chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, thấy được những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất những kiến nghị để góp phần khai thác và quản lý hiệu quả nhấ
Trang 1NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Khai thác chung trong luật biển quốc tế và
thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam
với các nước láng giềng
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Hà nội - 2005
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 9
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 9
1.1 KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG 9
1.1.1 Định nghĩa khai thác chung 9
1.1.2 Đặc điểm của khai thác chung 17
1.1.3 Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung 19
1.2 VAI TRÕ CỦA KHAI THÁC CHUNG 27
1.3 LỊCH SỬ CỦA KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 30
1.4 CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG CỦA MÔ HÌNH KHAI THÁC CHUNG 1.4.1 Yếu tố chính trị: 31
1.4.2 Yếu tố kinh tế: 32
1.4.3 Các yếu tố khác: 34
1.5 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KHAI THÁC CHUNG 34
1.5.1 Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 35
1.5.2 Các điều ước quốc tế 37
1.5.3 Các phán quyết của Toà án quốc tế và khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải: 40
CHƯƠNG 2 43
CÁC DẠNG KHAI THÁC CHUNG ĐIỂN HÌNH 43
TRÊN THẾ GIỚI 43
2.1 KHAI THÁC CHUNG DẦU KHÍ 43
Trang 32.1.1 Khai thác chung nơi đường biên giới chưa được xác định 44
2.1.2 Khai thác chung nơi đường biên giới đã được xác định 54
2.2 KHAI THÁC CHUNG NGHỀ CÁ 59
2.2.1 Hiệp định ngư nghiệp giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản ngày 11/11/1997 60
2.2.2 Hiệp định ngư nghiệp giữa Nhật Bản và Đại Hàn Dân Quốc ngày 28/11/1998 63
2.3 KHAI THÁC CHUNG HỖN HỢP 66
2.3.1 Thỏa thuận Ghinê Bitxao - Xênêgan ngày 14-10-1993 66
2.3.2 Hiệp định Côlômbia - Jamaica ngày 12 - 11 - 1993 68
CHƯƠNG 3 KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG 72
3.1 TRANH CHẤP Ở BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 72
3.1.1 Tình hình tranh chấp ở biển Đông 72
3.1.2 Quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp 77
3.2 KHAI THÁC CHUNG GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG 79
3.2.1 Hiệp định Vùng nước lịch sử Việt Nam - Cămpuchia 7/7/1982 79 3.2.2 Khai thác chung giữa Việt Nam và Malayxia 90
3.2.3 Việt Nam với Trung Quốc và Hiệp định Hợp tác Nghề cá Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 103
3.2.4 Trường Sa với đề nghị “Gác tranh chấp, cùng khai thác” 129
Về khả năng khai thác chung ba bên Việt Nam - Malayxia - Thái lan 138
KẾT LUẬN 141
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người dần có thể vươn ra những lĩnh vực, phạm vi rộng lớn hơn Nhu cầu về tài nguyên của con người cũng ngày càng gia tăng, trong khi tài nguyên trên đất liền đang dần cạn kiệt Nhân loại đã tìm đến những hành tinh khác để tìm kiếm sự sống, tài nguyên nhưng đó còn là một câu chuyện rất xa Vì vậy con đường tiến ra biển đang là phương cách hiện thực nhất đối với loài người
Để điều hòa lợi ích của các quốc gia trong quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển, Luật biển quốc tế cũng phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học, kỹ thuật v.v Một trong những sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của Luật Biển quốc tế đó là sự ra đời của Công ước Luật Biển 1982, một trật tự pháp lý trên biển đã được hình thành đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số các quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Những quy định mới của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến quyền tài phán của các quốc gia ven biển được mở rộng ra đối với vùng đặc quyền kinh
tế là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý và tối đa không mở rộng ra ngoài giới hạn
350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu là ở các vùng biển hẹp, yêu sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chồng lấn lên nhau Và như vậy, tiếp theo đó cần phải có những thoả thuận về đường ranh giới phân chia thẩm quyền giữa các bên Tuy nhiên để đạt được những thoả thuận này không phải là việc đơn giản mà đòi hỏi một quá trình
Trang 5lâu dài và hết sức tốn kém, thậm chí có thể gây ra sự căng thẳng về chính trị, xung đột về quân sự v.v
Trù định cho tình huống đó, Công ước Luật Biển 1982 có những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển chung những vùng tranh chấp này
Theo khoản 3 điều 74 và điều 83 của Công ước: "trong khi chờ đợi ký các
thoả thuận mới ở khoản 1 các quốc gia hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở đến việc ký kết các thoả thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng "
"Các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn” đã được các quốc gia vận dụng linh hoạt và thể hiện qua những thoả thuận khai thác chung Trong khi đàm phán giải quyết tranh chấp gặp bế tắc, nhu cầu khai thác tài nguyên lại rất lớn đã khiến các bên tìm đến giải pháp này
Trên thực tế các quốc gia còn tìm đến giải pháp khai thác chung ở cả những nơi đã có đường biên giới xác định, đó là những trường hợp khi có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới hoặc để quản lý hiệu quả những đàn cá xuyên quốc gia Điều này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia liên quan
Có thể nói, khai thác chung là giải pháp tương đối khả thi nhằm chung hoà lợi ích giữa các quốc gia, giảm thiểu căng thẳng chính trị, góp phần giải quyết nhu cầu kinh tế cấp bách cho sự phát triển của các quốc gia ven biển Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài với diện tích vào khoảng 1 triệu
km2 Việt Nam cũng là một quốc gia đã tham gia Công ước Luật Biển năm
1982 và đang phải đối đầu với hàng loạt các vấn đề trong đó có vấn đề giải quyết phân định ranh giới biển với các nước láng giềng Trong khi chờ đợi kết
Trang 6quả cuối cùng, Việt Nam cùng với các nước liên quan cần thiết phải nghiên cứu và tìm đến giải pháp khai thác chung Tuy nhiên, cùng là một giải pháp nhưng các mô hình lại không hoàn toàn giống nhau Điều này phản ánh sự phong phú của các dạng khai thác chung tùy thuộc vào sự vận dụng sáng tạo, khéo léo của các bên trong việc lựa chọn giải pháp có lợi nhất cho quốc gia mình
Mặc dù, khai thác chung đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng tại Việt Nam vấn đề này vẫn chưa được quan tâm thích đáng Trong khi Việt Nam cũng là một quốc gia điển hình trong việc áp dụng giải pháp khai thác chung và còn có nhu cầu áp dụng khi mà bối cảnh tranh chấp Biển Đông đang hết sức phức tạp Điều này đòi hỏi vấn đề cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, tỷ mỉ ở tất cả các khía cạnh
Nghiên cứu vấn đề khai thác chung sẽ là nguồn quan trọng đối với các quốc gia hiện đang và sẽ áp dụng mô hình này cho những vùng biển đang còn tranh chấp hoặc tại các vùng biển đã có đường biên giới xác định nhưng có nhu cầu về khai thác chung Đối với Việt Nam vấn đề này càng có ý nghĩa cả
về mặt lý luận và thực tiễn
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài
“Khai thác chung trong Luật biển quốc tế và thực tiễn trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Trên cơ sở xem xét vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật biển quốc tế, cùng với việc phân tích các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới, rút ra những ưu điểm và những hạn chế của các mô hình Đồng thời nghiên cứu những nhân tố pháp lý cơ bản nhất của các thỏa thuận khai thác
Trang 7chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, thấy được những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất những kiến nghị để góp phần khai thác và quản lý hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên trong vùng khai thác chung, bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia Đưa ra và phân tích những đóng góp của các mô hình khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng đối với việc làm phong phú thêm cho lý luận và thực tiễn khai thác chung trên thế giới
