1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập nội khối của các nước Asean

150 572 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hơn 40 năm qua, ASEAN đã có sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia tiến trình phát triển hợp tác của Hiệp hội thành 3 giai đoạn với những đặc trưng khác nhau: - Giai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cam đoan……… 1

Mục lục……… 2

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt……… 4

Danh mục các bảng……… 7

Mở đầu……… 8

Chương 1: Tổng quan về sự hình thành, phát triển và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN………

14 1.1.Tổng quan về sự hình thành và phát triển của ASEAN………… 14

1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển……… 14

1.1.2.Mục đích và nguyên tắc 19

1.1.3.Cơ cấu tổ chức………

21 1.1.4.Thành viên……… 26

1.1.5.Lĩnh vực hợp tác……… 27

1.2.Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN………

29 1.2.1.Khỏi quỏt quỏ trỡnh hợp tỏc kinh tế nội khối của ASEAN………

29 1.2.2.Yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN…

34 Chương 2: Khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hội nhập kinh tế nội 37

Trang 3

khối ASEAN………

2.1.Khái quát khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN………

37 2.1.1.Cỏc Hội nghị thượng đỉnh (cấp cao) ASEAN……… 37

2.1.2.Cơ sở pháp lý cho hợp tác kinh tế nội khối ASEAN qua các lĩnh vực cụ thể………

48 2.1.3.Cỏc văn kiện phỏp lý khỏc……… 75

2.2.Thực tiễn hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN……… 90

2.2.1.Sự hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN……… 90

2.2.2.Sự hội nhập kinh tế nội khối của một số nước ASEAN………… 96

2.2.3.Sự hội nhập kinh tế nội khối của Việt Nam……… 102

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN………… 113

3.1. Nhận xột chung về quỏ trỡnh hợp tỏc kinh tế của ASEAN………

113 3.2. Một số kiến nghị……… 120

3.2.1.Phương hướng chung……… 120

3.2.2.Cỏc giải phỏp cụ thể……… 126

Kết luận……… 144

Danh mục tài liệu tham khảo……… 147

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ACIA ASEAN Comprehensive

5 AIA ASEAN Investment Area Khu vực đầu tư ASEAN

6 AICO ASEAN Industrial

Cooperation Scheme

Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN

7 AIP ASEAN Industrial Projects Dự án công nghiệp ASEAN

8 AIPA ASEAN Inter Parliamentary

11 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

Trang 5

12 ATIGA ASEAN Trade in Good

Agreement

Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN

13 ASC ASEAN Security Community Cộng đồng an ninh ASEAN

14 ASCC ASEAN Socio - Cultural

16 ASEM Asia - Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu

17 CEPT Common Effective

Preferential Tariff

Hiệp định về chương trình

Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước ASEAN

18 CLM Cambodia, Laos and Myanmar

(The CLM countries)

Nhóm các nước chia, Lào và My-an-ma

Cam-pu-19 CLMV Cambodia, Laos, Myanmar

and Vietnam(The CLMV countries)

Nhóm các nước chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam

Cam-pu-20 CMIM Including the Chiang Mai

Initiative Multilateralisation

Thoả thuận đa phương hoá sáng kiến Chiềng Mai

21 COP Coference of Parties Hội nghị thượng đỉnh về

Biến đổi khí hậu

22 CMP The Meeting of the Parties to

the Kyoto Protocol

Hội nghị các bên tham gia Nghị định thư Kyôtô

23 EEC The European Economic

Community

Cộng đồng Kinh tế Châu Âu

Trang 6

24 EPG Eminent Persons Group Nhóm những nhân vật nổi

tiếng

26 G20 Group of Twenty Nhóm các nền kinh tế phát

28 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

29 HLTF High Level Task Force Nhóm đặc trách cao cấp

30 HPA Hanoi Plan of Action Chương trình hành động Hà

Nội

31 IAI Initiative for ASEAN

Integration

Sáng kiến hội nhập ASEAN

32 IGA Investment Guarantee

Agreement

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

33 MERCOSUR The Common Market of the

36 PTA Preferential Trade Agreement

(The Agreement on ASEAN Preferential Trade Agreement)

Chương trình hợp tác thương mại của các nước ASEAN (trước khi có

Trang 7

CEPT)

37 RIA Regulatory impact assessment Đánh giá tác động điều

chỉnh của quy phạm pháp luật

38 SEANWFZ Southeast Asia Nuclear

Weapon - Free Zone

Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân

39 TAC Treaty of Amity and

Cooperation (in Southeast Asia)

Hiệp ước hữu nghị và hợp tác (ở khu vực Đông Nam Á)

40 TIG Trade in Goods Hiệp định thương mại hàng

hóa toàn diện

41 USD Union for Sustainable

Development

Liên minh phát triển bền vững

Or: United States dollar Hoặc Đồng Đụ la Mỹ

42 VAP Vientiane Action Programme Chương trình hành động

Viên-chăn

43 ZOPFAN Zone of Peace, Freedom and

Neutrality

Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 3.1 Lộ trình thực hiện tự do lưu chuyển hàng hoá trong

5 3.5 Lộ trình tự do di chuyển lao động có tay nghề 137

6 3.6 Các ngành ưu tiên và các nước điều phối viên 138

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Toàn cầu hoá - khu vực hoá là một xu hướng tất yếu mà không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, với bất kì thể chế chính trị - xã hội nào lại có thể đứng ngoài quá trình đó Sự hình thành và phát triển của ASEAN với mục đích bảo đảm về an ninh, ổn định về các mặt đối nội và đối ngoại cho các nước thành viên với tiền đề là phát triển kinh tế, là thực tiễn sinh động chứng minh cho tính tất yếu khách quan của xu hướng trên Sau hơn 4 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực,

là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên cơ

sở đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị

- An ninh, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội vào năm 2015

Nằm trong bối cảnh chung ấy, việc hội nhập vào khu vực và quốc tế của Việt Nam là một điều đã được khẳng định Cách đây hơn 15 năm, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN (28/7/1995) Sự kiện này đã chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu trong khu vực, các nước còn lại như Lào, Mi-an-ma, Cam-pu-chia lần lượt gia nhập Hiệp hội ASEAN từ đây thực sự là một tổ chức của cả khu vực Đông Nam Á Gia nhập ASEAN cũng đáp ứng được lợi ích của cả Việt Nam và ASEAN là cần có môi trường hoà bình, ổn định và đẩy mạnh hợp tác vì lợi ích phát triển, trùng với ý

Trang 10

nguyện của nhân dân châu Á - Thái Bình Dương muốn thấy một Đông Nam Á

ổn định, mở rộng thị trường và đối tác về kinh tế, khoa học, văn hoá - xã hội

Nền tảng của sự hội nhập kinh tế nội khối chính là khuôn khổ pháp lý đã hình thành và ngày càng hoàn thiện của ASEAN Vấn đề đặt ra là việc hiện thực hóa những quy định của ASEAN để tăng cường tính pháp lý và hiệu quả hội nhập kinh tế nội khối ASEAN Cùng với các thành viên khác, Việt Nam không ngừng hợp tác kinh tế cũng như các lĩnh vực khác với các đối tác, trên cơ sở hệ thống pháp luật ASEAN và đóng góp ý kiến để hoàn thiện những quy định này Năm 2010 với vai trò là chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ động, thiện chí, có trách nhiệm và tích cực đề xuất nhiều sáng kiến để thực hiện thành công vai trò của mình, được bạn bè quốc tế đánh giá cao, khẳng định vị thế và uy tín của mình đối với sự phát triển của Hiệp hội Tuy ASEAN có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi Việt Nam và các thành viên khác phải hợp tác, liên kết chặt chẽ hơn nữa, cùng nhau đưa ra những ý tưởng mới và biện pháp thực hiện các ý tưởng đó để biến “Tầm nhìn 2020” thành hiện thực, xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN và trở thành nhân tố chủ đạo của Cộng đồng Đông Á

