câu cuối cùng của Điều 2 cho phép bao quát các chứng khoán hay chứng chỉ khác nếu "cần thiết
để đảm bảo lợi ích hay để bảo vệ nhà đầu tư"
Luật về chứng khoán và Sở giao dịch của Hàn Quốc, Chương 1, Điều 2 (Định nghĩa thuật ngữ) trong phiên bản sửa đổi năm 2002 quy định: Thuật ngữ "chứng khoán" trong luật này có nghĩa là những công cụ dưới đây: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu chính quyền địa phương; Trái phiếu phát hành bởi công ty được thành lập theo Đạo luật cụ thể; Trái phiếu công ty; Các chứng chỉ tham gia/đóng góp phát hành bởi công ty được thành lập theo Đạo luật cụ thể; Chứng chỉ cổ phiếu hay các công cụ đại diện cho quyền mua ưu tiên; Các chứng chỉ hay công cụ do doanh nghiệp nước ngoài phát hành, có cùng bản chất với các công cụ được liệt kê từ khoản 1 đến khoản 6 Điều này; Chứng chỉ lưu ký chứng khoán phát hành bởi đối tượng được quy định trong Nghị định (Presidential Decree) trên cơ sở chứng chỉ/công cụ gốc do doanh nghiệp nước ngoài phát hành…, và Các chứng chỉ/công cụ khác được quy định trong Nghị định (Presidential Decree) có tính chất tương tự hay liên quan đến các công cụ liệt kê từ khoản 1 đến khoản 8 Điều này
Trang 21Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có khái niệm "chứng khoán" mà chỉ có các khái niệm về "cổ phiếu" và "trái phiếu" Các khái niệm này ra đời năm 1993 cùng với sự ra đời của Luật Công ty cho phép doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn Nhằm khuyến khích việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và nước ngoài, ngày 11/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK Tại văn bản này, khái niệm "chứng khoán" lần đầu tiên được
xuất hiện và được định nghĩa "là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận
các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán bao gồm: cổ phiếu; trái phiếu; chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác"
Chứng khoán, theo định nghĩa tại Luật Chứng khoán Việt Nam năm
2006, là:
Bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử, bao gồm các loại: (1) cổ phiếu; (2) trái phiếu; (3) chứng chỉ quỹ; (4) quyền mua cổ phần; (5) chứng quyền; (6) quyền chọn mua, quyền chọn bán; (7) hợp đồng tương lai; (8) nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán [20, khoản 1 Điều 6]
Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa về 7 loại chứng khoán trong số 8 loại chứng khoán nêu trên, cụ thể như sau:
- Cổ phiếu: Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (khoản 2 Điều 6) Cổ phiếu được phát hành khi công ty cổ phần huy động vốn để thành lập công ty hoặc trong khi công ty cổ phần huy động thêm vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Số vốn đó được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông
Trang 22- Trái phiếu: Ngoài cổ phiếu, trỏi phiếu cú thể được phỏt hành để vay
vốn phục vụ cho việc mở rộng, phỏt triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cho nhu cầu chi tiờu của Chớnh phủ Trỏi phiếu cú thể do cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn hoặc cụng ty cổ phần phỏt hành Người nắm giữ trỏi phiếu là chủ nợ của tổ chức phỏt hành, được gọi là trỏi chủ và khụng cú quyền sở hữu cụng ty như những cổ đụng Trỏi phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời sở hữu đối với một phần vốn nợ của
tổ chức phát hành (khoản 3 Điều 6)
- Chứng chỉ quỹ đầu t-: là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu
của nhà đầu t- đối với một phần vốn góp của Quỹ đại chúng (khoản 4 Điều 6)
- Quyền mua cổ phần: là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát
hành kỡm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung, nhằm đảm bảo cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã đ-ợc xác định (khoản 5 Điều 6)
- Chứng quyền: là chứng khoán đ-ợc phát hành phát hành cùng với
việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu -u đãi, cho phép ng-ời sở hữu chứng khoán đ-ợc quyền mua một khối l-ợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã đ-ợc xác định tr-ớc trong thời kỳ nhất định (khoản 6 Điều 6)
- Quyền chọn mua, quyền chọn bán: là quyền đ-ợc ghi trong hợp đồng
cho phép ng-ời mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số l-ợng chứng khoán đ-ợc xác định tr-ớc trong khoảng thời gian nhất định với mức giá đ-ợc xác định tr-ớc (khoản 7 Điều 6)
- Hợp đồng t-ơng lai: là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán,
nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số l-ợng và mức giá nhất định vào ngày xác định tr-ớc trong t-ơng lai (khoản 8 Điều 6)
Mặc dự mỗi nước đều đưa ra cỏc định nghĩa khỏc nhau về chứng khoỏn, tựy thuộc vào trỡnh độ phỏt triển của thị trường cũng như năng lực quản lý của mỗi nước nhưng về bản chất chứng khoỏn là cỏc loại giấy tờ cú
Trang 23giá hoặc là bằng chứng xác nhận quyền lợi ích hợp của người nắm giữ đối với một loại tài sản nhất định mà để trở thành chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó; (2) Có khả năng giao dịch và (3) Được pháp luật thừa nhận