Trong phạm vi đề tài, tôi chú trọng tập trung nghiên cứu các phần chính sau đây:
+ Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về khai thác chung Trong đó bao gồm các vấn đề như định nghĩa, đặc điểm, nội dung của khai thác chung, lịch sử khai thác chung, cơ sở pháp lý của khai thác chung + Nghiên cứu và đưa ra một bức tranh tổng quan về các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới
+ Thực tiễn áp dụng mô hình khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó đưa ra thực trạng và một số ý kiến đề xuất xung quanh việc áp dụng khai thác chung giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, dự báo về khả năng tiến hành khai thác chung trong tương lai giữa Việt Nam với các nước liên quan
3 Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu cơ bản dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
4 Kết cấu của luận văn:
Trang 8Luận văn bao gồm các phần: Lời mở đầu, ba chương, kết luận, phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo
- Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung trong Luật
biển quốc tế
- Chương II: Các dạng khai thác chung điển hình trên thế giới
- Chương III: Khai thác chung giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Luận văn này được viết trong khi nguồn tài liệu trong nước chưa nhiều, một số phần được viết chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài và thực tiễn hoạch định vùng khai thác chung giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực Thời gian viết lại có hạn khiến luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy, cô giáo và bạn bè để tôi
có thể bổ sung và hoàn thiện kiến thức của mình
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHAI THÁC
CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
1.1 KHÁI NIỆM KHAI THÁC CHUNG
1.1.1 Định nghĩa khai thác chung
Biển chiếm hơn 2/3 diện tích bề mặt trái đất, biển không những đem đến cho con người giá trị vật chất mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần, biển chứa đựng tiềm năng về thuỷ sản, về giao thông vận tải, du lịch,v.v Trong lòng đất dưới đáy biển con người còn tìm thấy các mỏ dầu, khí, khoáng sản đem lại lợi ích kinh tế cao
Con người từ xưa đến nay luôn thể hiện khát vọng chinh phục biển và
mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, nhất là các quốc gia ven biển Tuy nhiên thế giới rộng lớn cũng không thể trao tặng một cách công bằng tài nguyên biển cho tất cả các quốc gia, đã có một số quốc gia ở vào vị trí bất lợi
về biển
Như vậy là song song tồn tại hai nhóm quốc gia, một nhóm đấu tranh ủng
hộ cho nguyên tắc “Thềm lục địa kéo dài”, “Chủ quyền quốc gia trên biển”
đó là các quốc gia ven biển và một nhóm quốc gia ủng hộ cho nguyên tắc “Tự
do biển cả” Thực tiễn đó dẫn đến sự cần thiết phải có những nguyên tắc, quy
phạm pháp lý với vai trò như là những công cụ hữu hiệu để điều hoà lợi ích
Trang 10giữa các quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng biển, đại dương Luật Biển Quốc tế đã ra đời trong bối cảnh đó Đây là một nghành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế và được hình thành từ rất sớm
Ngay từ thế kỷ XVII đã có những tác phẩm nổi tiếng về luật biển như
“Biển tự do” của HuyGo GroTiuyt hay tác phẩm “Biển kín” của nhà luật học người Anh Selden, ông đã đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của quốc gia trên biển Đến thế kỷ XIII một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc đã được hình thành, sau đó phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải Những Công ước đầu tiên về Luật biển cũng đã được thông qua tại Hội nghị Luật Biển lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc được tổ chức năm 1958 tại Giơnevơ - Thuỵ sỹ,
đó là:
+ Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (Có hiệu lực từ ngày 10/9/1964)
+ Công ước về biển cả (Có hiệu lực từ ngày 30/9/1962)
+ Công ước về thềm lục địa (Có hiệu lực từ ngày 20/9/1962)
+ Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển (Có hiệu lực
từ ngày 20/3/1966)
Tuy nhiên phải đến Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên Hợp Quốc về Luật biển, sau 5 năm trù bị (1967 - 1972) và 9 năm thương lượng (1973 - 1982) mới thông qua được một Công ước mới về Luật Biển Văn bản cuối cùng đã được ký vào ngày 10/12/1982 tại MONTEGO - Bay (Gia MaiCa) và
có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994
Sự ra đời Công ước Luật biển 1982 là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của Luật biển Quốc tế, ngoài các khái niệm được đề cập trước đó, Công ước điều chỉnh tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật,
Trang 11môi trường Công ước đã quy định thống nhất quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải, trong khi hội nghị lần thứ nhất năm 1958 và hội nghị lần thứ hai năm 1960 lại chưa đề cập đến Đặc biệt một khái niệm hoàn toàn mới so với trước đó là khái niệm “Vùng đặc quyền kinh tế”:
Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo
đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.( Điều
35 khoản 2) và “Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý
kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” (Điều 57, khoản 2)
Hai tiêu chuẩn của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa là độ sâu 200m nước và khả năng kỹ thuật khai thác cho phép đã được thay thế bằng hai tiêu chuẩn mới của Công ước 1982 đó là tiêu chuẩn khoảng cách và sự kéo dài
(Điều 76, khoản 2)
Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình tới khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý
Trang 12Việc mở rộng thẩm quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến ở những vùng biển hẹp, yêu sách của các quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ chống lấn lên nhau Trong khi việc hoạch định ranh giới các vùng biển là cả một quá trình thoả thuận lâu dài và tốn kém, các yếu tố lãnh thổ, kinh tế, chính trị, xã hội luôn tồn tại trong các cuộc tranh chấp trên biển và đan xen hết sức phức tạp, không thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn Các nước tranh chấp lại luôn duy trì các yêu sách của mình và có phản ứng quyết liệt với các yêu sách của các nước khác Điều này càng làm cho tranh chấp trở lên căng thẳng [19]
Trong những trường hợp trên, các quốc gia có thể hoặc phải dừng tất cả mọi hoạt động thăm dò, khai thác trong vùng tranh chấp hoặc đơn phương tiến hành hoạt động của mình, tuy nhiên đây là sự lựa chọn hết sức nguy hiểm, gây căng thẳng trong quan hệ giữa các nước Trong khi một nguyên tắc phổ biến trong luật pháp quốc tế đó là các bên tranh chấp không được đơn phương khai thác các tài nguyên trong vùng chồng lấn Vì vậy có một sự lựa chọn tích cực khác đó là các bên tạm thời gạt vấn đề tranh chấp sang một bên và cùng nhau thăm dò khai thác tài nguyên trong vùng chồng lấn
Trên thực tế tranh chấp tài nguyên không chỉ xảy ra nơi đường biên giới chưa xác định mà còn ở cả những khu vực đường biên giới đã được xác định
Đó là những trường hợp có mỏ dầu nằm vắt ngang qua đường biên giới, do đặc tính hoá lỏng tự nhiên của tài nguyên này khiến cho việc khai thác đơn phương của một quốc gia đương nhiên sẽ làm cạn kiệt mỏ dầu khí ở cả bên kia đường biên giới mà lẽ ra quốc gia láng giềng đó được hưởng Hay trường hợp đối với những tài nguyên sinh vật như các đàn cá di cư thì đường biên giới quốc gia trên biển cũng không còn có ý nghĩa, và như vậy lại một lần nữa
Trang 13các quốc gia tìm đến với nhau, cùng bàn bạc, thoả thuận lựa chọn giải pháp
hợp nhất hoá mỏ tài nguyên để khai thác chung
Như vậy là quá trình phát triển của Luật biển quốc tế gắn liền với sự ra đời của nhiều khái niệm mới như khái niệm lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Nhiều tập quán về khai thác và sử dụng biển cũng dần được ghi nhận trong Luật biển Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về khai thác chung