Nghiên cứu sự hội nhập nội khối của các nước ASEAN nói chung và sự hội nhập của Việt Nam nói riêng là một vấn đề không mới, song nó luôn mang tính thời đại, đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi mà chặng đường hội nhập của Việt Nam đang còn dài, thuận lợi và khó khăn cùng đan xen chờ đợi Vì vậy tác giả chọn đề tài “Khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập nội khối của các nước ASEAN” để viết Luận văn nhằm tìm hiểu sâu hơn và mạnh dạn phân tích, đưa ra những ý kiến chủ quan, thể hiện sự quan tâm của bản thân cũng như tính bức thiết của đề tài Có thể nói, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công

Trang 11

bằng, dân chủ và văn minh” luôn là điều thôi thúc các thế hệ nối tiếp của Việt Nam trong hành trình hội nhập này

2 Tình hình nghiên cứu:

ASEAN nói chung và khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN nói riêng đã được nghiên cứu và giảng đạy trong bộ môn Công pháp quốc tế, ngành Luật quốc tế, khoa Luật cũng như các khoa nghiên cứu về quốc tế của các trường Đại học Trong cuốn sách “Liên kết kinh tế ASEAN, vấn

đề và triển vọng” của tác giả Trần Đình Thiên, Nhà xuất bản Thế giới năm 2005, tác giả đã lấy mốc là cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 1997 để phân tích các giai đoạn phát triển kinh tế ASEAN trước và sau 1997 để trả lời cho câu hỏi:

“Trong tương lai, ASEAN phải hành động như thế nào để tồn tại như một khối liên kết khu vực”

Bài viết “Triển vọng hình thành Cộng đồng ASEAN và vai trò của Việt Nam” của Phạm Thị Thanh Bình (Viện kinh tế và Chính trị thế giới) khẳng định: Cộng đồng ASEAN quyết tâm “Chuyển sự đa dạng về văn hoá và sự khác biệt của ASEAN thành thịnh vượng và các cơ hội phát triển công bằng trong một môi trường đoàn kết, tự cường và hoà hợp khu vực” Mục tiêu mà ASEAN đang hướng tới là một gia đình các dân tộc Đông Nam Á đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển Để Cộng đồng ASEAN trở thành hiện thực, ASEAN cần sự đồng thuận và nỗ lực của tất cả các nước thành viên, từng bước đưa Tầm nhìn vào Chương trình hành động cụ thể Việt Nam không chỉ đảm nhận tốt vai trò Chủ tịch ASEAN trên các diễn đàn đối thoại toàn cầu mà còn đóng góp rất nhiều thành công trong việc tổ chức các Hội nghị cấp cao của ASEAN, các Hội nghị chuyên ngành và nhiều hoạt động cộng đồng có ý nghĩa góp phần nâng cao tầm

Trang 12

ảnh hưởng và uy tín của Việt Nam nói riêng và các nước ASEAN nói chung trên toàn thế giới

Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cũng đã có bài viết “Cộng đồng kinh tế ASEAN - Ưu tiên hội nhập kinh tế ASEAN” với nội dung: ASEAN đang hướng đến khát vọng xây dựng một Cộng đồng chung đoàn kết, năng động

và thịnh vượng vào năm 2015 Cộng đồng kinh tế ASEAN, cùng với Cộng đồng

An ninh - Chính trị ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN sẽ là ba cấu phần chính của Cộng đồng ASEAN này

Thực tế đã có rất nhiều Luận văn viết về đề tài ASEAN như các đề tài:

“Hội nhập kinh tế khu vực ASEAN với phát triển kinh tế nước ta”, “Đầu tư trực tiếp của các nước ASEAN vào Việt Nam - thực trạng và triển vọng”, “Vấn đề đầu tư trực tiếp của các nước khi tham gia hội nhập AFTA” Bên cạnh đó các tạp chí chuyên ngành cũng cho đăng tải nhiều bài viết về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, đáng chú ý là Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Như vậy hầu như các tác phẩm này chỉ nhìn nhận dưới góc độ kinh tế - chính trị học chứ không phải là luật học, do đó chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện các văn kiện pháp lý của ASEAN, trong giới chuyên ngành cũng có rất nhiều tác phẩm để lại dấu ấn nhưng cũng chưa đi sâu vào khuôn khổ pháp lý của ASEAN hoặc mới chỉ trong quá trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của đề tài: Nghiên cứu khái quát một cách có hệ thống toàn bộ

các văn kiện chủ yếu của ASEAN về vấn đề hội nhập kinh tế nội khối, giúp cho người đọc hình dung được tổng thể các lĩnh vực và hoạt động hợp tác của ASEAN từ khi thành lập đến hiện nay, góp phần cung cấp thông tin về tầm quan

Trang 13

trọng của ASEAN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia cũng như lợi ích của từng người dân trong khu vực

Nhiệm vụ của đề tài:

Luận văn phân tích yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, từ việc khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN, luận văn đặt ra yêu cầu cần phải đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối trước

xu hướng toàn cầu hóa - khu vực hóa đang diễn ra sôi động như hiện nay

Trên cơ sở tổng hợp khuôn khổ pháp lý, luận văn nghiên cứu các ứng dụng thực tiễn của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN từ các nước thành viên trong đó có Việt Nam, từ đó thấy rõ những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong nội bộ khối ASEAN

Luận văn chỉ ra quan điểm chủ quan của tác giả đối với phương hướng và giải pháp để hoàn thiện quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN đã được các nước thành viên thông qua tại các Hội nghị thượng đỉnh gần đây

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khuôn khổ pháp lý của quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế trong nội bộ khối ASEAN

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này có nội hàm rất rộng, được nghiên cứu

dưới nhiều góc độ, nhưng trong Luận văn này tác giả chủ yếu đề cập đến sự hội nhập kinh tế nội bộ trong khuôn khổ pháp lý ASEAN Trên cơ sở khái quát các văn kiện của ASEAN, thực tiễn hội nhập của một số nước ASEAN tiêu biểu, từ

đó rút ra bài học cho việc hội nhập của Việt Nam Đồng thời tác giả mạnh dạn đưa ra ý kiến về các kế hoạch chiến lược của ASEAN trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 14

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, kết hợp hiệu quả với các phương pháp khoa học truyền thống khác như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic, lịch sử

6 Những đóng góp mới của luận văn:

Luận văn tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận

cơ bản trong khuôn khổ pháp lý của ASEAN, khái quát một cách toàn diện vấn

đề hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, từ thực tiến hội nhập để khẳng định phương hướng hội nhập đúng đắn nhất đã hình thành và đang từng bước được thực hiện - đây là vấn đề quan trọng hàng đầu của ASEAN hiện nay

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 03 chương: Chương I: Tổng quan về sự hình thành, phát triển và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương II: Khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ NỘI KHỐI ASEAN

1.1 Tổng quan về sự hình thành và phát triển của ASEAN:

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of southeast asian nations - ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Thái Lan là một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực Từ 5 nước thành viên ban đầu đến năm 2009 ASEAN đã có 10 thành viên, 1 ứng cử viên (Đông Timor) và 1 quan sát viên (Papua New Guinea), hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất

cả các quốc gia Đông Nam Á - một ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông Nam