Chứng khoán bao gồm 5 nhóm chính là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch, TTCK có thể được chia thành thị trường cổ phiếu, trái phiếu và thị trường các công cụ phái sinh
- Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và
giao dịch Thị trường cổ phiếu gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp
- Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành
và giao dịch, thị trường trái phiếu cũng gồm có thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường trái phiếu thứ cấp
- Thị trường các công cụ phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng
tương lai, chứng quyền, các quyền chọn mua, chọn bán…
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK được chia thành hai thị trường: thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch (thị trường thứ cấp)
- Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi các chứng khoán lần đầu tiên
được phát hành Việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp nhằm huy động vốn cho tổ chức phát hành, qua thị trường này những nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng và các tổ chức kinh tế xã hội có thể chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho tổ chức phát hành chứng khoán
- Thị trường chứng khoán thứ cấp là nơi mua đi bán lại các chứng
khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp vì vậy còn gọi là thị trường giao dịch Việc phát hành chứng khoán đem lại cho chính phủ và các công ty
Trang 24những nguồn vốn lớn, nhưng sẽ không thể tiếp tục phát hành ngày càng nhiều loại chứng khoán nếu việc huy động vốn chỉ dừng lại ở việc sở hữu chứng khoán Nếu những người nắm giữ chứng khoán có thể dễ dàng chuyển nhượng chứng khoán để thu hồi vốn bất kỳ khi nào họ muốn thì họ sẵn sàng tiếp tục mua chứng khoán mỗi khi có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư Khi chứng khoán đã có đủ hai công dụng là tính sinh lãi và tính dễ chuyển nhượng - tức là tính thanh khoản - thì mới thực sự trở thành hàng hóa Vì vậy xuất hiện nhu cầu cần có cơ chế mua bán chứng khoán trên thị trường, cơ chế này là thị trường mua bán lại các chứng khoán đã phát hành - thị trường thứ cấp [27, tr 12-14]
Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ tương tác gắn bó chặt chẽ với nhau Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường thứ cấp Có thị trường sơ cấp nhưng chưa có thị trường thứ cấp thì cũng chưa có TTCK TTCK chỉ ra đời sau khi đã có thị trường thứ cấp, nếu không có sự tồn tại của thị trường thứ cấp thì thị trường
sơ cấp cũng khó có thể phát triển và hoạt động có hiệu quả Thị trường sơ cấp tạo ra hàng hóa cho thị trường thứ cấp; thị trường thứ cấp phát triển, có tính thanh khoản cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn ở thị trường
sơ cấp và định giá chứng khoán theo cơ chế thị trường
Xuất phát từ bản chất và các đặc điểm của chứng khoán và TTCK, có
thể rút ra định nghĩa về chứng khoán và TTCK như sau: Chứng khoán là các
loại giấy tờ có giá hoặc bằng chứng xác nhận quyền lợi ích hợp của người nắm giữ đối với một loại tài sản nhất định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận nó là chứng khoán, cho phép giao dịch trên thị trường chứng khoán Còn TTCK là nơi huy động và phân phối các nguồn vốn cho các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế quốc dân, là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán chứng khoán hoặc là bất cứ một hình thức nào tập hợp những người mua và bán để giao dịch chứng khoán theo các nguyên tắc của thị trường nhằm mục đích kiếm lời
Trang 251.1.2 Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng
Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng là vấn đề vô cùng quan trọng, nó xác định phạm vi quản lý của nhà nước, xác định ranh giới giữa một bên là được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng và một bên được coi là chào bán chứng khoán riêng lẻ
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chủ thể phát hành chào bán
chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường
là cho các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (các ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tài chính, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán…) có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng
đầu tư như đối với hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng Còn chào
bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định
Việc phân biệt chào bán chứng khoán riêng lẻ và chào bán chứng khoán ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một TTCK an toàn, công khai và có hiệu quả
Dưới góc độ kinh tế thì hoạt động chào bán chứng khoán bao gồm các hoạt động chính là chào mời, bán và phát hành chứng khoán cho công chúng Các chủ thể muốn huy động vốn trên TTCK thì phải tiến hành các hoạt động chào mời các nhà đầu tư góp vốn bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu hay các chứng chỉ do các chủ thể đó phát hành Còn dưới góc độ pháp luật, chào bán chứng khoán là một chế định pháp luật gồm tæng hîp c¸c quy ph¹m ph¸p luËt
Trang 26quy định điều kiện, thủ tục chào bán chứng khoán và ®iÒu chØnh c¸c quan hÖ ph¸t sinh gi÷a c¸c chñ thó trong qu¸ tr×nh chào bán chứng khoán