Trong thực tiễn, các dạng khai thác chung trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú Khai thác chung cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều trung tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, như Trung tâm Đông Tây ở Honolulu -
Ha Oai hay Viện Luật quốc tế và Luật so sánh của Anh.v.v Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế về vấn đề này đã được tổ chức liên tiếp Hội thảo năm
1980 về tiềm năng hydrocacbon và khai thác chung ở Biển Nam Trung Hoa; Hội thảo lần thứ hai năm 1983 ở Hololulu; Hội thảo lần thứ ba năm 1985 ở Băng Cốc - Thái Lan; Hội thảo lần thứ tư năm 1989 ở Bali (Inđônêxia); Hội thảo ở London năm 1990 Tuy nhiên một số học giả vẫn còn hoài nghi về khả năng có cần thiết phải thảo luận về khái niệm khai thác chung? Thật vậy, trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều đường biên giới biển chưa được xác định và tranh chấp trong khai thác tài nguyên vẫn thường xuyên xảy ra thì việc đưa ra một khái niệm thống nhất về khai thác chung là hết sức cần thiết Cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào trong định nghĩa khai thác chung, điều này đã được Giáo sư - Tiến sỹ luật quốc tế Masahiro Miyoshi (Khoa luật trường Đại học Aichi- Nhật bản) khẳng định trong bản tóm tắt các
tham luận tại ba cuộc hội thảo của Trung tâm Đông Tây: "Khái niệm Khai
thác chung quốc tế không được hiểu và sử dụng một cách thống nhất "
[45, Tr.43] Theo Ông có 2 dạng khai thác chung:
Trang 14Một là: Khai thác chung khi mà việc phân định biên giới đã được giải quyết
Hai là: Chế độ khai thác chung đối với khu vực có đường biên giới đang phân định [45, Tr.23]
Mặc dù mô hình khai thác chung đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng vẫn chưa có một định nghĩa tổng quát cho vấn đề này Sở dĩ như vậy là
vì các học giả chỉ định nghĩa khai thác chung theo mục đích nghiên cứu riêng của mình và vì vậy khai thác chung được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ chính trị, tiến sỹ - Willam Onorato đã định nghĩa khai thác
chung, là "Một thể chế mà theo đó toàn bộ vấn đề tranh chấp biên giới được
gác sang một bên để tạo ra một bầu không khí hợp tác về chính trị ngay từ ban đầu xung quanh việc khai thác" [49, Tr.111] Ở góc độ này khai thác
chung chính là giải pháp để tháo gỡ những bất đồng, tạo dựng mối quan hệ bền vững, ổn định nhằm giảm căng thẳng về chính trị trên trường quốc tế Còn dưới góc độ kinh tế, Giáo sư luật học Ian Towsend - Gault Đại học
British Colombia cho rằng "Khai thác chung là một quyết định do một hay
nhiều nước mà các nước này đóng góp bất kỳ quyền nào mà họ có đối với một vùng nhất định và thực hiện việc cùng quản lý dưới một hình thức nào đó ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn vì mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên ngoài khơi” [41, Tr.275] Sau đó Gault cùng với William G.Stormont đã đưa
ra một định nghĩa cụ thể hơn về khai thác chung dầu khí
Một thoả thuận khai thác chung dầu khí ngoài khơi đặc trưng là một thỏa thuận khi hai hay nhiều quốc gia đi dến một thoả thuận chính thức về việc hợp tác khai thác và cùng nhau chia sẻ lợi nhuận có được từ các hoạt động khai thác dầu và khí trong một vùng biển ngoài khơi xác định bằng việc đóng góp các chủ quyền của mình đối với vùng biển đó [41, Tr.51]
Trang 15Cũng từ góc độ kinh tế, giáo sư Rainer Lagoni với tư cách là báo cáo viên đặc biệt của Uỷ ban vùng đặc quyền kinh tế của Hiệp hội luật Quốc tế (ILA) trong bản báo cáo của mình tại Hội nghị Vacsava năm 1988 đã cho rằng
khai thác chung là: "Sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm thăm dò và khai thác
một số mỏ, vùng hoặc các tích tụ tài nguyên không sinh vật mà có thể vượt qua hoặc nằm trong khu vực có yêu sách chồng lấn" [42, Tr.2]
Bên cạnh đó, còn có nhiều định nghĩa khác nhau về khai thác chung
Churchil từng định nghĩa: "Khai thác chung được coi như là một khu vực tại
đó hai hay nhiều quốc gia có theo luật quốc tế các quyền chủ quyền về thăm
dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên của khu vực và ở đó các quốc gia hữu quan đồng ý cam kết, thăm dò và khai thác dưới một dạng chung nào đó hoặc một sự dàn xếp chung” [44, Tr.55] Tại cuộc hội thảo của Trung tâm
Đông - Tây tháng 8/1988, một nhóm luật sư đã đưa ra lời nhận xét "Khai thác
chung thường được sử dụng như một thuật ngữ chung chung, bao gồm các hoạt động từ việc hợp nhất hoá các tài nguyên có chung đến việc đơn phương khai thác tài nguyên có chung ở ngoài đường ranh giới quy định và những hình thức khai thác đa dạng nằm giữa hai loại này” [45]
Còn nhóm chuyên gia của Viện Luật Quốc tế và Luật So sánh Anh lại định nghĩa khai thác chung một cách cụ thể hơn, với nỗ lực nhằm xây dựng một thoả thuận mẫu cho các quốc gia có nhu cầu khai thác chung dầu và khí
ngoài khơi Nhóm chuyên gia này định nghĩa: "Khai thác chung như là một
thoả thuận giữa hai quốc gia để khai thác tài nguyên ở một vùng đã được vạch ra ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa mà ở đó cả hai quốc gia hay một trong hai quốc gia được luật quốc tế trao cho quyền để từ
đó cùng nhau chia sẻ theo những phần đã được thảo luận thông qua việc hợp tác liên quốc gia và bằng các biện pháp riêng của từng quốc gia” [44, Tr.45]
Trang 16Khai thác chung được coi là giải pháp ưu tiên trong các "dàn xếp tạm thời" và là sự lựa chọn mang tính khả thi cao được nhiều quốc gia áp dụng Vì vậy, cần thiết phải có một định nghĩa thống nhất nhằm tạo cơ sở cho việc khai thác chung
Cụm từ "Khai thác chung" được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "Joint development" nghĩa gốc là "Phát triển chung" Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Việt Nam thì “khai thác chung” không có nghĩa là hẹp hơn “phát triển chung” Khai thác chung cần phải hiểu không đơn thuần chỉ là khai thác chung một tài nguyên nào đó mà bao gồm cả các hoạt động như thăm dò, nghiên cứu khoa học, quản lý, bảo vệ môi trường, xây dựng đảo nhân tạo.v.v
vì một mục đích cùng phát triển chung
Qua nghiên cứu các định nghĩa khác nhau về khai thác chung, có thể hiểu rằng: Khai thác chung là một thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ các nguồn tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn hay các nguồn tài nguyên nằm vắt qua đường phân định Đây là giải pháp tạm thời để khai thác tài nguyên, đảm bảo quan hệ láng giềng thân thiện, dựa trên nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán trên biển của quốc gia, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại Cho đến nay, mô hình khai thác chung đã và đang được nhiều quốc gia lựa chọn, dẫu rằng vấn đề này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo, cũng như việc áp dụng chưa phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với nhiều quốc gia Nhưng những lợi ích to lớn trong quá trình áp dụng đã dần khẳng định những
ưu điểm của giải pháp này
1.1.2 Đặc điểm của khai thác chung
Khai thác chung trước hết phải được coi là một giải pháp tạm thời nhằm giảm thiểu các xung đột giữa các bên yêu sách và để phát triển các nguồn tài
Trang 17nguyên mà thôi Các quốc gia cần cùng nhau thỏa thuận về việc hợp tác khai thác và các quốc gia này phải có quyền nhất định đối với khu vực tranh chấp theo quy định của Luật pháp quốc tế Hơn nữa khu vực khai thác chung phải thực sự có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và việc khai thác đơn phương của một bên sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phía bên kia Thỏa thuận này không làm ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển Ví dụ như Thỏa thuận Hàn
Quốc - Nhật Bản đã quy định: “Không có quy định nào của thỏa thuận này
gây ảnh hưởng tới quyền chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần của khu vực khai thác chung, cũng như gây phương hại tới quan điểm của các bên liên quan trong qua trình phân định thềm lục địa.”