Á

Tuy ở trong cùng một khu vực địa lý nhưng các nước thành viên lại giành độc lập vào các thời điểm khác nhau sau chiến tranh thế giới thứ hai, có những chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa khác nhau, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội ASEAN có diện tích hơn 4,4 triệu km2 và dân số khoảng 583 triệu người năm (2008), GDP danh nghĩa đạt hơn 1,5 tỉ USD (2008) và tổng kim nghạch xuất khẩu là 802,7 tỉ USD (2009) Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, với nhịp độ trung bình hàng năm từ 5 - 10%, cho đến trước cuộc khủng hoảng vừa qua thì luôn được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển Nhưng mức phát triển kinh tế giữa các nước là không đồng đều, In-đô-nê-xi-a là nước đứng đầu

Trang 16

về diện tích và dân số nhưng thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ trên 3.700 USD, trong khi đó Xinh-ga-po và Bru-nây là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích và dân số nhưng có thu nhập đầu người từ 24.000 đến 28.000 USD/người/năm Hiện nay ASEAN đang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, nền ngoại thương tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua - đạt trên 160 tỉ USD vào đầu những năm 1990 và đầu những năm 2000 là

339 tỉ USD, nâng tỉ trọng trong ngoại thương thế giới từ 3,6% lên 4,7% ASEAN cũng là đối tượng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nếu đầu những năm 80 bình quân là 4,6 tỉ USD/nước/năm, thì đến cuối những năm 80 là 13,5 tỉ USD/nước/năm [29, tr 1]

ASEAN ra đời trong bối cảnh nội bộ từng nước trong khu vực và trên thế giới có nhiều biến động ở Đông Nam Á, cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam phát triển, đẩy Mỹ vào thế thất bại nặng nề Các nước Đông Nam Á đứng trước nhiều thách thức về chính trị, kinh tế trong nội bộ, đồng thời phải giải quyết những khó khăn, xung đột trong quan hệ giữa họ với nhau và sức ép từ bên ngoài

Để đối phó với thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực để tăng cường sức mạnh bản thân đã trở nên cấp bách trong các nước thành viên tương lai của ASEAN Trước ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổ chức khu vực ra đời và tồn tại trong thời gian ngắn hoặc đã manh nha hình thành, đó là hiệp hội Đông Nam Á (the associasion of southeast asia - ASA) được thành lập ngày 31/1/1961 gồm Thái Lan, Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a, tổ chức MAPHILINDO ra đời tháng 8/1963 gồm Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a [14,

tr 17] Mặc dù vậy, những nỗ lực theo hướng trên đây vẫn được xúc tiến và ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Phi-líp-pin,

Trang 17

Xinh-ga-po và phó Thủ tướng Ma-lai-xi-a kí tại Băng-cốc bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Cả năm nước thành viên đều nhận thấy sự cần thiết phải dựa vào sức mình là chính, thúc đẩy sự liên minh giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội giống nhau, có lợi ích lâu dài và cơ bản trùng hợp nhau; để đối phó với các phong trào chống đối trong nước và những tác động tiêu cực từ bên ngoài nhằm duy trì sự ổn định chính trị - an ninh, làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đây là viên gạch đầu tiên cho việc hình thành một tổ chức hợp tác, thống nhất của khu vực vào những năm 90 của thế kỉ XX, đúng như trong Tuyên bố Băng-cốc: “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực trông qua các nỗ lực chung nhằm tăng cường nền tảng cho một cộng đồng hòa bình và thịnh vượng của các Quốc gia Đông Nam Á” [5, tr 189]

Trong hơn 40 năm qua, ASEAN đã có sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia tiến trình phát triển hợp tác của Hiệp hội thành 3 giai đoạn với những đặc trưng khác nhau:

- Giai đoạn 1967 - 1976 (Từ khi thành lập đến Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất ở Ba-li, In-đô-nê-xi-a): Sau tuyên bố Băng-cốc năm 1967, ASEAN đã

ra tuyên bố Cua-la-lăm-pơ về Khu vực hoà bình, tự do và trung lập năm 1971 (ZOPFAN), các thành viên cũng phối hợp chính sách với nhau trên một số lĩnh vực như ngoại giao hoặc kinh tế Nhưng nói chung ASEAN trong giai đoạn này vẫn chưa đạt được bước hợp tác nào đáng kể vì sau 9 năm hoạt động, ASEAN mới chỉ quyết định thành lập Ban thư kí ASEAN do một Tổng thư kí đứng đầu Tình hình chung ở giai đoạn này là ASEAN bị chi phối quá nhiều bởi những diễn biến chính trị phức tạp, các bước phối hợp chung thường nhằm mục đích bảo đảm sự cân bằng hiện diện giữa các siêu cường có dính líu lợi ích trong khu

Trang 18

vực, và đối phó với những hoạt động nổi dậy của các lực lượng chống chính phủ trong nước

- Giai đoạn 1976 - 1991 (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất ở Ba-li đến Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 ở Xinh-ga-po): Tháng 2/1976, các nhà lãnh đạo Chính phủ 5 nước đã họp lần đầu tiên tại Ba-li và đã thông qua 2 văn kiện là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN ASEAN không chỉ hợp tác về an ninh mà được mở rộng ra các vấn đề kinh tế và văn hoá, một số nước đã phối hợp hành động trên lĩnh vực quân sự vì mục đích hoà bình và trung lập, ASEAN cũng liên tục thiết lập và đối thoại đầy

đủ với Mỹ, Nhật, Canada, Niu Di-lân, EEC và các tổ chức của Liên hợp quốc Ngoài ra về cơ cấu tổ chức của ASEAN giai đoạn này cũng được cải tổ theo hướng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn Giai đoạn 1976 - 1992, xu hướng hợp tác toàn diện trong khu vực đã bắt đầu khởi động, nhất là việc kí kết thoả thuận thương mại ưu đãi PTA cho toàn khối Đến tháng 10/1990, vấn đề thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (Ba-li) và được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 (12/1992) AFTA ra đời đánh dấu mốc chuyển sang giai đoạn hợp tác mới đầy ý nghĩa của Hiệp hội Trước đó ASEAN cũng tổ chức được Hội nghị Cấp cao lần thứ 2 tại Cua-la-lăm-pơ (1977) và lần thứ 3 tại Phi-líp-pin (1987), kết nạp Bru-nây làm thành viên thứ 6 (1984), tạo tiền đề nhất thể hoá Đông Nam Á trong tương lai không xa

- Giai đoạn 1992 đến nay (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 đến nay): Hoạt động hợp tác của ASEAN đã chuyển biến về chất, tháng 7/1992, Việt Nam

và Lào chính thức tham gia Hiệp ước Ba-li và trở thành quan sát viên ở ASEAN Năm 1995, Việt Nam được chấp nhận là thành viên thứ 7, Lào, My-an-ma và

Trang 19

Cam-pu-chia cũng được kết nạp sau đó, tạo ra ASEAN - 10 với số dân trên 500 triệu người và hứa hẹn một triển vọng phát triển tiềm tàng Bên cạnh đó, tháng 7/1993, ASEAN quyết định thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) gồm 18 nước trong và ngoài Hiệp hội để trao đổi về các vấn đề chính trị - an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương Về kinh tế, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 5 (1995) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (1998) cũng đưa ra Tuyên bố về các biện pháp mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư ASEAN Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 6 và 7, các nước ASEAN đã thông qua và quyết tâm thực hiện Tuyên

bố Hà Nội và Chương trình hành động Hà Nội để đẩy mạnh liên kết ASEAN Đến Hội nghị Cấp cao lần thứ 8 (2002) và lần thứ 9 (2003), ASEAN đã thảo luận

và thông qua mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào năm 2020 Nhằm triển khai Tuyên bố Bali II kí kết tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 9, Hội nghị Cấp cao Lần thứ 10 (2004) đã xây dựng Chương trình hành động Viên-chăn, trong đó có hợp phần về AIA nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra Tuyên bố về xây dựng Hiến chương ASEAN và ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực Gần đây Hội nghị Cấp cao lần thứ 16 khai mạc tháng 04/2010 tại Hà Nội cũng rất thành công với việc thông qua 3 tuyên bố chung quan trọng gồm: “Tuyên bố ASEAN về phục hồi và phát triển bền vững”, “Tuyên bố ASEAN về ứng phó với biến đổi khí hậu” và Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16