Chào bán chứng khoán ra công chúng là một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu được pháp luật chứng khoán các nước quy định Tuy nhiên, mỗi nước có cách đặt vấn đề khác nhau và có quy định khác nhau về chào bán chứng khoán ra công chúng Có nước sử dụng cách quy định miễn trừ, tất cả những trường hợp chào bán không thuộc phạm vi miễn trừ thì đều được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng (điển hình là Hoa Kỳ); có nước lại sử dụng cách liệt kê để đưa ra định nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng; có nước quy định theo giới hạn về vốn, có nước quy định theo giới hạn về số người đầu tư (Bungaria, Anbanie…); có nước lại vừa sử dụng cách liệt kê vừa sử dụng cách quy định miễn trừ…
Tham khảo một vài quy định của một số nước, ví dụ Luật Chứng khoán Bungaria 1999 quy định những trường hợp được coi là chào bán chứng
khoán ra công chúng như sau: "Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc
chào bán để trao đổi chứng khoán hoặc đề nghị mua lại chứng khoán trong trường hợp tối thiểu 50 người, hay một số lượng người xác định, bao gồm cả việc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng" [19, Điều 4]
Anbanie là nước quy định phạm vi quản lý đơn giản nhất, theo đó Luật Chứng khoán Anbanie quy định chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán cho trên 50 người [37, tr 18]
Luật Chứng khoán Pháp quy định: Việc chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là việc cho phép một công cụ tài chính được mua bán trên thị trường có quản lý hoặc là việc phát hành hay nhượng bán công cụ tài chính ra công chúng có sử dụng quảng cáo, vận động hoặc thông qua các tổ chức trung gian Số người cụ thể do ñy ban Chøng kho¸n quy định là 300 người [37, tr.17]
Luật Chứng khoán Ba Lan 1997 quy định chào bán chứng khoán ra
công chúng là “đề nghị chào bán hoặc việc bán chứng khoán được phát hành
Trang 27theo đợt thụng qua cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng hoặc thụng qua hỡnh thức khỏc nếu như việc chào bỏn núi trờn là nhằm mục đớch bỏn cho hơn 300 người hoặc cho số lượng người mua khụng được nờu rừ" [28, Điều 2]
Luật Chứng khoỏn Cộng hũa Belarus (Điều 8) quy định:
“Chào bỏn chứng khoỏn ra cụng chỳng là trường hợp tổ chức phỏt hành thụng bỏo việc chào bỏn hoặc khi việc phỏt hành đỏp ứng được ớt nhất một tiờu chớ sau: Chứng khoỏn được phỏt hành cho những đối tượng khụng thể xỏc định trước, bao gồm cỏc phỏp nhõn và cỏ nhõn; Chứng khoỏn được chào bỏn cho hơn 100 phỏp nhõn và cỏ nhõn” [37]
Luật Chứng khoán Trung Quốc sửa đổi bổ sung năm 2005 phân định
rõ thế nào là phát hành rộng rãi ra công chúng: (1) V-ợt quá 200 nhà đầu t-
hoặc (2) Không đạt 200 nhà đầu t- nh-ng có đăng quảng cáo để phát hành (sử dụng thông tin đại chúng) [37]
Theo thụng lệ quốc tế, chào bỏn chứng khoỏn ra cụng chỳng là quỏ trỡnh bắt đầu từ việc tổ chức phỏt hành chào mời người đầu tư mua chứng khoỏn của mỡnh và kết thỳc bằng việc phỏt hành chứng khoỏn Hoạt động phỏt hành chứng khoỏn chỉ là một khõu trong quỏ trỡnh mời chào, phỏt hành
và bỏn chứng khoỏn Để bảo vệ cụng chỳng đầu tư và duy trỡ lũng tin đối với TTCK, luật phỏp về chứng khoỏn trờn thế giới đều cú những quy định quản lý hoạt động chào bỏn chứng khoỏn ra cụng chỳng thụng qua việc yờu cầu và giỏm sỏt tổ chức phỏt hành thực hiện cụng bố thụng tin ngay từ khi bắt đầu chào mời cụng chỳng đầu tư mua chứng khoỏn [24, tr 85]
Ở Việt Nam, Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Nghị định 144/2003/NĐ-CP trước đõy khụng sử dụng khỏi niệm chào bỏn chứng khoỏn ra cụng chỳng mà
sử dụng khỏi niệm "phỏt hành chứng khoỏn ra cụng chỳng", theo đú, phỏt hành chứng khoỏn ra cụng chỳng là việc chào bỏn một đợt chứng khoỏn cú thể chuyển nhượng được thụng qua tổ chức trung gian cho ớt nhất 50 nhà đầu
Trang 28tư ngoài tổ chức phát hành Định nghĩa này chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kẽ hở để các tổ chức phát hành lách luật để không phải tuân thủ các quy định về phát hành chứng khoán Định nghĩa phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Nghị định 144/2003/NĐ-CP bao gồm cả hai tiêu chí "50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành" và "thông qua tổ chức trung gian" Như vậy, doanh nghiệp có thể phát hành cho trên 50 nhà đầu tư nhưng không thông qua tổ chức trung gian để không phải đăng ký phát hành với UBCKNN Ngay cả khái niệm "nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành" cũng không rõ ràng Liệu nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành có phải là nhà đầu tư không trực tiếp tham gia góp vốn và quản lý doanh nghiệp hay không? [24, tr 85-86]
Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua năm 2006 đưa ra định nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng theo các phương thức liệt kê,
cụ thể:
Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán
chứng khoán theo một trong các phương thức, đó là thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; hoặc chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định [20, Khoản 12 Điều 6]