Đặc biệt khai thác chung không làm ảnh hưởng đến việc phân định vùng biển giữa các quốc gia và không nhất thiết phải là một cam kết lâu dài hay vĩnh cửu Khai thác chung cũng không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với các quốc gia Trên thực tế đã có một số thỏa thuận khai thác chung trở thành những thỏa thuận vĩnh cửu, ví dụ như: Thỏa thuận giữa Iceland và Janmayen (10/1981) hay giữa Bahrain và Ảrập Xêút (02/1958)
Thỏa thuận khai thác chung không nhất thiết phải bao gồm các hoạt động diễn ra trong khu vực chồng lấn Ví dụ, thỏa thuận giữa Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ nhằm phát triển về tài nguyên thiên nhiên; Thỏa thuận giữa Việt Nam và Malayxia chỉ để khai thác chung dầu khí Tuy nhiên cũng có những thỏa thuận đề cập đến khá nhiều vấn đề như Thỏa thuận giữa Ghinê Bitxao và Xênêgan, các vấn đề khai thác chung dầu khí, khai thác chung nghề cá và các hoạt động khác diễn ra trong khu vực chồng lấn đều được đề cập đến
Vấn đề về đường biên giới hầu như không được đề cập đến trong thỏa thuận khai thác chung Điều này sẽ giúp các bên tránh được những khó khăn
Trang 18trong quá trình xây dựng vùng khai thác chung Ví dụ trong thỏa thuận giữa Ả rập Xêút và Suđăng, thay vì vạch đường biên giới người ta quyết định chọn toàn bộ khu vực thềm lục địa sâu dưới 1000 m để khai thác chung
Khai thác chung không những được áp dụng tại khu vực chồng lấn mà đường biên giới chưa được phân định, giải pháp này còn được áp dụng trong trường hợp có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới để tối ưu hóa phát triển mỏ hoặc để quản lý và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên sinh vật phong phú tại khu vực này
Tùy thuộc vào nội dung khai thác chung mà các bên định ra một quy chế quản lý riêng cho khu vực khai thác chung Thông thường các bên phân khu vực quản lý hoặc áp dụng một chế độ quản lý chung, các bên cùng khai thác
và chia đều nguồn lợi Nhìn chung quy chế này là hết sức mềm dẻo
Như vậy, có thể thấy khai thác chung là giải pháp tạm thời giúp phát triển tài nguyên mà không cần chờ có kết quả phân định cuối cùng, là giải pháp làm chung hòa lợi ích giữa các bên, bảo đảm khai thác hợp lý và hiệu quả tài nguyên tại khu vực Khai thác chung cũng tạo ra nhiều cơ hội để thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên và tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên các nước cũng cần phải cân nhắc trước khi lựa chọn giải pháp này, bởi vì trong thực tế các bên phải tốn rất nhiều thời gian để bàn về các vấn đề liên quan đến khai thác chung, chi phí quản lý lại cao, đặc biệt quan hệ chính trị và ngoại giao ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng cũng như thực hiện thỏa thuận
1.1.3 Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung
Các hình thức khai thác chung trên thế giới là rất đa dạng và phong phú Điều này phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn của các quốc gia, xuất phát từ tình hình thực tế và đặc điểm riêng của từng khu vực cũng như mục đích mà các
Trang 19bên hướng tới Và như vậy nội dung của các thỏa thuận khai thác chung cũng rất khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các thỏa thuận đó đều có những nội dung cơ bản sau đây:
mỏ dầu hoặc tài nguyên khác để xác định phạm vi khai thác chung, ví dụ như trường hợp hợp nhất hóa mỏ khí Frigg Anh - Nauy Ngoài ra cũng có những thỏa thuận mà phạm vi khai thác chung còn vượt quá cả khu vực đang có tranh chấp như trường hợp khai thác chung giữa Côoét và Ảrập Sauđi: khai thác chung không những áp dụng cho “khu vực trung lập” có trước mà còn được áp dụng cho cả thềm lục địa tại vùng biển bên ngoài khu vực đó Hoặc khu vực hợp tác giữa Băng đảo và Nauy, hai bên thống nhất lấy lớp đá nham thạch trầm tích có khả năng chứa chất dầu mỏ làm phạm vi khai thác chung [5]
b Phân chia phạm vi quản lý:
Bên cạnh việc xác định phạm vi khai thác chung, các nước còn thỏa thuận về sự phân chia phạm vi quản lý Đối với những khu vực có sự tranh
Trang 20chấp về chủ quyền thì ngoài việc quy định rõ là không để ảnh hưởng tới yêu sách chủ quyền của bất kỳ nước hữu quan nào còn phải xác định quyền quản
lý của các nước ở mỗi khu vực riêng biệt Ví dụ: Hiệp định hợp tác Nhật Bản - Hàn Quốc lấy mỗi “thứ khu” làm một đơn nguyên, ở mỗi “thứ khu” công ty được chọn làm “Xí nghiệp khai thác” nếu thuộc người được nhượng quyền của nước ký kết bên A thì pháp luật quy định điều lệ của nước A được áp dụng ở thứ khu ấy
Còn trong trường hợp khai thác chung tại nơi đường biên giới đã được xác định thì các nước thường lấy đường biên giới đó để phân chia quyền quản
lý của mỗi bên Hiệp ước giữa Aixơlen và Nauy quy định mỗi bên áp dụng quyền lập pháp, chính sách dầu mỏ, quy tắc về điều lệ thăm dò khai thác mỏ, biện pháp đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường ở bên đường phân giới phía mình và đảm nhận trách nhiệm chấp hành Hiệp ước giữa Kuoét và Ảrập Sauđi quy định ngoài việc không xâm phạm đến quyền lợi của hai bên đối với tài nguyên thiên nhiên trong khu vực ra, mỗi bên hành xử quyền hành chính, lập pháp và phòng vệ về phía mình
Việc phân định rõ ràng phạm vi quản lý sẽ giúp các bên tránh được tình trạng chồng chéo về thẩm quyền, đồng thời góp phần đảm bảo việc quản lý và khai thác hiệu quả lợi ích kinh tế tại khu vực, giữ ổn định và hạn chế xung đột trong quan hệ giữa hai nước
c Thiết lập cơ quan quản lý chung:
Phần lớn các nước hữu quan khi đàm phán về nội dung Hiệp định khai thác chung đều thống nhất thiết lập ra một cơ quan quản lý chung Cơ quan này sẽ gồm một số lượng đại diện bằng nhau từ mỗi nước, nhân danh hai Chính Phủ và chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động thăm dò và khai thác trong vùng
Trang 21Quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan quản lý chung có thể được quy định ngay trong Hiệp định khai thác chung hoặc cũng có thể được quy định trong một thỏa thuận sau đó Trường hợp của Ghinê Bitxao và Xênêgan là một ví
dụ, cơ quan quản lý chung được hai bên đề cập trong thỏa thuận khai thác chung và được bổ sung thêm quyền hạn trong thỏa thuận tiếp theo Cơ quan quản lý chung này thường thể hiện dưới các dạng như “Ủy ban thường trực chung” (Joint permanent) trong thỏa thuận Cô oét - Ảrập Xêút năm 1965; “Uỷ ban hợp tác” (Joint commission) trong thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc (1974); Hiệp định Côlômbia - Giamaica 1993 hay “Cơ quan quyền lực chung” (Joint Authority) trong Hiệp định Ôxtrâylia - Inđônêxia 1989 v.v
Sau khi thiết lập cơ quan quản lý chung, các quốc gia ký kết có thể trực tiếp trao hoặc cơ quan quản lý này sẽ trao các quyền khai thác cho một hoặc nhiều công ty tư nhân [4] Tuy nhiên, mỗi một dạng khai thác chung cơ quan này lại có những quyền lực khác nhau tùy thuộc vào thực tiễn khai thác chung cũng như thỏa thuận khai thác chung giữa các quốc gia hữu quan Nhưng tựu chung lại thì có thể phân làm hai mô hình cơ quan quản lý chủ yếu, đó là: Dạng thứ nhất: Theo đó cơ quan quản lý chung có quyền lực tương đối mạnh với quyền giám sát và quyết định hầu hết các vấn đề như trong các thỏa thuận giữa Thái Lan - Malayxia, Ảrâp Xêút - Xuđăng, Ôxtrâylia - Inđônêxia Với tư cách pháp nhân đầy đủ và thẩm quyền cấp phép, quy định các điều khoản và các trường hợp miễn trừ và tham gia vào các hợp đồng khai thác với các công ty nước ngoài [4] Cơ quan quyền lực chung Malayxia - Thái Lan có quyền thay mặt các nước hữu quan cấp giấy phép cho hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Hay như “Uỷ ban hợp tác” Ảrâp Xêút - Suđăng với vai trò như phụ trách điều tra và phân định khu vực sở hữu chung, nghiên cứu vấn đề thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu vực,
Trang 22khích lệ cơ cấu chuyên nghiệp tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác, thụ lý
và thẩm tra đơn xin cấp phép và nhượng quyền khai thác