“Hướng tới công đồng ASEAN: Từ tầm nhìn tới hành động” Trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ, tích cực cùng các nước thành viên ASEAN trong việc đề xuất các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác ASEAN Sáu

Trang 20

tháng sau, ngày 28/10/2010, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 cũng được diễn ra tại Hà Nội Những nội dung chính được bàn thảo tại Hội nghị gồm: Xây dựng Cộng đồng ASEAN và triển khai Hiến chương ASEAN; Quan hệ đối ngoại

và vai trò trung tâm của ASEAN trong các tiến trình hợp tác khu vực cũng như trong nỗ lực xây dựng cấu trúc khu vực mới; phát triển bền vững và ứng phó với những thách thức toàn cầu Ngoài ra, các nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các vấn

đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm Hội nghị lần này tập trung đánh giá lại những kết quả hợp tác ASEAN đã đạt được trên những mặt chính trong năm qua, trên cơ sở đó đề ra định hướng cho năm tiếp theo

Như vậy qua không ít thăng trầm, ASEAN đang đi dần tới đích cuối cùng

là hợp tác toàn diện vì sự thịnh vượng của các thành viên trong khối Nền tảng quan hệ giữa các thành viên dựa trên nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế đã làm cho đoàn kết trong Hiệp hội ngày càng vững chắc

1.1.2 Mục đích và nguyên tắc:

Tuyên bố Băng-cốc nêu 7 mục tiêu của ASEAN là [16, tr 21]:

- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác, nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng

- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc

- Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cần quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật và hành chính

Trang 21

- Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kĩ thuật và hành chính

- Cộng tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn

đề về buôn bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông liên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân

- Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á

- Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có tôn chỉ và mục đích tương tự, tìm kiếm các cách thức nhằm đạt được một

sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các tổ chức này

1) Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài:

a) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;

b) Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;

c) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

d) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;

e) Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;

f) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;

2) Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:

a) Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là

Trang 22

một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua

b) Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt: Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên

c) Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN, trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xinh-ga-po tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6 - X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện

3) Các nguyên tắc khác:

Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: Nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội

1.1.3 Cơ cấu tổ chức:

Đối với mọi tổ chức thì việc có một bộ máy hợp lí là đặc biệt quan trọng

Nó góp phần chủ yếu cho sự thành công, thúc đẩy hợp tác giữa các thành viên tiến tới đạt được các mục tiêu đề ra ASEAN là một tổ chức hợp tác liên chính phủ ở cấp độ khu vực, có cơ cấu tổ chức thường xuyên được cải tổ để thích hợp

Trang 23

với tình hình thực tế Từ khi ra đời đến nay, cơ cấu tổ chức ASEAN đã được cải

tổ qua 3 thời kì:

Thời kì từ ngày thành lập đến Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li năm 1976: Cơ cấu tổ chức ban đầu của ASEAN được nêu trong Tuyên bố ASEAN năm 1967 gồm 4 thành phần: Hội nghị Bộ trưởng (AMM) là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất, gồm Bộ trưởng Ngoại giao của 5 nước thành viên, mỗi năm họp một lần và luân phiên giữa các nước; ủy ban thường trực theo dõi việc thực hiện các quyết định chính của AMM và chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của ASEAN giữa các Hội nghị AMM; Ban thư kí ASEAN quốc gia được thành lập ở mỗi nước thành viên, chịu trách nhiệm phối hợp các vấn đề ASEAN trong nội bộ quốc gia và đảm bảo việc thực hiện các quyết định của AMM; Các ủy ban thường trực và ủy ban đặc biệt về các lĩnh vực hoặc các vấn đề hợp tác cụ thể, đầu năm 1976 có 11 ủy ban thường trực và 9 ủy ban đặc biệt được thành lập

Thời kì từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li năm 1976 đến Hội nghị Thượng đỉnh năm 1992: Sau Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li, bộ máy tổ chức của ASEAN đã có những thay đổi lớn thể hiện sự trưởng thành của Hiệp hội cũng như tầm quan trọng của hợp tác kinh tế Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao vẫn được coi là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của ASEAN, nhưng 5 Hội nghị

Bộ trưởng khác cũng được thiết lập để thảo luận và thông qua các chương trình hợp tác của ASEAN trên các lĩnh vực tương ứng Đó là các Hội nghị về các lĩnh vực: Kinh tế (AEM), Lao động (ALM), Phúc lợi xã hội (ASWM), Giáo dục (AEM) và Thông tin (AIM) Tất cả các ủy ban trước đây cũng được cơ cấu lại thành 9 ủy ban về: Công nghiệp, Khoáng sản và Năng lượng; Thương mại và Dịch vụ; Lương thực, Nông nghiệp và Lâm nghiệp; Tài chính và Ngân hàng; Vận tải và Liên lạc; Ngân sách; Phát triển xã hội; Văn hóa và Thông tin; Khoa

Trang 24

học và Kĩ thuật Ngoài ra ASEAN cũng quyết định thành lập Ban thư kí ASEAN

do một Tổng thư kí đứng đầu có trụ sở tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a), Tổng thư

kí do các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bổ nhiệm mỗi kì 2 năm trên cơ sở luân phiên

Thời kì từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Xinh-ga-po năm 1992 đến nay: Hội nghị lần này đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình cải cách tổ chức bộ máy của ASEAN, hiện nay cơ cấu tổ chức của ASEAN được chia theo chức năng cụ thể như sau:

- Các cơ quan hoạch định chính sách gồm:

+ Hội nghị Cấp cao là Diễn đàn của những người đứng đầu Chính phủ các nước ASEAN, ban đầu Hội nghị cấp cao chỉ triệu tập khi cần thiết, nhưng từ năm 1992 là 3 năm một lần họp chính thức và hàng năm có một cuộc họp không chính thức

+ Hội nghị ngoại trưởng ASEAN có trách nhiệm đề ra và quyết định chính sách cụ thể của ASEAN trên cơ sở các phương hướng và chính sách chung của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, trước đây Hội nghị Cấp cao có trách nhiệm điều phối tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN, những từ khi thể chế hóa Hội nghị

Bộ trưởng kinh tế ASEAN năm 1976, Hội nghị Ngoại trưởng tập trung vào hợp tác trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, ngoại giao, văn hóa - xã hội

+ Hội nghị Bộ trưởng kinh tế là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất

về kinh tế, bao gồm Bộ trưởng kinh tế của các nước thành viên họp chính thức mỗi năm một lần và có thể họp không chính thức AEM có Hội đồng AFTA được thành lập từ năm 1992 để đảm bảo việc thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), Hội đồng AFTA họp mỗi năm một lần ngay trước Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN

Trang 25

+ Hội nghị Bộ trưởng các ngành: Hội nghị Bộ trưởng của một ngành trong hợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp tác trong ngành cụ thể đó Hiện có Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng, Hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp, Lâm nghiệp Các Hội nghị Bộ trưởng ngành có trách nhiệm báo cáo lên AEM