1.2 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG
1.2.1 Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng
Nói đến TTCK, người ta thường nhắc đến SGDCK nơi diễn ra các hoạt động mua, bán giao dịch chứng khoán mà ít ai nhắc đến hoạt động chào bán chứng khoán Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động chào bán chứng khoán lại có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở các mặt như sau:
Trang 29- Thông qua việc phát hành chứng khoán, các doanh nghiệp có thể huy động vốn từ những nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng và các tổ chức kinh
tế xã hội để có thể chuyển thành vốn đầu tư dài hạn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Chính phủ và các chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các khoản vốn nhàn rỗi thông qua phát hành các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương để phục vụ cho mục đích đầu tư, phát triển hạ tầng kinh tế, phục
vụ cho các chương trình, dự án đầu tư
- Hoạt động chào bán, phát hành chứng khoán của các chủ thể (doanh nghiệp, Chính phủ, chính quyền địa phương ) làm hình thành nên TTCK sơ cấp, nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán lần đầu tiên được phát hành
- Nếu không có hoạt động phát hành chứng khoán thì cũng không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường thứ cấp, nơi mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành Do vậy, hoạt động chào bán, phát hành chứng khoán chính là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của TTCK (gồm TTCK sơ cấp và thứ cấp)
1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng
Như trên đã nói, có hai hình thức chào bán chứng khoán trên TTCK
đó là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán riêng lẻ Hai hình thức chào bán này có những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản Thông qua việc phân tích những điểm giống và khác nhau giữa hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng và hình thức chào bán riêng lẻ, luận văn sẽ làm rõ những đặc điểm cơ bản của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng
1.2.2.1 Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng
Chủ thể chào bán chứng khoán nói chung là các tổ chức thực hiện các hoạt động chào bán chứng khoán để huy động vốn Các chủ thể chào bán
Trang 30chứng khoán ra công chúng bao gồm Chính phủ, các doanh nghiệp và các quỹ đầu tư chứng khoán Các chủ thể này được gọi chung là tổ chức phát hành
a) Chính phủ
Có thể nói Chính phủ là chủ thể quan trọng nhất của hoạt động chào bán chứng khoán Giống như các nước khác, ở Việt Nam, hoạt động chào bán chứng khoán của Chính phủ không được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán
mà được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật dưới dạng Nghị định hay Thông tư do Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính ban hành Loại chứng khoán duy nhất mà Chính phủ phát hành để huy động vốn đó là trái phiếu Chính phủ phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn vay từ dân chúng để đầu
tư cho các dự án lớn, các dự án trọng điểm hoặc để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước… Cũng do chủ thể chào bán - Chính phủ - là một chủ thể đặc biệt,
vì vậy, việc chào bán trái phiếu Chính phủ không phải tuân thủ các điều kiện chào bán hay thủ tục đăng ký chào bán như đối với hoạt động chào bán chứng khoán của các loại hình doanh nghiệp khác
b) Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Chứng khoán Việt Nam năm
2006 đã loại trừ đối tượng là các cá nhân được phép thực hiện chào bán chứng khoán Trong số 5 loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ có 3 loại hình doanh nghiệp được phép chào bán chứng khoán
là doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Các doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là các loại hình doanh nghiệp còn lại tại Luật Doanh nghiệp không được thực hiện chào bán bất cứ một loại chứng khoán trên TTCK Tuy nhiên, do hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động có điều kiện, vì vậy, không phải doanh nghiệp nào nêu trên cũng được chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Các doanh nghiệp muốn thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện chào bán và trình tự thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng
Trang 31Theo phỏp luật hiện hành ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước và cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn chỉ được phộp chào bỏn trỏi phiếu cũn cụng ty cổ phần và cỏc doanh nghiệp cổ phần húa mới được chào bỏn cổ phiếu Huy động vốn bằng phương thức chào bỏn cổ phiếu là một quyền năng cơ bản, đặc thự của cụng ty cổ phần, được quy định tại khoản 3 Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 Căn cứ vào hỡnh thức chào bỏn cổ phần ra cụng chỳng thỡ chủ thể chào bỏn cổ phần ra cụng chỳng - cụng ty cổ phần, gồm cỏc loại sau:
- Cụng ty đại chỳng