Dạng thứ hai: Cơ quan quản lý chung với mô hình nhỏ yếu như trong các Hiệp định giữa Hàn Quốc - Nhật Bản, Ảrập Xêút - Côoét, Malayxia - Việt Nam, Côlômbia - Giamaica Các cơ quan này hoạt động chỉ đơn giản như là một cơ quan có tính chất liên lạc, tư vấn nhằm điều phối các hoạt động hợp tác hoặc như là cơ quan liên lạc giữa các công ty dầu khí quốc gia Chẳng hạn như Uỷ ban liên hiệp Nhật - Hàn, với chức năng chủ yếu là kiểm điểm việc chấp hành Hiệp định giữa hai nước, thụ lý báo cáo kỷ luật, tài vụ của người giữ giấy nhượng quyền Uỷ ban này chỉ có quyền khuyến nghị hành động cho hai bên ký kết [4] Hay như “Uỷ ban thường trực” trong Hiêp định Cô oét - Ảrập Sauđi, cơ quan này thành lập để nghiên cứu các thủ tục hữu quan và kiến nghị dưới sự chi phối của Bộ trưởng Bộ Năng lượng hai nước
d Phân chia phí tổn khai thác và thu nhập:
Thông thường đây là vấn đề khó thương nghị và mất khá nhiều thời gian
để đạt đến đích, bởi vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của mỗi quốc gia hữu quan Việc phân chia đa phần dựa trên nguyên tắc công bằng, tuy nhiên thế nào là công bằng lại là một bài toán khó đối với các bên Vì vậy, tinh thần hợp tác, thiện chí vì lợi ích chung lâu dài luôn được các nước đề cao khi đàm phán về nội dung này
Nghiên cứu thực tiễn khai thác chung trên thế giới cho thấy, đối với các trường hợp khai thác chung tại vùng tranh chấp chưa phân định đường ranh giới thì các nước hữu quan đều chủ trương lấy nguyên tắc bình đẳng mà phân chia phí tổn khai thác và thu nhập Bởi vì khi chưa có đường ranh giới rõ ràng giữa hai nước thì các bên vẫn duy trì yêu sách chủ quyền đơn phương của mình đối với một phần hoặc toàn bộ khu vực khai thác chung Như vậy có
Trang 23nghĩa là quyền lợi mỗi bên tại đó còn chưa được khẳng định Trong lúc này giải pháp tạm thời là tạm gác tranh chấp và tiến hành khai thác chung, còn tài nguyên tất yếu được phân chia đều cho mỗi bên có yêu sách Ví dụ: Thỏa thuận Malayxia - Việt Nam; Nhật Bản - Hàn Quốc
Đối với khu vực có đường ranh giới đã được xác định, như trường hợp có
mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường ranh giới hai nước thì nghĩa vụ gánh vác phí tổn và quyền lợi hưởng thu nhập của mỗi nước hữu quan thường căn
cứ vào tỷ lệ diện tích mỏ tài nguyên tại mỗi bên đường ranh giới Ví dụ như trường hợp vùng khai thác chung giữa Aixơlen và Nauy trên đảo Janmayen, diện tích ở phía Bắc đường ranh giới Nauy là 32.750 km2, diện tích phía Nam đường ranh giới Aixơlen là 12.720 km2
nên quyền khai thác của Aixơlen ở phía Bắc còn của Na uy ở phía Nam, mỗi bên được hưởng 25% lợi nhuận thu được, còn phí tổn bước đầu do Nauy gánh vác Hay như thỏa thuận giữa Xênêgan và Ghinê Bitxao, theo đó nguồn lợi đánh cá được chia đều cho hai bên, còn các tài nguyên khai thác được ở thềm lục địa thì được chia theo tỷ lệ 85% cho Xênêgan và 15% cho Ghinê Bitxao
Tuy nhiên, ngay cả khi hai nước khai thác chung tại khu vực đường biên giới đã xác định thì các nước hữu quan vẫn thống nhất lựa chọn sự phân chia đều chi phí cũng như lợi nhuận khai thác được, ví dụ như thỏa thuận Ảrập Xêút - Xuđăng, Pháp - Tây Ban Nha
Có thể thấy, thỏa thuận về phân chia chi phí và lợi nhuận khai thác chung giữa các bên là hết sức phong phú, đa dạng Nhưng hầu như sự phân chia đó đều nhằm đảm bảo công bằng một cách tương đối quyền và lợi ích của mỗi bên
đ Điều khoản về tranh chấp:
Trang 24Một trong các nội dung quan trọng nữa trong các thỏa thuận khai thác chung đó là các quy định về tranh chấp, bao gồm cả thủ tục và nguyên tắc giải quyết tranh chấp Để đảm bảo thực thi khai thác chung được hiệu quả và liên tục, các bên hữu quan thường trù liệu đến các khả năng phát sinh tranh chấp
và giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, mỗi một thỏa thuận khai thác chung lại
có những lối giải quyết tranh chấp khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều
có mong muốn giải quyết tranh chấp trước hết bằng con đường ngoại giao, trên tinh thần hợp tác láng giềng thân thiện trên cơ sở phù hợp với luật pháp
và thực tiễn quốc tế
Đường lối giải quyết tranh chấp ở đây có thể là hai bên thống nhất đưa tranh chấp ra “Uỷ ban hòa giải nước thứ ba” như trong thỏa thuận Aixơlen - Nauy, còn như Hiệp định Ôxtrâylia - Inđônêxia lại quy định nếu có tranh chấp
về giải thích và vận dụng Hiệp định thì hai bên thống nhất giao cho trọng tài phân xử, phán quyết của trọng tài phải được Tòa án của nước ký kết thừa nhận
và chấp hành Thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc quy định: Tranh chấp trước hết phải được giải quyết theo con đường ngoại giao, sau khi con đường ngoại giao thất bại thì sẽ giao cho Uỷ ban trọng tài nước thứ ba giải quyết
Bên cạnh các hình thức giải quyết tranh chấp trên, một số nước còn lựa chọn hình thức giải quyết bằng Tòa án quốc tế Ví dụ như thỏa thuận Ảrập - Xuđăng quy định khi tranh chấp không thể giải quyết được theo phương pháp hữu hảo thì tranh chấp đó sẽ được giải quyết tại Tòa án quốc tế và khi đã đưa
ra Tòa án quốc tế thì các bên phải chấp hành sự quản lý, cưỡng chế và biện pháp tạm thời do tòa án chỉ định
g Hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung:
Hiệu lực của các thỏa thuận khai thác chung thường được các bên quy định rõ trong Hiệp định, bao gồm cả thời hạn hiệu lực, thủ tục và lý do đình
Trang 25chỉ Tuy nhiên, thời hạn ngắn hay dài lại tùy thuộc vào ý chí của các bên hữu quan và thực tiễn của từng khu vực khai thác chung cụ thể Ví dụ như thời hạn
có hiệu lực của thỏa thuận Hàn Quốc - Nhật Bản là 50 năm, Thái lan - Malayxia là 50 năm, Ôxtrâylia - Inđônêsia là 40 năm, Ghinê Bitxao - Xênêgan
là 20 năm, và còn có cả các Hiệp định không đề cập đến thời gian hiệu lực như thỏa thuận Aixơlen - Nauy, Côoét - Ảrập Sauđi
Nhiều Hiệp định cũng quy định cụ thể các trường hợp đình chỉ hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung Ví dụ như Hiệp định Nhật Bản - Hàn Quốc quy định thời hạn có hiệu lực là 50 năm nhưng nếu hai nước cùng thừa nhận hầm mỏ trong vùng không còn giá trị khai thác thì có thể qua sự đồng ý của hai bên để đình chỉ Ngoài ra còn có Hiệp định lấy việc hoạch định ranh giới làm nguyên nhân để đình chỉ hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung như trường hợp giữa Malayxia và Thái Lan
Vấn đề hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung được quy định hợp lý sẽ
có tác động tích cực, đặc biệt tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư Thời hạn hiệu lực rõ ràng cũng có nghĩa là sự công khai về khả năng thay đổi của luật pháp, chính sách tài chính, thuế Các nhà đầu tư có thể trù liệu và lập kế hoạch lâu dài cho công việc kinh doanh tại khu vực này, với ý nghĩa đó việc quy định rõ ràng thời gian cùng nhau khai thác là hết sức quan trọng và
cần thiết
h Bảo vệ môi trường:
Một trong các nội dung được nhiều Hiệp định đề cập đến đó là đưa ra những quy định về biện pháp bảo vệ môi trường, phòng chống ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường Để phù hợp với xu thế chung của thời đại là phát triển bền vững, khai thác tài nguyên phải đi đôi với hoạt động bảo vệ môi trường Đặc biệt các hoạt động khai thác chung tài nguyên ở đây chủ yếu là
Trang 26khai thác chung dầu khí, đây là một lĩnh vực khai thác có tiềm ẩn nhiều rủi ro
về môi trường Vì vậy trong nhiều Hiệp định khai thác chung thường có các quy định cụ thể về vấn đề này
Ví dụ: Hiệp định Nhật Bản - Hàn Quốc, điều 20 quy định hai bên phải thương lượng áp dụng các biện pháp để ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm do thăm dò khai thác tài nguyên gây ra
Ví dụ: Thỏa thuận Aixơlen - Nauy thì quy định rõ mỗi nước phải áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường thích hợp trong phạm vi kiểm soát của mình, trong trường hợp mỗi bên thấy biện pháp nói trên của mình chưa đủ thích hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường thì hai bên phải thương nghị với nhau để cải thiện tình hình Nếu không có cách nào để đạt tới sự nhất trí thì giao phó vấn
đề ô nhiễm cho Uỷ ban hòa giải nước thứ ba giải quyết
1.2 VAI TRÕ CỦA KHAI THÁC CHUNG
Ngày nay, cùng với việc mở rộng những hiểu biết về biển, con người đã nhận thức được vai trò thiết yếu của biển trong mối liên hệ trực tiếp đối với mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội Điều đó đã góp phần thúc đẩy các quốc gia không ngừng tìm cách để mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, đây