+ Hội nghị bộ trưởng liên ngành (JMM) được tổ chức khi cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngành và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN, được

tổ chức trước Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, JMM bao gồm các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế ASEAN

- Các cơ quan chấp hành:

+ Tổng thư kí ASEAN: Được những người đứng đầu Chính phủ ASEAN

bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thể gia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa; có hàm Bộ trưởng với quyền hạn khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN, nhằm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN Tổng thư ký ASEAN được tham dự các cuộc họp các cấp của ASEAN, chủ toạ các cuộc họp của ASC thay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng

+ Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (SOM) cũng đã được thể chế hoá chính thức thành một bộ phận của cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao Ma-ni-la 1987 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN

đã bị giải tán và SEOM được giao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động trong hợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM

+ Cuộc họp các quan chức cao cấp khác: Là các cuộc họp các quan chức cao cấp về môi trường, ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngành ASEAN như phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề công chức, văn hoá và

Trang 26

thông tin Các cuộc họp này báo cáo cho ASC và Hội nghị các Bộ trưởng liên quan

+ Cuộc họp tư vấn chung (JCM): Cơ chế họp JCM bao gồm Tổng thư ký ASEAN, SOM, SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN JCM được triệu tập khi cần thiết dưới sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN để thúc đẩy sự phối hợp giữa các quan chức liên ngành Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếp cho AMM và AEM

+ Uỷ ban thường trực ASEAN (ASC) bao gồm chủ tịch là Bộ trưởng

Ngoại giao của nước đăng cai Hội nghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN và Tổng Giám đốc của các Ban thư ký ASEAN quốc gia ASC thực hiện công việc của AMM trong thời gian giữa 2 kỳ họp và báo cáo trực tiếp cho AMM

+ Các ủy ban hợp tác chuyên ngành: Hiện có 6 ủy ban hợp tác chuyên ngành hay còn gọi là ủy ban phi kinh tế về các lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa và trông tin, môi trường, phát triển xã hội, kiểm soát ma túy và các vấn

đề về công chức Các ủy ban này xem xét và kiến nghị những vấn đề liên quan đến hợp tác của ASEAN về việc triển khai, chuyển giao công nghệ và nghiên cứu trên các lĩnh vực cụ thể mà ủy ban phụ trách Chủ tịch ủy ban được luân phiên giữa các nước thành viên Mỗi ủy ban đều lập ra các tiểu ban hoặc nhóm làm việc phụ trách các phần việc cụ thể

+ Các ban thư ký ASEAN:

Ban thư kí ASEAN (quốc tế): Ban thư ký ASEAN được thành lập theo Hiệp định ký tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai Ba-li 1976 để tăng cường phối hợp thực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau trong ASEAN, phục vụ các hội nghị của ASEAN

Trang 27

Ban thư kí ASEAN quốc gia: Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Ban thư ký quốc gia đặt trong bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện và theo dõi các hoạt động liên quan đến ASEAN của nước mình Ban thư ký quốc gia do một Tổng Vụ trưởng phụ trách

- Các cơ chế hợp tác với nước thứ ba:

+ Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với thành phần tham dự gồm các Ngoại trưởng ASEAN và Ngoại trưởng của 7 nước đối thoại ASEAN (Mĩ, Nhật Bản, Canađa, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân, EU và Hàn Quốc)

+ Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba: Nhằm mục đích tăng cường trao đổi

và thúc đẩy mối quan hệ giữa ASEAN với bên đối thoại và các tổ chức quốc tế, ASEAN thành lập các uỷ ban tại các nước đối thoại Uỷ ban này gồm những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại Hiện có 11 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bru-xen (Bỉ), Can-be-ra (Ốt-xtrây-li-a), Ge-ne-vơ (Thuỵ Sĩ), Luân-đôn (Anh), Ôt-ta-oa (Canada), Pa-ri (Pháp), Xơ-un (Hàn quốc), Oa-sinh-tơn (Mỹ) và Oen-ling-tơn (Niu Di-lân) Chủ tịch các uỷ ban này báo cáo cho ASC và nhận chỉ thị từ ASC

+ Các cuộc họp của ASEAN với các Bên đối thoại

ASEAN có 11 Bên đối thoại: Ốt-xtrây-li-a, Canađa, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu Di-lân, Mỹ, UNDP, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ASEAN cũng có quan

hệ đối thoại theo từng lĩnh vực với Pa-kix-tan Trước khi có cuộc họp với các Bên đối thoại, các nước ASEAN tổ chức cuộc họp trù bị để phối hợp có lập trường chung Cuộc họp này do quan chức cao cấp của nước điều phối (Coordinating Country), chủ trì và báo cáo cho ASC

1.1.4 Thành viên: (Hiện nay ASEAN có 10 nước thành viên chính thức)

Trang 28

- 8/8/1967: ASEAN được thành lập bởi năm nước: In-đô-nê-xi-a, xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan

Ma-lai 1979: Chấp nhận Papua New Guinea làm quan sát viên

- Hợp tác về an ninh - chính trị: Mặc dù không được ghi nhận trong Tuyên

bố Băng-cốc nhưng những hoạt động đầu tiên của ASEAN lại được tập trung vào hợp tác chính trị Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất họp tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a vào ngày 23 và 24/2/1976 đã quyết định đưa ra những nguyên tắc làm cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác giữa các nước thành viên ở thời kì sau Việt Nam Cụ thể điều 13 của Hiệp ước Ba-li cam kết: “Trong trường hợp xảy ra tranh chấp và nảy sinh các vấn đề tác động trực tiếp tới họ, các bên tham gia Hiệp ước sẽ kiềm chế không đe dọa sử dụng vũ lực và sẽ luôn giải quyết các tranh chấp như vậy với nhau thông qua thương lượng hữu nghị” [16, tr 70]

Một trong những đóng góp có ý nghĩa chính trong thời kì này là ASEAN

đã cùng với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế tìm ra giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia Về mặt an ninh, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 năm 1992 đã nhấn mạnh “ASEAN sẽ tìm cách để tất cả các quốc gia thành viên tham gia vào các lĩnh vực hợp tác mới về vấn đề an ninh” [17, tr 11], vì vậy Diễn đàn khu vực ASEAN đã ra đời vào tháng 7/1993 Đây là

“Diễn đàn khu vực đang đạt được những tiến bộ chắc chắn như một khuôn khổ

Trang 29

an ninh đa phương đóng góp vào sự ổn định khu vực” [17, tr 12] Một đóng góp quan trọng nữa là ASEAN đã chủ động tạo lập được sự gắn kết giữa hai lục địa

Á - Âu (ASEM) được tổ chức tháng 3/1996 tại Băng-cốc, mạng lưới xuyên Thái Bình Dương cũng được thể chế hóa bởi quá trình APEC nhưng thiếu sự liên kết

Á - Âu, ASEM đã làm cho tam giác quan hệ mang tính toàn cầu hoàn thiện hơn

và đủ “ba cạnh”

- Hợp tác về kinh tế: Tuyên bố thành lập ASEAN ngày 8/8/1967 đã đặt việc “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu của Hiệp hội nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực Sự hợp tác kinh tế được thúc đẩy từ sau Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất với một loạt ủy ban

và cơ chế hợp tác Trong quan hệ kinh tế đối ngoại ASEAN đã thiết lập mối quan hệ kinh tế rộng rãi với các nước đối thoại như Mỹ, Nhật Bản, EU, với các nước thứ 3 khác và tổ chức quốc tế

Thành tựu quan trọng trong lĩnh vực này là mức độ tăng trưởng cao đưa ASEAN trở thành khu vực phát triển năng động, In-đô-nê-xi-a tăng từ 2,5% năm