Cụng ty đại chỳng là loại hỡnh doanh nghiệp đó tồn tại từ lõu trờn thế giới Thông th-ờng, khái niệm công ty đại chúng đ-ợc quy định trong Luật Công ty, còn luật Chứng khoán chỉ quy định nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng Tuy nhiên, đối với những n-ớc mà các luật liên quan ch-a quy định thì Luật Chứng khoán có quy định cụ thể về công ty đại chúng
Luật Chứng khoán Bungaria: "Công ty đại chúng là công ty: đã phát
hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với ủy ban Chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại thị tr-ờng chứng khoán đ-ợc quản lý" [29, Điều 110]
Luật chứng khoán Ba Lan: "Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu
của ít nhất một lần phát hành đ-ợc chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng"
Trang 32Theo chuẩn mực quốc tế của IOSCO cũng như các nguyên tắc quản trị công ty được áp dụng phổ biến trên thế giới, các công ty có chứng khoán được công chúng sở hữu rộng rãi và các bên liên quan phải thực hiện việc công bố thông tin thường xuyên về các sự kiện quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi của người đầu tư Luật Chứng khoán các nước thường đưa ra những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tính minh bạch của các công ty đại chúng, bao gồm cả các quy định về các giao dịch nhạy cảm, về chào thầu công khai nhằm ngăn ngừa việc thâu tóm, sáp nhập các công ty đại chúng một cách không công bằng [24, tr 104].
Ở Việt Nam, loại hình công ty này mới chỉ xuất hiện cách đây vài năm
và được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Chứng khoán năm 2006
Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Chứng khoán, công ty đại chúng thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Là tổ chức thực hiện chào bán
cổ phiếu ra công chúng; (ii) Là tổ chức niêm yết tại SGDCK (iii) Là công ty
cổ phần có trên 100 cổ đông, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn chủ sở hữu từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên
Theo quy định nêu trên thì về bản chất, công ty đại chúng chính là công
ty cổ phần vì ngoại trừ điểm (iii) nêu trên thì một trong các điều kiện tiên quyết
để được thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng (i) và được niêm yết trên SGDCK (ii), đó là chủ thể chào bán phải là công ty cổ phần Tuy nhiên, đó không phải là công ty cổ phần thông thường, mà đó là công ty cổ phần đại chúng
có quy mô và số lượng cổ đông lớn tức là công ty đó phải được sở hữu bởi số đông các nhà đầu tư, mà ít nhất phải là trên 100 cổ đông, không kể các nhà đầu tư chuyên nghiệp theo như quy định tại điểm (iii) nêu trên Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích của số đông các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ, pháp luật quy định ngoài việc phải tuân thủ các nghĩa vụ như đối với công ty cổ phần theo như quy định của Luật Doanh nghiệp, công ty đại chúng còn phải tuân thủ các nghĩa vụ được quy định riêng cho công ty đại chúng theo quy định tại Luật Chứng khoán như nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin,
Trang 33nghĩa vụ phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm hay nghĩa vụ phải thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán…
- Công ty cổ phần chưa đủ điều kiện là công ty đại chúng
Với định nghĩa về công ty đại chúng tại Luật Chứng khoán nêu trên thì công ty cổ phần chưa đủ điều kiện là công ty đại chúng chính là các công
ty cổ phần có vốn dưới 10 tỷ đồng hoặc là các công ty cổ phần mặc dù có vốn chủ sở hữu lớn nhưng tổng số cổ đông tại công ty lại chưa đến 100 cổ đông, không kể các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
- Công ty cổ phần tiền thân là có vốn đầu tư nước ngoài
Ngoài chủ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, Luật Chứng khoán năm 2006 còn mở rộng cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần được kết hợp thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng Trong khi trước đây các hoạt động này phải được tiến hành theo hai giai đoạn khác nhau, tức là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải chuyển đổi xong, trở thành công ty cổ phần rồi thì mới được tiến hành các hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Quy định tại Luật Chứng khoán đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (công
ty trách nhiệm hữu hạn) có thể vừa thực hiện thủ tục chuyển đổi thành công ty
cổ phần vừa có thể thực hiện các hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động vốn, tăng vốn điều lệ hoặc thay đổi cơ cấu sở hữu trở thành công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán
- Công ty cổ phần được thành lập mới trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ cao
Công ty cổ phần được thành lập mới trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ cao cũng là một chủ thể đặc biệt được phép thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng và sẽ là thiếu sót nếu như không đề cập đến quy định này như là một điểm mới tại Luật Chứng khoán năm 2006 Tại sao lại là
Trang 34chủ thể đặc biệt trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng khi bản chất của doanh nghiệp này vẫn là công ty cổ phần?