là một trong các nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp về chủ quyền giữa các quốc gia ven biển Lợi ích kinh tế thu được từ các mỏ dầu khí, các mỏ khoáng sản hay nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã khiến các quốc gia tìm mọi cách để thể hiện những yêu sách của riêng mình, và cũng bằng mọi cách để có thể chiếm được nhiều tài nguyên nhất Điều này đã góp phần làm phát sinh thêm tranh chấp cũng như khiến những tranh chấp vốn đã phức tạp thì nay lại càng phức tạp hơn Thêm vào đó, với sự phát triển của Luật biển Quốc tế mà cụ thể là sự ra đời của Công ước Luật biển năm 1982, bên cạnh những lợi ích mà Công ước đem lại thì nhiều vấn đề cũng đã phát sinh trong
Trang 27đó có vấn đề nảy sinh tranh chấp mới và khả năng giải quyết tranh chấp trên biển Các tranh chấp về chủ quyền không chỉ đơn thuần là tranh chấp giữa hai quốc gia mà nó đang có xu thế đa phương hoá Các vùng lãnh thổ, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa đều có thể là khách thể của các cuộc tranh chấp
Trong khi các tranh chấp xuất hiện ngày càng nhiều và diễn biến hết sức phức tạp thì nhu cầu khai thác tài nguyên để phát triển kinh tế cũng không ngừng gia tăng đã thúc đẩy các quốc gia tìm tòi và mở rộng phạm vi khai thác tài nguyên Vì vậy, bất kỳ khu vực tranh chấp về chủ quyền nào mà lại chứa đựng tài nguyên đều khiến cho tranh chấp thêm phần gay gắt và quyết liệt Năm 1969 Uỷ ban kinh tế miền Viễn Đông Châu Á của Liên Hợp Quốc công bố bản báo cáo điều tra tuyên bố rằng thềm lục địa giữa Nhật Bản và Đài Loan là một vùng chứa dầu mỏ phong phú nhất thế giới, kết quả đó đã làm tăng nhanh tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia hữu quan, tạo ra một cuộc chiến tranh dầu mỏ thềm lục địa Đông Bắc Á [5, Tr.3]
Trên thế giới hiện nay, một lựa chọn được đông đảo các quốc gia ủng hộ
đó là mưu cầu giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng con đường hoà bình Trong khi các quốc gia chưa thể đạt đến đích cuối cùng của mình là phân định
rõ ràng biên giới giữa họ thì việc để một tranh chấp kéo dài có thể làm phát sinh những tranh chấp, bất đồng mới ảnh hưởng đến quan hệ giữa các bên liên quan Vì vậy, nhiều quốc gia đã đi tìm những cách ứng xử cho các trường hợp trên với mục đích vừa làm dung hòa lợi ích các bên, vừa làm xoa dịu tranh chấp và lại không trái với luật pháp quốc tế Trên thực tế các quốc gia thường tìm đến một giải pháp tạm thời đó là khai thác chung, đây được coi là giải pháp mang tính khả thi cao, thông qua con đường hoà bình nhằm góp phần giải quyết hoặc làm dịu đi những tranh chấp, bất đồng quốc tế
Trang 28Như vậy là khai thác chung đã được các quốc gia lựa chọn trước hết với vai trò như là một giải pháp nhằm làm “loãng” đi một số tranh chấp, bất đồng trên biển giữa các quốc gia Với giải pháp này, tranh chấp có thể tạm được gác lại mà không làm ảnh hưởng đến yêu sách của mỗi bên tại khu vực tranh chấp
đó, hạn chế việc tranh chấp kéo dài có thể dẫn đến tình trạng quan hệ chính trị căng thẳng hay kìm chế các hoạt động chạy đua vũ trang và sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp
Hơn thế nữa, khai thác chung còn là sự lựa chọn nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác tài nguyên Đối với khu vực đang còn tồn tại tranh chấp thì các bên không thể đơn phương tiến hành khai thác tài nguyên được, giải pháp khai thác chung sẽ giúp các quốc gia vẫn có thể khai thác được tài nguyên mà lại không trái với luật pháp quốc tế Thậm chí tại các khu vực đã có đường ranh giới xác định nhưng có nhu cầu khai thác chung thì đây còn là một giải pháp nhằm tối ưu hóa phát triển nguồn tài nguyên và đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tại khu vực này
Ngoài ra, ở một góc độ nhất định thì khai thác chung còn góp phần giải quyết các tranh chấp biển, một khi lợi ích kinh tế đã được dàn xếp thỏa đáng thì tất yếu việc giải quyết tranh chấp cũng dễ hơn rất nhiều Khai thác chung
sẽ góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên và tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, tạo cơ hội cho thu hút đầu tư nước ngoài
1.3 LỊCH SỬ CỦA KHAI THÁC CHUNG TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
Tìm hiểu lịch sử khai thác chung cho thấy, ngay từ những năm 30 ý tưởng về khai thác chung đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu và các
án lệ về khai thác dầu mỏ ở Mỹ Tiếp đến là thoả thuận Bahrain - Ảrập Xêút ngày 22/2/1958, thoả thuận Cô oét - Ả rập Xêút ngày 7/7/1965 cũng đã đề cập
Trang 29đến việc khai thác chung Khai thác chung cũng đã xuất hiện ở Châu Âu lục địa vào những năm 50 - 60 nhưng phải đến năm 1969 ý tưởng khai thác chung mới được ghi nhận trong phán quyết của Toà án quốc tế về vụ Thềm lục địa biển Bắc giữa Tây Đức - Đan Mạch - Hà Lan Toà án Công lý quốc tế đã chỉ
ra rằng “Một thể chế đồng tài phán có thể được sử dụng tại những khu vực
chồng lấn hay bất kỳ một khu vực nào thuộc vùng chồng lấn đó” [45]
Tháng 1- 1974, thoả thuận khai thác chung Nhật Bản - Hàn quốc đã có thể coi là bước ngoặt đánh dấu quá trình phát triển của việc khai thác chung, lần đầu tiên trên thế giới đã áp dụng ý tưởng khai thác dầu ngoài khơi tại nơi
mà các bên không thể phân định được biên giới như đã được chỉ ra trong phán quyết của toà án quốc tế năm 1969 Thoả thuận này là kết quả của những cuộc thương thuyết không thành công trong việc giải quyết tranh chấp thềm lục địa giữa hai nước trước đấy Trước thoả thuận Nhật Bản - Hàn quốc một ngày, thoả thuận Pháp - Tây Ban Nha cũng được ký kết với nội dung thiết lập một khu vực khai thác chung nằm ngang qua đường biên giới đã được xác định
Năm năm sau thoả thuận Hàn Quốc - Nhật Bản (1/1974), Malayxia và Thái Lan đã ký kết bản ghi nhớ (Memorandum of understanding - sau đây viết tắt là MOU) vào ngày 21/1/1979 với nội dung thiết lập cơ quan quyền lực chung để khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một khu vực xác định giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan Bản ghi nhớ này cũng là kết quả của sự bế tắc trong thương lượng về vấn đề biên giới thềm lục địa giữa hai nước
Sau đó, khai thác chung đã được nhiều nước lựa chọn, thể hiện qua các thoả thuận như Thoả thuận PaPua New Guinea và Ôxtrâylia (1978) giữa Aixơlen và Nauy; Hiệp ước Rãnh ngầm Timor (11/12/1989 ) giữa Ôxtrâylia
và Inđônêxia; Bản ghi nhớ Việt Nam - Malayxia (5/6/1992) về khai thác
Trang 30chung dầu khí; Hiệp định Côlômbia - Jamaica (12/11/1993); Hiệp định giữa Achentina và Vương quốc Anh (27/9/1995) v.v
Với gần 400 đường biên giới phải phân chia trên thế giới, nhưng chỉ có 1/3 trong số này được giải quyết bằng thoả thuận song phương hoặc qua phán quyết của toà án Như vậy khai thác chung sẽ là một trong những đích mà các bên hướng tới trong quá trình đàm phán giải quyết phân định khu vực chồng lấn Các thoả thuận tạm thời này có tính thúc đẩy tích cực nếu các bên tranh chấp cùng nhau phát triển được chương trình hợp tác chung, nó sẽ góp phần làm giảm căng thẳng về chính trị, thúc đẩy việc khai thác tài nguyên để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
1.4 CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG CỦA MÔ HÌNH KHAI THÁC CHUNG
1.4.1 Yếu tố chính trị:
Một mô hình khai thác chung thành công đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhưng yếu tố trước tiên và hết sức quan trọng đó là yếu tố chính trị Đây có thể coi là yếu tố đặt nền móng để xây dựng nên mô hình khai thác chung Bởi vì để đạt được điều đó cần thiết các quốc gia hữu quan phải cùng ngồi vào bàn bạc, đàm phán, thể hiện ý chí lựa chọn giải pháp tạm thời này khi có tranh chấp, bất đồng tại khu vực có tài nguyên nhất định Sự căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước có thể làm cho ý tưởng khai thác chung không thực hiện được
Ví dụ: Các vòng đàm phán giữa Việt Nam với Malayxia vào nhưng năm
80 không thể tiến hành được vì cuộc xung đột ở Cămpuchia đã tác động xấu đến quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với một số nước, trong đó có Malayxia
Trang 31Hơn nữa, quá trình khai thác chung có đạt đến đích của nó hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chính trị, bởi vì yếu tố này vừa là khởi nguồn để hình thành ý tưởng khai thác chung cũng như quyết định đến sự thành bại của ý tưởng đó trong thực tế Quan hệ chính trị giữa hai nước mà căng thẳng thì việc thực hiện khai thác chung chắc chắn sẽ không được như mong muốn, thậm chí có thể phải dừng lại Bởi vì thực chất khai thác chung chính là hoạt động mang tính hợp tác, khi mà tinh thần hợp tác bị xem nhẹ thì