1985 lên 7% năm 1990, Thái Lan là 3,5% và 10%, Xinh-ga-po là 1,6% và 8,3% [11, tr 13] Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất đã thông qua 5 dự án công nghiệp trong Kế hoạch các dự án công nghiệp ASEAN (AIP) nhưng tốc độ thực hiện còn chậm Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) bắt đầu thành lập

từ năm 1993, thời hạn hoàn thành tùy từng nhóm nước, năm 2003 cho 6 nước ASEAN cũ, năm 2006 cho Việt Nam và có thể năm 2008 cho các nước còn lại Một nội dung hợp tác kinh tế quan trọng là các nước đều quan tâm hình thành các tam giác tăng trưởng như: Nam ASEAN gồm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po; Tây Bắc ASEAN gồm Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan; Đông

Trang 30

ASEAN gồm Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a; “Bán đảo vàng” gồm các nước Đông Dương, Thái Lan, My-an-ma

- Hợp tác về văn hóa - xã hội và phát triển con người: Sự hợp tác này rất phong phú, bao hàm cả sự phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, thể thao, khoa học - công nghệ, hợp tác để tăng cường an ninh xã hội và phát triển nguồn nhân lực

Tuyên bố Ma-ni-la tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 đã đưa ra khái niệm “Hợp tác chuyên ngành”, nêu rõ phải phát triển giáo dục, tăng cường hiểu biết trong ASEAN, đẩy mạnh trao đổi thông tin, phát triển hợp tác y tế, lao động, luật pháp, dân số, chăm sóc trẻ em, văn hóa xã hội, hợp tác trong đầu tư vào khoa học, công nghệ, đào tạo và chuyển giao công nghệ, nhiều nội dung hợp tác phòng chống AIDS, ma túy, cướp biển…[17, tr 15-16] Một trong những lĩnh vực hợp tác có hiệu quả là về văn hóa thông tin, ủy ban văn hóa thông tin ASEAN (ASEAN COCI) trong những năm qua đã thu được những thành quả đáng khích lệ, từ đó các nước trong khu vực đã hiểu biết nhau hơn

1.2 Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN:

Trong các lĩnh vực hợp tác chính của ASEAN, hợp tác về kinh tế là lĩnh vực hợp tác chủ chốt nhằm đẩy mạnh hợp tác khu vực và tăng cường nền tảng của một cộng đồng hoà bình, thịnh vượng ở Đông Nam Á Nhìn chung, mục tiêu

cơ bản của hợp tác kinh tế ASEAN là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoá bỏ nghèo đói, bệnh tật, mù chữ và cải thiện đời sống của nhân dân, làm nền tảng xây dựng một khu vực hoà bình, thịnh vượng và công bằng xã hội

1.2.1 Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối của ASEAN:

1/ Các giai đoạn phát triển hợp tác kinh tế ASEAN:

Trang 31

Kể từ khi thành lập năm 1967 ASEAN đã đặt mục tiêu “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hợp tác Tuyên bố thành lập ASEAN (Tuyên bố Băng-cốc) ngày 08/8/1967 nêu mục đích các quốc gia thành viên “sẽ thông qua các nỗ lực chung, tích cực hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa…”

Có thể nêu các giai đoạn phát triển hợp tác kinh tế ASEAN như sau: a) Thời kỳ đầu: Đây là khoảng thời gian từ khi thành lập năm 1967, hợp tác kinh tế ASEAN chưa được phát triển mạnh ASEAN chỉ tiến hành một số hoạt động như lập Phòng Thương mại và Công nghiệp ASEAN (ASEAN CCI) năm 1972 nhằm tham khảo ý kiến khu vực tư nhân trong hợp tác kinh tế ASEAN; lập ủy ban ASEAN tại Giơ-ne-vơ năm 1973 để phối hợp chính sách chung của ASEAN, gồm các vấn đề kinh tế, tại các diễn đàn khu vực và quốc tế

b) Thời kỳ 1975 - 1992: Hợp tác kinh tế của Hiệp hội chỉ thực sự được khởi động từ khi ASEAN tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ nhất (tháng 11/1975) chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên tháng 2/1976 Đây là quá trình ASEAN đặt nền móng cho sự hợp tác kinh tế, thông qua

kế hoạch cũng như thể chế tổ chức các nền kinh tế ASEAN từng bước đi vào hợp tác Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất (Ba-li, In-đô-nê-xi-a, ngày 23-24/2/1976), các Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN I (còn gọi là Tuyên bố Ba-li I) qua đó lần đầu tiên đề cập cụ thể đến các mục tiêu chung của hợp tác kinh tế ASEAN, nêu rằng sẽ “phối hợp một cách có hiệu quả hơn để tăng cường hợp tác trong nông nghiệp và công nghiệp; mở rộng thương mại, kể

cả các vấn đề về thương mại hàng hóa quốc tế; cải thiện giao thông vận tại và bưu điện - viễn thông và nâng cao đời sống nhân dân” Sự hợp tác kinh tế ASEAN được đẩy mạnh từ sau Hội nghị Cấp cao này với việc: (i) Đề ra một số

Trang 32

chương trình hành động hợp tác kinh tế lớn của ASEAN lúc bấy giờ nhằm thúc đẩy thương mại nội bộ và hợp tác công nghiệp ASEAN: a) Đối với thương mại là: Thỏa thuận ưu đãi thương mại ASEAN (PTA - được ký năm 1977); b) Đối với công nghiệp gồm: Thỏa thuận khung về các dự án công nghiệp ASEAN ký năm 1980; Thỏa thuận khung về chương trình hỗ trợ công nghiệp ASEAN ký năm 1981, sau đó là kế hoạch hỗ trợ sản xuất công nghiệp cùng nhãn mác; và Thỏa thuận khung về liên doanh công nghiệp ASEAN ký năm 1983; (ii) Lập 5

ủy ban kinh tế làm bộ máy điều hành các hoạt động hợp tác là các Uỷ ban về hợp tác lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp; tài chính và ngân hàng; công nghiệp, khoáng sản và năng lượng; vận tải và viễn thông; thương mại và du lịch c) Thời kỳ 1992 - 2003: Các nền kinh tế ASEAN có sự phát triển nhanh và luôn đạt mức tăng trưởng GDP cao (trên 7%/năm) vào những năm cuối thập kỷ

70 đến đầu thập kỷ 90 và nhờ đó ASEAN được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động Đây là giai đoạn hợp tác kinh tế ASEAN được mở rộng và phát triển tương đối toàn diện so với trước, là thời kỳ ASEAN quyết định tiến hành thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) được coi như là bước tiến về chất trong lịch sử hợp tác kinh tế ASEAN Đây là thời kỳ có những điều kiện và nhân tố thuận lợi thúc đẩy ASEAN đi đến hình thành khuôn khổ hợp tác trên toàn khu vực Đông Nam Á, qua việc Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á khác tham gia ASEAN hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, đưa đến những phát triển căn bản đối với hợp tác ASEAN (Việt Nam là thành viên đầy đủ của ASEAN ngày 28/7/1995, Lào và My-an-ma tháng 7/1997, Cam-pu-chia 30/4/1999) Khi tham gia ASEAN, Việt Nam và các quốc gia CLM khẳng định sẽ tuân thủ các cam kết và điều khoản của các văn kiện và thỏa thuận hợp tác ASEAN, bao gồm cả hợp tác kinh tế Đây cũng là giai đoạn