Xuất phát từ quy định về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng tại Điều 12 Luật Chứng khoán thì các công ty cổ phần mới thành lập nói chung sẽ không được chào bán chứng khoán ra công chúng do bị giới hạn
ở điều kiện "hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán
phải có lãi" (điểm c khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán) Như vậy, những
công ty cổ phần mới thành lập sẽ không thể đáp ứng được điều kiện này và đương nhiên sẽ không được thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng Tuy nhiên, với quan điểm khuyến khích thành lập các công ty hoạt động hay thực hiện các dự án trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ cao, Luật Chứng khoán cho phép các doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực cơ sở
hạ tầng và công nghệ cao được thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng mà không phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về điều kiện chào bán như đối với công ty cổ phần thông thường
- Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, bản chất cũng là công ty cổ phần nhưng hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng của chủ thể này không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán và TTCK mà thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Sở dĩ có quy định đặc thù như vậy là bởi doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước và đến trước khi thực hiện cổ phần hóa vẫn hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước trừ những nội dung do Luật doanh nghiệp 2005 điều chỉnh (Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005) Luật doanh nghiệp
2005 quy định các doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Mục đích của sự chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần khác với mục đích chuyển đổi của công ty trách
Trang 35nhiệm hữu hạn thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần Đó là để thực hiện mục tiêu thu hẹp tối đa lĩnh vực thuộc diện nhà nước độc quyền, xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, giảm gánh nặng cho ngân sách, tạo điều kiện cho người lao động trong công ty tự mình chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hóa thực hiện hoạt động cổ phần hóa và chào bán cổ phần ra công chúng theo chủ trương của Nhà nước, do vậy, có tính đặc thù riêng và được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
c) Quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là một loại chủ thể đặc biệt được thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng và được ghi nhận trong Luật Chứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân nhưng không giống các chủ thể khác như Chính phủ hay các doanh nghiệp có thể trực tiếp đứng ra thực hiện các thủ tục chào mời, phát hành và bán chứng khoán ra công chúng thì việc chào bán chứng chỉ quỹ do Quỹ đầu tư chứng khoán phát hành lại được thực hiện bởi một chủ thể khác,
đó là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Một điểm khác biệt nữa khiến quỹ đầu tư chứng khoán được coi là chủ thể đặc biệt, đó là, các chủ thể khác khi chào bán chứng khoán, được trực tiếp sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán để phục vụ sản xuất kinh doanh… nhưng đối với quỹ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ sẽ đứng ra quản lý và sử dụng số tiền thu được theo các mục đích đầu tư được quy định tại điều lệ quỹ và nhằm mục tiêu tạo lợi nhuận cho quỹ [15, tr 98-100], [24, tr 58-61]
1.2.2.2 Phạm vi và đối tượng chào bán chứng khoán
Đối với chào bán riêng lẻ, việc chào bán riêng lẻ giới hạn trong phạm
vi một số người nhất định, thông thường là bán cho các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán …) hoặc nếu bán cho cán bộ công nhân viên trong công ty hay
Trang 36các cá nhân, tổ chức khác thì số lượng tham gia đợt phát hành không được quá một số người nhất định Tại Việt Nam, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP
ngày 4/01/2010 của Chính phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ quy định: "Chào
bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: (a) Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (b) Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp" [12]
Khác với chào bán riêng lẻ, đối tượng trong đợt chào bán chứng khoán