khai thác chung sẽ trở thành một phương pháp không còn mấy hiện thực
1.4.2 Yếu tố kinh tế:
Một trong các lý do khiến các quốc gia tìm đến giải pháp khai thác chung
đó là vì lợi ích kinh tế Trước sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế toàn cầu, các nguồn tài nguyên của biển ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm Tại các khu vực xảy ra tranh chấp, các quốc gia luôn tìm cách để khai thác tài nguyên trên cơ sở không trái với luật pháp quốc tế và giải pháp khai thác chung đã được nhiều quốc gia lựa chọn Bởi thực chất nếu không áp dụng giải pháp này, tại các vùng đang xảy ra tranh chấp các nhà đầu tư sẽ e ngại và không giám bỏ vốn vào những nơi mà quy chế pháp lý không rõ ràng
Thực tế cho thấy các quốc gia sẽ dễ dàng đi nhanh đến một giải pháp phân định ranh giới tại khu vực yêu sách chồng lấn nếu như họ không biết hoặc biết ít về tài nguyên tại khu vực này Ngược lại, nếu phát hiện ra những
mỏ tài nguyên tiềm năng thì sự phát hiện này sẽ kích thích các quốc gia không ngừng thể hiện yêu sách của mình, khi đó giải pháp phân định trở nên xa vời
và khó đạt đến được Như vậy, rõ ràng là mức độ hiểu biết về nguồn tài nguyên tại khu vực chồng lấn cũng tác động không nhỏ đến việc thúc đẩy tìm kiếm giải pháp khai thác chung của các bên hữu quan Khai thác chung trở thành giải pháp tốt thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp, khi mà vấn đề tài
Trang 32nguyên đã được giải quyết ổn thỏa thì tất yếu việc phân định ranh giới cũng trở nên đơn giản hơn
Với ý nghĩa như trên, có thể thấy khai thác chung trước hết là một giải pháp ưu tiên trong các “dàn xếp tạm thời” mang tính kinh tế cao và do đó khi khai thác chung không đem lại kết quả khả quan thì hình thức này cũng dễ bị
bỏ rơi [21] Một ví dụ điển hình đó là thỏa thuận Nhật Bản - Nam Triều Tiên, thỏa thuận này có hiệu lực trong 50 năm, tuy nhiên có quá ít phát hiện thương mại tại đây đã khiến cho việc thực thi thỏa thuận không được như mong muốn Như vậy, yếu tố kinh tế đã xuyên suốt quá trình từ khi hình thành vùng khai thác chung cho đến khi thực thi Hiệp định Trong bất kỳ giai đoạn nào yếu tố này không được quan tâm thỏa đáng cũng có thể làm ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình khai thác chung
Có thể lấy một ví dụ cụ thể như sau để minh chứng cho việc khai thác chung có thể sẽ trở thành một giải pháp kém ưu việt nếu không có một mẫu hình tổ chức hợp lý Thỏa thuận khai thác chung Thái Lan - Malayxia năm
1979 quy định thành lập một Cơ quan quyền lực chung để quản lý các hoạt động trong vùng khai thác chung, nhưng hai bên đã gặp những bất đồng khi giao cho Cơ quan quyền lực chung này những quyền hạn rộng lớn, điều này
đã làm cho 15 năm sau thỏa thuận này mới đi vào hoạt động
Trang 33Ngoài ra những trường hợp khai thác chung tại khu vực có kích thước lớn với số lượng nhiều quốc gia bao giờ cũng phức tạp và khó khăn hơn trong việc quản lý và hoạt động so với khai thác chung tại khu vực có kích thước nhỏ với số lượng ít quốc gia
1.5 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KHAI THÁC CHUNG
Cho đến nay, chưa có một Công ước đa phương nào hay một nguyên tắc
cụ thể nào của luật pháp quốc tế quy định rõ ràng về nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia phải hợp tác khai thác chung các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực tranh chấp hay nơi có nguồn tài nguyên vắt ngang qua đường biên giới giữa các quốc gia Tuy nhiên các khía cạnh pháp lý của vấn đề khai thác chung lại có thể được xem xét từ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các điều ước quốc tế song phương, đa phương, các phán quyết của Tòa án quốc tế, các khuyến nghị của Ủy ban hòa giải v.v
1.5.1 Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Luật quốc tế là tổng hợp các quy phạm do hai hay nhiều quốc gia có chủ quyền cùng thỏa thuận xây dựng lên trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do đàm phán, ký kết và đảm bảo thực hiện
Luật Biển quốc tế là một ngành luật chuyên ngành thuộc hệ thống luật quốc tế Luật biển quốc tế là tổng hợp các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các quốc gia trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua thực tiễn pháp
lý có tính tập quán nhằm điều chỉnh chế độ pháp lý của các vùng biển và các hoạt động sử dụng biển cũng như bảo vệ biển và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong lĩnh vực này Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được coi
là các quy định nền tảng mang tính định hướng cho việc ban hành và thực hiện Luật quốc tế nói chung, Luật biển quốc tế nói riêng
Trang 34Bảy nguyên tắc đã được nêu ra trong tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, đó là:
- Cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ vùng vũ lực
- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác
- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
- Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
- Các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết
- Tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản trên điều chỉnh, chi phối mọi quan hệ luật pháp quốc tế, trong đó có quan hệ cùng khai thác chung giữa các quốc gia
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình:
Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định "Tất cả các
thành viên Liên Hợp Quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý" Nguyên tắc này đã đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia là cần phải lựa chọn
giải pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp Với những giải pháp này các bên
có thể đạt được mục đích của mình mà không làm phương hại đến quyền bình đẳng và tự quyết của các quốc gia khác Đây cũng là hệ quả tất yếu của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực
Nội dung của nguyên tắc còn được khẳng định trong nhiều văn kiện pháp
lý quốc tế quan trọng như Tuyên bố của hội nghị các nước Á - Phi năm 1955 tại Băng Đung, Tuyên bố của Đại Hội Hồng Liên Hợp Quốc năm 1970, Định
Trang 35ước cuối cùng của Hội nghị Hen Xinh Ki năm 1975 của các nước Châu Âu về
an ninh và hợp tác v.v
Nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp trong phân định biên giới giữa các quốc gia Các quốc gia có thể tạm gác tranh chấp sang một bên và cùng nhau thăm dò khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và các bên cùng
có lợi
- Nguyên tắc các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau:
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, các quốc gia dần tiến tới gần nhau hơn trong các quan hệ kinh tế, chính trị.v.v Điều này dẫn đến sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia Vì vậy, để cho các quan hệ quốc tế diễn ra thuận lợi, buộc các quốc gia phải có sự hợp tác với nhau Hợp tác quốc tế đem lại lợi ích chung và lợi ích thiết thực cho chính quốc gia đó và hơn thế nữa việc hợp tác còn góp phần thiết lập mối quan hệ tốt đẹp về chính trị, ngoại giao, đồng thời tạo bầu không khí hoà bình thân thiện, thúc đẩy các bên cùng nhau phát triển
Khai thác chung chính là thể hiện sự hợp tác giữa các quốc gia, bằng lựa chọn này các quốc gia đã tạm thời gạt đi những bất đồng trước mắt để cùng hoạt động vì một mục tiêu là phát triển chung nguồn tài nguyên Các bên cùng thảo luận để đi đến một giải pháp tích cực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung
- Nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế:
Khi các quốc gia đã tìm đến giải pháp giải quyết các tranh chấp bằng
con đường hoà bình, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để đi đến những cam kết song phương hay đa phương, thì ngay sau đấy vấn đề tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế lại được đặt ra Nếu các bên không thực
Trang 36hiện đầy đủ, chính xác các cam kết đó thì tất yếu sẽ làm giảm và thậm chí làm mất đi giá trị của các cam kết đó Và hơn bao giờ hết, việc khai thác chung cũng chỉ có ý nghĩa khi các bên cùng tuân thủ đầy đủ nội dung đã cam kết, nếu không làm được điều này, vấn đề sẽ trở nên hết sức phức tạp, gây căng thẳng trong quan hệ giữa các bên và thậm chí có thể sẽ làm nảy sinh những xung đột mới
1.5.2 Các điều ƣớc quốc tế
a Điều ước quốc tế đa phương:
Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 có những quy định làm
cơ sở pháp lý cho việc khai thác chung những vùng tranh chấp Theo khoản 3 điều 74 và điều 83 của Công ước:
"Trong khi chờ đợi ký các thoả thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu
quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phương hại hay cản trở việc ký kết các thoả thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này Các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến việc hoạch định cuối cùng"
Sự phát triển của luật biển quốc tế mà cụ thể là Công ước Luật biển 1982 dẫn đến trong thực tiễn đã hình thành các khu vực chồng lấn giữa hai hay nhiều quốc gia Các quốc gia có thể sẽ phải dừng toàn bộ hoạt động khai thác tài nguyên ở khu vực tranh chấp cho đến khi có được một sư phân định rõ ràng, hoặc có thể cứ đơn phương khai thác tài nguyên, tiến hành các hoạt động
mà không cần sự đồng ý của quốc gia liên quan Tuy vậy, đây là một cách ứng
xử hết sức nguy hiểm, không phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế Công ước Luật biển 1982 đã đem đến cho các quốc gia một sự lựa chọn
tích cực bằng việc đưa ra những quy định mở, đó là: "Các dàn xếp tạm thời
mang tính thực tiễn " Trên thực tế, các bên đã cùng lập ra vùng khai thác
Trang 37chung và đây được coi là các dàn xếp tạm thời được sử dụng rộng rãi nhất Bằng lựa chọn này các bên có thể vượt qua được những tranh chấp, bất đồng, tạm gác tranh chấp lại và tạo điều kiện thúc đẩy việc hợp tác khai thác tài
nguyên trong giai đoạn chuyển tiếp Công ước cũng khẳng định "Các dàn xếp
tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng ", các bên liên quan
vẫn có thể khẳng định và duy trì liên tục yêu sách của mình trong khu vực chồng lấn đó Và một điều tất yếu là khi vấn đề tài nguyên, lợi ích kinh tế đã được giải quyết thoả đáng thì việc phân định ranh giới khu vực đó cũng trở nên hết sức đơn giản
b Điều ước quốc tế song phương:
Nếu như Công ước Luật biển 1982 là sự thể hiện tổng quan cơ sở pháp
lý của việc khai thác chung thì các Điều ước quốc tế song phương lại cụ thể hoá Công ước Luật biển 1982 với các nội dung chi tiết làm tiền đề, cơ sở cho các bên trong việc thực thi khai thác chung
Thực tiễn đã có rất nhiều quốc gia tiến hành khai thác chung, không chỉ ở những khu vực biển đang có tranh chấp không thể giải quyết ngay mà còn ở
cả những khu vực có đường biên giới đã xác định Ví dụ: Thoả thuận Nhật Bản - Hàn Quốc (30/01/1974), Malayxia - Thái Lan (21/02/1979) ở khu vực đường biên giới chưa được xác định, hay như thỏa thuận Aixơlen - Na uy(22/10/1981) nơi có đường biên giới đã xác định
Các điều ước quốc tế song phương trên thực tế là hết sức phong phú, đa dạng và với các nội dung cũng rất khác nhau Nhưng tựu chung lại thì vẫn bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động khai thác chung Và khi điều ước đó đã có hiệu lực thì các bên liên quan cần phải tự nguyện thực hiện đầy đủ các cam kết đã được quy định trong điều ước
Trang 38Có thể nhận thấy, điều ước quốc tế song phương là cơ sở pháp lý quan trọng và cụ thể nhất quy định hoạt động khai thác chung giữa các nước, đó cũng là sự thể hiện sinh động nhất về thực tiễn phong phú của các dạng khai thác chung trên thế giới
1.5.3 Các phán quyết của Toà án quốc tế và khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải:
Có thể nói, các phán quyết của Toà án quốc tế được coi là tiền đề để vấn
đề khai thác chung được pháp điển hoá chính thức tại khoản 3 điều 74 và điều
83 của Công ước Luật Biển 1982 Một trong các phán quyết điển hình có thể
kể ra là phán quyết của Toà án quốc tế trong vụ Thềm lục địa biển Bắc nổi tiếng năm 1969 giữa Tây Đức, Hà Lan và Đan Mạch
Trong vụ này, Toà án quốc tế đã đề cập đến việc hợp nhất mỏ khoáng sản nằm vắt qua biên giới quốc gia, với phán quyết:
"Những thoả thuận khai thác chung là đặc biệt thích hợp khi vấn đề bảo
tồn thống nhất lớp trầm tích khoáng sản được đặt ra" [45, Tr.4] và đối với các
vùng chồng lấn thì tòa cho rằng: " nên được phân chia theo con đường thoả
thuận hoặc (trong trường hợp không có thoả thuận) thành những phần bằng nhau trừ khi các bên quyết định sử dụng chế độ tài phán chung hoặc khai thác chung toàn bộ hay một phần bất kỳ nào của vùng chồng lấn”
Bên cạnh đó, các khuyến nghị của Ủy ban hòa giải quốc tế cũng được coi
là cơ sở pháp lý quan trọng của việc khai thác chung Một trong những vụ điển hình đưa ra Uỷ ban hoà giải quốc tế là vụ Jan Mayen giữa Aixơlen và Na
uy vào những năm 1980 Sau một quá trình đàm phán căng thẳng nhưng không có kết quả, hai nước đã thống nhất ý kiến chuyển vụ việc phân định thềm lục địa cho một Uỷ ban hoà giải quốc tế Sau khi xem xét Uỷ ban này đã
Trang 39khuyến cáo hai nước bằng một điều khoản cụ thể, với nội dung là: "Nguồn
dầu khí trong vùng chồng lấn giữa hai quốc gia nên được khai thác chung”
Sau đó hai nước đã ký thoả thuận phân định thềm lục địa ngày 22/10/1981 bao gồm cả những quy định về khai thác chung
Có thể nói, các phán quyết của toà án quốc tế và khuyến nghị của Uỷ ban hoà giải quốc tế là những cơ sở pháp lý quan trọng làm tiền đề cho việc ký kết, triển khai thực thi các thoả thuận khai thác chung giữa các quốc gia
Ngoài ra, khía cạnh pháp lý của vấn đề khai thác chung không những được xem xét từ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các quy định của Công ước Luật biển năm 1982, các án lệ quốc tế và các khuyến nghị của Uỷ ban hoà giải mà còn được tìm thấy trong các nghị quyết của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Nghị quyết 2295 năm 1972 về hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực môi trường hay như Nghị quyết 3129 năm 1973 về hợp tác trong lĩnh vực môi trường có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên có chung của cả hai hay nhiều quốc gia Và đặc biệt cơ sở pháp lý của việc khai thác chung được thể hiện hết sức cụ thể và rõ ràng trong nghị quyết số 3281 năm
1974 của Liên Hợp Quốc về "Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền và nghĩa
vụ kinh tế của các quốc gia" quy định tại điều 3: "Khi khai thác tài nguyên thiên nhiên của hai hay nhiều quốc gia, mỗi quốc gia phải hợp tác trên cơ sở
hệ thống thông tin và tham khảo trước nhằm có được sự sử dụng tốt nhất các tài nguyên này mà không gây phương hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác"
Cho dù một số những nguyên tắc, quy định không phải là có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia, nhưng phải thừa nhận là những nguyên tắc và quy định đó bước đầu đã tạo nền tảng, cơ sở để hình thành nên những quy tắc ứng
Trang 40xử góp phần định hướng cho các quốc gia trong quan hệ giải quyết tranh chấp khu vực chồng lấn giữa hai hay nhiều nước
* Kết luận:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về khai thác chung có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn Việc nghiên cứu đó sẽ giúp trả lời được các câu hỏi như khai thác chung là gì? Tại sao phải khai thác chung? Khai thác chung như thế nào? Khai thác chung dựa trên cơ sở nào?
Có thể thấy khai thác chung được hình thành xuất phát từ chính nhu cầu giải quyết những tranh chấp bất đồng giữa các quốc gia trên biển, giải pháp này được lựa chọn để chia sẻ các nguồn tài nguyên trong các khu vực có yêu sách chồng lấn Ngoài ra, ngay cả khu vực đã có sự phân chia biên giới rõ ràng, nhưng tồn tại những nguồn tài nguyên nằm vắt qua đường biên giới đó, thì khai thác chung vẫn có thể được lựa chọn để phát triển nguồn tài nguyên này Đây được coi là giải pháp tạm thời nhằm giảm thiểu các xung đột giữa các bên yêu sách và để phát triển nguồn tài nguyên Việc áp dụng giải pháp này cũng không làm ảnh hưởng đến việc phân định các vùng biển giữa các quốc gia
Khai thác chung cũng không phải là sự lựa chọn bắt buộc đối với các quốc gia, nó được tạo ra từ quá trình thỏa thuận của các bên Điều đó có nghĩa
là nó phản ánh được xác thực nhất nguyện vọng của các bên Cũng chính bởi tính mềm dẻo đó, khai thác chung là giải pháp ngày càng được nhiều quốc gia lựa chọn Đó cũng là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt phù hợp với các nguyên tắc quốc tế đang được nhiều quốc gia ủng hộ đó
là nguyên tắc hợp tác quốc tế và nguyên tắc mưu cầu giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng quốc tế bằng con đường hòa bình