Trang 33

ASEAN tăng cường khởi xướng tạô dựng các mối liên kết với các đối tác kinh tế phát triển năng động khác trong và ngoài khu vực

d) Thời kỳ 2003 - nay: Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9 (Ba-li, đô-nê-xi-a, ngày 7-8/10/2003) các Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Ba-li II) nêu mục tiêu và những định hướng chiến lược hướng tới tạo lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 Cộng đồng trụ cột về an ninh (ASC), kinh tế (AEC) và văn hóa - xã hội (ASCC) Để thực hiện mục tiêu đó, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 (Viên-chăn, Lào, ngày 28-30/11/2004) đã

In-đề ra các Kế hoạch Hành động AEC, ASC, ASCC và Chương trình Hành động Viên-chăn (VAP) với những chương trình, biện pháp cụ thể hóa việc thực hiện thời kỳ 2004 - 2010 nối tiếp Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), gồm có thực hiện Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN Đồng thời, ký Hiệp định khung về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập của ASEAN và lập Lộ trình liên kết ASEAN (RIA) nêu các biện pháp và lịch trình cụ thể cho hợp tác, liên kết ASEAN tại các lĩnh vực kinh tế hướng tới xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Hội nghị cũng thảo luận tình hình kinh

tế khu vực và quốc tế, tin tưởng các nền kinh tế khu vực đã phục hồi và có triển vọng tăng trưởng tốt trong năm 2004 - 2005; bày tỏ quyết tâm cùng hợp tác giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế do giá dầu tăng và dịch cúm gia cầm; ủng hộ sử dụng năng lượng thay thế (nhiên liệu sinh học, nguồn thuỷ điện) và lập các Đội ứng phó dịch bệnh bùng phát; đề nghị thúc đẩy hợp tác các Tiểu vùng phát triển AMBDC, BIMP-EAGA, GMS, ACMECS; hợp tác với khu vực doanh nghiệp tư nhân hoạch định chính sách hợp tác kinh tế ASEAN qua các khuyến nghị của Hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN (ABAC) [29, tr 1]

2) Cơ cấu hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư:

Trang 34

Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM): Đây là cơ cấu điều hành

và hoạch định hợp tác cao nhất trên lĩnh vực kinh tế của ASEAN Hội nghị AEM họp chính thức mỗi năm một lần Hội nghị gần đây nhất, AEM lần thứ 31, diễn

ra tại Xinh-ga-po vào tháng 9/1999 và Hội nghị kế tiếp sẽ tổ chức vào tháng 10/2000 Được sự phân công của Chính phủ, Bộ Trưởng Thương mại nước ta tham dự các AEM

Hội đồng AFTA: Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) là một

mục tiêu lớn, trọng tâm hàng đầu trong hợp tác kinh tế ASEAN Hiệp định về Chương trình Thuế quan Ưu đãi Hiệu lực Chung (CEPT) để thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) được ký kết ngày 28/1/1992 giữa các nước ASEAN Hội đồng AFTA được thành lập để trực tiếp giám sát, điều hành và kiểm tra việc triển khai thực hiện CEPT Hội đồng AFTA là cơ quan cấp Bộ trưởng, gồm đại diện của các nước thành viên và Tổng Thư ký ASEAN Hội đồng họp khi cần thiết, nhưng ít nhất mỗi năm một lần và báo cáo trực tiếp lên Hội nghị AEM Việt Nam cử Bộ trưởng Tài chính tham gia Hội đồng AFTA

Hội nghị các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM): là cơ quan cấp dưới

trực tiếp giúp việc cho AEM và Hội đồng AFTA, trực tiếp giải quyết mọi khía cạnh trong hợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp 2 - 3 tháng một lần và có trách nhiệm báo cáo lên AEM và Hội đồng AFTA Việt Nam cử Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Thương mại làm trưởng đoàn tham gia SEOM

Hội đồng AIA và Uỷ Ban điều phối về Đầu tư (CCI): Để phối hợp,

giám sát và điều hành việc thực hiện Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) ký kết ngày 7/10/1998, Hội đồng AIA được thành lập với cơ chế hoạt động tương tự như Hội đồng AFTA Hội đồng AIA báo cáo trực tiếp lên

Trang 35

AEM Uỷ ban Điều phối về Đầu tư là cơ quan cấp Vụ giúp việc cho Hội đồng AIA Việt Nam cử Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham gia Hội đồng AIA và CCI

Uỷ ban Điều phối về Dịch vụ (CCS): Được thành lập để xây dựng các

phương án đàm phán, phối hợp, giám sát và điều hành việc thực hiện kết quả đàm phán về dịch vụ theo Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) ký kết ngày 15/12/ 1995 CCS là cơ quan cấp Vụ và báo cáo lên SEOM và AEM

1.2.2 Yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN:

Để tiếp tục duy trì tính năng động phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực trước những thách thức mạnh mẽ từ những biến đổi to lớn của nền kinh tế toàn cầu khi trong thế kỷ 21, ASEAN đã và đang tiến hành xây dựng chương trình hội nhập kinh tế sâu sắc hơn nữa giữa các nước thành viên trong thế kỷ 21 nhằm phát triển ASEAN thành một khu vực ổn định, hoà bình, thịnh vượng và không có đói nghèo, một trung tâm kinh tế và chính trị phát triển của thế giới trong thế cân bằng với các trung tâm khác là Bắc Mỹ và Châu Âu

Vì vậy ngay tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ 2 ngày 15/12/1997 một kế hoạch tổng quát cho hợp tác ASEAN đến năm 2020 đã được đưa ra, kế hoạch đó được lấy tên là "Viễn cảnh ASEAN 2020 - Cộng tác chặt chẽ trong sự phát triển năng động" nhằm xác định mục tiêu, chiến lược và chương trình hành động cho sự hợp tác kinh tế của các nước thành viên bước vào thế kỷ 21 Mục tiêu của Viễn cảnh ASEAN 2020 là tạo ra một Khu vực Kinh tế

ASEAN ổn định, thịnh vượng và có sức cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch

vụ và đầu tư được lưu thông tự do, phát triển kinh tế đồng đều giữa các nước, giảm bớt đói nghèo và sự chênh lệch về kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, kinh tế và xã hội Để thực hiện mục tiêu đó, ASEAN sẽ thực hiện chiến lược sau đây:

Trang 36

- Hoàn thành Khu vực Thương mại Tự do ASEAN và đẩy nhanh việc tự

do hóa thương mại dịch vụ;

- Hoàn thành Khu vực đầu tư ASEAN vào năm 2010 và thực hiện đầu tư

- Hợp tác, tăng cường hệ thống thương mại đa phương;

- Tăng cường vai trò của giới doanh nghiệp, coi đó là động lực của phát triển

Bước vào thế kỷ 21 đòi hỏi ASEAN không chỉ dừng lại ở mức độ hợp tác cùng nhau thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế như hiện tại mà sẽ tiến lên hội nhập kinh tế sâu sắc hơn, gắn bó chặt chẽ với nhau hơn để thực hiện một khu vực kinh tế ổn định, hoà bình và thịnh vượng Trước mắt các nước ASEAN sẽ cùng nhau hợp tác đẩy nhanh hơn tốc độ thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do AFTA Đồng thời đẩy mạnh và hợp tác sâu sắc hơn trong các chương trình hợp tác ở các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ, tài chính, công nghiệp, trong đó đặc biệt quan tâm là xây dựng Khu vực Đầu tư ASEAN có sức hấp dẫn cao để tiến tới thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015

Mặc dù ý tưởng về AEC ra đời trên nền tảng hợp tác kinh tế khá vững chắc đã có của ASEAN, song nếu để một cách tự nhiên thì phải mất rất lâu để sự hợp tác đó chuyển thành một Cộng đồng kinh tế ASEAN thật sự Kể từ khi Hiệp định AFTA được ký cho đến năm 2003, ASEAN đã có rất nhiều các chương trình hợp tác kinh tế khu vực nhỏ lẻ Tuy nhiên những chương trình này đã tỏ ra