ra công chúng là một số lượng lớn công chúng đầu tư (theo Luật Chứng khoán Việt Nam là trên 100 nhà đầu tư, không kể các nhà đầu tư chuyên nghiệp [20, khoản 12 Điều 6]) Do tính chất rộng rãi của hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng nên trong đợt chào bán chứng khoán ra công chúng tổ chức phát hành phải dành một số lượng chứng khoán nhất định bán cho các nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra, Luật Chứng khoán Việt Nam cũng như Luật Chứng khoán của một số nước như Ba Lan {giao dịch chứng khoán nơi công chúng, sau đây gọi là "giao dịch nơi công chúng" là đề nghị chào bán hoặc việc chào bán chứng khoán nhằm mục đích bán cho người mua không được nêu rõ (Điều 2 Luật Chứng khoán Ba Lan)}… đều quy định trường hợp chào bán chứng khoán cho một số lượng các nhà đầu tư không xác định (không xác định về đối tượng cụ thể hay số lượng nhà đầu tư tham gia đợt phát hành) cũng được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng
1.2.2.3 Về cách thức chào bán chứng khoán
Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ thường được tiến hành trong nội
bộ của doanh nghiệp và không được công bố thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng Còn chào bán chứng khoán ra công chúng phải được tiến hành công khai, minh bạch, phải đảm bảo thông tin về đợt phát hành đến được các nhà đầu tư một cách đầy đủ và công bằng do vậy, Luật Chứng khoán các nước đều quy định nếu đợt chào bán được thực hiện thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet thì dù số lượng nhà đầu tư
Trang 37tham gia đợt chào bán đó dưới 100 người thì đợt chào bán đó vẫn được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng
1.2.2.4 Về pháp luật điều chỉnh
Theo thông lệ quốc tế hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ được điều chỉnh bởi Luật Công ty hay Luật Thương mại [16, tr 13] Còn đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, Luật Chứng khoán các nước ngay tại các điều đầu tiên đều khẳng định phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động này
Tại Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định: "Luật này được ban hành
nhằm mục đích quy định phạm vi điều chỉnh các hành vi phát hành và giao dịch chứng khoán, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người đầu tư, duy trì trật tự kinh tế
xã hội và lợi ích chung của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" [34, Điều 1] "Luật này áp dụng trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc đối với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty và các chứng khoán khác do Quốc vụ viện quy định theo pháp luật" [34, Điều 2]
Luật Chứng khoán Ba Lan, ngay tại Điều 1 quy định "Luật này điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán nơi công chúng, đồng thời cũng bao gồm các nguyên tắc về việc thành lập, tổ chức và giám sát các chủ thể thực hiện các hoạt động liên quan đến giao dịch chứng khoán ra công chúng" [28]
Điều 1 Luật Chứng khoán Bungaria cũng quy định: "Luật này quy định
việc phát hành chứng khoán ra công chúng và kinh doanh chứng khoán" [28]
Theo quy định tại Điều 2 Luật Chứng khoán Đài Loan thì phạm vi
điều chỉnh của Luật là "hoạt động quản lý và giám sát việc chào bán, phát
hành ra công chúng và giao dịch chứng khoán"
Cũng giống như các nước, Luật Chứng khoán Việt Nam, tại Điều 1 khẳng định hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng thuộc phạm vi
điều chỉnh của luật "Luật này quy định về hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ
về chứng khoán và thị trường chứng khoán" [20]
Trang 381.2.2.5 Các hình thức chào bán chứng khoán
Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng gồm hai hình thức cơ bản là chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng và chào bán thêm chứng khoán ra công chúng
Chào bán lần đầu ra công chúng hay người ta vẫn thường gọi là IPO là
việc chào bán mà chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng nhằm mục
đích huy động vốn cho tổ chức phát hành hoặc để trở thành công ty đại chúng Còn chào bán thêm ra công chúng là việc chào bán bổ sung chứng khoán của công ty đại chúng cho công chúng đầu tư nhằm mục đích tăng vốn điều lệ hoặc chỉ nhằm thay đổi cơ cấu sở hữu của công ty đại chúng
Dưới đây là bảng so sánh về đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
Bảng 2.1: so sánh về đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
Phạm vi, đối tượng
- Dưới 100 nhà đầu tư (không
kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp)
Hình thức chào bán Hoạt động chào bán chứng khoán
ra công chúng gồm hai hình thức
cơ bản là chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng và chào bán thêm chứng khoán ra công chúng
Chào bán chứng khoán lần đầu
và chào bán thêm chứng khoán
Điều kiện chào bán Điều kiện chặt chẽ (về vốn, hoạt
động kinh doanh phải có lãi )
Không quy định điều kiện hoặc nếu có thì rất đơn giản
có thẩm quyền
Chỉ phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 391.3 Tæ chøc quèc tÕ c¸c ñy ban Chøng kho¸n (IOSCO)
1.3.1 Sự hình thành, phát triển của IOSCO
Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) được thành lập từ năm 1983 tại Ecuador với 11 thành viên ban đầu, nay có 190 thành viên, bao gồm: những nhà điều tiết, quản lý thị trường tài chính từ hơn 100 quốc gia và
cả các SGDCK, các tổ chức tự giám quản cho thị trường
Mục tiêu chính của IOSCO là nhằm thiết lập và thúc đẩy các tiêu chuẩn cấp cao với quan điểm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của TTCK, bảo vệ các nhà đầu tư và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhằm
ngăn chặn tội phạm kinh tế
IOSCO tạo ra diễn đàn về điều hành hoạt động và kỹ thuật cho các thành viên nhằm tạo ra các nguyên tắc chung giúp điều hòa các nguyên tắc điều tiết thị trường
Năm 2002, IOSCO đưa ra Bản ghi nhớ Đa phương (MOU) nhằm thúc đẩy việc tuân thủ (luật pháp) và trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý TTCK Đến năm 2005, IOSCO bổ sung Bản ghi nhớ Đa phương làm tiêu chuẩn cho sự hợp tác quốc tế giữa các cơ quan quản lý TTCK và đặt ra các mục tiêu chiến lược nhằm mở rộng mạng lưới các thành viên tham gia ký kết vào năm 2010
Cơ cấu tổ chức và thành viên ra nhập IOSCO, gồm:
- Thành viên chính thức: Các Ủy ban Chứng khoán, Các cơ quan quản
lý tài chính - chứng khoán; trong trường hợp không có, các SGDCK có thể xin ra nhập như thành viên chính thức
- Thành viên liên kết: Cơ quan quản lý về phân ngành khác nhau cho TTCK trong trường hợp cơ quan quản lý cấp quốc gia đã là thành viên chính thức; cơ quan khác có thẩm quyền quản lý về TTCK
- Thành viên phụ trợ: Là các tổ chức, các công ty tự quản hoặc tổ chức quốc tế: sở giao dịch, các hiệp hội nghề nghiệp, các cơ quan trọng tài hay hòa giải
Trang 401.3.2 Cỏc nguyờn tắc của IOSCO
Nhằm mục tiờu bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo rằng cỏc thị trường hoạt động cụng bằng, hiệu quả và minh bạch và giảm thiểu cỏc rủi ro hệ thống, dựa trên nguyên tắc hoạt động của TTCK, IOSCO đã đề ra 30 nguyên tắc quy định trong TTCK, bao gồm các nguyên tắc: về cơ quan quản lý (5 nguyên tắc), về
tổ chức tự quản (2 nguyên tắc), về hoạt động c-ỡng chế thực thi (3 nguyên tắc), về hợp tác quản lý TTCK (3 nguyên tắc), về tổ chức phát hành chứng khoán (3 nguyên tắc), về quản lý quỹ đầu t- tập thể (4 nguyên tắc), về quản lý các trung gian thị tr-ờng (4 nguyên tắc), về quản lý thị tr-ờng giao dịch chứng khoán (5 nguyên tắc) và nguyên tắc về hệ thống thanh toán và bù trừ chứng khoán (1 nguyên tắc)
Để cú thể quản lý, điều hà nh TTCK hoạt động an toà n và hiệu quả, IOSCO đưa ra nguyờn tắc yờu cầu về tớnh độc lập trong hoạt động của cơ quan quản lý TTCK Tiêu chí để đánh giá tính độc lập của cơ quan này đ-ợc thể hiện ở các mặt sau: (1) Về mặt hoạt động, cơ quan quản lý cần phải độc lập; (2) Việc ra quyết định về các vấn đề kỹ thuật hàng ngày của UBCKNN không cần phải xin chấp thuận hoặc phải có ý kiến từ phía cơ quan quản lý nà o bao gồm việc
đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, cấp phép cho các thành viên thị tr-ờng, kiểm tra, giám sát, tiến hành các hoạt động c-ỡng chế thực thi
Cơ quan quản lý cần cú đủ thẩm quyền, nguồn lực phự hợp và khả năng thực hiện đỳng chức năng và thẩm quyền của mỡnh, đồng thời phải chịu trỏch nhiệm trong việc thực thi cỏc chức năng và thẩm quyền của mỡnh Cơ quan quản
lý cũng cần cú thẩm quyền đầy đủ trong cỏc hoạt động thanh tra, kiểm tra, giỏm sỏt và cưỡng chế thực thi để đảm bảo thị trường hoạt động cụng khai, minh bạch và cú thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc nhà đầu tư
Về tổ chức tự quản, IOSCO đề ra cỏc nguyờn tắc yờu cầu phỏp luật về chứng khoỏn và TTCK cỏc nước phải xõy dựng cơ chế quản lý phự hợp để sử dụng một cỏch hợp lý cỏc tổ chức tự quản chịu trỏch nhiệm giỏm sỏt trực tiếp