Trang 37

chưa đem lại kết quả nhanh, hội nhập kinh tế khu vực tổng thể vẫn chậm chạp bởi thiếu một cam kết toàn diện cuối cùng Các nhà lãnh đạo ASEAN không muốn chỉ tiếp tục tạo ra những mảnh vụn mới trong hợp tác kinh tế khu vực để rồi lại gặp nhiều khó khăn khi lắp ghép chúng lại với nhau Thay vì chỉ theo đuổi mỗi hình thức hợp tác theo những cam kết manh mún, nhỏ lẻ, AEC là “giải pháp

cả gói” hay nói đúng hơn là “quyết tâm chính trị cả gói” cho hội nhập kinh tế ASEAN Có thể điều kiện và thể chế hiện nay chưa đủ để ASEAN có một cộng đồng kinh tế thực sự song hợp tác kinh tế trong ASEAN cần phải được xem như

là một cộng đồng để tướng xứng với hai cộng đồng an ninh - chính trị và văn hoá

- xã hội cũng như việc hình thành Cộng đồng ASEAN Tuy nhiên nếu hợp tác kinh tế trở thành cơ sở cho các hoạt động chính trị của ASEAN và ý nghĩa tồn tại của chính khối này kể từ đầu những năm 1990, thì AEC sẽ trở thành nền tảng duy trì sự tồn tại và phát triển của Cộng đồng ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực, vì vậy đòi hỏi việc thành lập AEC phải là “một quyết tâm chính trị cả gói nhằm phát triển kinh tế” [22, tr 69]

Trang 38

Chương 2: KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIẾN HỘI NHẬP KINH

TẾ NỘI KHỐI ASEAN

Nền tảng của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN chính là khuôn khổ pháp lý đã và đang hình thành, ngày càng hoàn thiện cũng như đang được các nước ASEAN hiện thực hóa bằng hành động Hệ thống pháp luật về hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN có thể hiểu là tất cả các văn bản hợp tác kinh tế đã được các nước ASEAN ký kết, song ở phạm vi chương này chỉ là sự tổng hợp khái quát và một số nét thực thi các văn bản đó

2.1 Khái quát khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN:

2.1.1 Các Hội nghị thượng đỉnh (cấp cao) ASEAN:

Hội nghị cấp cao ASEAN là hội nghị giữa các nhà lãnh đạo của các quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á nhằm thảo luận về các vấn đề hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa và an ninh giữa các nước thành viên với nhau cũng như với các thành viên đối thoại của ASEAN Kể từ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1976, đến nay đã diễn ra 17 kỳ Hội nghị [26, tr 1]

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được họp tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a)

từ ngày 23 đến ngày 24-2-1976 Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), khẳng định 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN, cam kết cùng phối hợp

để bảo đảm sự ổn định khu vực cũng như tăng cường sự hợp tác kinh tế, văn hóa, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên của ASEAN; Hiệp định thành lập Ban Thư

Trang 39

ký ASEAN (có trụ sở đặt tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a) để phối hợp hoạt động giữa các ủy ban và dự án hợp tác ASEAN

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 2 được họp tại Cua-la-lăm-pơ xi-a) từ ngày 4 đến ngày 5-8-1977 Hội nghị đã ra thông cáo chung nhấn mạnh việc tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế với Nhật Bản, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân và Khối Thị trường chung châu Âu nhưng sẽ dành cho Nhật Bản “một vị trí đặc biệt” Hội nghị cũng đạt được hai kết quả quan trọng là chính thức hình thành cơ chế đối thoại giữa ASEAN với các nước công nghiệp phát triển nhằm nâng cao vai trò của ASEAN trong cộng đồng quốc tế và cơ cấu lại ủy ban hợp tác ASEAN để chuẩn bị cho việc mở rộng hợp tác ASEAN ra mọi lĩnh vực

(Ma-lai-Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 3 họp tại Ma-ni-la (Phi-líp-pin) từ ngày

14 đến ngày 15-12-1987 Hội nghị đã thông qua nhiều văn bản quan trọng như Tuyên bố Ma-ni-la năm 1987, bày tỏ quyết tâm của các nước ASEAN tiếp tục thúc đẩy và củng cố đoàn kết và hợp tác khu vực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào hợp tác ASEAN; Nghị định thư Ma-ni-la, sửa đổi Điều 14 và Điều 18 của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á để các nước ngoài khu vực có thể tham gia; cũng như thông Hiệp ước Khuyến khích vào bảm đảm đầu tư ASEAN và Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo Thỏa thuận ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) Ngoài ra, Hội nghị quyết định thành lập cơ chế Hội nghị liên Bộ trưởng (JMM) bao gồm Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế và Thể chế hóa các cuộc họp quan chức cao cấp (SOM) và cuộc họp các quan chức cao cấp về kinh tế (SEOM)

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4 được tổ chức tại Xinh-ga-po từ ngày

27 đến ngày 28-1-1992 Hội nghị đã thông qua những văn kiện và quyết định

Trang 40

quan trọng: Tuyên bố Xinh-ga-po năm 1992, khẳng định quyết tâm của ASEAN đưa sự hợp tác chính trị và kinh tế lên tầm cao hơn và mở rộng hợp tác sang lĩnh vực hợp tác an ninh; Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN, trong đó nổi bật là ba nguyên tắc: Hướng ra bên ngoài; cùng có lợi và linh hoạt đối với sự tham gia vào các dự án, chương trình của các nước thành viên; xác định 5 lĩnh vực hợp tác cụ thể là thương mại, công nghiệp - năng lượng - khoáng sản, nông - lâm - ngư - nghiệp, tài chính - ngân hàng, vận tải - liên lạc và du lịch; cũng như thông qua Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) quy định cụ thể các biện pháp và các giai đoạn giảm thuế nhập khẩu tiến tới thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) Ngoài ra, Hội nghị còn quyết định Hội nghị Cấp cao sẽ họp 3 năm một lần, đồng thời quyết định thành lập Hội đồng AFTA, giao cho SEOM giám sát các hoạt động hợp tác kinh tế ASEAN, nâng cấp Tổng thư ký ASEAN lên hàm Bộ trưởng

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 5 được tổ chức tại Băng-cốc (Thái Lan)

từ ngày 14 đến ngày 15-12-1995 Hội nghị đã thông qua: Tuyên bố Băng Cốc năm 1995, khẳng định rõ ý chí về một Đông Nam Á hợp tác, thống nhất và phát triển đa dạng trong khuôn khổ Hiệp hội, mong muốn hợp tác trên các lĩnh vực giao lưu quốc tế và hợp tác chuyên ngành cũng như Hiệp ước về một khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Hiệp ước này được coi là một văn kiện quan trọng tiến tới xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình ổn định Bên cạnh đó, Hội nghị đã thống nhất nâng cao hợp tác chuyên ngành lên tầm cao mới, ngang với hợp tác chính trị - an ninh - kinh tế nhằm thông qua phát triển con người, đoàn kết xã hội để đạt sự thịnh vượng chung cho

cả khu vực cũng như rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm, thậm chí có thể hoàn thành trước thời hạn 2003 và mở rộng hợp tác

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1:  Lộ  trình  thực  hiện  tự  do  lưu  chuyển  hàng  hoá  trong  ASEAN - Khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập nội khối của các nước Asean
ng 3.1: Lộ trình thực hiện tự do lưu chuyển hàng hoá trong ASEAN (Trang 129)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w